CHÚA NHỰT XV

CHỦ ĐỀ :

LUẬT trong lòng

Người Samaria nhân hậu

(Lc 10,25-37)

BÀI ĐỌC I: Đnl 30, 10-14

"Lời ở sát bên các ngươi, để các ngươi thực thi".

 

Trích sách Đệ Nhị Luật.

Môsê nói cùng dân chúng rằng: "Nếu các ngươi nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ các giới răn và huấn thị của Người đã được ghi chép trong sách Luật này, hãy trở về cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng và hết linh hồn các ngươi. Thánh chỉ ta truyền cho các ngươi hôm nay không quá khó khăn cũng không quá sức các ngươi. Nó không phải ở đâu trên trời, để các ngươi có thể nói: 'Ai trong chúng tôi có thể lên trời mang luật xuống giảng cho chúng tôi nghe để chúng tôi thực hành được?' Nó cũng không phải ở bên kia biển, để các ngươi viện lẽ nói rằng: 'Ai trong chúng tôi có thể vượt biển, và mang nó về cho chúng tôi, để chúng tôi được nghe và thực hành điều đã truyền dạy?' Nhưng lời ở sát bên các ngươi, nơi miệng các ngươi, trong lòng các ngươi, để các ngươi thực thi". Đó là lời Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 68, 14 và 17. 30-31. 33-34. 36ab và 37

Đáp: Các bạn khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh (c. 33).

 

Xướng: 1) Lạy Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa, đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời con theo lượng cả đức từ bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy Chúa, xin nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi, xin nhìn đến tấm thân con. - Đáp.

 

2) Phần con, con đau khổ cơ hàn, lạy Chúa, xin gia ân phù trợ bảo toàn thân con. Con sẽ xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng Ngài với bài tri ân. - Đáp.

 

3) Các bạn khiêm cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người cơ khổ và không chê bỏ con dân của Người bị bắt cầm tù. - Đáp.

 

4) Vì Thiên Chúa sẽ cứu độ Sion, Người sẽ tái thiết thành trì của Giuđa, con cháu của bầy tôi Chúa sẽ thừa hưởng đất này, và tại đây những người yêu danh Chúa sẽ định cư. - Đáp.

 

BÀI ĐỌC II: Cl 1, 15-20

"Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người".

 

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.

Đức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Người muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài.chưng, Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người. Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất. Đó là lời Chúa.

 

ALLELUIA: Lc 19, 38

Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. - Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Lc 10, 25-37

"Ai là anh em của tôi?"

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, có một người thông luật đứng dậy hỏi thử Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời". Người nói với ông: "Trong Lề luật đã chép như thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?" Ông trả lời: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình". Chúa Giêsu nói: "Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống". Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Nhưng ai là anh em của tôi?" Chúa Giêsu nói tiếp:

"Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: 'Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông'. Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?" Người thông luật trả lời: "Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy". Và Chúa Giêsu bảo ông: "Ông cũng hãy đi và làm như vậy". Đó là lời Chúa.

 

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I (Đnl 30,10-14) : Luật quan trọng nhất của Thiên Chúa là luật ghi khắc trong lòng mỗi người.

- Tin Mừng (Lc 10,25-37) : Người Samaria tốt lành đã hành động theo luật yêu thương xuất phát cách hân thành từ tấm lòng của anh.

Minh họa

- Mille images 81 B

- Người Samaria nhân hậu (Lc 10,25-37)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Hôm nay chúng ta sẽ nghe dụ ngôn về người Samaria nhân hậu. Qua hình ảnh người Samaria này, Chúa muốn chúng ta hãy quân tâm giúp đỡ chăm sóc người khác. Còn thầy tư tế và thầy lêvi thì xem ra chẳng làm gì nên tội, nhưng thực ra tội của họ chính là tội thiếu sót : họ đã không làm điều lẽ ra họ phải làm.

Trước khi cùng nhau dâng Thánh lễ, chúng ta hãy xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta, những tội trong lời nói, việc làm và cả những tội thiếu sót.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta rất ít quan tâm đến người khác.

- Nhiều việc lành chúng ta có thể làm nhưng chúng ta đã bỏ qua không làm.

- Chúng ta thường thờ ơ dửng dưng trước những người nghèo khổ bệnh tật.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Đnl 30,10-14)

Để khuyến khích dân do thái thực thi những lệnh truyền của Thiên Chúa, ông Môsê lưu ý họ rằng : Những lệnh truyền của Thiên Chúa không quá khó khăn cũng không vượt quá sức con người, nhưng có thể thực hiện được vì chúng không ở trên trời hay ở bên kia biển cả mà ở sát bên con người, nơi miệng con người và trong lòng con người.

2. Đáp ca (Tv 68)

Tv này là lời kêu xin của người đang gặp cảnh khổ, mong được Thiên Chúa cứu giúp.

Những lời này có thể áp dụng cho nạn nhân trong bài Tin Mừng bị kẻ cướp hành hạ đến nửa sống nửa chết và bỏ nằm trên đường.

3. Tin Mừng (Lc 10,25-37)

1. "Ai là người thân cận của tôi ?" Câu hỏi này của vị Luật sĩ phản ảnh phần nào chiều hướng suy nghĩ của ông :

- Ông muốn tìm một câu định nghĩa về "người thân cận". Người do thái thời đó hiểu "người thân cận" chỉ là những đồng bào do thái với mình.

- Ông muốn nghe một câu trả lời có tính lý thuyết.

2. Dụ ngôn người Samari phản ảnh chiều hướng suy nghĩ của Chúa Giêsu :

- Định nghĩa về "người thân cận" không quan trọng bằng thực thi bác ái với người thân cận (câu 37)

- Người thân cận là bất cứ ai (không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm...). Hình như hai nhân vật chính trong dụ ngôn này một người là do thái một người là Samari.

- Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt hơn nên tỏ ra mình là người thân cận đối với những kẻ đang cần mình giúp đỡ (câu 36)

4. Bài đọc II (Cl 1,15-20) (Chủ đề phụ)

Tín hữu Côlossê tuy đã tin vào Chúa Giêsu Kitô nhưng chưa an tâm, một mặt họ vẫn giữ lại những tập tục do thái giáo (như cắt bì, giữ luật ngày Sabát…), mặt khác họ tin thêm một số thần khác, làm thêm một số việc mê tín dị đoan. Họ nghĩ rằng như thế thì "chắc ăn" hơn.

Để bài trừ cách sống đạo "thập cẩm" này, thánh Phaolô đề cao vai trò tối thượng duy nhất của Chúa Giêsu :

- Ngài là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình

- Ngài là trưởng tử mọi thọ tạo

- Mọi thọ tạo đều được tạo thành trong Ngài

- Ngài còn là đầu của Hội Thánh

- Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự viên mãn trong Ngài

Tóm lại, Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu độ duy nhất. Bởi vậy, muốn được cứu độ thì chỉ cần tin vào một mình Chúa Giêsu Kitô, không cần nhờ bất cứ tôn giáo hay thần thánh nào khác.

IV. GỢI Ý GIẢNG

* 1. Các vai trong dụ ngôn

Thầy tư tế và thầy Lêvi là những người chỉ quan tâm đến bản thân mình : khi gặp một tình huống đặc biệt, họ nghĩ đến bản thân họ trước (không dừng lại chăm sóc người bị nạn vì sợ trễ giờ, vì sợ ô uế nếu đụng vào xác chết).

Người Samaria là người biết nghĩ đến người khác : khi gặp người bị nạn, anh chỉ biết tìm cách giúp đỡ nạn nhân, không ngại mất giờ, mất công và mất tiền.

Thầy tư tế và thầy lêvi chú ý giữ luật ghi trên sách vở (luật quy định về thanh sạch và ô uế) ; Người Samaria giữ luật trong tim (luật yêu thương)

Thầy tư tế và thấy lêvi không phạm tội nào về lời nói hay việc làm, nhưng phạm tội thiếu sót vì đã bỏ qua không làm điều mình phải làm.

* 2. Người chăm sóc

Người Samaria là một người chăm sóc (carer)

Loại người này rất hiếm thấy trong xã hội, vì trong xã hội ai nấy chỉ biết lo cho mình, ít ai để ý chăm sóc người khác, nhất là chăm sóc những người xa lạ không có quan hệ gì tới mình.

Nhưng loại người này rất hữu ích cho xã hội. Bằng những việc chăm sóc âm thầm, nhỏ bé, họ chính là muối và men làm cho xã hội bớt đau khổ, bớt xấu xa và thêm tốt đẹp.

Khi đề cao người Samaria, Chúa Giêsu muốn chúng ta cũng phải là những người chăm sóc. Con đường Giêrusalem tới Giêricô chính là đường đời, trên đó không thiếu những người bất hạnh cần được chăm sóc. Mỗi người cũng được Chúa ban có nhiều khả năng chăm sóc : một lời an ủi động viên, một cử chỉ thân ái, một giúp đỡ thiết thực chính là chút rượu và chút dầu xoa dịu những thương đau cho người anh em mình đang gặp đau khổ. (FM)

* 3. Lòng tốt tự phát

Có nhiều người làm một việc tốt cách hết sức tự nhiên và dễ dàng. Đó là những người mà luật yêu thương đã ăn sâu vào con tim mình, đã trở thành máu thịt và hơi thở của mình.

Người Samaria trong dụ ngôn này là một người như thế : khi gặp một nạn nhân trên đường, anh không cần suy nghĩ gì cả mà tự nhiên xuống lừa, cúi xuống lấy dầu và rượu xoa dịu những vết thương của nạn nhân, rồi chở nạn nhân đến quán trọ, bỏ tiền ra nhờ chủ quán tiếp tục lo cho nạn nhân.

Khác hẳn với Thầy tư tế và thầy Lêvi : hai người này cũng thấy cảnh đó, nhưng đắn đo suy tính thiệt hơn. Và sau khi suy tính, họ chọn giải pháp "đi qua". Họ thuộc luật rất nhiều đấy, nhưng luật chưa ăn sâu vào tim và chưa trở thành máu thịt và hơi thở của họ.

Làm thế nào để có lòng tốt tự phát như người Samaria ? Việc này không phải muốn là được, không phải chỉ cố gắng tập một lần mà có, mà là kết quả của việc thực thi những việc tốt nho nhỏ cách đều đặn và kiên trì. Một hành động tốt cao cả là thành quả của nhiều hành động tốt nho nhỏ đã quen làm trước đó. Phần thưởng đích thực của một hành động tốt là nó giúp ta có thể làm thêm những hành động tốt khác một cách dễ dàng hơn.

* 4. Yêu rồi làm

Một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ. Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo :

- Thầy không biết yêu sao ?

Vị ẩn sĩ trả lời :

- Chưa đến giờ đó thôi ?

Câu chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị.

Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói :

- Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót !

Người thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay hỏi Chúa Giêsu : "Ai là người thân cận của tôi ?" Thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người Samari tốt lành : Một khách bộ hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ nằm nửa sống nửa chết bên lề đường. Trong khi hai thầy tư tế và Lê vi "tránh qua bên kia mà đi", thì người Samari ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà trọ săn sóc.

Chúa Giêsu hỏi lại người thông luật : "Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp ?". Hỏi tức là trả lời. Và người thông luật đáp : "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót". Chúa Giêsu bảo : "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10,37).

Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samari nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là "yêu bằng việc làm". Yêu không chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì cả, mà yêu chính là "miệng nói tay làm", làm thực sự với hết khả năng của mình. Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông. Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó : "Hãy đi và làm như vậy". Pascal đã nói : "Khuyết tật lớn nhất của một người là phục vụ quá ít cho những kẻ họ yêu thương".

Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ.

Sở dĩ thầy tư tế và thầy Lê vi "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.

Sở dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn, tiện nghi của mình. Chúng ta muốn được yên thân ! Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị đánh nhừ tử ?". Trái lại, người Samari đã đảo ngược câu hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra cho người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại và chăm sóc người ấy ?" Người Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha đầy nguy hiểm.

Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Yêu thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân : Kahil Gibram có một câu nói chí tình : "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi". Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên thân, con người càng vong thân.

Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống phục vụ tha nhân.

Con người chỉ thành đạt thực sự, con người chỉ thục sự là người khi họ dám sống chết cho anh em.

Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác. Mẹ Têrêsa Calcutta nói : "Ki tô hữu là người trao ban chính bản thân mình".

Yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả thân vì mọi người, nhất là những người nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt, chỉ cần chúng ta dám đừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em.

Lạy Chúa cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc.

Xin đừng để chúng con loay hoay với những tính toán ích kỷ ; chai đá, dửng dưng trước những khổ đau của anh em. Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen (TP)

5. Chuyện minh họa

a/ Lòng hiếu khách tự nhiên

Alaska là một vùng đất đẹp thu hút nhiều du khách, nhưng cũng là một vùng rộng lớn thưa dân.

Ngày kia, một du khách lái xe đi thăm các thắng cảnh thiên nhiên. Quá mãi mê ngắm cảnh, xe của ông lạc vào một vùng hoang vu. Rủi thay chính lúc đó xe ông bị hư. Sau một hồi lâu tìm kiếm, ông may mắn gặp được một nông trại và xin ông chủ nông trại ấy giúp sửa dùm chiếc xe. Người chủ nông trại nhanh nhẹn lấy đồ nghề ra. Nửa giờ sau xe chạy được. Người du khách móc ví tiền ra, hỏi :

- Tôi phải trả công cho ông bao nhiêu ?

- Thôi, khỏi phải trả chi cả.

- Nhưng tôi thấy có bổn phận trả lại cho ông điều ông đã làm cho tôi.

- Thì ông đã trả rồi đó.

- Xin lỗi, tôi chưa hiểu ông muốn nói gì ?

- Ở nơi hoang vu này, tôi rất cô đơn nên cần có bạn. Ông đã cho tôi có dịp làm bạn với ông suốt một giờ đồng hồ vừa qua.

b/ Bản năng giúp người khác

Larry Skutnik là một người có tính nhút nhát làm việc cho một công sở ở Washington. Chiều ngày 13 tháng giêng năm 1982, một trận bão tuyết rất lớn đổ xuống thành phố này. Xe anh đang trên đường về nhà thì bị kẹt trên cầu bắt qua sông Potomac. Lý do là có một chiếc máy bay chở 79 người đã đâm đầu xuống sông. Anh bước khỏi xe để quan sát và thấy có 3 người đang bám vào đuôi chiếc máy bay đang chìm dần xuống nước. Một chiếc trực thăng đã đến kịp. 3 người ấy leo lên trực thăng. Nhưng chỉ 2 người bám dính, còn người thứ ba, một phụ nữ, vuột tay rơi trở lại xuống nước.

Không chút ngần ngại, Larry Skutnik nhảy tòm xuống sông, lặn xuống dòng nước lạnh cóng để tìm kiếm nạn nhân. Một lúc sau anh đã tìm được và đưa bà này lên bờ.

Tất cả những diễn tiến của cảnh đó đều được thu hình và sau đó được đưa lên truyền hình. Mọi người đều ca ngợi anh là một vị anh hùng. Sáng hôm sau, một phóng viên tới phỏng vấn :

- Do đâu mà anh đã làm được một hành động anh hùng như thế ?

- Quả thực hai chữ "anh hùng" làm tôi xấu hổ quá. Tôi đâu có cố gắng gì đâu, chỉ là phản xạ tự nhiên thôi.

Anh hùng thật là người làm hành động anh hùng một cách tự nhiên như phản xạ. Người tốt thật là người làm việc tốt một cách rất tự nhiên.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, đạo Chúa Kitô là đạo tình thương, chỉ dùng tình thương mà cảm hóa và chinh phục người khác. Với quyết tâm sống trọn vẹn đức bác ái yêu thương Chúa đã dạy, chúng ta cùng dâng lời cầu xin :

1. Hội thánh là dấu chỉ tình thương của Chúa đối với nhân loại / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đình Hội thánh / biết luôn chân thành yêu thương / và tôn trọng hết thảy mọi người.

2. Trên thế giới ngày nay / chiến tranh và khủng bố / hận thù và bạo lực / vẫn còn đang hoành hành ở nhiều nơi / gây ra tang tóc và đau khổ cho biết bao gia đình / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa Kitô tác động đến mọi suy nghĩ / lời nói và việc làm của con người hôm nay.

3. Trong đời sống thường ngày / có một số người ngại phiền phức / sợ cực nhọc khi phải giúp đỡ người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho tất cả mọi người Kitô hữu biết sống quảng đại / và sẵn sàng trợ giúp những ai đang lâm cảnh gian truân khốn khó.

4. Sống bác ái là chu toàn cả Lề Luật của Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết rộng rãi chia sẻ cơm áo cho những ai đói rách bần cùng.

Chủ tế : Lạy Chúa, đức tin đòi buộc chúng con phải sống đức ái. Vậy xin Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con có thể sống trọn vẹn niềm tin của mình. Chúng con cầu xin

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu đã kêu mời chúng ta hãy yêu thương giúp đỡ nhau như những anh em cùng một Cha. Vậy chúng ta hãy cùng Ngài dâng lên Chúa Cha lời kinh say đây :

- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là lối sống thờ ơ ích kỷ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…

VII. GIẢI TÁN

Sau khi kể cho người thông luật nghe dụ ngôn về người Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu đã bảo người đó : "Anh cũng hãy đi và làm như vậy". Trong Thánh lễ này, Chúa Giêsu cũng kể lại cho chúng ta nghe dụ ngôn ấy. Giờ đây Thánh lễ đã xong, Ngài cũng bảo chúng ta : "Chúng con hãy đi và làm như vậy". Chúc anh chị em ra về bình an.


Bài đọc thêm

THƯ GỞI GIÁO ĐOÀN CÔLÔXÊ

* Được trích đọc trong bài đọc II từ Chúa nhật thứ 15 đến Chúa nhật thứ 18.

A. GIÁO ĐOÀN CÔLÔXÊ

1. Côlôxê là một thành phố cách Êphêxô khoảng 160 km về phía Đông. Gần đó còn có hai thành Laođixê và Hiêrapolis. 3 thành này có nhiều liên hệ với nhau (x. Cl 4,15-16)

2. Giáo đoàn Côlôxê không phải do Phaolô thành lập nhưng do một môn đệ của Phaolô tên là Epaphras người gốc Côlôxê (x. Cl 4,12). Cũng như hầu hết các giáo đoàn khác, giáo đoàn Côlôxê gồm phần đông là người lương tòng giáo và một phần nhỏ người do thái tòng giáo.

B. HOÀN CẢNH VIẾT THƯ

Như ta đã biết, giáo đoàn Côlôxê do Epaphras một môn đệ của Phaolô thành lập. Đang khi Phaolô bị cầm tù (lần này ở Rôma) thì trong giáo đoàn có chuyện khó khăn, không phải do tranh chấp nội bộ mà là khó khăn về giáo lý. Epaphras tới Rôma thăm Phaolô và trình bày khó khăn ấy. Dù tín hữu Côlôxê chưa biết mặt Phaolô, cùng lắm chỉ mới nghe tên (x. Cl 2,1 & 1,4.9), nhưng với tâm hồn nhiệt thành của một vị tông đồ, Phaolô ý thức ngay mối nguy hiểm đang đe dọa đức tin tinh tuyền của giáo đoàn nên liền viết thư này. Bởi chưa quen biết với giáo đoàn nên Phaolô không gởi thư suông mà muốn có người tới tận giáo đoàn để giải thích bức thư. Nhưng bản thân Phaolô đang ngồi tù không đi được nên ông phái 2 môn đệ thân tín đi, là Tychique (4,7) và Onésisme (4,9).

Thời điểm và địa điểm viết thư : khoảng 61-63 tại Rôma

C. MỤC TIÊU : GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN CỦA CÔLÔXÊ

1. Từ hồi giáo đoàn mới thành lập, tín hữu Côlôxê đã tin vào Đức Kitô như là nguyên nhân cứu độ duy nhất. Nhưng do ảnh hưởng của người do thái và người ngoại, dần dà họ hồ nghi niềm tin của mình : họ nghĩ rằng chỉ tin vào Đức Kitô thì e chưa đủ nên cần phải tin và làm thêm một số điều nữa cho chắc ăn. Những điều thêm vào này họ lấy từ nhiều phía :

- một phần từ đạo do thái : cắt bì, luật Môsê...

- một phần từ tín ngưỡng của dân ngoại : thờ tinh tú, coi lịch xem ngày...

- một phần từ những ý tưởng manh nha mà sau này sẽ thành thuyết Tiền-ngộ-đạo : khinh chê xác thịt, kiêng cữ ăn uống...

Nếu muốn dùng một thuật ngữ để tóm tắt cái khó khăn giáo lý của Côlôxê lúc ấy, ta có thể dùng chữ "Đạo thập cẩm", tương tự như Đạo Cao Đài bên ta tổng hợp tín ngưỡng của nhiều đạo khác lại thành Đại Đạo.

2. Niềm tin thập cẩm này đĩ nhiên chứng tỏ thiếu tin vào Đức Kitô. Chính đây là điểm khiến Phaolô lo lắng. Vì vậy trong thư này ông hết sức thuyết phục tín hữu hãy đặt trọn vẹn niềm tin vào Đức Kitô, Đấng là "tất cả trong tất cả".

D. NỘI DUNG

1. Địa vị tối thượng của Đức Kitô : 1,13-23

Phaolô trình bày địa vị tối thượng của Đức Kitô bằng 1 thánh thi gồm 2 phần :

a/ Đức Kitô tối thượng trong công trình tạo dựng (cc 15-17)

- Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình : tất cả mọi triết thuyết thời đó đều nhìn nhận có một nguyên lý tối cao là Thượng đế ; Thượng đế tỏ mình ra bằng hình ảnh của ngài. Nhưng vấn đề là hình ảnh đó là gì. Platon bảo đó là vũ trụ, Philon bảo đó là Logos, còn Phaolô quả quyết đó là Đức Giêsu Kitô.

- Ngài là Con Trưởng của mọi loài thụ tạo ie Ngài lớn hơn hết, hiện hữu trước hết và có quyền trên hết mọi thụ tạo.

- Do Ngài mà mọi loài đã được dựng nên gồm cả những loài hữu hình và vô hình và cả những "thần". Phaolô nói "thần" là tạm xử dụng ngôn ngữ của dân ngoại để chứng minh rằng ngay cả những "thần" ấy cũng thấp hơn Đức Giêsu Kitô.

* Tóm lại, Đức Kitô có trước tất cả và ở trên tất cả mọi loài.

   b/ Đức Kitô tối thượng trong công trình cứu độ (cc 18-20)

   - Ngài là cội nguồn mọi ơn.

   - Vì ý của Thiên Chúa đã muốn rằng nơi Ngài chứa toàn viên mãn

   - Nhờ Ngài mà mọi loài được hòa giải với Thiên Chúa.

   - Hơn nữa máu Ngài đổ ra đã tạo nên bình an dưới thế và trên trời.

2. Bài bác những sai lầm : 1,24-3,4

2,03 :     "Đức Kitô giấu nơi mình mọi kho tàng khôn ngoan thông thái". Vậy đừng tốn công vô ích tìm kiếm 1 thứ khôn ngoan nào khác (bài bác thuyết Tiền ngộ đạo)

2,08       "Chớ để ai bắt làm mồi ngon cho họ do cái tròng triết lý hư không" : một khi đã được soi sáng bởi Đức Kitô mà còn quay trở lại với các thứ triết lý người phàm khác thì cũng như bị rơi vào tròng nô lệ (bài bác mọi nguồn khôn ngoan thế phàm)

2,11t      Cũng chẳng cần phải nhờ tới phép cắt bì do thái, vì tín hữu đã có một phép cắt bì mới hoàn hảo hơn nhiều, tức là cắt bì trong Đức Kitô, nghĩa là Phép Thanh Tẩy (bài bác do thái giáo)

2,14       "Hủy tờ cáo trạng gồm các lệnh truyền" : Phaolô ám chỉ các lề luật do thái. Chúng cũng đã nên vô ích (bài bác do thái giáo)

2,15       Lột chức các "thần" : chẳng có thần thánh nào bằng Đức Kitô (bài bác đa thần)

2,16       Tín hữu chớ nên áy náy rồi lo kiêng ăn uống, xem trăng, xem ngày (bài bác những mê tín của dân ngoại)

2,17       Đừng thờ cúng các tinh tú mà người ta coi là thiên thần (bài bác mê tín)

2,23       Chống lại thuyết Tiền ngô đạo : họ nói là coi khinh xác thịt nhưng thực ra vịn lẽ xác thịt chẳng ăn nhằm gì cho nên cứ sống lăng loàn.

3. Cuộc sống của kitô hữu

Sau khi trình bày Đức Kitô như là Đấng Tối Thượng trong công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc, Phaolô dạy các tín hữu một cách sống : đó là quy chiếu tất cả vào Đức Kitô, không cần cậy dựa vào bất cứ thứ gì khác, bời vì "Đức Kitô là tất cả và nơi tất cả mọi người" (3,11)

 

GÓP GIÓ

 

Chiếc lá hoàn mỹ

Ngày xưa, có một vị đại sư muốn chọn một đệ tử làm người nối dõi. Một hôm, ông bảo hai đệ tử rằng: “Các con hãy ra ngoài và chọn về đây cho ta 1 chiếc lá đẹp nhất, hoàn mỹ nhất.”

 

Hai đệ tử vâng lời thầy đi tìm lá. Thoáng chốc, người anh quay về và trình cho đại sư một chiếc lá không được đẹp lắm: “Thưa thầy, tuy chiếc lá này không phải là hoàn mỹ nhất nhưng nó là chiếc lá hoàn mỹ nhất mà con thấy”.

 

Người em đi cả ngày trời và quay về với 2 bàn tay trắng, người em nói với vị đại sư: “Thưa thầy, con đã tìm và thấy rất nhiều lá đẹp, nhưng con không thể nào chọn được chiếc lá hoàn mỹ nhất.” Cuối cùng, vị đại sư đã chọn người anh.

 

“Tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất”, chúng ta vẫn cứ luôn nghĩ đến việc “hoàn mỹ nhất” nhưng nếu bạn cứ một mực đi tìm mà không nhìn vào thực tế, không so sánh với thực tế thì bạn cứ phải vất vả để rồi… trắng tay. Cho đến một ngày nào đó, bạn mới phát hiện rằng: Chỉ vì mãi đi tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất mà bạn đã bỏ qua biết bao cơ hội lớn một cách đáng tiếc!

 

Hơn nữa, thứ hoàn mỹ nhất của con người cuối cùng có được bao nhiêu? Trên đời này đã xảy ra không ít chuyện đáng tiếc, đó cũng do một số người xa rời thực tế đi tìm “chiếc lá hoàn mỹ nhất”, coi thường cuộc sống đạm bạc. Nhưng chính trong cuộc sống đạm bạc, vô vị đó mới chất chứa những điều kỳ diệu và to lớn. Điều quan trọng là thái độ của bạn như thế nào khi đối diện với nó.

 

Trong cuộc sống chúng ta, không nhất thiết cứ phải theo đuổi những thứ hoàn mỹ mà chỉ cần bình tâm lại, từng bước từng bước tìm chiếc là mà bạn cho rằng là hoàn mỹ nhất.

 

Hãy can đảm bước đi

Đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi... Tôi hi vọng đó cũng sẽ là sự lựa chọn của bạn và tôi khi đứng trước cánh đồng cuộc đời bao la này...

 

Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy.

 

Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm:

 

“ Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó.

 

Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.

 

Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng. Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì- nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới...

 

Đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ - đó là sự chọn lựa của hạt giống thứ hai.

 

Tôi hi vọng đó cũng sẽ là sự lựa chọn của bạn và tôi khi đứng trước cánh đồng cuộc đời bao la này...

 

Niềm vui bé bỏng!

Tôi học thêm ở một trung tâm nọ đã hơn hai năm rồi.Mỗi khi chiều về,tôi thường thấy một ông lão già nua ngồi bán những con châu chấu bằng lá dừa trước cổng.Dù mưa hay nắng,tôi vẫn thấy ông lão đội chiếc nón sụp xuống che nửa mặt,tay cầm cây treo đàn châu chấu.Rất nhiều người ngoái lại nhìn ông bằng ánh mắt lạ lùng khó hiểu.Có hôm,ông tặng châu chấu cho cô bé bán hàng rong,bữa khác ông lại đưa tận tay 1 cậu bé bán vé số một con châu chấu trước khi về,ánh mắt sáng lấp lánh niềm vui....Tôi rất tò mò,thắc mắc về chuyện bán châu chấu của ông.Một hôm,tôi cố tình đi học sớm và lân la đến trò chuyện với ông:"Ông ơi!ngồi cả buổi,cháu thấy ông bán chẳng được bao nhiêu.Cực thân lắm đấy!"

 

Ông lão cười rung rinh chòm râu trắng trước câu nói của tôi:"Điều đó không quan trọng đâu,cháu àh!Lúc bé ông đã từng sướng mê ly khi được ba làm cho con châu chấu bằng lá dừa xanh.Và bây giờ,ông như sống lại với kỉ niệm xưa,ngập tràn hạnh phúc khi thấy các cháu mân mê,thích thú trước những vật nhỏ do mình tạo ra...."

 

Hạnh phúc đôi khi chỉ là những điều bé nhỏ mà ta nhận thấy khi mang niềm vui đến cho ngưới khác.Thế mà bây giờ tôi mới hiểu điều đó.Ngốc thật!  

 

Góc thiếu của mỗi người

(Hoathuytinh.com) “Ô, ta đi tìm một góc bị thất lạc,

Đi qua cả chân trời góc bể,

Hành trình vạn lý không sợ xa xôi,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc...”

 

Câu chuyện ngụ ngôn về “thiếu” và “đủ”

 

Hắn thiếu một góc, và hắn rất buồn về điều đó. Hắn bắt đầu đi tìm góc còn thiếu của mình. Hắn đi về phía trước, hát mấy câu hát thế này:

"Ô, ta đi tìm một góc bị thất lạc,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc,

A ha, lên đường nào, đi tìm góc bị thất lạc".

 

Có lúc, hắn phải chịu cái nắng thiêu đốt của mặt trời,

Tiếp đó lại là trận mưa lạnh,

Có lúc bị tuyết làm cho lạnh cóng. Nhưng sau đó mặt trời lại hiện ra sưởi ấm hắn.

 

Có lẽ vì hắn thiếu một góc không thể lăn nhanh được. Nên đôi lúc dừng lại nói chuyện với bác giun,

 

Hoặc hít hà hương thơm của hoa,

Cũng có lúc hắn lăn nhanh, vượt qua cả bọ cánh cứng,

Cũng có lúc để bọ cánh cứng vượt qua.

 

Khi vui, chính là những lúc thế này đây...

 

Hắn tiếp tục đi, vượt qua cả biển lớn.

 

“Ô, ta đi tìm một góc bị thất lạc,

Đi qua cả chân trời góc bể,

Hành trình vạn lý không sợ xa xôi,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc”.

 

Vượt qua cả ao sâu, rừng rậm.

Trèo đèo,

Trượt dốc,

 

Cho đến một ngày, xem này!

“Ta đã tìm thấy một góc bị thất lạc rồi.”

Hắn reo lên!

“Ta đã tìm thấy góc bị thất lạc,

Hành trình vạn lý không sợ xa xôi

Ta tìm thấy rồi...”

“Chờ chút đã” Cái góc nhỏ nói

“Đừng có hát cái gì đường xá xa xôi...”

 

“Tôi không phải là cái góc bị thất lạc của anh,

Tôi không phải là cái góc của ai cả.

Tôi là góc của riêng tôi .

Cho dù là góc bị thất lạc của ai đó đi chăng nữa,

Tin chắc tôi không phải là của anh.”

 

“Ồ”, Hắn buồn buồn nói

“Xin lỗi đã làm phiền”

Hắn lại tiếp tục lên đường

 

Hắn tìm thấy một góc khác,

Nhưng lại nhỏ quá!

Còn cái góc này thì lại lớn quá!

Cái góc này lại quá nhọn!

Cái góc này lại quá vuông vắn!

 

Có một lần, hắn tìm thấy một góc thiếu vừa xinh... Nhưng hắn giữ không chặt.

Cái góc khuyết bị rơi mất.

Lần khác, hắn tóm chặt quá,

Khiến nó vỡ vụn.

 

Hắn lại tiếp tục lên đường,

Và gặp phải không ít hiểm nguy.

Rơi xuống vực,

Đụng đầu vào tường đá,

 

Sau đó, một ngày kia, hắn lại gặp được một cái góc khác, có vẻ rất hợp.

 

“Halo” hắn chào.

“Halo” cái góc kia chào.

“Cậu là một góc bị thất lạc của ai phải không?”

“Không”

“Thế thì cậu chỉ là góc của cậu thôi à?”

“Tôi có thể là một góc bị thất lạc của ai đó, và cũng là một góc của riêng tôi.”

“Cậu không muốn làm một góc của tôi có đúng không?”

“Không hẳn là như thế.”

“Có lẽ chúng ta không thật hợp nhau lắm...”

“Đừng nói vậy...”

 

“Thế nào?”

“Cảm giác rất tuyệt!”

 

Rất hợp!

Hợp quá đi mất!

Phù, rốt cục thì cũng tìm thấy! Tìm thấy rồi!

 

Hắn lăn về phía trước, vì không khuyết góc nào nên hắn càng lăn càng nhanh. Từ trước tới giờ, chưa bao giờ lăn nhanh như thế.

 

Cũng không thể thưởng thức hương thơm của hoa,

 

Bươm bướm cũng không ghé chân đậu lên mình hắn,

 

Mà hắn cũng không thể hát bài hát vui vẻ của hắn nữa.

Hắn chỉ có thể hát rằng:

“Ta đã tìm được một góc thất lạc của ta...”

 

Hắn lại tiếp tục hát:

“Ô, khao khao khơ khớ y khao,

Khao khao khơ khớ y khao,

Khản khẩy khủ khẩn khu kha khẻo khảo khảo...”

Ôi trời,

Hắn chẳng thiếu thốn gì,

Mà sao không hát được nữa thế này.

 

“Mình hiểu rồi.” Hắn nghĩ. “Có nguyên do cả đây”

Và hắn dừng lại.

 

Nhẹ nhàng thả góc thiếu kia ra.

 

Rồi ung dung đi tiếp,

 

Hắn vừa đi, vừa khe khẽ hát:

 

“Ô, ta đi tìm một góc bị thất lạc,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc,

A ha, lên đường thôi,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc.”

 

A ha, lên đường thôi,

Ta đi tìm một góc bị thất lạc...

 

Vấn đề chín chắn...

 

Theo quan sát của tôi trong nhiều năm qua, tôi phát hiện ra rằng, chưa có ai có cuộc đời hoàn mỹ không khiếm khuyết cả, mỗi người đều có thiếu sót.

 

Có người cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, thu nhập cao, nhưng lại mắc bệnh vô sinh; Có người tài sắc vẹn toàn, giỏi giang, nhưng đường tình lại trắc trở; Có người gia đình giàu có, nhưng con cháu không hiếu thuận; Có người có vẻ rất tốt số, nhưng cả cuộc đời đầu óc chỉ rỗng tuếch.

 

Trong cuộc sống của mỗi người, đều bị thượng đế vạch một khuyết. Anh không muốn có nó, nó vẫn bám theo anh như hình với bóng.

 

Trước kia tôi cũng đã từng hận những thiếu sót trong cuộc đời tôi. Nhưng bây giờ, tôi đã mở rộng lòng để đón nhận nó. Bởi vì tôi hiểu rằng, khiếm khuyết trong cuộc đời, giống như cái gai trên lưng ta, luôn luôn nhắc nhở ta khiêm tốn và phải biết thương người hơn.

 

Nếu không có những buồn khổ, chúng ta sẽ kiêu ngạo, không có những thay đổi, chúng ta sẽ chẳng thể an ủi người bất hạnh ta bằng trái tim đồng cảm.

 

Tôi cũng tin rằng, cuộc sống không nên hoàn thiện quá, có khiếm khuyết, để may mắn đến với người khác cũng là một điều hay.

 

Anh không cần phải có mọi thứ, nếu anh có đủ, người khác sẽ thế nào?

 

Và nhận ra rằng mỗi cuộc đời đều có khiếm khuyết, tôi sẽ không so đo với người khác, ngược lại, tôi càng quý những gì mình đã có hơn.

 

Vậy nên, đừng ngưỡng mộ những gì người khác có, hãy kiểm lại những gì thượng đế dành cho anh, anh sẽ nhận ra rằng, những cái anh có, nhiều hơn những gì anh không có.

 

Phần khiếm khuyết, tuy chẳng đẹp, nhưng cũng là một phần của cuộc đời anh, chấp nhận nó và đối xử tốt với nó, cuộc sống của anh sẽ vui hơn và cởi mở hơn.

 

Nếu anh là một con trai, anh chấp nhận đau đớn cả đời để kết tinh một hòn ngọc trai... Hay anh không muốn có ngọc để có một cuộc sống yên lành?!

 

Nếu anh là một con chuột, bỗng phát hiện ra mình đang bị nhốt trong cái bẫy bắt chuột, trước mặt là miếng bánh gatô thơm phức, anh sẽ ăn miếng bánh hay là bỏ đó?!

 

Trước kia, dụng cụ để dành tiền đều làm bằng sứ, khi đã đầy tiền, phải đập vỡ mới lấy được tiền ra... Nếu có một ống dành tiền như vậy, nếu không có đồng nào thả vào, nếu cứ lành lặn đến tận ngày nay... Nó sẽ là một món đồ cổ quý giá. Anh muốn làm ống đựng tiền như thế không?!

 

Hãy ghi lại từng câu trả lời của anh mỗi khi anh nghĩ đến... Cho đến một ngày nào đó, câu trả lời của anh không thay đổi... Khi đó, anh đã đủ chín chắn!

 

Tìm một người hiểu bạn... Và hãy mong bạn là người hiểu anh ấy...

 

Người thông minh thích đoán tâm sự của người khác. Tuy lần nào cũng đoán đúng nhưng lại đánh mất cái tâm của mình.

 

Người ngốc nghếch thích cởi mở trái tim mình. Tuy lần nào cũng bị người ta cười nhạo nhưng lại có được tấm lòng của mọi người.

 

Cá nói: Anh không nhìn thấy nước mắt của tôi, vì tôi sống trong nước. Nước nói: Tôi có thể cảm nhận được nước mắt của chị; vì chị ở trong trái tim tôi!

 

Hãy tin rằng luôn có một ai đó dành riêng cho mình, và tiếp tục cuộc hành trình...

 

N.L

(st)

 

13 lời khuyên trong cuộc sống

1. Tôi yêu em không phải vì em là ai mà là vì tôi là ai khi tôi ở cùng với em

 

2. Không ai đáng để em khóc và người xứng đáng thì chắc chắn không bao giờ làm cho em phải rơi lệ

 

3. Nếu một người nào đó không yêu em như em muốn thì điều đó không có nghĩa là người đó không yêu em bằng cả tâm hồn

 

4. Một người bạn thật sự là người khi cầm tay em thì đã chạm đến trái tim em rồi.

 

5. Cách tồi tệ nhất để cảm thấy mình đang mất một người là ngồi cạnh anh ta mà biết rằng anh ta sẽ chẳng bao giờ thuộc về mình.

 

6. Hãy luôn luôn mỉm cười ngay cả khi bạn buồn bởi vì bạn không biết rằng ai đó có thể yêu bạn vì chính nụ cười đó.

 

7. Có thể đối với thế giới bạn chỉ là một người nhưng đối với một số người, bạn là cả thế giới.

 

8. Đừng bao giờ mất thời gian với người không sẵn sàng chia xẻ khoảng thời gian đó cùng với bạn.

 

9. Có thể Chúa muốn bạn gặp được nhiều người xấu trước khi gặp được một người tốt, để bạn phải biết ơn Người khi bạn tìm thấy anh ta.

 

10. Đừng nên khóc vì những điều đã kết thúc mà nên cười vì những điều đã xảy ra.

 

11. Sẽ luôn có người chỉ trích bạn. Nhưng hãy tiếp tục tin tưởng trong khi chú ý đến những người bạn sẽ tin tưởng hai lần.

 

12. Trở thành một người tốt và biết mình là ai trước khi tìm hiểu người khác và đợi họ nhận ra mình là ai

 

13. Đừng chạy nhanh quá, những điều tốt đẹp nhất đến với bạn nếu bạn biết đợi chúng ít nhất

 

Hãy gửi những lời này đến những người bạn của bạn vì bất cứ lý do nào ngay cả khi bạn không gặp họ thường xuyên và không nói chuyện nhiều với họ.

 

Và hãy nhớ rằng...

“Tất cả những gì đến với mình đều với một lý do nào đó”