CHÚA NHỰT XV
CHỦ ĐỀ :
LUẬT
trong lòng
Người Samaria nhân hậu
(Lc 10,25-37)
BÀI ĐỌC I:
Đnl 30, 10-14
"Lời ở
sát bên các ngươi, để các ngươi thực
thi".
Trích sách Đệ
Nhị Luật.
Môsê nói cùng dân chúng rằng:
"Nếu các ngươi nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các
ngươi, hãy tuân giữ các giới răn và huấn thị
của Người đã được ghi chép trong sách Luật
này, hãy trở về cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết
lòng và hết linh hồn các ngươi. Thánh
chỉ ta truyền cho các ngươi hôm nay không quá khó
khăn cũng không quá sức các ngươi. Nó không phải
ở đâu trên trời, để các ngươi có thể
nói: 'Ai trong chúng tôi có thể lên trời mang luật xuống
giảng cho chúng tôi nghe để chúng tôi thực hành
được?' Nó cũng không phải ở bên kia biển, để các ngươi viện
lẽ nói rằng: 'Ai trong chúng tôi có thể vượt biển,
và mang nó về cho chúng tôi, để chúng tôi được
nghe và thực hành điều đã truyền dạy?'
Nhưng lời ở sát bên các ngươi, nơi miệng
các ngươi, trong lòng các ngươi, để các
ngươi thực thi". Đó là lời
Chúa.
ĐÁP CA: Tv 68, 14 và 17. 30-31. 33-34. 36ab và 37
Đáp: Các bạn
khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi
sinh (c. 33).
Xướng: 1) Lạy
Chúa, con dâng lời nguyện cầu lên Chúa, ôi Thiên Chúa,
đây là lúc biểu lộ tình thương. Xin nhậm lời
con theo lượng cả đức từ
bi, theo ơn phù trợ trung thành của Chúa. Lạy Chúa, xin
nhậm lời con vì lòng khoan nhân trắc ẩn, theo lượng cả đức từ bi,
xin nhìn đến tấm thân con. - Đáp.
2) Phần con, con đau khổ cơ hàn, lạy Chúa, xin gia
ân phù trợ bảo toàn thân con. Con sẽ
xướng bài ca ngợi khen danh Chúa, và con sẽ chúc tụng
Ngài với bài tri ân. - Đáp.
3) Các bạn khiêm
cung, hãy nhìn coi và hoan hỉ, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng
các bạn hãy hồi sinh: vì Chúa nghe những người
cơ khổ và không chê bỏ con dân của Người bị
bắt cầm tù. - Đáp.
4) Vì Thiên Chúa sẽ
cứu độ Sion, Người sẽ tái thiết thành
trì của Giuđa, con cháu của bầy tôi Chúa sẽ thừa
hưởng đất này, và tại đây những người
yêu danh Chúa sẽ định cư. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Cl
1, 15-20
"Mọi vật
đã được tạo thành nhờ Người và
trong Người".
Trích thư
Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.
Đức Giêsu Kitô
là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi
tạo vật; vì trong Người muôn loài trên trời
dưới đất đã được tác thành, mọi
vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản
thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật
đã được tạo thành nhờ Người và
trong Người. Và Người có trước
mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người.
Người là đầu thân thể tức
là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa
kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi
loài. Vì chưng, Thiên Chúa đã muốn
đặt tất cả viên mãn nơi Người. và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ
Người và vì Người; nhờ máu Người đổ
ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới
đất. Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: Lc 19, 38
Alleluia, alleluia! - Chúc
tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến,
bình an trên trời và vinh quang trên các tầng
trời. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 10, 25-37
"Ai là anh em
của tôi?"
Tin Mừng Chúa Giêsu
Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có một
người thông luật đứng dậy hỏi thử
Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để
được sự sống đời đời".
Người nói với ông: "Trong Lề luật đã
chép như thế nào? Ông đọc thấy gì
trong đó?" Ông trả lời: "Ngươi hãy
yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh
hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy
thương mến anh em như chính mình". Chúa Giêsu nói:
"Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy và
ông sẽ được sống". Nhưng người
đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng:
"Nhưng ai là anh em của tôi?" Chúa Giêsu nói tiếp:
"Một
người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi
vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy,
đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người
ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ
một tư tế cũng đi qua đường đó,
trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi
đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua.
Nhưng một người xứ
Sợi chỉ đỏ :
-
Bài đọc I (Đnl 30,10-14) : Luật
quan trọng nhất của Thiên Chúa là luật ghi khắc
trong lòng mỗi người.
-
Tin Mừng (Lc 10,25-37) : Người Samaria
tốt lành đã hành động theo luật yêu
thương xuất phát cách hân thành từ tấm lòng của
anh.
Minh họa
-
Mille images 81 B
-
Người Samaria nhân hậu (Lc 10,25-37)
I. DẪN
VÀO THÁNH LỄ
Anh
chị em thân mến
Hôm nay chúng ta sẽ nghe dụ ngôn về
người
Trước khi cùng nhau dâng Thánh lễ,
chúng ta hãy xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi của
chúng ta, những tội trong lời nói, việc làm và cả
những tội thiếu sót.
II. GỢI
Ý SÁM HỐI
-
Chúng ta rất ít quan tâm đến người khác.
-
Nhiều việc lành chúng ta có thể làm nhưng chúng ta
đã bỏ qua không làm.
-
Chúng ta thường thờ ơ dửng dưng trước
những người nghèo khổ bệnh tật.
III. LỜI
CHÚA
1.
Bài đọc I (Đnl 30,10-14)
Để
khuyến khích dân do thái thực thi những lệnh truyền
của Thiên Chúa, ông Môsê lưu ý họ rằng :
Những lệnh truyền của Thiên Chúa không quá khó
khăn cũng không vượt quá sức con người,
nhưng có thể thực hiện được vì chúng
không ở trên trời hay ở bên kia biển cả mà ở
sát bên con người, nơi miệng con người và
trong lòng con người.
2.
Đáp ca (Tv 68)
Tv này là lời kêu xin của người
đang gặp cảnh khổ, mong được Thiên Chúa
cứu giúp.
Những lời này có thể áp dụng
cho nạn nhân trong bài Tin Mừng bị kẻ cướp
hành hạ đến nửa sống nửa chết và bỏ
nằm trên đường.
3.
Tin Mừng (Lc 10,25-37)
1.
"Ai là người thân cận của tôi ?"
Câu hỏi này của vị Luật sĩ phản ảnh phần
nào chiều hướng suy nghĩ của ông :
-
Ông muốn tìm một câu định nghĩa về
"người thân cận". Người do thái thời
đó hiểu "người thân cận" chỉ là những
đồng bào do thái với mình.
-
Ông muốn nghe một câu trả lời có tính lý thuyết.
2.
Dụ ngôn người Samari phản ảnh chiều hướng
suy nghĩ của Chúa Giêsu :
-
Định nghĩa về "người thân cận"
không quan trọng bằng thực thi bác ái với người
thân cận (câu 37)
-
Người thân cận là bất cứ ai (không phân biệt
dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm...). Hình như
hai nhân vật chính trong dụ ngôn này một người là
do thái một người là Samari.
-
Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt
hơn nên tỏ ra mình là người thân cận đối
với những kẻ đang cần mình giúp đỡ (câu
36)
4.
Bài đọc II (Cl 1,15-20) (Chủ
đề phụ)
Tín
hữu Côlossê tuy đã tin vào Chúa Giêsu Kitô nhưng chưa an
tâm, một mặt họ vẫn giữ lại những tập
tục do thái giáo (như cắt bì, giữ luật ngày
Sabát…), mặt khác họ tin thêm một số thần khác,
làm thêm một số việc mê tín dị đoan. Họ nghĩ rằng như thế thì "chắc
ăn" hơn.
Để
bài trừ cách sống đạo "thập cẩm"
này, thánh Phaolô đề cao vai trò tối thượng duy nhất
của Chúa Giêsu :
-
Ngài là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình
-
Ngài là trưởng tử mọi thọ tạo
-
Mọi thọ tạo đều được tạo
thành trong Ngài
-
Ngài còn là đầu của Hội Thánh
-
Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự viên
mãn trong Ngài
Tóm lại, Chúa Giêsu Kitô là Đấng cứu
độ duy nhất. Bởi vậy, muốn
được cứu độ thì chỉ cần tin vào một
mình Chúa Giêsu Kitô, không cần nhờ bất cứ tôn giáo hay
thần thánh nào khác.
IV. GỢI
Ý GIẢNG
*
1. Các vai trong dụ ngôn
Thầy
tư tế và thầy Lêvi là những người chỉ
quan tâm đến bản thân mình : khi
gặp một tình huống đặc biệt, họ nghĩ
đến bản thân họ trước (không dừng lại
chăm sóc người bị nạn vì sợ trễ giờ,
vì sợ ô uế nếu đụng vào xác chết).
Người
Samaria là người biết nghĩ đến người
khác : khi gặp người bị nạn,
anh chỉ biết tìm cách giúp đỡ nạn nhân, không ngại
mất giờ, mất công và mất tiền.
Thầy
tư tế và thầy lêvi chú ý giữ luật ghi trên sách vở
(luật quy định về thanh sạch và ô uế) ; Người Samaria giữ luật trong
tim (luật yêu thương)
Thầy
tư tế và thấy lêvi không phạm tội nào về lời
nói hay việc làm, nhưng phạm tội thiếu sót vì
đã bỏ qua không làm điều mình phải làm.
*
2. Người chăm sóc
Người
Samaria là một người chăm sóc (carer)
Loại người này rất hiếm
thấy trong xã hội, vì trong xã hội ai nấy chỉ biết
lo cho mình, ít ai để ý chăm sóc người khác, nhất
là chăm sóc những người xa lạ không có quan hệ
gì tới mình.
Nhưng loại người này rất
hữu ích cho xã hội. Bằng những việc chăm sóc âm
thầm, nhỏ bé, họ chính là muối và men làm cho xã hội
bớt đau khổ, bớt xấu xa và thêm tốt đẹp.
Khi đề cao người
*
3. Lòng tốt tự phát
Có nhiều người làm một việc
tốt cách hết sức tự nhiên và dễ dàng. Đó là những
người mà luật yêu thương đã ăn sâu vào con
tim mình, đã trở thành máu thịt và
hơi thở của mình.
Người
Samaria trong dụ ngôn này là một người như thế : khi gặp một nạn nhân trên
đường, anh không cần suy nghĩ gì cả mà tự
nhiên xuống lừa, cúi xuống lấy dầu và rượu
xoa dịu những vết thương của nạn nhân,
rồi chở nạn nhân đến quán trọ, bỏ tiền
ra nhờ chủ quán tiếp tục lo cho nạn nhân.
Khác
hẳn với Thầy tư tế và thầy Lêvi : hai người này cũng thấy cảnh
đó, nhưng đắn đo suy tính thiệt hơn. Và sau khi suy tính, họ chọn giải pháp
"đi qua". Họ thuộc luật rất nhiều
đấy, nhưng luật chưa ăn sâu vào tim và chưa trở thành máu thịt và hơi
thở của họ.
Làm
thế nào để có lòng tốt tự phát như người
*
4. Yêu rồi làm
Một vị ẩn sĩ sống
trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi
đến cám dỗ. Ngạc nhiên trước sự thanh
thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng
nghi ngờ sự bất bình thường của người
đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo :
-
Thầy không biết yêu sao ?
Vị
ẩn sĩ trả lời :
-
Chưa đến giờ đó thôi ?
Câu chuyện bỏ lửng tại
đó.
Một lần kia, trong lúc đi khất
thực, vị tu hành phát hiện người con gái hay
đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn
lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề
đường. Ông bèn dừng chân lại
săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa
cô về thành phố điều trị.
Cô
gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở
lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói :
-
Đã đến giờ rồi đấy, giờ của
lòng thương xót !
Người
thông luật trong bài Tin Mừng hôm nay hỏi Chúa Giêsu : "Ai là người thân cận của
tôi ?"
Thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người
Samari tốt lành : Một khách bộ
hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn
cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ
nằm nửa sống nửa chết bên lề đường.
Trong khi hai thầy tư tế và Lê vi "tránh qua bên kia mà
đi",
thì người Samari ngoại đạo lại dừng chân,
băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà
trọ săn sóc.
Chúa
Giêsu hỏi lại người thông luật :
"Vậy ai là người thân cận của kẻ bị
cướp ?". Hỏi tức là trả
lời. Và người thông luật đáp :
"Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót".
Chúa Giêsu bảo : "Ông hãy đi, và
cũng hãy làm như vậy" (Lc 10,37).
Vị ẩn sĩ trong câu chuyện
trên đây và người Samari nhân hậu đã sống luật
yêu thương một cách tuyệt vời, đó là "yêu bằng việc
làm".
Yêu không chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi
tay không làm gì cả, mà yêu chính là "miệng nói tay làm", làm thực sự
với hết khả năng của mình. Những việc
làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời
nói suông. Con đường dài nhất là con đường
từ trái tim đến đôi tay. Chúa
Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó : "Hãy đi và làm như vậy". Pascal đã nói : "Khuyết tật lớn nhất của
một người là phục vụ quá ít cho những kẻ
họ yêu thương".
Sở
dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những
người anh em, là vì họ không có can đảm vượt
qua nỗi sợ.
Sở
dĩ thầy tư tế và thầy Lê vi "tránh qua bên kia mà
đi"
là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết,
sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ
rắc rối phiền hà đến bản thân.
Sở
dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người
anh em khi họ cần giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải
thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời
gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến
sự an toàn, tiện nghi của mình.
Chúng ta muốn được yên thân !
Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi : "Điều gì sẽ
xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc
người anh em bị đánh nhừ tử ?". Trái lại,
người Samari đã đảo ngược câu hỏi : "Điều gì sẽ xảy ra cho
người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi
không dừng lại và chăm sóc người ấy ?"
Người
Samari tốt lành đã xả thân vào một hành động
vị tha đầy nguy hiểm.
Yêu thương không phải là cho
đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân. Yêu thương là
hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân : Kahil Gibram có một câu nói chí
tình : "Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi của cải.
Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự
cho đi".
Càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất
chính mình. Càng co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của
mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng muốn được yên
thân, con người càng vong thân.
Nỗi
khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể
được lấp đầy khi họ biết đến
gần, cúi xuống phục vụ tha nhân.
Con
người chỉ thành đạt thực sự, con
người chỉ thục sự là người khi họ
dám sống chết cho anh em.
Người
tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám
tiêu hao vì người khác. Mẹ Têrêsa Calcutta nói :
"Ki
tô hữu là người trao ban chính bản thân mình".
Yêu rồi làm. Khi đã yêu rồi
chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em.
Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả
thân vì mọi người, nhất là những người
nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi,
chúng ta sẽ biết cách làm cho kẻ xa lạ nên người
thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt,
chỉ cần chúng ta dám đừng lại, đến gần
và cúi xuống trước anh em.
Lạy Chúa cuộc sống đạo của chúng con
sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi của
đạo là yêu thương chỉ là điều phụ
thuộc.
Xin đừng để chúng con loay hoay với những
tính toán ích kỷ ; chai đá, dửng
dưng trước những khổ đau của anh em.
Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót
thương và giúp đỡ những ai đang cần
đến chúng con. Amen (TP)
5.
Chuyện minh họa
a/ Lòng hiếu khách tự nhiên
Ngày
kia, một du khách lái xe đi thăm các
thắng cảnh thiên nhiên. Quá mãi mê ngắm cảnh, xe của ông lạc vào một vùng hoang vu. Rủi
thay chính lúc đó xe ông bị hư. Sau một
hồi lâu tìm kiếm, ông may mắn gặp được
một nông trại và xin ông chủ nông trại ấy giúp sửa
dùm chiếc xe. Người
chủ nông trại nhanh nhẹn lấy đồ nghề
ra. Nửa giờ sau xe chạy
được. Người du khách móc ví tiền ra, hỏi :
-
Tôi phải trả công cho ông bao nhiêu ?
-
Thôi, khỏi phải trả chi cả.
-
Nhưng tôi thấy có bổn phận trả lại cho ông
điều ông đã làm cho tôi.
-
Thì ông đã trả rồi đó.
-
Xin lỗi, tôi chưa hiểu ông muốn nói gì ?
- Ở nơi hoang vu này, tôi rất cô
đơn nên cần có bạn. Ông đã cho tôi có dịp
làm bạn với ông suốt một giờ đồng hồ
vừa qua.
b/ Bản năng giúp người
khác
Larry Skutnik là một người có tính
nhút nhát làm việc cho một công sở ở
Không chút ngần ngại, Larry Skutnik nhảy
tòm xuống sông, lặn xuống dòng nước lạnh
cóng để tìm kiếm nạn nhân. Một
lúc sau anh đã tìm được và đưa bà này lên bờ.
Tất
cả những diễn tiến của cảnh đó đều
được thu hình và sau đó
được đưa lên truyền hình. Mọi người
đều ca ngợi anh là một vị anh hùng. Sáng hôm sau,
một phóng viên tới phỏng vấn :
-
Do đâu mà anh đã làm được một hành động
anh hùng như thế ?
-
Quả thực hai chữ "anh hùng" làm tôi xấu hổ
quá. Tôi đâu có cố gắng gì đâu, chỉ
là phản xạ tự nhiên thôi.
Anh
hùng thật là người làm hành động anh hùng một
cách tự nhiên như phản xạ. Người
tốt thật là người làm việc tốt một
cách rất tự nhiên.
V. LỜI
NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, đạo
Chúa Kitô là đạo tình thương, chỉ dùng tình
thương mà cảm hóa và chinh phục người khác. Với
quyết tâm sống trọn vẹn đức bác ái yêu
thương Chúa đã dạy, chúng ta cùng dâng lời cầu
xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ tình
thương của Chúa đối với nhân loại /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong
đại gia đình Hội thánh / biết luôn chân thành
yêu thương / và tôn trọng hết thảy mọi
người.
2. Trên thế giới ngày nay / chiến
tranh và khủng bố / hận thù và bạo lực /
vẫn còn đang hoành hành ở nhiều nơi / gây ra
tang tóc và đau khổ cho biết bao gia đình / Chúng ta
hiệp lời cầu xin cho đức bác ái của Chúa
Kitô tác động đến mọi suy nghĩ / lời
nói và việc làm của con người hôm nay.
3. Trong đời sống thường
ngày / có một số người ngại phiền phức /
sợ cực nhọc khi phải giúp đỡ người
khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho tất cả
mọi người Kitô hữu biết sống quảng
đại / và sẵn sàng trợ giúp những ai đang
lâm cảnh gian truân khốn khó.
4. Sống bác ái là chu
toàn cả Lề Luật của Chúa / Chúng ta hiệp lời
cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết
rộng rãi chia sẻ cơm áo cho những ai đói rách bần
cùng.
Chủ tế : Lạy Chúa, đức tin đòi
buộc chúng con phải sống đức ái. Vậy xin
Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con có thể
sống trọn vẹn niềm tin của mình. Chúng con cầu
xin
VI. TRONG
THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu đã kêu mời
chúng ta hãy yêu thương giúp đỡ nhau như những
anh em cùng một Cha. Vậy chúng ta hãy cùng Ngài dâng lên Chúa Cha lời
kinh say đây :
-
Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu
chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là lối sống
thờ ơ ích kỷ, xin đoái thương cho những
ngày chúng con đang sống được bình an…
VII. GIẢI
TÁN
Sau
khi kể cho người thông luật nghe dụ ngôn về
người
Bài đọc
thêm
THƯ GỞI
GIÁO ĐOÀN CÔLÔXÊ
* Được trích đọc trong
bài đọc II từ Chúa nhật thứ 15 đến Chúa
nhật thứ 18.
A. GIÁO ĐOÀN CÔLÔXÊ
1.
Côlôxê là một thành phố cách Êphêxô khoảng 160 km về
phía Đông. Gần đó còn có hai thành
Laođixê và Hiêrapolis. 3 thành này có nhiều liên hệ với
nhau (x. Cl 4,15-16)
2.
Giáo đoàn Côlôxê không phải do Phaolô thành lập nhưng do
một môn đệ của Phaolô tên là Epaphras người gốc
Côlôxê (x. Cl 4,12). Cũng như hầu hết
các giáo đoàn khác, giáo đoàn Côlôxê gồm phần đông
là người lương tòng giáo và một phần nhỏ
người do thái tòng giáo.
B. HOÀN CẢNH VIẾT
THƯ
Như
ta đã biết, giáo đoàn Côlôxê do Epaphras một môn đệ
của Phaolô thành lập. Đang khi Phaolô bị
cầm tù (lần này ở Rôma) thì trong giáo đoàn có chuyện
khó khăn, không phải do tranh chấp nội bộ mà là
khó khăn về giáo lý. Epaphras tới
Rôma thăm Phaolô và trình bày khó khăn ấy. Dù tín hữu
Côlôxê chưa biết mặt Phaolô, cùng lắm chỉ mới
nghe tên (x. Cl 2,1 & 1,4.9), nhưng với
tâm hồn nhiệt thành của một vị tông đồ,
Phaolô ý thức ngay mối nguy hiểm đang đe dọa
đức tin tinh tuyền của giáo đoàn nên liền viết
thư này. Bởi chưa quen biết với giáo đoàn nên
Phaolô không gởi thư suông mà muốn có
người tới tận giáo đoàn để giải
thích bức thư. Nhưng bản thân Phaolô đang ngồi
tù không đi được nên ông phái 2 môn đệ thân tín
đi, là Tychique (4,7) và Onésisme (4,9).
Thời
điểm và địa điểm viết thư :
khoảng 61-63 tại Rôma
C. MỤC TIÊU : GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN CỦA
CÔLÔXÊ
1.
Từ hồi giáo đoàn mới thành lập, tín hữu
Côlôxê đã tin vào Đức Kitô như là nguyên nhân cứu
độ duy nhất. Nhưng do ảnh hưởng của
người do thái và người ngoại, dần dà họ
hồ nghi niềm tin của mình : họ
nghĩ rằng chỉ tin vào Đức Kitô thì e chưa
đủ nên cần phải tin và làm thêm một số
điều nữa cho chắc ăn. Những điều
thêm vào này họ lấy từ nhiều phía :
-
một phần từ đạo do thái :
cắt bì, luật Môsê...
-
một phần từ tín ngưỡng của
dân ngoại : thờ tinh tú, coi lịch xem ngày...
-
một phần từ những ý tưởng
manh nha mà sau này sẽ thành thuyết Tiền-ngộ-đạo :
khinh chê xác thịt, kiêng cữ ăn uống...
Nếu muốn dùng một thuật ngữ
để tóm tắt cái khó khăn giáo lý của Côlôxê lúc ấy,
ta có thể dùng chữ "Đạo thập cẩm",
tương tự như Đạo Cao Đài bên ta tổng
hợp tín ngưỡng của nhiều đạo khác lại
thành Đại Đạo.
2.
Niềm tin thập cẩm này đĩ nhiên chứng tỏ
thiếu tin vào Đức Kitô. Chính đây là
điểm khiến Phaolô lo lắng. Vì vậy trong thư này ông hết sức thuyết phục
tín hữu hãy đặt trọn vẹn niềm tin vào Đức
Kitô, Đấng là "tất cả trong tất cả".
D. NỘI DUNG
1. Địa vị tối thượng
của Đức Kitô :
1,13-23
Phaolô
trình bày địa vị tối thượng của Đức
Kitô bằng 1 thánh thi gồm 2 phần :
a/ Đức Kitô tối thượng
trong công trình tạo dựng (cc 15-17)
-
Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình :
tất cả mọi triết thuyết thời đó đều
nhìn nhận có một nguyên lý tối cao là Thượng
đế ; Thượng đế tỏ mình ra bằng
hình ảnh của ngài. Nhưng vấn đề
là hình ảnh đó là gì. Platon bảo
đó là vũ trụ, Philon bảo đó là Logos, còn Phaolô quả
quyết đó là Đức Giêsu Kitô.
-
Ngài là Con Trưởng của mọi loài thụ tạo
ie Ngài lớn hơn hết, hiện hữu trước hết
và có quyền trên hết mọi thụ tạo.
-
Do Ngài mà mọi loài đã được dựng nên gồm
cả những loài hữu hình và vô hình và cả những
"thần". Phaolô nói "thần" là tạm xử
dụng ngôn ngữ của dân ngoại để chứng
minh rằng ngay cả những "thần" ấy cũng
thấp hơn Đức Giêsu Kitô.
*
Tóm lại, Đức Kitô có trước tất cả và ở
trên tất cả mọi loài.
b/ Đức
Kitô tối thượng trong công trình cứu độ (cc
18-20)
- Ngài là cội nguồn mọi
ơn.
- Vì ý của Thiên Chúa đã muốn
rằng nơi Ngài chứa toàn viên mãn
- Nhờ Ngài mà mọi
loài được hòa giải với Thiên Chúa.
- Hơn nữa máu Ngài đổ
ra đã tạo nên bình an dưới
thế và trên trời.
2. Bài bác những sai lầm :
1,24-3,4
2,03 : "Đức
Kitô giấu nơi mình mọi kho tàng khôn ngoan thông thái". Vậy
đừng tốn công vô ích tìm kiếm 1 thứ khôn ngoan nào
khác (bài bác thuyết Tiền ngộ đạo)
2,08 "Chớ để
ai bắt làm mồi ngon cho họ do cái tròng triết lý
hư không" : một khi đã được soi
sáng bởi Đức Kitô mà còn quay trở lại với
các thứ triết lý người phàm khác thì cũng như
bị rơi vào tròng nô lệ (bài bác mọi nguồn khôn
ngoan thế phàm)
2,11t Cũng
chẳng cần phải nhờ tới phép cắt bì do thái,
vì tín hữu đã có một phép cắt bì mới hoàn hảo
hơn nhiều, tức là cắt bì trong Đức Kitô, nghĩa
là Phép Thanh Tẩy (bài bác do thái giáo)
2,14 "Hủy tờ
cáo trạng gồm các lệnh truyền" : Phaolô
ám chỉ các lề luật do thái. Chúng cũng đã nên vô
ích (bài bác do thái giáo)
2,15 Lột chức các "thần" : chẳng
có thần thánh nào bằng Đức Kitô (bài bác đa thần)
2,16 Tín hữu chớ nên áy náy rồi lo kiêng ăn
uống, xem trăng, xem ngày (bài bác những mê tín của dân
ngoại)
2,17 Đừng thờ cúng các tinh tú mà người
ta coi là thiên thần (bài bác mê tín)
2,23 Chống lại thuyết Tiền ngô đạo :
họ nói là coi khinh xác thịt nhưng thực ra vịn lẽ
xác thịt chẳng ăn nhằm gì cho nên cứ sống
lăng loàn.
3. Cuộc sống của kitô hữu
Sau khi trình bày Đức Kitô
như là Đấng Tối Thượng trong công trình tạo
dựng và công trình cứu chuộc, Phaolô dạy các tín hữu
một cách sống : đó là quy chiếu
tất cả vào Đức Kitô, không cần cậy dựa
vào bất cứ thứ gì khác, bời vì "Đức
Kitô là tất cả và nơi tất cả mọi người"
(3,11)
GÓP
GIÓ
Chiếc lá hoàn mỹ
Ngày xưa, có một vị đại sư
muốn chọn một đệ tử làm người
nối dõi. Một hôm, ông bảo hai đệ tử
rằng: “Các con hãy ra ngoài và chọn về đây cho ta 1
chiếc lá đẹp nhất, hoàn mỹ nhất.”
Hai đệ tử vâng lời thầy
đi tìm lá. Thoáng chốc, người anh quay về và trình
cho đại sư một chiếc lá không được
đẹp lắm: “Thưa thầy, tuy chiếc lá này không
phải là hoàn mỹ nhất nhưng nó là chiếc lá hoàn
mỹ nhất mà con thấy”.
Người em đi cả ngày trời và
quay về với 2 bàn tay trắng, người em nói với
vị đại sư: “Thưa thầy, con đã tìm và
thấy rất nhiều lá đẹp, nhưng con không
thể nào chọn được chiếc lá hoàn mỹ
nhất.” Cuối cùng, vị đại sư đã
chọn người anh.
“Tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất”,
chúng ta vẫn cứ luôn nghĩ đến việc “hoàn
mỹ nhất” nhưng nếu bạn cứ một
mực đi tìm mà không nhìn vào thực tế, không so sánh
với thực tế thì bạn cứ phải vất
vả để rồi… trắng tay. Cho đến một
ngày nào đó, bạn mới phát hiện rằng: Chỉ vì
mãi đi tìm một chiếc lá hoàn mỹ nhất mà bạn
đã bỏ qua biết bao cơ hội lớn một cách đáng
tiếc!
Hơn nữa, thứ hoàn mỹ nhất
của con người cuối cùng có được bao
nhiêu? Trên đời này đã xảy ra không ít chuyện
đáng tiếc, đó cũng do một số người
xa rời thực tế đi tìm “chiếc lá hoàn mỹ
nhất”, coi thường cuộc sống đạm
bạc. Nhưng chính trong cuộc sống đạm
bạc, vô vị đó mới chất chứa những
điều kỳ diệu và to lớn. Điều quan
trọng là thái độ của bạn như thế nào
khi đối diện với nó.
Trong cuộc sống chúng ta, không nhất
thiết cứ phải theo đuổi những thứ hoàn
mỹ mà chỉ cần bình tâm lại, từng bước
từng bước tìm chiếc là mà bạn cho rằng là
hoàn mỹ nhất.
Hãy can
đảm bước đi
Đừng bao giờ tự khép mình trong
lớp vỏ chắc chắn để cố giữ
sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can
đảm bước đi... Tôi hi vọng đó cũng
sẽ là sự lựa chọn của bạn và tôi khi
đứng trước cánh đồng cuộc đời
bao la này...
Có hai
hạt lúa nọ được giữ lại để
làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là
những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc
mẩy.
Một hôm,
người chủ định đem chúng gieo trên cánh
đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm:
“ Dại gì ta
phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả
thân mình phải nát tan trong đất. Tốt
nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng
trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng
để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc
khuất trong kho lúa để lăn vào
đó.
Còn hạt
lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ
mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng
khi được bắt đầu một cuộc
đời mới.
Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ
nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng
nhận được nước và ánh sáng. Lúc
này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được
gì- nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt
lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó
lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại
mang đến cho đời những hạt lúa mới...
Đừng bao giờ tự khép mình trong
lớp vỏ chắc chắn để cố giữ
sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can
đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan
để góp cho cánh đồng cuộc đời một
cây lúa nhỏ - đó là sự chọn lựa của
hạt giống thứ hai.
Tôi hi vọng đó cũng sẽ là
sự lựa chọn của bạn và tôi khi đứng trước
cánh đồng cuộc đời bao la này...
Niềm
vui bé bỏng!
Tôi học thêm ở một trung tâm
nọ đã hơn hai năm rồi.Mỗi khi chiều
về,tôi thường thấy một ông lão già nua ngồi
bán những con châu chấu bằng lá dừa trước
cổng.Dù mưa hay nắng,tôi vẫn thấy ông lão
đội chiếc nón sụp xuống che nửa
mặt,tay cầm cây treo đàn châu chấu.Rất nhiều
người ngoái lại nhìn ông bằng ánh mắt lạ
lùng khó hiểu.Có hôm,ông tặng châu chấu cho cô bé bán hàng
rong,bữa khác ông lại đưa tận tay 1 cậu bé
bán vé số một con châu chấu trước khi về,ánh
mắt sáng lấp lánh niềm vui....Tôi rất tò mò,thắc
mắc về chuyện bán châu chấu của ông.Một
hôm,tôi cố tình đi học sớm và lân la đến trò
chuyện với ông:"Ông ơi!ngồi cả
buổi,cháu thấy ông bán chẳng được bao
nhiêu.Cực thân lắm đấy!"
Ông lão cười rung rinh chòm râu trắng
trước câu nói của tôi:"Điều đó không quan
trọng đâu,cháu àh!Lúc bé ông đã
từng sướng mê ly khi được ba làm cho con châu
chấu bằng lá dừa xanh.Và bây giờ,ông như
sống lại với kỉ niệm xưa,ngập tràn
hạnh phúc khi thấy các cháu mân mê,thích thú trước
những vật nhỏ do mình tạo ra...."
Hạnh phúc đôi khi chỉ là những
điều bé nhỏ mà ta nhận thấy khi mang niềm
vui đến cho ngưới khác.Thế mà bây giờ tôi
mới hiểu điều đó.Ngốc thật!
Góc thiếu của mỗi người
(Hoathuytinh.com) “Ô, ta đi tìm một góc
bị thất lạc,
Đi qua cả chân trời góc bể,
Hành trình vạn lý không sợ xa xôi,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc...”
Câu chuyện ngụ ngôn về “thiếu”
và “đủ”
Hắn
thiếu một góc, và hắn rất buồn về
điều đó. Hắn bắt đầu
đi tìm góc còn thiếu của mình. Hắn đi
về phía trước, hát mấy câu hát thế này:
"Ô, ta đi tìm một góc bị
thất lạc,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc,
A ha, lên đường
nào, đi tìm góc bị thất lạc".
Có lúc, hắn phải chịu cái nắng
thiêu đốt của mặt trời,
Tiếp đó lại là trận mưa
lạnh,
Có lúc bị
tuyết làm cho lạnh cóng. Nhưng sau
đó mặt trời lại hiện ra sưởi ấm
hắn.
Có lẽ vì hắn thiếu một góc
không thể lăn nhanh được.
Nên đôi lúc dừng lại nói chuyện với bác giun,
Hoặc hít hà hương thơm
của hoa,
Cũng có lúc hắn lăn
nhanh, vượt qua cả bọ cánh cứng,
Cũng có
lúc để bọ cánh cứng vượt qua.
Khi vui, chính là những lúc thế này
đây...
Hắn
tiếp tục đi, vượt qua cả biển
lớn.
“Ô, ta đi tìm một góc bị thất
lạc,
Đi qua cả chân trời góc bể,
Hành trình vạn lý không sợ xa xôi,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc”.
Vượt
qua cả ao sâu, rừng rậm.
Trèo đèo,
Trượt dốc,
Cho đến một ngày, xem này!
“Ta đã tìm thấy một góc bị
thất lạc rồi.”
Hắn reo lên!
“Ta đã tìm thấy góc bị thất
lạc,
Hành trình vạn lý không sợ xa xôi
Ta tìm thấy rồi...”
“Chờ chút đã” Cái góc nhỏ nói
“Đừng có hát cái gì đường
xá xa xôi...”
“Tôi không phải là cái góc bị thất
lạc của anh,
Tôi không
phải là cái góc của ai cả.
Tôi là góc của riêng tôi .
Cho dù là góc bị thất lạc của
ai đó đi chăng nữa,
Tin chắc
tôi không phải là của anh.”
“Ồ”, Hắn buồn buồn nói
“Xin lỗi đã làm phiền”
Hắn lại tiếp tục lên đường
Hắn tìm thấy một góc khác,
Nhưng lại nhỏ quá!
Còn cái góc này thì lại lớn quá!
Cái góc này lại quá nhọn!
Cái góc này lại quá vuông vắn!
Có một lần, hắn tìm thấy
một góc thiếu vừa xinh... Nhưng
hắn giữ không chặt.
Cái góc
khuyết bị rơi mất.
Lần khác, hắn tóm chặt quá,
Khiến nó
vỡ vụn.
Hắn lại tiếp tục lên đường,
Và gặp
phải không ít hiểm nguy.
Rơi xuống vực,
Đụng đầu vào tường
đá,
Sau đó, một ngày kia,
hắn lại gặp được một cái góc khác, có
vẻ rất hợp.
“Halo”
hắn chào.
“Halo” cái góc kia chào.
“Cậu là
một góc bị thất lạc của ai phải không?”
“Không”
“Thế thì
cậu chỉ là góc của cậu thôi à?”
“Tôi có
thể là một góc bị thất lạc của ai đó,
và cũng là một góc của riêng tôi.”
“Cậu
không muốn làm một góc của tôi có đúng không?”
“Không
hẳn là như thế.”
“Có lẽ chúng ta không thật hợp nhau
lắm...”
“Đừng nói vậy...”
“Thế
nào?”
“Cảm giác
rất tuyệt!”
Rất hợp!
Hợp quá đi mất!
Phù, rốt cục thì cũng tìm thấy!
Tìm thấy rồi!
Hắn lăn về
phía trước, vì không khuyết góc nào nên hắn càng
lăn càng nhanh. Từ trước tới giờ, chưa
bao giờ lăn nhanh như thế.
Cũng không thể thưởng thức
hương thơm của hoa,
Bươm bướm cũng không ghé
chân đậu lên mình hắn,
Mà hắn
cũng không thể hát bài hát vui vẻ của hắn
nữa.
Hắn chỉ có thể hát rằng:
“Ta đã tìm được một góc
thất lạc của ta...”
Hắn lại tiếp tục hát:
“Ô, khao khao khơ khớ y khao,
Khao khao khơ khớ y khao,
Khản khẩy khủ khẩn khu kha
khẻo khảo khảo...”
Ôi trời,
Hắn chẳng thiếu thốn gì,
Mà sao không
hát được nữa thế này.
“Mình
hiểu rồi.” Hắn nghĩ. “Có
nguyên do cả đây”
Và hắn
dừng lại.
Nhẹ nhàng thả góc thiếu kia ra.
Rồi ung dung đi tiếp,
Hắn vừa đi, vừa khe khẽ
hát:
“Ô, ta đi tìm một góc bị thất
lạc,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc,
A ha, lên đường thôi,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc.”
A ha, lên đường thôi,
Ta đi tìm một góc bị thất
lạc...
Vấn đề chín chắn...
Theo quan sát của tôi trong nhiều năm
qua, tôi phát hiện ra rằng, chưa có ai có cuộc
đời hoàn mỹ không khiếm khuyết cả, mỗi
người đều có thiếu sót.
Có người cuộc sống vợ
chồng rất hạnh phúc, thu nhập cao, nhưng lại
mắc bệnh vô sinh; Có người tài sắc vẹn toàn,
giỏi giang, nhưng đường tình lại trắc
trở; Có người gia đình giàu có, nhưng con cháu không
hiếu thuận; Có người có vẻ rất tốt
số, nhưng cả cuộc đời đầu óc
chỉ rỗng tuếch.
Trong
cuộc sống của mỗi người, đều
bị thượng đế vạch một khuyết. Anh không
muốn có nó, nó vẫn bám theo anh như
hình với bóng.
Trước kia tôi
cũng đã từng hận những thiếu sót trong
cuộc đời tôi. Nhưng bây giờ, tôi
đã mở rộng lòng để đón nhận nó. Bởi vì tôi hiểu rằng, khiếm khuyết
trong cuộc đời, giống như cái gai trên lưng
ta, luôn luôn nhắc nhở ta khiêm tốn và phải biết
thương người hơn.
Nếu không có những buồn khổ,
chúng ta sẽ kiêu ngạo, không có những thay đổi,
chúng ta sẽ chẳng thể an ủi người bất
hạnh ta bằng trái tim đồng
cảm.
Tôi cũng tin rằng, cuộc sống
không nên hoàn thiện quá, có khiếm khuyết, để may
mắn đến với người khác cũng là một
điều hay.
Anh không
cần phải có mọi thứ, nếu anh có đủ, người
khác sẽ thế nào?
Và nhận
ra rằng mỗi cuộc đời đều có khiếm
khuyết, tôi sẽ không so đo với người khác, ngược
lại, tôi càng quý những gì mình đã có hơn.
Vậy nên,
đừng ngưỡng mộ những gì người khác
có, hãy kiểm lại những gì thượng đế
dành cho anh, anh sẽ nhận ra rằng, những cái anh có,
nhiều hơn những gì anh không có.
Phần
khiếm khuyết, tuy chẳng đẹp, nhưng cũng
là một phần của cuộc đời anh, chấp
nhận nó và đối xử tốt với nó, cuộc
sống của anh sẽ vui hơn và cởi mở hơn.
Nếu anh là một con trai, anh chấp
nhận đau đớn cả đời để
kết tinh một hòn ngọc trai... Hay anh không muốn có
ngọc để có một cuộc sống yên lành?!
Nếu anh là một con chuột, bỗng
phát hiện ra mình đang bị nhốt trong cái bẫy
bắt chuột, trước mặt là miếng bánh gatô thơm phức, anh sẽ ăn miếng bánh
hay là bỏ đó?!
Trước kia,
dụng cụ để dành tiền đều làm bằng
sứ, khi đã đầy tiền, phải đập
vỡ mới lấy được tiền ra... Nếu có
một ống dành tiền như vậy, nếu không có
đồng nào thả vào, nếu cứ lành lặn
đến tận ngày nay... Nó sẽ là một
món đồ cổ quý giá. Anh muốn làm
ống đựng tiền như thế không?!
Hãy ghi lại từng câu trả lời
của anh mỗi khi anh nghĩ đến... Cho đến
một ngày nào đó, câu trả lời của anh không thay
đổi... Khi đó, anh đã đủ chín chắn!
Tìm một người hiểu bạn...
Và hãy mong bạn là người hiểu anh ấy...
Người
thông minh thích đoán tâm sự của người khác. Tuy lần nào cũng đoán đúng nhưng
lại đánh mất cái tâm của mình.
Người ngốc nghếch thích
cởi mở trái tim mình. Tuy
lần nào cũng bị người ta cười nhạo
nhưng lại có được tấm lòng của mọi
người.
Cá nói: Anh không nhìn thấy nước
mắt của tôi, vì tôi sống trong nước. Nước
nói: Tôi có thể cảm nhận được nước
mắt của chị; vì chị ở trong trái tim tôi!
Hãy tin rằng luôn có một ai đó dành
riêng cho mình, và tiếp tục cuộc hành trình...
N.L
(st)
13 lời
khuyên trong cuộc sống
1. Tôi yêu em không phải vì em là ai mà là vì
tôi là ai khi tôi ở cùng với em
2. Không ai đáng để em khóc và người
xứng đáng thì chắc chắn không bao giờ làm cho em
phải rơi lệ
3. Nếu một người nào đó
không yêu em như em muốn thì điều đó không có
nghĩa là người đó không yêu em bằng cả tâm
hồn
4. Một người bạn thật
sự là người khi cầm tay em thì
đã chạm đến trái tim em rồi.
5. Cách tồi tệ nhất để
cảm thấy mình đang mất một người là
ngồi cạnh anh ta mà biết rằng anh ta sẽ
chẳng bao giờ thuộc về mình.
6. Hãy luôn luôn mỉm cười ngay
cả khi bạn buồn bởi vì bạn không biết
rằng ai đó có thể yêu bạn vì chính nụ cười
đó.
7. Có thể đối với thế
giới bạn chỉ là một người nhưng
đối với một số người, bạn là
cả thế giới.
8. Đừng bao giờ mất thời
gian với người không sẵn sàng chia xẻ khoảng
thời gian đó cùng với bạn.
9. Có thể Chúa muốn bạn gặp
được nhiều người xấu trước
khi gặp được một người tốt,
để bạn phải biết ơn Người khi
bạn tìm thấy anh ta.
10. Đừng nên khóc vì những
điều đã kết thúc mà nên cười vì những
điều đã xảy ra.
11. Sẽ luôn có người chỉ trích
bạn. Nhưng hãy tiếp tục tin tưởng
trong khi chú ý đến những người bạn sẽ
tin tưởng hai lần.
12. Trở thành một người
tốt và biết mình là ai trước khi tìm hiểu người
khác và đợi họ nhận ra mình là ai
13. Đừng chạy nhanh quá, những
điều tốt đẹp nhất đến với
bạn nếu bạn biết đợi chúng ít nhất
Hãy gửi những lời này đến
những người bạn của bạn vì bất
cứ lý do nào ngay cả khi bạn không gặp họ thường
xuyên và không nói chuyện nhiều với họ.
Và hãy nhớ rằng...
“Tất cả những gì đến
với mình đều với một lý do nào đó”