CHÚA NHỰT XXIV
CHỦ ĐỀ :
Ḷng nhân TỪ
thương xót CỦA Thiên Chúa
Người
mục tử đi t́m con chiên lạc
(Lc
15,4)
BÀI ĐỌC I: Xh 32, 7-11. 13-14
"Chúa đă nguôi cơn giận,
không thực hiện điều dữ mà Người
đe doạ phạt dân Người".
Trích sách Xuất
Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán
cùng Môsê rằng: "Ngươi hăy đi xuống; dân mà ngươi
dẫn ra khỏi đất Ai-cập đă phạm
tội. Chúng đă sớm bỏ đường lối Ta
đă chỉ dạy cho chúng, chúng đă đúc tượng
ḅ con và sấp ḿnh thờ lạy nó; chúng đă dâng lên nó
của lễ hiến tế và nói rằng: "Hỡi
Môsê van xin Chúa là
Thiên Chúa của ông rằng: "Lạy Chúa, tại sao Chúa
nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đă dùng
quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi
đất Ai-cập? Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac
và
ĐÁP CA: Tv 50,
3-4. 12-13. 17 và 19
Đáp: Tôi sẽ chỗi dậy và
đi về cùng cha tôi (Lc 15, 18).
Xướng: 1) Lạy Chúa,
nguyện thương con theo ḷng nhân
hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức
từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và
tẩy con sạch lâng tội ác. - Đáp.
2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con
quả tim trong sạch, và canh tân tinh
thần cương nghị trong người con. Xin
đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Đáp.
3) Lạy Chúa, xin mở môi con,
miệng con sẽ loan truyền lời ca khen. Của
lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa,
xin đừng chê tấm ḷng tan nát khiêm cung. -
Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Tm 1, 12-17
"Đức
Giêsu Kitô đă đến trong thế gian để cứu
độ những người tội lỗi".
Trích thư
thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi
Timôthêu.
Cha cảm tạ
Đấng đă ban sức mạnh cho cha là Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, v́ Người đă kể cha là người
trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ: dù trước
kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo
và kiêu căng, nhưng cha đă được Thiên Chúa thương
xót, v́ cha vô t́nh làm những sự ấy trong lúc cha chưa
tin. Nhưng ân sủng của Chúa chúng ta
đă tràn lan dồi dào cùng với đức tin và
đức mến trong Đức Giêsu Kitô.
Lời nói chân
thật và đáng tiếp nhận mọi đàng là:
Đức Giêsu Kitô đă đến trong thế gian này
để cứu độ những người tội
lỗi, trong số ấy, cha là người thứ
nhất. V́ thế, cha được hưởng nhờ ơn
thương xót, là Đức Giêsu Kitô tỏ ra tất
cả ḷng khoan dung trong cha trước hết, để
nêu gương cho những ai sẽ tin vào Người
hầu được sống đời đời.
Danh dự và
vinh quang (xin dâng về) Thiên Chúa độc nhất, hằng
sống, vô h́nh, là Vua muôn đời. Amen! Đó là lời
Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán:
"Nếu ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời
Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy,
và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy.
- Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 15, 1-10 {hoặc 1-32}
"Trên trời
sẽ vui mừng v́ một người tội lỗi
hối cải".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, những
người thâu thuế và những người tội
lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người
giảng.
Thấy vậy, những người biệt phái và
luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón
tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng".
Bấy giờ Người
phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một
trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không
để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà
đi t́m con chiên lạc, cho đến khi t́m được
sao? Và khi đă t́m thấy, người đó vui mừng vác
chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những
người lân cận mà nói rằng: "Anh em hăy chia vui
với tôi, v́ tôi đă t́m thấy con chiên lạc!"
Cũng vậy, Tôi bảo các ông: "Trên trời sẽ vui
mừng v́ một người tội lỗi hối
cải hơn là v́ chín mươi chín người công chính
không cần hối cải.
"Hay là người
đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu
mất một đồng, mà lại không đốt
đèn, quét nhà và t́m kỹ lưỡng cho đến khi t́m
thấy sao? Và khi đă t́m thấy, bà mời các chị em
bạn và những người láng giềng đến mà
rằng: 'Chị em hăy vui mừng với tôi, v́ tôi đă t́m
được đồng bạc tôi đă mất'.
Cũng vậy, Tôi bảo các ông: Các Thiên Thần của
Thiên Chúa sẽ vui mừng v́ một người tội
lỗi hối cải".
{Người
lại phán rằng: "Người kia có hai con trai.
Đứa em đến thưa cha rằng: 'Thưa cha, xin
cha cho con phần gia tài thuộc về con'. Người
cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người
em thu nhặt tất cả tiền
của ḿnh, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi
xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó
tiêu hết tiền của, th́ vừa gặp nạn đói
lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm
thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc
cho một người trong miền, người này sai nó ra
đồng chăn heo. Nó muốn ăn
những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng
cũng không ai cho. Bấy giờ nó muốn hồi tâm
lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công
ở nhà cha tôi được ăn dư
dật, c̣n tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi
muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người
rằng: 'Lạy cha, con đă lỗi phạm đến
Trời và đến cha; con không đáng được
gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con
như một người làm công của cha'. Vậy
nó ra đi và trở về với cha nó. Khi
nó c̣n ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền
động ḷng thương; ông chạy lại ôm choàng
lấy cổ nó hồi lâu. Người con trai lúc
đó thưa rằng: 'Lạy cha, con đă lỗi phạm
đến Trời và đến cha; con không đáng được
gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo các
đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và
mặc cho cậu, hăy đeo nhẫn vào ngón tay cậu và
xỏ giầy vào chân cậu. Hăy bắt con bê béo làm thịt
để chúng ta ăn mừng, v́ con ta đây đă
chết, nay sống lại, đă mất nay lại t́m
thấy'. Và người ta bắt đầu ăn
uống linh đ́nh.
"Người con cả đang
ở ngoài đồng. Khi về gần
đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh
gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có
chuyện ǵ. Tên đầy tớ nói: 'Đó là em
cậu đă trở về và cha cậu đă giết con bê
béo, v́ thấy cậu ấy trở về mạnh
khoẻ'. Anh liền nổi giận và
quyết định không vào nhà. Cha anh ra
xin anh vào. Nhưng anh trả lời: 'Cha coi, đă bao
năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha
một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con
một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng
bạn, c̣n thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết
tài sản của cha với bọn điếm, nay trở
về, th́ cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng
nó'.
"Nhưng người cha
bảo: 'Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi
sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc mừng, v́ em con đă chết
nay sống lại, đă mất nay lại t́m
thấy'".} Đó là lời Chúa.
Sợi chỉ đỏ :
-
Bài đọc I : Thiên Chúa nhân từ
tha thứ cho dân
-
Đáp ca : Lời nguyện sám hối
của Tv 50
-
Tin Mừng : 3 dụ ngôn về ḷng
nhân từ của Thiên Chúa : con chiên lạc, đồng
tiền mất và đứa con đi hoang.
-
Bài đọc II : Thánh Phaolô tạ
ơn Thiên Chúa v́ ḷng nhân từ thương xót của Ngài.
Minh họa
-
Mille images 90 A
-
Người mục tử đi t́m con chiên lạc (Lc 15,4)
I. DẪN
VÀO THÁNH LỄ
Anh
chị em thân mến
Chúng
ta rất hạnh phúc v́ có một Thiên Chúa rất nhân từ,
Ngài sẵn sàng tha thứ cho những kẻ tội lỗi
biết sám hối. "Nếu Chúa chấp tội th́ ai nào
đứng vững được !"
Thánh
lễ là một bằng chứng biểu lộ ḷng nhân từ
của Chúa : mặc dù chúng ta nhiều
tội lỗi, nhưng Chúa vẫn mở rộng cửa
đón chúng ta vào nhà Ngài và cho chúng ta cùng ăn đồng bàn
với Ngài.
Chúng ta hăy bắt đầu Thánh lễ
bằng cách nh́n nhận thân phận tội lỗi của
ḿnh và xin Chúa tha thứ.
II. GỢI
Ư SÁM HỐI
*
Dùng công thức sám hối trong sách lễ Rôma trang 567.
III. LỜI
CHÚA
1.
Bài đọc I (Xh 32,7-11.13-14)
Đoạn
này bắt đầu câu chuyện con bê vàng.
Ngay
sau khi Thiên Chúa kết Giao ước với dân Israel, họ
đă vi phạm Giao ước đó bằng cách đúc
tượng một con bê vàng và thờ lạy trước
tượng đó. Thiên Chúa rất giận.
Ngài cho Môsê biết Ngài muốn tiêu diệt họ,
thay vào đó Ngài sẽ tạo một dân mới từ ḍng
dơi Môsê. Nhưng Môsê đă van xin Thiên Chúa
và cuối cùng Thiên Chúa nguôi giận không giữ ư định
tiêu diệt dân
Trong
chuyện này có 2 điểm đáng chú ư :
-
Môsê đă liên kết với dân : mặc
dù Thiên Chúa hứa làm một dân mới từ ḍng dơi của
ông, nhưng ông vẫn xin Thiên Chúa duy tŕ ḍng dơi
- Thiên Chúa tha thứ cho dân không phải
v́ Môsê mà v́ chính ḷng nhân từ Thiên Chúa của Ngài. Câu
chuyện kết thúc bằng câu "Thiên Chúa đă
thương, không giáng phạt dân Ngài như Ngài đă
đe".
2.
Đáp ca (Tv 50)
Lời cầu nguyện của tội
nhân sám hối.
Lư do được nêu lên để nài xin tha thứ không ǵ
khác hơn là ḷng nhân từ thương xót của Chúa : "Lạy Chúa xin lấy ḷng nhân hậu
xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội
con đă phạm".
3.
Tin Mừng (Lc 15,1-32)
Khung
cảnh : thấy Chúa Giêsu gần gũi
với những người tội lỗi đến gần,
nhóm pharisêu và kinh sư trách Ngài. Chúa Giêsu đă
dùng những dụ ngôn để trả lời cho họ.
Có
3 dụ ngôn : 1 con chiên trong số 100 con bị mất, 1
đồng trong số 10 đồng bị đánh rơi,
và 1 đứa trong hai đứa con bỏ nhà đi hoang. Tỉ
lệ mất mát ngày càng cao (1/100 à
1/10 à ½ ). Giá trị
những thứ bị mất cũng ngày càng cao (1 con vật,
đồng bạc – người ta thường nói
"đồng tiền liền khúc ruột – và 1 đứa
con). Tất cả những dụ ngôn này đều
đề cao h́nh ảnh một Thiên Chúa giàu ḷng
thương xót. Ngài xót xa khi một
người lầm đường rơi vào tội lỗi.
Do đó Ngài tha thiết t́m cứu người tội lỗi.
Khi cứu được một người
tội lỗi, Ngài rất vui mừng.
4.
Bài đọc II (1 Tm 1,12-17)
Thánh
Phaolô tạ ơn Thiên Chúa v́ ḷng nhân từ thương xót của
Ngài :
-
"Trước kia tôi là kẻ lộng ngôn, bắt đạo
và ngạo ngược, nhưng đă được Ngài
thương xót"
-
"Đức Kitô đă đến thế gian để cứu
những người tội lỗi, mà kẻ đầu
tiên là tôi"
- "Sở dĩ tôi được
thương xót là v́ Chúa Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả
ḷng đại lượng của Ngài nơi tôi là kẻ
đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những
ai sẽ tin vào Ngài".
IV. GỢI
Ư GIẢNG
*
1. Giá trị của từng con người
Một
hội từ thiện kia xây dựng một
ngôi trường nhằm giúp cho những thiếu niên hư
hỏng hoán cải. Khi bàn đến những chi tiết
trong việc điều hành trường như mua sắm
phương tiện, thuê mướn giáo viên v.v. một hội
viên phát biểu : "Chúng ta đừng
ngại tốn kém. Chỉ cần hoán cải
được một thiếu niên thôi th́ tốn bao nhiêu cũng
đáng". Một người khác hỏi tại sao
th́ ông này đáp : "Bởi v́ thiếu
niên hư hỏng ấy là con của tôi".
Bài Tin Mừng hôm nay gồm tới 3 dụ
ngôn.
Dụ ngôn đầu xem ra không hợp lư :
ai lại bỏ 99 con chiên để đi t́m một con
chiên lạc ? Dụ ngôn thứ hai cũng chẳng có sức
thuyết phục bao nhiêu : một
đồng xu có đáng là bao so với công sức mà người
đàn bà kia bỏ ra để t́m lại nó ? Nhưng rồi
tất cả đều trở thành hợp lư khi ta đọc
dụ ngôn thứ ba : Ư của Chúa
Giêsu không nhằm nói tới con chiên, cũng không nói tới
tiền bạc mà nói tới con người. Trước
mặt Thiên Chúa, mỗi một con người đều
có giá trị vô cùng, bởi v́ mỗi một con người,
dù là tội lỗi, cũng đều là con của Ngài.
Tuy
nhiên có mấy ai chia xẻ tâm ư của Chúa ?
Những người pharisêu và các kinh sư thấy
Chúa Giêsu bỏ công lui tới với những người tội
lỗi th́ họ cho là mất công vô ích nên xầm x́ phản
đối. Đối với họ, việc
làm của Chúa Giêsu là không đáng, bởi v́ những kẻ
tội lỗi là hạng đáng vất đi.
Nhưng đối với Chúa Giêsu, đó là những con
người, những giá trị. Một đồng
xu quư giá thế nào đối với người đàn bà
nghèo khổ, một người con quư giá thế nào đối
với tấm ḷng người cha, th́ một người tội
lỗi cũng đáng giá thế ấy đối với tấm
ḷng của Thiên Chúa.
Thế
c̣n việc bỏ 99 con chiên trong đàn để đi t́m
con chiên lạc th́ sao ? V́ con chiên ấy
cần được chăm sóc hơn 99 con kia :
nó cô đơn, nó bơ vơ, nó đói khát hơn, nó bị
nguy hiểm nhiều hơn. V́ thế nên
người mục tử nhân lành không thể ở yên chờ
nó t́m được đường về, mà phải
đích thân ra đi t́m nó. Chúa Giêsu đă làm như
người mục tử ấy :
Ngài không chờ kẻ tội lỗi đến với
ḿnh, nhưng được bước trước đến
với họ. Ngài kết thân với họ
trong t́nh trạng của họ c̣n đang là tội nhân, c̣n
đang lầm lạc. Chính đó là cách đối xử
khác những người pharisêu và kinh sư, và chính đó là
lư do khiến họ xầm x́ phản đối. Nhưng chính cách đối xử này đă hoán cải
được một người pharisêu nổi tiếng
là Thánh Phaolô (bài đọc 2).
*
2. Cái mất là cái quư
Nhiều
người không thể hiểu tại sao người mục
tử bỏ 99 con chiên để đi t́m một con chiên lạc,
và người đàn bà c̣n 9 đồng trong tay lại chịu
khó t́m cho bằng được một đồng bị
mất.
Lư
do là : cái mất đi trở thành cái
quư giá. Rất nhiều thứ khi bị mất
rồi chúng ta mới thấy quư.
Sự
quư giá của một vật hay một người không chỉ
do vật hay người đó đă làm ích cho ta (thí dụ
một chiếc đồng hồ chính xác, một người
giúp việc tận tụy), mà c̣n do những công sức mà
ta đă đổ dồn vào đó (thí dụ bức tranh mà
người họa sĩ đă tốn nhiều thời
gian để vẽ, một người thợ mà ông thầy
đă dầy công đào tạo), và c̣n do những hy sinh
đau khổ mà ta đă dành cho vật hay người
đó (như đứa con mà người mẹ phải
sinh nặng đẻ đau)
Có
một câu chuyện biến ngôn như sau :
Chúa Giêsu gặp một người mục tử đang rất
buồn rầu. Ngài hỏi tại sao th́ người ấy
đáp : "V́ tôi lạc bị mất
một con chiên". Chúa Giêsu nói :
"Để Ta đi t́m nó cho". Một lúc sau, Chúa Giêsu
trở lại, ôm theo con chiên lạc giao lại cho người
mục tử, và căn dặn :
"Từ nay anh phải yêu thương nó, chăm sóc nó nhiều
hơn những con khác nhé, v́ Ta đă tốn rất nhiều
công sức mới t́m lại được nó đó".
Tất cả chúng ta đều là những
đồng bạc đă từng bị mất, những
con chiên đă từng đi lạc và những đứa
con đă từng đi hoang. Nhờ công lao
khó nhọc của nhiều người và nhất là của
Chúa mà chúng ta đă được t́m lại. Vậy chúng ta
phải có những tâm t́nh ǵ ?
-
Tâm t́nh cảm mến, v́ ḿnh đă hư mất mà đă
được t́m lại.
-
Tâm t́nh vui sướng, v́ biết ḿnh là đối tượng
được thương yêu nhiều hơn.
-
Và tâm t́nh tự trân trọng, đừng để ḿnh bị
lạc mất thêm một lần nào nữa.
*
3. Những con người bị mất
Không chỉ đồ vật hay thú vật
bị mất, mà chính con người cũng có thể bị
mất.
Những
con người bị mất ấy là ai ?
-
Là những đứa trẻ không t́m được hạnh
phúc trong gia đ́nh nên đi hoang.
-
Là những thiếu niên bị thói xấu xă hội lôi kéo.
-
Là những người nghiện ngập đến nỗi
hư cả cuộc đời.
-
Là những vợ chồng bất thuận đến nỗi
không c̣n là vợ chồng với nhau.
-
Là những anh em bất ḥa không c̣n coi nhau là anh em nữa.
-
Là những tín hữu yếu đuối lỡ phạm tội
nên mặc cảm và xa lánh gia đ́nh xứ đạo.
Những con người lạc mất
ấy không ở đâu xa, mà đang ở bên cạnh chúng
ta, ở giữa chúng ta. Nhưng buồn
thay, nhiều người không hề quan tâm đi t́m họ
lại.
*
4. Tuyệt đỉnh của yêu thương
Một
lần kia, các tu sĩ trong miền dẫn
tới đức Giám Mục Amôna một thiếu nữ
mang bầu xin ngài ra h́nh phạt. Nhưng Đức cha
đă ban phép lành cho thai nhi, rồi ra lệnh
ban cho cô sáu tấm vải bằng lanh mịn. Những kẻ
tố cáo lại nói :
-
Tại sao Đức Cha làm như thế ?
Xin ra cho nó một h́nh phạt.
Ngài
ôn tồn bảo :
-
Anh em thử nghĩ xem, cô ta đă đau khổ muốn chết
được ; tôi phải làm ǵ
hơn nữa.
Nói thế rồi ngài cho cô ta về. Từ
đấy không tu sĩ nào c̣n dám tố cáo ai nữa.
*
Cũng
như các tu sĩ trong câu chuyện trên đây, nhóm Pharisêu và
các kinh sư thường lên án những người tội
lỗi, nên khi Chúa Giêsu tiếp đón những hạng người này th́ họ lẩm bẩm kêu
trách Người. Thấy vậy, Chúa Giêsu đă trả lời
bằng ba dụ ngôn : Con Chiên Lạc Mất, đồng
Bạc Đánh Rơi, và Đứa Con Hoang Đàng, để
bày tỏ ḷng nhân hậu và niềm vui của Thiên Chúa dành
cho người tội lỗi hối cải ăn năn.
C̣n
ǵ vui bằng khi cái đă mất lại t́m thấy được ; c̣n ǵ sướng hơn
khi cái t́m thấy lại là vật quí. T́m kiếm chính là mục
đích của Con Thiên Chúa khi xuống trần gian : "Con Người đến t́m kiếm
những ǵ đă mất". Con người là đối
tượng duy nhất mà Thiên Chúa muốn kiếm t́m. Con
người thật vô cùng quí giá trước mặt Người.
Thiên Chúa lao đao vất vả đi t́m
kiếm con người. Người không muốn
để mất một ai trên trái đất này.
Thiên
Chúa yêu thương người tội lỗi, như
người mục tử tốt lành sẵn sàng để
chín mươi chín con chiên lại đi t́m cho bằng
được con chiên lạc mất. Khi t́m
thấy rồi mừng rỡ khoác chiên trên vai.
Thiên Chúa yêu thương kẻ lầm
lỡ, như người đàn bà cần mẫn, đốt
đèn kiếm cho được đồng bạc
đánh rơi.
Khi thấy rồi tíu tít chia vui với mọi
người.
Thiên Chúa yêu thương tội nhân,
như người cha già nhân hậu, ngày ngày ra ngơ t́m con. Khi thấy con rồi
ông vui mừng chạy lại ôm choàng lấy nó.
Thật
vậy, "lỗi lầm là của con người và tha thứ
là của Thiên Chúa" (A. Pope). Thiên Chúa yêu thương con
người và yêu thương đến cùng. Tuyệt
đỉnh của yêu thương chính là tha thứ, v́ thế
dù phải chịu hấp hối lâu dài và đớn đau
khôn tả, phải chịu khinh miệt và chối bỏ,
nhưng Người vẫn cầu nguyện tha thiết : "Lạy Cha, xin tha cho họ". Đây chính là lời
rơ ràng và trang trọng nhất nói lên tâm hồn cao thượng
và tấm ḷng nhân hậu của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu.
Thiên
Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, những con người
lầm lỗi ; nhưng Người
chỉ có thể thứ tha khi chúng ta thật ḷng sám hối.
Người trộm lành suốt một đời lầm
lỡ, thế mà chỉ trong giây phút cuối cùng, tỏ ḷng
sám hối ăn năn đủ trở
nên một vị thánh. Ông trở nên thánh không
phải v́ ông là người tội lỗi, nhưng v́ ông nhận
biết ḿnh là kẻ tội lỗi. Đứa con
hoang đàng được người cha tha thứ cũng
v́ anh đă biết nhận ra lỗi lầm, trở về
sám hối ăn năn. Người
cha không chỉ tha thứ mà c̣n phục hồi chức vị
làm con. Một chiếc nhẫn mới, một
đôi giầy mới, một bữa tiệc linh đ́nh,
vinh dự c̣n lớn hơn cả trước khi ra đi.
Nếu Thiên Chúa đă tỏ ḷng nhân hậu
và tha thứ cho chúng ta, th́ Người muốn chúng ta cũng
hăy tha thứ cho nhau như người cha nhân hậu xin ông
anh cả tha thứ cho đứa em lầm lỗi.
Người ta chỉ có thể dễ
dàng tha thứ cho kẻ khác khi ư thức thân phận mỏng
ḍn yếu đuối của ḿnh. Có nhận ra ḿnh hay lầm lỗi,
con người mới dễ cảm thông tha thứ cho những
lỗi lầm của anh em. Đừng bắt người
có tội phải bị trừng phạt mới hả dạ,
đừng đ̣i hỏi cho được sự công bằng
mới thôi, v́ Martin Luther King có viết :
"Nếu
cứ áp dụng luật mắt đền mắt th́ mọi
người đều trở nên mù loà".
*
Lạy
Chúa, nếu Chúa không tha thứ cho các tội nhân th́ thiên
đàng sẽ trống rỗng, và thế giới này không có
thánh nhân.
Xin
cho chúng con mỗi lần được Chúa thứ tha lại
thấy ḿnh nên giống Chúa hơn, v́ đă biết tha thứ
cho anh em. Amen. (TP)
5.
Chuyện minh họa
a/ Sự tha thứ của Chúa
Một nhà truyền giáo trên một
đảo ngạc nhiên khi nh́n thấy một phụ nữ
mang một nắm cát ướt bước vào túp lều của
ông.
-
Ông biết đây là ǵ không ?
-
Nó giống như cát.
-
Ông có biết tại sao tôi mang nó vào đây không ?
-
Không, tôi không thể tưởng tương được
tại sao.
- Đây là tội tôi. Tội
tôi không thể đếm được như cát biển.
Làm thế nào tôi có thể được tha thứ tất
cả ?
-
Bà hăy đưa cát đó ra băi biển và chất thành một
ít cát. Rồi ngồi nh́n xem những cơn sóng ập tới,
chắc chắn sẽ cuốn đi tất cả. Đó là cách Chúa thực hiện sự tha thứ của
Ngài. Ḷng nhân từ của Chúa bao la
như đại dương. Hăy thành thật
hối lỗi và Chúa sẽ tha thứ.
b/ Không cần đếm
Ở Phi châu, có một
bộ tộc khá ḱ lạ. Họ không bao
giờ đếm, không ai biết tí ǵ về toán học.
Có người hỏi một người dân
bản địa có bao nhiêu cừu. Anh đáp
: không biết. "Vậy nếu lỡ mất một
hai con, làm sao anh biết ? " Câu trả
lời thật ư nhị : "Không phải
tôi mất một con số, mà mất một bộ mặt."
V. LỜI
NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa
là Cha giàu ḷng thương xót. Người sẵn sàng tha thứ
mọi lỗi lầm của người có tội thật
ḷng ăn năn thống hối. Tin
tưởng vào t́nh thương tha thứ của Chúa, chúng
ta cùng khẩn khoản nài xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ t́nh
thương của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu
xin Chúa Thánh thần / tuôn đổ đầy trành t́nh
yêu của Người vào tâm hồn mọi thành phần Dân
Chúa / để ai nấy đều trở nên sứ giả
đem t́nh thương của Chúa đến cho hết thảy
mọi người.
2. Hiện nay / có biết bao thanh
thiếu niên bỏ nhà đi bụi đời v́ rất nhiều
nguyên nhân khác nhau / trong số đó nổi bật nhất
là do thiếu t́nh thương / và sự quan tâm chăm
sóc của cha mẹ / hoặc cha mẹ bất ḥa hay ly
dị / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các gia
đ́nh luôn là tổ ấm t́nh thương / là nơi
nương tựa cho mọi thành viên của ḿnh.
3. Thử thách gian truân nhiều khi làm
cho con người lâm vào cảnh bế tắc / mất
hết niềm hy vọng để vui sống / Chúng ta
hiệp lời cầu xin cho các tín hữu / biết chạy
đến cùng Chúa khi gặp buồn phiền đau khổ /
để được Người nâng đỡ ủi
an.
4. Chúa yêu thương tất cả mọi
người / không kỳ thị thiên tư / không
phân biệt đối xử với bất cứ ai /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ
chúng ta / biết luôn noi gương Người trong cách
cư xử của ḿnh.
Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă dạy
chúng con phải tha thứ cho nhau không chỉ bảy lần,
mà đến bảy mươi lần bảy. Xin ban ơn giúp sức để chúng con có thể
sống trọn vẹn lời Chúa dạy. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG
THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta là những
người vô cùng hạnh phúc v́ có một người Cha
vô cùng nhân từ thương xót là Thiên Chúa. Với
tất cả tâm t́nh kính mến, chúng ta hăy dâng lên Ngài lời
Kinh Lạy Cha sau đây.
VII. GIẢI
TÁN
Chúng ta đă thấy Chúa đă đối
xử với chúng ta cách nhân từ thương xót như thế
nào.
Chúng ta cũng hăy đối xử như thế
với những anh chị em chúng ta.
Bài đọc
thêm CÁC THƯ GỬI
TIMÔTÊÔ
*
Bài đọc II các Chúa nhật 25-30
A. THƯ MỤC VỤ
Ba
bức thư I Tm, II Tm và Tt được
gọi là thư mục vụ v́ chúng được viết
gởi cho các mục tử trẻ để giúp họ hoàn
thành trách nhiệm trong Giáo Hội.
B. HOÀN CẢNH VÀ MỤC
ĐÍCH
-
Thư 1 Tm : Sau thời kỳ bị
cầm tù lần thứ nhất tại Rôma chấm dứt
vào năm 63, Phaolô đến Êphêxô. Sau đó ông rời Êphêxô
đi Makêđoan, để Timôtêô ở lại điều
khiển giáo đoàn này (1 Tm 1,3). Dù vậy
Phaolô vẫn quan tâm giáo đoàn Êphêxô và công việc của
Timôtêô nên khoảng năm 65 ông đă từ Makêđoan viết
thư này cho Timôtêô.
-
Thư 2 Tm : dưới triều
Nêron, Phaolô bị bắt lại và bị giam lần thứ
hai tại Rôma. Lần này ông bị đối xử khắt
khe, phải "mang xiềng như 1 tên gian ác" (2
Tm 2,9). Một số người thân của
ông xem việc ấy là xấu hổ nên đă bỏ ông (2
Tm 1,8.12). Phaolô cảm thấy cô
đơn. Ông biết ngày chết của ḿnh sắp đến
nhưng ông vẫn tin tưởng, tự coi như 1 lực
sĩ điền kinh sắp chạy tới đích (2 Tm 4,7). Trong hoàn cảnh và tâm trạng ấy,
Phaolô viết thư này cho Timôtêô, nghĩa
là viết tại Rôma khoảng năm 67. Sau
đó ông bị đem xử tử.
C. TIMÔTÊÔ
Timôtêô sinh tại thành Lystra thuộc miền
Lycaonia.
Cha là người hy lạp, me là người do thái ṭng giáo.
Ông đă theo Phaolô trong cuộc du hành truyền
giáo thứ 2. Trong chuyến này Phaolô đă khuyên ông cắt b́
(Cv 16,1-3). Từ đó ông luôn sát cánh với
Phaolô và trở nên đệ tử ruột của Phaolô.
Khi
Phaolô bị đuổi khỏi giáo đoàn Thêxalônikê vừa
mới thành lập, Phaolô rất lo lắng cho giáo đoàn
non trẻ này nên phái Timôtêô trở lại đó quan sát t́nh
h́nh (xem lại thư 1 Tx), và Phaolô rất
vui mừng khi Timôtêô trở về báo cáo t́nh h́nh tốt
đẹp. Về sau khi giáo đoàn Côrintô chống
đối Phaolô, ông lại sai Timôtêô đến đó dàn xếp.
Nhưng lần này Timôtêô không thành công (xem lại thư 1 Cr). Trong những ngày ngồi tù và sắp
bị xử tử, Phaolô nhớ thương Timôtêô mong
được gặp ông này lần cuối (2 Tm 4,9) nhưng không biết Phaolô có được
toại nguyện không.
Tóm
lại, trong trái tim Phaolô, Timôtêô có một vị trí đặc
biệt hơn những người khác, cũng như
Philíp có một vị trí đặc biệt hơn những
giáo đoàn khác : Phaolô chẳng những
xem Timôtêô như một đệ tử, mà c̣n như một
đứa con mà ông hết ḷng yêu thương, chỉ bảo.
D. NỘI DUNG
Phaolô không triển khai những luận
đề thần học cao sâu mà chỉ nhắc lại
vài điều giáo lư cơ bản cụ thể, và
đưa những lời khuyên thực tế thích hợp
với hoàn cảnh và nhiệm vụ của Timôtêô. Những
nhắc nhở về các điểm giáo lư cơ bản th́
dĩ nhiên luôn có giá trị cho mọi thời. C̣n những chỉ dẫn cụ thể cho hoàn cảnh
th́ có một số tới nay vẫn c̣n giá trị và một
số đă lỗi thời.
BỒI
DƯỠNG TINH THẦN
Chúa
Nhật 24
THƯỜNG NIÊN - Năm C
GIÁ TRỊ CỦA CHIA SẺ
Hăy chia sẻ kiến thức của bạn. Đó
là cách để bạn sống măi trong ḷng người
khác.
DANH NGÔN TÂY TẠNG
Bài đọc:Xh
32 : 7-11, 13-14;1 Tm 1 ; 12-17 ; Lc 15 ; 1-32
Chủ
đề: Như chúng con cũng
tha kẻ có nợ chúng con.
Richard
Pindell có viết một chuyện ngắn nhan đề
“Đứa con trai của một người nào đó” (Somebody’s
son). Câu chuyện mở đầu với một cậu bé
tên là David bỏ nhà ra đi sống bụi đời. V́ khổ
quá, không chịu nổi cậu bèn viết một lá thư gởi về nhà cho mẹ bày tỏ niềm
hy vọng được ông bố cổ hủ tha thứ
cho cậu và chấp nhận cậu làm con trở lại.
Lá thư như sau: “Mẹ kính mến,
trong một vài ngày nữa con sẽ đi ngang qua nhà. Nếu
bố bằng ḷng nhận con trở lại, th́ mẹ yêu cầu
bố cột một miếng vải trắng lên cây táo hồng
ở miếng đất cạnh nhà chúng ta. Vài ngày sau, David lên xe
lửa đi về. Trong lúc tàu hoả lao
nhanh đến nhà th́ hai h́nh ảnh cứ chớp ḷe liên tục
hiện ra trong trí cậu ta. Khi th́ trên cây có cột
một miếng vải trắng, khi th́ trên cây chẳng cột
miếng vải trắng nào. Xe lửa càng tiến gần
nhà, trái tim David càng đập nhanh
hơn. Không bao lâu nữa cây táo sẽ hiện
ra ở khúc quẹo, nhưng David không dám tự ḿnh nh́n tới
v́ sợ nhỡ không có miếng vải trắng cột ở
đó. Thế là cậu quay sang người đàn ông
bên cạnh ấp
úng nói: “Thưa ông, ông có thể làm ơn giúp cháu một việc
không? Vào khúc quẹo bên tay mặt, ông sẽ
thấy một cái cây. Ông làm ơn cho cháu biết
trên cành cây có cột một miếng vải trắng không
nhé”.
Khi xe lửa rầm rầm lướt qua cây
táo, David nh́n chăm chăm về phía trước. Đoạn
run run giọng cậu hỏi người đàn ông:
“Thưa ông, có một miếng vải trắng treo ở một
cành cây nào đó không?” ông ta sửng sốt trả lời: “Ồ,
này cậu bé, cành cây nào ta cũng thấy có cột một
miếng vải trắng cả!”.
***
Câu
chuyện trên minh hoạ cho những ǵ Chúa Giêsu kể lại
trong phần đầu bài dụ ngôn hôm nay. Ngài bảo rằng Chúa luôn luôn tha thứ cho chúng ta
sau khi chúng ta phạm tội, và Chúa Giêsu c̣n cho biết thêm
không những Chúa tha thứ cho chúng ta khi chúng ta phạm tội,
mà sau đó Ngài c̣n đối xử với chúng ta như
chúng ta chưa hề phạm tội vậy. Điều
này được nh́n thấy rơ ràng qua ba hành vi
của ông bố trong dụ ngôn hôm nay.
Trước hết
ông choàng tay ôm đứa con trai ḿnh. Choàng tay
ôm con tỏ cho thấy ông bố đón con về hết sức
nồng nhiệt. Ông tuôn trào mọi cử chỉ tŕu mến
đối với đứa con trai.
Tiếp
đó, ông xỏ giày vào chân cho cậu ta. Xỏ giày vào chân chứng tỏ ông đă tha thứ
hoàn toàn cho cậu. Vào thời Kinh Thánh thuở xưa,
mang giày là dấu chỉ của một người tự do, c̣n đám nô lệ th́ đi chân trần. Xỏ
giày vào đôi chân trần của cậu con tức là xoá
đi dấu hiệu thằng con ấy từng là nô lệ
của một kẻ nào đó, và đồng thời trả
lại cho cậu ta dấu chỉ cậu là đứa con
trai trong gia đ́nh .
Cuối
cùng, ông bố trao nhẫn cho cậu con. Gắn
nhẫn vào ngón tay cậu chứng tỏ
ông bố phục hồi trọn vẹn cho cậu t́nh trạng
trước khi cậu bỏ nhà ra đi. V́ chắc chắn
đây là chiếc nhẫn mang dấu ấn của gia đ́nh . Đeo nó vào đồng nghĩa với
được quyền hành xử như một thành viên
trong gia đ́nh .
Và như
thế, khi choàng tay ôm xỏ giày và đeo
nhẫn cho đứa con trai. Người bố
đă cho thấy ông hoàn toàn nồng nhiệt tiếp đón
cậu ta, tha thứ hoàn toàn và phục hồi cho cậu ta
trọn vẹn t́nh trạng trước khi cậu bỏ
nhà ra đi.
Từ
đó chúng ta bước sang phần cuối bài dụ ngôn.
Phần này liên quan đến người con thứ nữa
mà lại liên quan đến người con cả. Ông bố rộng lượng tha thứ bao nhiêu
th́ người anh cả này lại hẹp lượng với
em bấy nhiêu. Anh ta không muốn bước vào nhà
để ăn mừng đứa em trở
về dù ông bố đă nài nỉ anh ta vào. Dụ ngôn kết
thúc mà không nói cho chúng ta biết cách cư xử của
người con lớn. Liệu cuối cùng
anh ta có chịu bước vào dự tiệc mừng không?
Hay vẫn đứng ở bên ngoài lẩm bẩm? lư do Chúa Giêsu không nói rơ ra là v́ người con
lớn đại diện cho đám luật sĩ và biệt
phái đương thời, c̣n người con thứ đại
diện cho đám dân tội lỗi và những kẻ sống
ngoài ṿng pháp luật. Lúc đó, đám tội lỗi
trộm cướp này biết đáp lại lời kêu gọi
thống hối của Chúa Giêsu và Ngài đă tha thứ cho họ,
đồng thời tiệc tùng vui vẻ với họ.
Điều này khiến các luật sĩ và biệt
phái căm tức. Họ cho rằng lũ
người tội lỗi kia lẽ ra phải bị trừng
phạt chứ đâu lại được tha thứ! Và như thế Chúa Giêsu không kết thúc dụ ngôn
này mà lại nhường phần kết câu chuyện cho mỗi
luật sĩ và biệt phái viết thêm vào cho trọn.
Mỗi người trong bọn họ đều nhận
biết rằng ḿnh là đứa con lớn và phải tự
quyết định sẽ tha thứ và chung
vui với người em hay nhất quyết không chấp
nhận thứ tha và đồng bàn với nó.
Tất
cả điều này muốn nói ǵ với chúng ta hôm nay?
Theo tôi th́ có hai điểm:
-
Thứ nhất là Chúa Giêsu luôn sẵn
sàng tha thứ cho chúng ta sau khi chúng ta lỡ phạm tội.
-
Thứ đến, chúng ta phải
biết tha thứ cho kẻ khác như Chúa đă thứ tha
cho chúng ta. Hơn nữa chúng ta c̣n phải tiếp nhận
họ trở lại với trọn vẹn ḷng quảng
đại như Chúa đă cư xử với chúng ta, nghĩa
là nồng nhiệt tiếp đón, tha thứ hoàn toàn, và hồi
phục t́nh trạng ban đầu cho họ như xưa.
Có
một câu chuyện nói về tổng thống
Đây
chính là cách thức chúng ta phải cư xử với những
kẻ có lỗi với chúng ta.
Chúng ta phải tha thứ cho họ và đem họ về với
con tim chúng ta bằng t́nh yêu quảng
đại như Chúa đă đối xử với chúng ta.
Và nếu chúng ta làm được điều
này, chắc chắn khi ĺa cơi đời này, khi tiến
đến cổng trời, chúng ta cũng sẽ nh́n thấy
ở đó một cây táo, trên mỗi cành cây đều có cột
một mảng vải trắng.
Chúng ta hăy
kết thúc với lời cầu nguyện:
Lạy Chúa, xin tỏ ḷng thương xót con, và lấp
tràn đầy trái tim con t́nh yêu tha thứ
của Chúa.
Con là đứa con thứ đă bỏ ra đi rồi
lại trở về. Con cảm ơn Chúa đă đón nhận
lại con.
Và con cũng là người con lớn đă từng
khư khư không chịu tha thứ cho anh chị em con
như Ngài đă đă tha thứ cho con. Vậy xin Chúa hăy chạm
vào trái tim con với t́nh yêu tha thứ của
Ngài.
Để rồi sau khi yên nghỉ trong cơi chết,
con sẽ thức dậy trước thánh nhan Ngài để
vui hưởng sự thứ tha của Ngài măi măi cùng với
những anh chị em từng được con tha thứ
lỗi lầm.
Người
ta gọi chàng là bợm nhậu Joe v́ chàng uống quá nhiều
rượu, say sưa tối ngày. Chàng và gia
đ́nh sống trên nông trại nhỏ của cha mẹ ở
Tannessee. Người anh độc thân
tàn tật và người mẹ goá phải làm hết mọi
việc. Vợ và bốn đứa con của Joe khổ
sở. Họ không đủ tiền ăn
và may mặc. Lối xóm và bạn học nhạo
cười cha của chúng.
Đời sống gia đ́nh như một hoả ngục
trần gian v́ Joe nhục mạ và hành hạ gia đ́nh mỗi
khi anh say rượu.
Một hôm
đang lúc say rượu, anh lái xe ra
đường và bị tai nạn bể đầu. Khi chữa trị vết thương, Bác sỹ
nói với Joe rằng ngày nào đó anh sẽ tự giết
ḿnh và có khi cả những người khác nữa. Bác
sỹ khuyên anh bỏ rượu, trong thời gian vắn
anh cai rượu, anh không uống nữa
và anh bắt đầu đi nhà thờ. Gia đ́nh anh sung
sướng vô cùng.
Đây là một
con chiên lạc, nhưng nay chủ chiên đă t́m thấy.
Chúa Giêsu nói với chúng ta hôm nay rằng: Trên trời sẽ
vui mừng v́ một người tội lỗi hối cải
hơn là 99 người công chính không cần hối cải.
Tôi muốn
nhấn mạnh rằng: Trên mặt đất cũng vui mừng
khi một người tội lỗi ăn năn
hối cải. Hăy nh́n gia đ́nh của Joe.
Họ vui sướng biết bao khi cha của
họ bỏ uống rượu. Họ không những
ăn ngon hơn, mặc đẹp
hơn, có tiện nghi hơn mà tâm lư và xă hội cũng trở
nên tốt đẹp hơn. Họ vui mừng xum họp với
người cha của họ, họ hănh diện với bạn
bè. Họ có thể tự hào đi nhà thờ,
đi chợ, đi chơi và đi học. Sự thay đổi của Joe, sự trở lại
của anh đem lại bao niềm vui – trên mặt đất
này – cho những người gần và thân yêu của anh.
Chúng ta cũng
có thể nói như thế với mỗi tội nhân trở
về cùng Chúa: Người cờ bạc biết sử dụng
tiền bạc cho gia đ́nh. Người nóng
nảy biết kiềm chế. Người
ích kỷ biết chia sẻ và cộng tác, người bất
măn biết thông cảm. Người bép xép biết nói
đến điều hay điều tốt của kẻ
khác. Người bỏ đạo biết lắng nghe tiếng
Chúa gọi trở về, những người được
biệt đăi chia sẻ ân huệ cho
người bị bỏ rơi, những cha mẹ biết
tỉnh thức trong bổn phận và trách nhiệm. con cái và các bạn trẻ biết nh́n nhận
t́nh yêu và sự chăm sóc của cha mẹ. Những
người chồng, người vợ thất trung, hờ
hững biết chú ư và chăm sóc người bạn đời,
người bất lương biết sống
lương thiện và công b́nh. Những
người khô khan biết nghe và đáp lại lời kêu gọi
của Chúa Kitô để yêu Chúa và người thân cận.
Tất cả là tội nhân, hăy hối cải,
hăy làm cho các Thiên thần vui mừng và làm cho cả loài
người cũng vui mừng nữa. Làm
cho người khác vui mừng là một cách thế quan trọng
bày tỏ t́nh yêu của bạn cho người đó.
Chủ
chăn t́m con chiên lạc, Người đàn bà t́m đồng
tiền đánh rớt được nhắc nhớ, chúng
ta t́m lại được t́nh bạn với Thiên Chúa trong
và qua Thánh Lễ. Thánh Lễ làm các thiên thần vui mừng,
thánh lễ làm nhân loại hân hoan. Niềm vui
trên trời vang vọng niềm vui dưới đất.
Xin Chúa Kitô giúp chúng ta đem lại niềm vui
cho các thiên thần, đem lại hân hoan cho những người
ở gần và thân yêu với chúng ta trên mặt đất
này.
Xin
Chúa chúc lành bạn.
Amen.
MỖI
TUẦN MƯỜI THANG THUỐC BỔ
“Một nụ cười bằng
mười thang thuốc bổ”
NỘI DUNG
I.Tia sáng:
v SỰ TINH KHIẾT
v T̀M KIẾM
II.Thư giăn:
1.
ĐỐ THẦY ĐẤY
2.
TẠI SAO ?
3.
CHUI RA THÔI M̀NH ƠI!
4.
PHẢI RƠ NGHIĂ HƠN
5.
RÈN LUYỆN
6.
NGHỀ BUÔN NG̉I BÚT
7.
NÓI THẾ NÀO CHO ĐÚNG
III.Nhật kư truyền giáo của Lm.Piô Ngô Phúc Hậu:
IV.Chuyện ngụ
ngôn:
v HẾT ĐỜI V̀ CÁI M̀NH THÍCH THÚ
V.Hẹn bạn trên đỉnh thành
công:
v ĐIỀU ĐÓ THẬT LỐ BỊCH
VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:
v
ĂN HẢI SẢN, BÉ SẼ THÔNG MINH HƠN
VII.Chuyện phiếm :
I.
TIA SÁNG :
* Ta phải cảm phục sự tinh khiết
của linh mục biết bao. Đó là cả
một kho tàng.
Không
một bạo chúa nào có thể làm cho Giáo hội mất
đi chiếc mũ báu đó.
*TÔI T̀M KIẾM LINH HỒN TÔI MÀ KHÔNG
THẤY. TÔI T̀M THIÊN CHÚA, NHƯNG NGƯỜI ĐĂ VƯỢT
XA. TÔI T̀M KIẾM NGƯỜI ANH EM, TÔI LẠI THẤY CẢ
BA.
F. Thompson.
T́m th́ sẽ thấy. Ai t́m người anh em, sẽ thấy người
anh em. Cứ làm vui ḷng kẻ khác, để họ tiến
lên phía trước bạn, giúp họ thoát khỏi bế tắc:
bạn sẽ t́m thấy họ, cũng đầy tham vọng
và u mê như bạn... Họ sẽ tỏ cho
bạn thấy linh hồn bạn, như thể bạn soi
gương. Thế rồi bạn và họ
sẽ không c̣n là những đứa con hoang đàng nữa,
sẽ là anh em với nhau và t́m thấy Chúa Cha.
II.
THƯ GIĂN:
1. ĐỐ THẦY ĐẤY
Giờ
kiểm tra, thầy giáo dạy sinh vật đem đến
một hộp trong đựng đủ các loại chim. Thầy
lôi ra một con chim và giấu đằng sau, chỉ để
cho học sinh nh́n thấy cái đuôi, thầy hỏi một
học sinh:
- Đây là chim ǵ?
- Dạ thưa,
chim sáo ạ.
-
Không đúng, đó là con gơ kiến. Cho em đoán lại lần
nữa... Thầy giáo lại bắt đầu
giấu chim.
- Con này tên ǵ?
- Dạ- Học
sinh lúng túng- Em nghĩ đó là con chim chào mào ạ.
-
Không phải, chim họa mi. Em không học ǵ cả. Tôi phải cho em không điểm. Tên em là ǵ?
- Em đố thầy
đấy.
2. TẠI SAO ?
Cô gái nhỏ nhẹ:
- Mẹ ơi, tại
sao cá không nói chuyện được như chúng ta?
- Con khờ quá.
Có khi nào con thử nói chuyện dưới nước
được chưa?
3. CHUI RA THÔI M̀NH ƠI!
Một
chàng Gabrôvô về chơi Thủ Đô Xôphia, anh ta bước
lên tàu điện với một bao tải to, và đặt
phịch xuống sàn tàu điện. Người bán
vé đến:
- Anh mua vé đi,
vé người ba hào vé hành lư sáu hào.
Nghe vậy chàng
Gabrôvô thúc mạnh vào cái bao tải:
- Chui ra thôi ḿnh
ơi! Không ngờ giá vé hành lư đắt gấp đôi vé
người!
4. PHẢI RƠ NGHIĂ HƠN
Ông chủ hăng
phim:
"Kịch bản
của anh nói chung không phải là dở. Nhưng một số đối thoại phải
rơ nghĩa hơn để bất cứ một thằng
ngốc nào cũng có thể hiểu được".
-
"Vâng, vâng!- Người trẻ tuổi
gật đầu lia lịa. Thế có những
đoạn nào ngài không hiểu ạ?"
5. RÈN LUYỆN
- Bố ơi!
Khi lớn lên con muốn trở thành nhà thám hiểm Bắc
cực bố ạ!
- Tốt đấy!
- Nhưng con muốn
được rèn luyện ngay từ bây giờ!
- Làm thế nào mà
rèn luyện ngay từ bây giờ được?
Con muốn mỗi
ngày bố cho con tiền ăn kem để
con tập quen dần với cái lạnh bố ạ!
6. NGHỀ BUÔN NG̉I BÚT
Một lần
đại văn hào Pháp Victor Hugo (1802- 1885) đi thăm
nước Phổ. Khi đến biên giới Pháp- Phổ.
Một nhân viên hải quan nước Phổ hỏi:
- Xin ông cho biết
ông làm nghề ǵ?
- Tôi viết.
- Tôi muốn hỏi
ông sinh sống bằng nghề ǵ?
Lần này Hugo
đáp gọn:
- Bằng ng̣i bút.
Nhân viên hải
quan nọ gật đầu ra vẻ thông hiểu. Sao
đó anh ta ghi vào tờ thị thực nhập cảnh:
"Hugo, nhà kinh doanh ng̣i bút".
7. NÓI THẾ NÀO CHO ĐÚNG
Trong một bữa
tiệc có hai chàng thanh niên hợm hĩnh hỏi Vonte với
giọng chế giễu:
- Thưa nhà
văn, nói thế nào cho đúng: "Cho chúng tôi uống"
hay là "Mang thức uống cho chúng tôi"!
- Đối với
các bạn cả hai câu ấy đều không đúng- Nhà
văn trả lời- Các bạn phải nói: "Dẫn
chúng tôi ra vũng nước"!
III.
NHẬT KƯ TRUYỀN
GIÁO :
Trích trong “Nhật kư truyền giáo”
Biên soạn : Lm. PIÔ NGÔ PHÚC HẬU
Hiền quan,…10.1989
Sáng nay ḿnh có dịp
nói chuyện với ông Lâm Thứ, Phó Giám đốc sở
CA Vĩnh Phú. Chuyện lan man, chuyện dông dài, nhưng chủ
điểm vẫn là "Hội nhập văn hóa",
"Đồng Hành với Dân Tộc". Ông Lâm Thứ
không được hài ḷng khi thấy thư chung của
HĐGMVN năm 1980 chưa được thực hiện ở
đây. Nh́n về quá khứ, ông muốn phiền trách Giáo hội
Công giáo, một Giáo hội mà ông cho là Tây quá : nhà thờ Tây,
chuông Tây, áo lễ Tây, nghi thức Tây :
- Ông ạ,
ngoài này các cụ vẫn chưa chịu đồng hành với
dân tộc, vẫn chưa dám đốt nhang trong nhà thờ,
vẫn chưa cho giáo dân ăn đồ cúng đâu. ..
- Tôi đi
được vài nơi và thấy có thay đổi nhiều.
Ví dụ ở quê tôi có đốt nhang rồi .
- Tại ông về
đây ..nhưng mà c̣n nhiều cái vẫn Tây lắm.
- Xin ông thông cảm
với Giáo hội chúng tôi. Thực ra có nhiều cái đă
được quốc tế hoá rồi, dân tộc nào cũng
sử dụng đuợc. Tôi xin đơn cử một
ví dụ : ông và tôi đều "Tây hoá" từ đầu đến chân.
+ Ông và tôi
đều để tóc ngắn theo kiểu tây
phương. Vào thời Phan Chu Trinh, giới trẻ vận
động dân ta bỏ búi tó, để tóc ngắn theo Tây
phương.
+ Ông và tôi
đều mặc áo sơ mi. Sơ mi bởi tiếng Pháp
là Sơmidơ đấy ông ạ .
+ Ông và tôi
đều mặc quần Tây. Ngoài Bắc ḿnh gọi là quần
Frăng. Frăngxơ là nước Pháp đấy.
+ Ông và tôi
đều đi xăngđan. Xăngđan bởi tiếng
Pháp là Xăngdalơ đấy ông ạ.
Chúng ta Tây hoá ở
cái vỏ bên ngoài, dù là từ đầu đến chân thật,
nhưng ông và tôi vẫn là người Việt Nam trăm phần
trăm. Linh mục chúng tôi có mặc áo lễ tây, sắm
chuông tây, xông hương như tây …, th́ chúng tôi cũng vẫn
là người Công giáo Việt Nam thôi …và trong cách thức
đó chúng tôi vẫn không xa rời tổ quốc và dân tộc
của ḿnh.
Ông Lâm Thứ
gật gù tỏ vẻ thông cảm.
Nói vậy cho
xuôi chuyện thôi, chứ thật ra ḿnh cũng vẫn c̣n
băn khoăn chưa biết phải hội nhập
văn hoá thế nào, v́ văn hoá Việt Nam là ǵ th́ ḿnh cũng
vẫn chưa thấu suốt được. Thầy Trần
Thái Hiệp (linh mục Đaminh Trần Thái Hiệp, cố
Giám đốc chủng viện Thánh Giuse) đă phải thú
nhận rằng :"Văn hoá của mỗi dân tộc là
một cái ǵ cứ bàng bạc, cứ ẩn hiện khó mà
định h́nh nó được. Nó có đấy, nhưng
nó dài rộng bao nhiêu, h́nh thù thế nào th́ khó mà biết. Nó
giống như củ hành. Củ hành được kết
thành bởi nhiều lớp vỏ (tạm gọi là thế).
Bóc đi một lớp. củ hành vẫn không thay bản
chất. Bóc bỏ thêm một lớp nữa, rồi một
lớp nữa …th́ nó vẫn là củ hành. Văn hoá cũng
vậy. Chính v́ thế có lúc ḿnh hoảng hồn tưởng
rằng ḿnh đă vong bản rồi, chỉ v́ thấy ḿnh
mặc như tây, đi giầy tây, ở nhà tây, đi cầu
tây ..Nh́n kỹ lại mới thấy ḿnh vẫn là Việt
Nam. "Cám ơn thầy Trần Thái Hiệp, v́ chính thầy
đă cho con cái kiến thức này.
Sài G̣n, ngày … 5.1994
Ḿnh thơ thẩn
đếm bứơc trên đường X. Bỗng thấy
một ngôi nhà nguyện xinh xinh nằm ngay bên vỉa hè. Ḿnh
vào viếng Chúa một lát. Ḿnh đă biết ngôi nhà nguyện
này từ hơn ba mươi năm về trước. kiến
trúc kiểu tây, nhưng đơn sơ, sáng sủa, khang
trang và ru hồn. Bây giờ có thay đổi một chút. Giảng
đài có khắc chữ "ngôn" ( Lời, bằng chữ
Hán). Trên bàn thờ vẫn có tam cấp như kiểu
xưa, nhưng nhà tạm được thiết kế
theo kiểu đông phương. Đường nét, màu sắc
và thẻ khối rất hoàn chỉnh đến mức
độ ḿnh cảm thấy thoải mái liền. Phải
chăng đây là hội nhập văn hoá, là trở về
với dân tộc? Hội nhập văn hoá được
thông điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Độ
đánh gía rất cao và gọi là "vấn đề khẩn
trương" (SVĐCĐ 52). Hội nhập văn hoá
đang thôi thúc mọi người và đang được
thể hiện trong thánh nhạc, hội hoạ tôn giáo, nghi
thức phụng vụ, kiến trúc thánh đường
..Mừng quá !
Ḿnh giă từ
nguyện đuờng và tiêp tục đếm bước
trên vỉa hè. Niềm vui của nguyện đường
không c̣n nữa. Bứt rứt quá chừng! Rơ ràng cái nhà tạm
hồi năy giống hệt cái cổng tam môn ….Đ́nh, chùa,
cung điện ngày xưa đều có cổng tam môn. Cổng
có ba cửa. Cửa lớn ở giữa chỉ mở khi
có rước kiệu, hoặc có nhân vật lớn đi
qua, thường th́ đóng im ỉm. Thiện nam tín nữ
th́ ra vào qua hai cổng phụ: nam bên tả, nữ bên hữu.
Qua cổng tam môn rồi th́ tới tiền sảnh; sau tiền
sảnh là chính điện; sau chính điện là hậu
cung. Chính điện là nơi quan trọng nhất. Nhân vật
quan trọng ngồi ở đây. Sự việc quan trọng
diễn ra ở đây. Thần thánh ngự ở đây. Cổng
chỉ là nơi qua lại. Nếu có ai dừng chân ở cổng
tam môn th́ nguời ấy nhất định phải là
người lính gác, hoặc người hành khất. Nếu
nhà tạm là nơi Chúa ngự mà đuợc thiết kế
theo h́nh cổng tam môn, th́ hoá ra cổng tam môn là nơi dừng
chân của chú lính gác, của người hành khất và của
….Đức Giêsu Thánh Thể nữa !
Nhà nguyện ấy
ơi, đừng để Chúa ngự ở cổng tam
môn nữa ! Tội nghiệp !
Chữ
"ngôn" (bằng Hán tự) khắc ở giảng
đài cũng làm ḿnh thắc mắc. Đó là văn hoá của
dân tộc? Đúng thế. Dân tộc ta đă sử dụng
chữ Hán gần hết ḍng lịch sử. Thi sĩ làm
thơ bằng chữ Hán. Văn thư của Nhà Nước
được viết bằng chữ Hán. Văn tự bán
ruộng, bán trâu trong dân gian cũng đuợc thảo bằng
chữ Hán. Tuy nước ta có chữ Nôm từ lâu lắm
(Từ bài văn Tế Cá Sấu của Hàn Thuyên, thế kỷ
13), nhưng nôm na là cha mách qué. Chữ Hán mới là chữ của
văn học.
Nh́n thấy chữ
'ngôn' (bằng Hán tự) trên giảng dài ḿnh không cảm thấy
đó là nơi công bố lời Chúa, mà ngậm ngùi nghĩ
đến ngàn năm nô lệ giặc Tàu.
Nha Trang,…11.1974
Hôm nay đại
hội trao đổi về hội nhập văn hoá. Ai nấy
đều muốn có một nghi thức phụng vụ
mang sắc thái Việt Nam. Đức cha Nguyễn Văn
Thuận có một nhận xét buồn về nghi thức phụng vụ đang
được thử nghiệm và đă đuợc tŕnh
bày trên báo Phụng Vụ. Ngài nói :
"Chủ tế
mặc áo thụng, đội mũ cánh chuồn và phủ
phục truớc bàn thờ th́ đuợc rồi; c̣n thầy
phó tế mà mặc áo dài đen, thắt lưng đỏ
th́ ..khôi hài quá. Đó là y phục của thằng lính lệ.
Lính lệ trong dinh các quan ngày xưa là dân điếu
đóm… Phải nghiên cứu cho thật sâu mới được.
Phải có ư kiến của các chuyên gia mới được.
Trở về với văn hoá dân tộc mà thiếu sâu sắc
th́….", Đức cha Nha Trang bỏ lửng ở chữ
th́. Ḿnh bèn điền ngay vào chỗ trống ấy cho
đầy đủ ư nghĩa "th́ là nhập nhằng
văn hoá".
IV.
TRUYỆN NGỤ
NGÔN:
HẾT ĐỜI V̀ CÁI M̀NH THÍCH THÚ
Hươu
ra suối uống nước và ngắm nh́n bóng ḿnh trong
nước. Nó lấy làm thích thú v́ cặp sừng đồ
sộ cao và dài, rất nhiều nhánh: một bộ sừng
tuyệt đẹp chỉ loài Hươu mới có. Và sự
thích thú làm Hươu tự hào làm sao. Nhưng khi nh́n xuống
bốn chân Hươu thở dài và tự chê bai:
-
Chỉ có điều bốn chân ta xấu xí, gày g̣ và yếu
ớt quá.
Bỗng
một con Sư Tử lao vụt tới và chồm lên vồ
Hươu.
Hươu hoảng sợ
vụt phóng như bay trên đồng cỏ quang đăng,
thoát khỏi ṿng nguy hiểm. Nhưng khi tới rừng
Hươu lao vội và cặp sừng nhiều nhánh bị
mắc cứng vào các cành cây
Sắp
hết đời, làm mồi trong miệng Sư Tử, Hươu than thở:
-
Ḿnh thật là một kẻ ngốc nghếch. Về những
cái có thể cứu ḿnh th́ ḿnh nghĩ là tồi, là yếu ớt,
c̣n những cái làm ḿnh hết đời th́ ḿnh lại từng
thích thú.
V.
HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH
CÔNG:
Theo bản
tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar
Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí
cha: VŨ SỬU - DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN
VĂN DIỄM
PHẦN THỨ NĂM
CHƯƠNG 15 : BẢO HIỂM THÁI ĐỘ
Thú
thật, tôi hết sức ngạc nhiên trước cách suy
nghĩ mâu thuẫn của chúng ta về giá trị
tương đối của những điều du nhập
vào tâm trí. Những nhà nghiên cứu nghiêm túc về sự tiến
bộ đều nh́n nhận tầm quan trọng của
giáo dục. Họ trích dẫn hết bài nghiên cứu này
đến bài nghiên cứu khác để khẳng định giá trị của việc giáo dục
và trưng ra đầy đủ bằng chứng để
biện minh cho luận điểm của ḿnh. Họ
"chứng minh" rằng chỉ những điều bạn
sở học - tức những điều bạn
đưa được vào trí khôn mới sinh hiệu quả
và là hiệu quả tích cực. Bởi thế, nhiều kẻ
trong số họ mới có sức chủ xướng là
không cần ǵ phải bận tâm đến sách vở, phim ảnh
khiêu dâm cả v́ bạn có đưa chúng vào trí khôn đâu mà
sợ ảnh hưởng. Tôi mong bạn thấy sự mâu
thuẫn trong lối suy nghĩ đó. Nếu những thông
tin từ trang giấy, lời nói hay phim ảnh có sức
gây hứng khởi giúp bạn tiến lên đỉnh cao tất
nó cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến
sức khích lệ và phẩm hạnh của bạn chứ,
Tôi xin nói ngay
đây không chỉ là ư kiến của cá nhân tôi. Năm 1972,
bác sĩ Trưởng cục y tế Hoa Kỳ, sau hai
năm nghiên cứu, đă công bố những bằng chứng
cho thấy mối quan hệ rơ ràng giữa phim ảnh bạo
lực và thái độ chống phá xă hội. Tiến sĩ
Albert Bendura, thuộc đại học Stanjord và tiến sĩ
Leonard Berkowitz thuộc đại học Wisconsin cũng công
bố những công tŕnh nghiên cứu cho thấy là những
người từng xem phim ảnh bạo lực có thái
độ hung dữ gần gấp đôi những người
chưa xem. Phim ảnh bạo lực có thể khiến mọi
người xem phim trở nên hung hăn hơn, nhất là trẻ
em, v́ chúng dễ bị ám ảnh nhất. Theo tiến sĩ
Berkowtz th́: "Hầu như chắc
chắn những nguời xem phim khiêu dâm dễ nghiêng chiều
về mặt t́nh dục hơn".
VI.
T̀NH
YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH:
(An Giang số 1367, ngày 27/9/1997,
trang 5)
ĂN HẢI SẢN, BÉ SẼ THÔNG
MINH HƠN
Kẽm
chỉ là nguyên tố vi lượng trong cơ thể,
nhưng kẽm lại cực kỳ thiết yếu đối
với sức khoẻ của chúng ta.
Kẽm không chỉ giúp phát triển
thị lực, thể chất mà c̣n tăng các khả
năng xúc giác và vị giác, kẽm cũng giúp hệ miễn
dịch gia tăng khả năng pḥng chống bệnh tật,
kẽm giúp các hồng huyết cầu chống lại dịch
bệnh và ung thư.
Vậy chúng ta t́m kẽm ở
đâu? Kẽm hoàn toàn không phải từ thịt, sữa...
mà là từ các loại hải sản như tôm, cua, cá...
Ngoài những tác dụng của kẽm
nói trên, công dụng quan trọng nhất của kẽm là
giúp các trẻ sơ sinh tăng trọng, phát triển tốt
và thông minh nữa. Theo nghiên cứu của các chuyên gia y tế
tại trường Đại học Alabama (Hoa Kỳ), th́ những
phụ nữ mang thai được dùng thuốc có chứa
nguyên tố kẽm sẽ luôn cho ra đời các cháu bé khoẻ
hơn. Thể tích đầu của các cháu có mẹ dùng
nguyên tố kẽm to hơn thể tích đầu của
các cháu có mẹ không dùng kẽm. Đầu có kích cỡ lớn
hơn có thể giúp bé phát triển trí thông minh hơn, đứa
trẻ bụ bẫm hơn, cân nặng hơn 0,5kg. Đó là
điều mơ ước của tất cả các bà mẹ
trong mọi thời đại. Tuy nhiên cũng nên nhớ rằng,
nếu quá lạm dụng th́ kẽm cũng sẽ gây nên những
hậu quả không tốt.
Bởi vậy, hăy v́ sức khoẻ
và để các con bạn được thông minh hơn, khẩu
phần ăn hàng ngày của các bà mẹ nên có nhiều hải
sản hơn. Đó là lời khuyên tốt nhất cho tất cả
các bà mẹ mang thai.
P.V.
VII.
CHUYỆN
PHIẾM :
Tôi thức dậy
sau một giấc ngủ say.Trong nhà yên tĩnh, vợ tôi
đi dạy chưa về. Loay hoay mở cái khóa mới
tinh ở cửa bếp, tôi rủa thầm trong bụng
"mất ḅ mới lo làm chuồng".
Trước đây cánh
cửa chỉ được khép sơ sài. Ban đêm tôi mới
khóa lại bằng một ống khóa cũ rích, ch́a nào cũng
mở được. Tôi vẫn cho là trộm đạo
nào thèm để ư. Nhà bếp của vợ chồng nhà
giáo, nhôm méo, nhựa thủng, chổi cùn, rế rách. Sáng hôm
đó, cửa bếp mở toang, hai đứa ngẩn
ngơ. Tên trộm gom sạch mọi đồ dùng nhôm, nhựa.
Hắn c̣n mở cái tủ trong góc, gạt hết chai lọ
lỉnh kỉnh ra ngoài lăn lóc trên nền nhà, lấy mất
bộ đồ trà cất sâu trong ngăn.
Bộ đồ trà này
là của cha mẹ học sinh mang đến biếu. Vợ
tôi muốn từ chối nhưng hai ông bà nói tha thiết
quá:
Cháu nó nghịch quá. Cha mẹ
dạy dỗ thế nào cũng không được. Bây giờ
nhờ cô khuyên bảo nó chăm chỉ học hành. Chỉ
có một chút quà nhỏ thôi. Mong cô nhận cho ḷng quư mến
của vợ chồng tôi. Bộ đồ trà đẹp
quá? Tiếc là nhà cửa tềnh toàng không xứng với
nó. Từ ngày đó nó vẫn nằm nguyên trong hộp,
chưa hề được lấy ra một lần. Vợ
tôi thắc mắc: Anh này, làm sao kẻ trộm biết
được bộ đồ trà nằm bên trong đám
chai lọ mà lục ra?
C̣n ai ngoài tên mua ve chai!
Hôm trước hắn vào nhà hỏi mua ve chai. Em đang soạn
hết đồ đạc trong tủ ra để bắt
con gián chui vô tủ. Lúc đứng bên hè nhà, hắn đă thấy?
Biết hắn ăn trộm
nhưng tôi đâu có bằng cớ ǵ. Mỗi tối phải
đi làm ca đêm, tôi đâm ra lo sợ. Vợ tôi yếu
đuối, ở nhà một ḿnh. Tên mua ve chai to con lực
lưỡng. Hắn mới dọn nhà về ở gần
đây. Nguy lắm nếu hắn manh tâm ŕnh rập nhà tôi.
Tôi phải cố kiếm việc khác, khỏi đi làm
đêm mới yên ḷng.
Trước sân có tiếng
lao xao. Tôi đi ra xem. Tụi nhóc hàng xóm chui rào vào hái trộm
cây ổi trước nhà. Thấy vợ tôi về chúng hoảng
hốt bỏ chạy. Một thằng nhỏ xui xẻo vấp
chân ngă chúi xuống. Nó rớt lại sau, bị vợ tôi bắt
được. Thằng nhỏ khóc thảm thiết, hết
sức sợ hăi. Vợ tôi sẽ tha không nỡ mắng nó
đâu. Hạng vơ biền như tôi thấy nó c̣n tội
nghiệp. Thằng nhỏ ốm nhom, trông càng thảm năo
trong cái áo rộng quá khổ, vá nhiều mảnh. Nó run rẩy
như tàu lá chuối giữa cơn dông băo, lắp bắp
nói câu ǵ đó. Tiếng nói của nó lẫn trong tiếng
khóc.
Mặt vợ tôi biến
sắc, phải cố điềm tĩnh mới thốt
được mấy tiếng: Con về đi. Thằng
nhỏ chạy vụt như chim sổ lồng. Vợ tôi
giận lắm, mặt tái mét. Nếu bất chợt trông
thấy vợ tôi lúc này, mọi người sẽ nghĩ
cô vừa gặp một tên cướp tàn ác chứ không phải
thằng nhỏ trộm vặt.
Em làm sao vậy? Không trả
lời, vợ tôi gào lên:
Nó là con lăo mua ve chai. Trời
đất. Hôm mất trộm vợ tôi đâu có giận dữ
như thế này. Không lẽ mối căm giận ghim trong
ḷng, hôm nay chồng lên thằng nhỏ. Nó c̣n nhỏ xíu. Đối
với trẻ con vợ tôi rất dễ mềm ḷng kia mà.
Thằng nhỏ c̣n khờ
lắm. Em giận làm ǵ. Bờ vai nàng run nhẹ trong tay tôi.
Nàng nh́n thẳng vào mắt tôi, thảng thốt: - Thằng
nhỏ nói với em: "Cô tha cho con. Ba con hăm: ăn trộm
mà để bị bắt, tao xiềng mày vô gốc cột
rồi đánh cho què".