|
Lavang Gateway >Trung Tâm Luân Ðôn > Trang Hôn Phối * viết bằng chữ unicode. |
THƯA:
1. Công Ðồng Vatican II (GS.5), Tông huấn "Cộng đồng gia
đình, Familiaris Consortio" (số 66 và 67) và can. 1063 thống nhất
vạch ra một chương trình chuẩn bị hôn phối, xác định
các mục tiêu, chỉ định các người chịu trách nhiệm và
chỉ rõ nội dung của việc chuẩn bị. - Mục tiêu cốt yếu
của hoạt động này là hoàn thành mỹ mãn việc chuẩn bị
thích hợp để giáo dục và thực hiện các hôn phối Kitô
hữu sắp làm và giúp đỡ các gia đình đã cử hành hôn phối,
được thành thục và hoàn hảo mỗi ngày một hơn. - Các người
trách nhiệm hàng đầu là các mục tử linh hồn hành động
theo qui định của Giám Mục (can. 1064) có sự cộng tác của
cộng đồng giáo xứ (can. 1063 mở đầu và GLGHCG 1632). Các
chủ thể thụ động là các tín hữu, cách riêng là các người
sửa sọan thành hôn và các người đã thành hôn rồi. Ðành
rằng không được đánh giá thấp sự cần thiết và tính
bắt buộc của việc chuẩn bị này, nhưng việc bỏ qua không
chuẩn bị hay từ chối trốn tránh việc chuẩn bị không nhất
thiết là một cản trởû thành hôn, cho nên các mục tử không
vì lý do việc thiếu chuẩn bị (vd. Không học giáo lý, giáo
trình mình soạn quá nhọc nhằn) mà từ khước hay hoãn lại
hôn phối (FC. Số 66, 10). - Nội dung của việc chuẩn bị sẽ
được xem liền sau đây trong số 2.
2. Việc chuẩn bị hôn phối gồm bốn giai đọan có tính tổng quát, tính cá nhân, tính phụng vụ và tính hậu hôn phối.
2. 1. Chuẩn bị tổng quát (can. 1063, 10).
Ðó là việc giảng thuyết và huấn giáo (giáo lý) cho trẻ
em, thanh niên và người lớn, nói về ý nghĩa hôn phối có
đạo, về nghĩa vụ cha mẹ và về nghĩa vụ vợ chồng. Có
thể dùng các phương tiện truyền thông xã hội trong việc
chuẩn bị này. Ðây là việc chuẩn bị xa, bắt đầu từ
tuổi thiếu nhi trong sư phạm khôn ngoan của gia đình dạy
cho con em tự khám phá mình là tạo vật có đời sống tâm
lý giàu có phức tạp, có nhân vị riêng của mình, có sức
mạnh và sự yếu đuối riêng của mình. Ðây là thời kỳ
mỗi người nhận ra giá trị nhân bản của mình trong quan
hệ với người khác và trong quan hệ xã hội. Việc tự biết
đó là quan trọng để tạo tính tình của mình, để làm chủ
và sử dụng các tật hư tính tốt của mình, để biết đánh
giá đúng và giao dịch với người khác phái. Ðối với người
Kitô hữu, thời kỳ này đòi sự giáo huấn thiêng liêng và
giáo huấn giáo lý, dạy cho biết hôn phối là một ơn gọi
và một sứ mệnh, như tu triều hay tu dòng vậy, tuy ơn gọi
hôn phối là chung hơn. Việc trung tâm của sự chuẩn bị này
là dạy cách thích hợp ý nghĩa của cơ chế hôn phối và
bí tích hôn phối. - Thiết nghĩ nên tán rộng thêm. Việc giáo
huấn tổng quát và chung này cần phải khôn ngoan, nghĩa là
phải lựa nơi, lựa lúc, lựa cử tọa và lựa lời mà nói
trong cách trình bày thận trọng, kẻo làm hại hơn là làm
lợi. Nên tổ chức nhóm thanh niên thanh nữ gần tuổi kết
hôn để dạy (CÐ/Vat. GS. 49, 52). Về nội dung, sẽ gồm bản
chất, sự trang nghiêm và bí tích tính, sự liên hệ giữa
luật đạo và luật đời, về các đặc tính duy nhất và
bất khả đọan tiêu, về sự thánh thiện của phép hôn hối
(chớ không phải là một việc phàm tục do đam mê tạo thành),
về các thứ ngăn trở, về bổn phận vợ chồng và cha mẹ,
phần hồn phần xác, trong đời sống tự nhiên và siêu nhiên,
về tội lỗi phạm đến phép hôn phối và đời sống hôn
nhân (Cđ/Vat. AA1; GS 48-49; Cđ/ÐD. 253, 255, 256). Vào cuối thời
kỳ chuẩn bị xa này, và trước khi bắt đầu thời kỳ học
giáo lý hôn phối, là thời kỳ nam nữ quen nhau. Vai trò của
cha mẹ trong thời kỳ này như thế nào? Ngày xưa, cha mẹ đặt
đâu con ngồi đó, cha mẹ định sao con nghe vậy, vì đầu
cao hơn cổ, áo mặc không qua khỏi đầu. Nhưng ép dầu ép
mỡ, ai nỡ ép duyên. Ngược lại có khi quá đáng, lớp trẻ
lấy nhau bất chấp cha mẹ, giao hôn bất cáo tông đường.
Luật trung dung là cha mẹ và con cái thông cảm và thảo luận
để mọi người được bằng lòng. Nhưng nên nhớ tuy con cái
vì chữ hiếu sẽ tôn kính và vâng phục cha mẹ trong việc
hợp ý mình, nên bậc cha mẹ chỉ có quyền khuyên bảo chớ
không có quyền bắt buộc hay cấm đoán con cái kết hôn. Việc
kết hôn phải được tự do, tự nguyện (Bộ luật Dân sự
của nước CHXHCN Việt Nam, 1995, điều 35). Lập trường của
Giáo Hội thế nào về vai trò của cha mẹ? Các thế kỷ đầu
Giáo Hội đòi có phép của cha mẹ, nhưng không bao giờ đặt
đó làm điều kiện để thành phép hôn phối (tuy có nhà cầm
quyền có đạo xin như vậy, nhưng Công đồng Trentô không
nhất trí, x. DS 1813). Giáo luật hiện hành nói rõ là đối
với hôn phối của con cái vị thành niên, khi cha mẹ không
hay biết hoặc có lý để không đồng ý, thì muốn chứng
hôn cha sở phải có phép của đấng bản quyền sở tại nơi
hợp pháp (can. 1071, §1, 60) (Lật ngược lại là nói con cái
trưởng thành làm hôn phối mà cha mẹ không hay biết hoặc
không đồng ý, vẫn thành phép và hợp pháp). Con cái vị thành
niên có ý qua mặt cha mẹ hay cãi cha mẹ khi các ngài có lý
do hệ trọng để không đồng ý, thì có thể có lỗi nặng.
Ngược lại, khi con cái có lý do hệ trọng hơn (vd. Sợ giữ
mình không nổi), thì không vâng lời cha mẹ lúc đó chắc
là không có lỗi gì.
2. 2. Chuẩn bị cá nhân gần (can. 1063, 20).
Ðó là việc học giáo lý hôn phối để thành hôn, một
việc chuẩn bị trực tiếp và sát cạnh việc cử hành hôn
phối, được thực hiện cụ thể và cường độ trong các
ngày tháng cuối của thời kỳ chuẩn bị và để làm lễ
hôn phối. Ðó là việc chuẩn bị thiêng liêng cho các người
hứa hôn bước vào cuộc đời hôn nhân, ý thức về sự thánh
thiện và các bổn phận mà phép hôn hối đặt để cho họ.
Chuẩn bị đời sống lứa đôi, cập đôi, liên-nhân-vật
giữa một nam và một nữ, cần được phát triển, đào sâu
vấn đề phái tính vợ chồng và việc sinh sản có trách nhiệm,
việc sinh lý, việc giáo dục con cái, việc tề gia vv... Tùy
học thức và trình độ của các đương sự, linh mục sẽ
dạy giáo lý hôn phối này có tính sư phạm tâm lý chớ không
phải khảo hạch. Bởi đó bắt buộc vì là cần thiết cho
đức tin và đời sống đạo, như lớp giáo lý chuẩn bị
cho việc xưng tội, rước lễ, thêm sức vậy. Có sách giáo
lý hôn nhân (vd. của linh mục Trọng Thu). Cách thức dạy phải
khôn ngoan và dè dặt trong lời nói và cử chỉ, kẻo sinh gương
mù. Nên dạy nam nữ chung thì tiện hơn.
2. 3. Chuẩn bị phụng vụ (can. 1063, 30).
Ðó là việc tập nghi thức lễ hôn phối và học ý nghĩa
của việc hôn phối giữa đôi nam nữ là dấu hiệu sống
động của mầu nhiệm hiệp nhất và yêu thương phong phú
giữa Ðức Kitô và Giáo Hội (Ep 5,21), mà họ sẽ sống cách
thiết thực. Có việc cử hành phụng vụ, vì hôn phối là
một khế ước có tính xã hội và cộng đồng về mặt tự
nhiên và có tính Giáo Hội và bí tích về mặt tôn giáo. Việc
cử hành đơn sơ nhưng trang trọng theo luật lệ của các vị
có thẩm quyền lập ra. Cũng cần chú ý đến các yếu tố
xã tắc dân tộc và văn hóa địa phương.
2. 4. Giáo dục hậu hôn phối (can. 1063, 40).
Chuẩn bị hôn phối là cần thiết. Nhưng sau lễ thành
hôn, cũng cần thiết giáo dục trường kỳ để sống tốt
đời sống gia đình (x. can. 1128). Các vợ chồng trẻ cần
được giúp đỡ liên tục để họ giữ gìn cách trung thành
khế ước hôn phối ngõ hầu giữa lòng gia đình họ sống
đời sống thánh thiện và trọn hảo hơn.
KẾT:
Làm việc gì muốn có kết quả thành công phải chuẩn
bị tốt. Chuẩn bị càng chu đáo thì thành công càng chắc
chắn và tốt đẹp. Nói cách chung là vậy, phương chi cách
riêng cho đời sống hôn phối là việc trăm năm tồn tại
như trái đất già có râu dài vậy.