CHÚA NHỰT XIV
CHỦ ĐỀ
:
Chúa sai tôi
đi
loan tin bình AN VÀ HẠNH phúc
"Ngài
sai họ đi từng hai người một"
(Lc
10,1)
BÀI ĐỌC I: Is 66, 10-14c
"Đây Ta khiến sông bình an chảy vào nó".
Trích sách Tiên tri
Isaia.
Các ngươi hãy
vui mừng với Giêrusalem, và hết thảy những ai yêu
quý nó, hãy nhảy mừng vì nó. Hỡi các ngươi là những
kẻ than khóc nó, hãy hân hoan vui mừng với nó, để
các ngươi bú sữa no nê nơi vú an ủi
của nó, để các ngươi sung sướng bú đầy
sữa vinh quang của nó. Vì chưng Chúa
phán thế này: "Ta sẽ làm cho sự bình an chảy
đến nó như con sông, và vinh quang chư dân tràn tới
như thác lũ. Các ngươi sẽ
được bú sữa, được ẵm vào lòng và
được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ
vỗ về các ngươi như người mẹ nâng
niu con, và tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được
an ủi. Các ngươi sẽ
xem thấy, lòng các ngươi sẽ hân hoan, và các
ngươi sẽ nẩy nở như hoa cỏ, và tôi tớ
Chúa sẽ nhìn biết bàn tay của Chúa". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 65,
1-3a. 4-5. 6-7a. 16 và 20
Đáp: Toàn thể đất
nước, hãy reo mừng Thiên Chúa (c. 1).
Xướng: 1) Toàn thể đất
nước hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy ca ngợi vinh quang
danh Người, hãy kính dâng Người lời khen ngợi
hiển vinh. Hãy thưa cùng Thiên Chúa: kinh ngạc thay sự
nghiệp Chúa. - Đáp.
2) Toàn thể đất nước
thờ lạy và ca khen Ngài, ca khen danh thánh của Ngài. Hãy tới
và nhìn coi sự nghiệp của Thiên Chúa, Người thi thố
những chuyện kinh ngạc giữa con cái người
ta! - Đáp.
3) Người biến bể
khơi thành nơi khô cạn, người ta đã đi bộ
tiến qua sông, bởi đó ta hãy hân hoan trong Chúa. Với quyền năng, Người thống trị
tới muôn đời. - Đáp.
4) Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến,
hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những
điều trọng đại biết bao! Chúc
tụng Chúa là Đấng không hất hủi lời tôi nguyện,
và không rút lại lòng nhân hậu đối với tôi.
- Đáp.
BÀI ĐỌC II: Gl 6, 14-18
"Tôi mang trong mình
tôi những dấu thánh của Chúa Giêsu".
Trích thư Thánh
Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, phần
tôi, ước gì tôi đừng khoe mình về một điều
gì khác, ngoại trừ về thập giá Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ cây thập giá mà thế gian đã chịu
đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian. Vì chưng trong Đức Kitô, có cắt bì hay
không cũng chẳng có giá trị gì, điều quan trọng
là trở nên một tạo vật mới. Nguyện chúc
bình an và lòng thương xót đối với những ai rập
theo quy tắc đó, và cho cả
Anh em thân mến, nguyện ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa
chúng ta, ở cùng anh em! Amen. Đó là lời
Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu
ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và
Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ
đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 10, 1-9 {hoặc 1-12. 17-20}
"Sự bằng yên của các
con sẽ đến trên người ấy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa chọn
thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ
từng hai người đi trước Người,
đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới. Người bảo
các ông rằng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ
đến gặt lúa của Người. Các con hãy đi.
Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng. Các
con đừng mang theo túi tiền, bao bị,
giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường.
Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: 'Bình an
cho nhà này'. Nếu ở đấy có con cái sự bình an, thì
sự bình an của các con sẽ đến
trên người ấy. Bằng không, sự
bình an lại trở về với các con. Các con ở
lại trong nhà đó, ăn uống những
thứ họ có, vì thợ đáng được trả
công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ.
"Khi vào thành nào mà người ta
tiếp các con, các con hãy ăn những thức
người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh nhân trong
thành và nói với họ rằng: 'Nước Thiên Chúa đã
đến gần các ngươi'.
{"Khi vào thành nào mà người
ta không tiếp đón các con, thì hãy ra giữa các phố chợ
và nói: 'Cả đến bụi đất thành các
ngươi dính vào chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin phủi trả
lại các ngươi. Nhưng các ngươi hãy biết rõ
điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần'.
Ta bảo các con, ngày ấy, thành Sôđôma sẽ được
xử khoan dung hơn thành này".
Bảy mươi hai ông trở về
rất vui mừng và nói rằng: "Thưa Thầy, nhân
danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục chúng
con". Người bảo: "Ta đã thấy Satan từ
trời sa xuống như luồng chớp. Này Ta đã ban
cho các con quyền giày đạp rắn rít, bọ cạp,
mọi quyền phép của kẻ thù, và không có gì có thể
làm hại được các con. Dù vậy, các
con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các
con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được
ghi trên trời".} Đó là lời Chúa.
Sợi chỉ đỏ :
-
Bài đọc I (Is 66,10-14c) : Khi dân do
thái đang vừa trở về từ chốn lưu
đày, ngôn sứ Isaia loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban bình
an và hạnh phúc tràn trề cho họ.
-
Đáp ca (Tv 65) : Ca tụng những
phúc lành của Thiên Chúa.
-
Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20) : Chúa Giêsu
sai 72 môn đệ đi khắp nơi loan báo Tin Mừng.
-
Bài đọc II (Gl 6,14-18) : Thánh Phaolô
loan báo những phúc lành mà Thập giá Chúa Giêsu ban cho các tín hữu.
Minh họa
-
Mille images 67 C
-
"Ngài sai họ đi từng hai người một"
(Lc 10,1)
I. DẪN
VÀO THÁNH LỄ
Anh
chị em thân mến
Bài
Tin Mừng hôm nay thuật chuyện Chúa Giêsu sai 72 môn đệ
đi khắp nơi như những sứ giả của sự
bình an và hạnh phúc. Ngày nay
Chúa cũng sai chúng ta như thế. Nhưng muốn là
những sứ giả của bình an và hạnh
phúc thì trước tiên chúng ta phải có bình an và hạnh
phúc trong lòng chúng ta. Đó là hai ơn rất quý mà chúng ta hãy
xin Chúa ban trong Thánh lễ này.
II. GỢI
Ý SÁM HỐI
-
Chúng ta chỉ lo đến phần rỗi của riêng mình
mà không nghĩ đến việc cứu rỗi người
khác.
-
Trong cuộc sống chung đụng với
người khác, chúng ta chưa thực sự là những
người mang lại bình an và hạnh phúc cho họ.
-
Chúng ta chưa được như Thánh Phaolô, biết sung
sướng hãnh diện vì Thập Giá Đức Kitô.
III. LỜI
CHÚA
1.
Bài đọc I (Is 66,10-14c)
Vua
Cyrus nước Ba Tư vừa tiêu diệt đế quốc
2.
Đáp ca (Tv 65)
Tv này reo mừng Thiên Chúa và ca ngợi về
những ơn lành của Ngài.
3.
Tin Mừng (Lc 10,1-12.17-20)
Đoạn
Tin Mừng này đã được Phụng vụ cắt
bớt khúc giữa (cc 13-16), để chỉ còn lại hai
phần chính : Chúa Giêsu sai các môn đệ
đi rao giảng (cc 1-12), và các môn đệ rao giảng
xong trở về kể chuyện cho Ngài nghe (cc 17-20)
a/ Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao
giảng Tin Mừng :
-
Theo tường thuật của Thánh Luca, Chúa Giêsu đã sai
đi rao giảng không phải chỉ nhóm tông đồ mà còn
cả nhóm môn đệ nữa. Luca muốn nhấn
mạnh rằng không riêng gì các tông đồ, mà tất cả
mọi người đều được Chúa Giêsu sai
đi rao giảng Tin Mừng. Ý này lại được
làm rõ thêm với con số 72. Đây là số
dân của loài người mà St 10 đã liệt kê.
-
"Từng nhóm hai người" :
Việc loan Tin mừng không phải là việc của một
cá nhân riêng lẻ, mà là việc của cộng đoàn, không
phải là độc quyền của riêng ai, nhưng phải
liên đới và liên kết với nhiều người
khác.
-
"Hãy cầu xin" : Việc đầu
tiên mà nhà truyền giáo phải làm là "cầu xin". Thiên Chúa là chủ mùa gặt, nhận ai vào Nước
Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của Ngài. Chúa Giêsu bảo cầu xin là để các môn đệ
ý thức rằng họ được gọi là nhờ
ơn Chúa, và để có thêm nhiều người nữa
nhận được ơn ấy.
-
"Như chiên non vào giữa sói rừng" :
Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ về những hiểm
nguy và sự thù nghịch mà có thể họ sẽ gặp
phải.
-
"Đừng chào ai dọc đường" :
việc chào hỏi của người Phương Đông
thường kéo theo những câu chuyện rề rà rất
lâu. Trong khi sứ mạng loan Tin mừng
đòi phải gấp.
-
"Bình an cho nhà này" : đây vừa
là một lời chúc vừa là một lời ban ơn bởi
vì nó có sức tạo nên điều nó chúc (Is 45,23). Người rao giảng Tin Mừng phải là
"con cái của sự bình an". Họ phải có
bình an trong mình và sau đó đem bình an ấy
ban lại cho người khác. Nếu nhà nào đáng
được hưởng ơn bình an
thì được bình an, nếu không thì ơn bình an trở
lại cho người chúc.
-
"Cứ ở lại nhà ấy" :
gặp nhà nào đầu tiên cho ở thì người môn
đệ hãy ở đó. Đừng tìm hiểu
nhà để so sánh chọn lựa nhà nào tiện nghi
hơn. Điều quan trọng là loan báo Tin mừng
Nước Thiên Chúa chứ không phải tiện nghi cho mình
hoặc cách người ta tiếp rước mình.
-
"Ăn uống của người ta cung cấp cho mình" : sứ mạng của môn đệ
đừng để bị ảnh hưởng bởi những
quan tâm có tính cách trần thế (đòi hỏi hoặc e ngại
những gì của ăn uống người ta lo cho mình).
-
"Thợ đáng trả lương" :
đây là một nguyên tắc (1Tm 5,18 ; 1Cr 9,11). Nhưng
người thừa sai cũng có thể tự ý từ chối
(1Cr 9,14-18).
-
"Người ta dọn thức gì cứ ăn thức ấy" :
Người rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu không còn bị bận
vướng bởi luật Môsê về sự phân loại thức
ăn nào sạch, thức ăn nào dơ (1Cr 10,27).
-
"Hãy chữa lành các bệnh nhân" :
đây là dấu hiệu Nước Thiên Chúa gần đến.
-
"Phủi bụi chân" : người
Do Thái thường phủi bụi chân khi từ một vùng
đất ngoại trở về đất Palestina vốn
được coi là đất thánh. Cử chỉ này có nghĩa
là không có chung đụng giữa
-
Thành đó sẽ đáng chịu phán xét trong ngày chung thẩm, họ sẽ bị trừng phạt
nặng nề còn hơn Sôđôma ngày xưa. Việc các thừa
sai đến loan Tin mừng là cơ hội cho người
ta chọn lựa để hoặc được cứu
độ hoặc bị luận phạt.
b/ Sau một thời gian đi truyền
giáo trở về, các môn đệ vui mừng kể lại
cho Chúa Giêsu nghe những thành công của mình. Nhân dịp này
Chúa Giêsu nhận xét về kết quả ấy của họ : Ngài chia vui với họ vì những
thành công ấy. Nhưng Ngài cho biết họ càng nên vui mừng
hơn vì Thiên Chúa đã coi họ là công dân của Nước
Trời ("tên các con được ghi trên trời")
4.
Bài đọc II (Gl 6,14-18) (Chủ
đề phụ)
Trong
đoạn thư này gởi tín hữu Galata, Thánh Phaolô chia
xẻ cho họ biết một Tin Mừng đặc biệt
mà Ngài khám phá ra, đó là giá trị tuyệt vời của
thập giá Đức Kitô :
-
Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi
người
-
Thập giá trở thành lẽ sống của Phaolô
-
Thập giá là nguồn bình an và hạnh
phúc của Ngài.
IV. GỢI
Ý GIẢNG
*
1. Những kẻ mang bình an
Lời
đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải
nói khi vào một nhà nào là "Bình an cho nhà
này". Như thế nghĩa là họ sẽ làm những sứ
giả của sự bình an. Nói cách khác, làm sứ giả của
bình an là sứ mạng đầu tiên của
người môn đệ Chúa.
Bắc Ai Len là một đất
nước mà hai khối dân Công giáo và Tin lành thù ghét nhau và
nhiều lần bắn giết nhau. Vào một dịp lễ Giáng sinh,
một Linh mục công giáo đi sang bên kia
đường để đến thăm một Mục
sư Tin Lành. Vị Mục sư rất cảm
động, đón tiếp vị Linh mục rất niềm
nỡ. Ít lâu sau Vị Mục Sư cũng sang bên kia đường để thăm vị
Linh mục. Tình thân giữa hai người ngày
càng thắm thiết hơn. Tuy nhiên một
vài tín đồ lớn tuổi thì nổi giận. Họ tìm đủ cách để cấp trên của
Giáo Hội thuyên chuyển vị Mục sư ấy đi
nơi khác.
Vị
Linh mục và Vị Mục sư trên chỉ làm điều
mà tất cả các môn đệ Chúa Giêsu phải làm, đó
là làm những sứ giả của bình an và hòa giải trong
một xã hội có nhiều chia rẻ.
Bình
an không phải là một cái gì tiêu cực
do không có chiến tranh và thù hận. Nó đòi
phải có tinh thần cởi mở, tình huynh đệ,
lòng khoan dung, thiện chí và ước muốn hòa giải.
Nó buộc chúng ta đi đến với
người khác. Nó giúp chúng ta gỡ bỏ
những rào cản của nghi kỵ, sợ hãi, thành kiến
và óc cố chấp.
Trước
lúc Rước Lễ, chủ tế chúc "Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị
em". Đây thực là một món quà quý giá mà thế gian
không thể ban tặng được. Tiếp đó chủ
tế kêu gọi "Anh chị em hãy chúc bình an
cho nhau". Đáp lời Ngài, chúng ta chào nhau, đến bắt
tay nhau hoặc ôm hôn nhau. Ước
chi những cử chỉ đó không phải chỉ là hình
thức mà thực sự bày tỏ lòng thân thiện của
chúng ta. Cuối Thánh lễ, chủ tế
lại chúc "Chúc anh chị em ra về bình an".
Câu này có nghĩa là chúng ta đã đến nhà thờ lãnh nhận
bình an của Chúa, vậy khi ra về
chúng ta cũng hãy mang bình an ấy đến cho mọi
người chúng ta sẽ gặp gỡ.
*
2. Mênh mông lúa đồng
Một buổi tối nọ, ông John
Keller, một diễn giả nổi tiếng được
mời thuyết trình trước khoảng một trăm
ngàn người tại vận động trường
Đèn tắt, sân vận động
chìm sâu trong bóng tối dày đặc. Ông John Keller nói tiếp : "Bây giờ tôi đốt lên
một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que
diêm tôi đốt thì hãy kêu lớn lên :
"Đã thấy !" Một que diêm được bật
lên, cả vận động trường vang lên : "Đã thấy !"
Sau
khi đèn được bật sáng, ông John Keller giải thích : "Ánh sáng của một hành động
nhân ái nhỏ như một que diêm sẽ chiếu sáng trong
đêm tăm tối của nhân loại y như vậy".
Một lần nữa, tất cả
đèn trong sân vận động lại tắt. Một giọng
nói vang lên ra lệnh : "Tất cả những
ai có mang theo hộp quẹt, xin hãy đốt cháy
lên !"
Bỗng chốc, cả vận động trường rực
sáng.
Ông
John Kener kết luận : "Tất
cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng
bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm
sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của
chúng ta".
Đã
qua 2000 năm nhưng lời dạy của Chúa Giêsu vẫn
như đang nói với chúng ta hôm nay :
"Lúa
chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít" (Lc 10,2). Thế giới có trên 6 tỉ người, mà kẻ
tin vào Chúa mới chỉ hơn một tỉ. Riêng tại Á Châu, chiếm 2/3 dân số thế giới,
nhưng người Công giáo chỉ không tới 3%.
Cánh đồng lúa mênh mông còn bị bỏ
hoang không thợ gặt hái. Thế giới này dường
như vẫn còn mò mẫm trong bóng đêm dày đặc của
sự dữ, của tranh chấp, của oán thù ;
rất cần những đốm sáng của tình
thương, của khoan dung, của tha thứ. Thế nên,
không lạ gì Chúa Giêsu đã nói : "Anh em hãy ra
đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con vào giữa bầy
sói"
(Lc 10,3) (…)
"Ra đi" chứ không phải "ở lại", đó là một lệnh
truyền.
Cả cuộc đời của Thầy là một hành trình : Sinh ra ngoài đường, sống
và rao giảng ngoài đường, cuối cùng chết cũng
ngoài đường. Thầy luôn lên đường
và không ngừng ra đi. Công đồng Vaticano II cũng
long trọng khẳng định : "Tự bản
tính, Giáo Hội lữ hành phải truyền giáo" (TG 2). Đức
Thánh Cha Gian Phao lô II cũng quả quyết :
"Không
một ai trong những người rin vào Đức Kitô,
không một tổ chức nào trong Giáo Hội được
miễn khỏi trách vụ cao cả này : Đó là toan
báo Đức Kitô cho mọi dân tộc" (Sứ vụ
Đấng Cứu Độ, 3).
Vậy ơn gọi của người
tín hữu Kitô là "Ra đi".
Ra
đi đem "bình an" đến
cho các dân tộc, bình an giữa mọi người với
nhau, bình an với Chúa.
Ra đi chữa lành bệnh nơi thể
xác cũng như trong tâm hồn.
Ra
đi loan báo Nước Thiên Chúa đã đến gần,
nước tình yêu và ân sủng, nước
công chính và bình an.
Thánh
Phao lô đã phải thốt lên : "Khốn cho thân
tôi : nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9,16). Nhưng
việc làm mới chứng thực cho lời rao giảng,
và lời rao giảng sẽ soi sáng cho việc làm. Ra đi
là để làm chứng, và lời chứng sáng giá nhất
chính là việc làm. Đúng như L. Moody đã nói :
"Các
ngọn hải đăng không thổi còi ầm ĩ, chúng
chỉ chiếu sáng". (TP)
*
3. "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì
ít"
Catherine
de Hueck Doherty làm việc trong một quán bar ở Mahattan.
Đến 4 giờ sáng, cô nói lời tạm biệt với
các khách uống rượu. Một người hỏi :
-
Cô đi đâu ?
-
Tôi phải đu Nhà thờ dự Thánh lễ, vì hôm nay là
Chúa nhật.
-
Thế cô là người công giáo hả ?
- Đúng vậy.
Nhiều người trong đám khách rất
ngạc nhiên vì không ngờ Catherine có thể vừa là một
người công giáo ngoan đạo vừa làm việc tại
một nơi phức tạp như vậy. Vài tuần sau, một
người trong đám khách trở lại nói với Catherine : "Cô đã khiến tôi suy nghĩ
nhiều. Cô có thể vừa sống đạo tốt vừa
làm việc ơ một nơi như thế này, thì tại
sao tôi không thể !" Và người ấy đã trở lại nhà thờ.
Lần
khác, Catherine đang trên đường tới trạm xe điện ngầm thì gặp một bà cụ.
Bà cụ mở lời "Cô có vui lòng nói chuyện với
tôi giây lát không ?" Cô
vui vẻ nhận lời. Hai người
đã nói chuyện với nhau trong suốt chặng
đường. Sau đó hai người
còn kết thân với nhau và Catherine thường xuyên tới
thăm viếng bà cụ cho tới ngày bà cụ qua đời.
"Lúa chín đầy đồng mà thợ
gặt thì ít".
Một kitô hữu có ý muốn làm thợ gặt
như cô Catherine thì không bao giờ thiếu dịp để
gặt lúa cho Chúa.
*
4. Mảnh suy tư
Tông đồ là kẻ được
sai đi.
Vì thế làm tông đồ rất khác
với làm chuyên viên. Làm chuyên viên thì cần phải
có tài năng. Còn làm tông đồ thì chỉ cần
đi theo lệnh Chúa sai, đến với
người Chúa sai mình đến, và mọi việc khác hầu
như Chúa sẽ làm tất cả.
5.
Chuyện minh họa
a/ Đi giảng
Ngày
kia, thánh Phanxicô Assadi nói với một thày dòng :
"Nào chúng ta cùng đi phố và giảng đạo."
Hai người ra đi, hết con đường trước
mặt, quẹo sang đường khác rồi về nhà.
Thày dòng thắc mắc hỏi :
"Con nghe ngài nói là mình đi phố và giảng đạo
cơ mà !" Thánh Phanxicô đáp :
"Chúng ta đã giảng đạo rồi đó ! Khi chúng ta đi đường. Mọi người nhìn ta, thấy phong cách của
ta, nghĩ về đời sống của ta và rồi họ
sẽ thắc mắc về nguồn sống nơi linh hồn
của họ. Như thế chẳng phải là ta
đã giảng đạo cho họ rồi sao ?"
Câu nói của thánh nhân quả là khôn
ngoan.
Người Kitô-hữu không có cách truyền giáo nào hay
hơn là chính đời sống chứng tá của họ.
b/ Khuôn vàng thước ngọc
"Hãy nói về Chúa cho
những người quanh bạn nghe ;
và hãy nói về những người quanh bạn cho Chúa
nghe".
V. LỜI
NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu
mời gọi người Kitô hữu cộng tác vào công cuộc
cứu chuộc của Người. Với ước mong
trở nên những sứ giả Tin mừng cứu độ,
chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Hội thánh là dấu chỉ ơn cứu
độ Chúa sẵn sàng ban cho hết thảy mọi
người / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa gửi
nhiều thợ gặt lành nghề / đem tin mừng
đến cho mọi loài thọ tạo.
2. Khát vọng sâu xa nhất của con
người ở mọi thời đại / là
được sống bình an và hạnh phúc / Chúng ta hiệp
lời cầu xin Chúa ban hòa bình cho những vùng còn khói lửa
chiến tranh / để hết thảy mọi người
đều được sống hạnh phúc và an bình.
3. Tin tưởng vào Chúa quan phòng là thái
độ người Kitô hữu cần có suốt cuộc
đời của mình / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho mọi tín hữu / biết đặt trọn niềm
tin vào sự quan phòng kỳ diệu của Chúa / mỗi
khi gặp thử thách gian truân.
4. Số linh mục trên thế giới
ngày nay thiếu hụt trầm trọng / Chúng ta hiệp
lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta /
biết góp phần vào việc đào tạo linh mục
tương lai của các giáo phận / bằng lời cầu
nguyện / cũng như bằng việc rộng rãi
giúp đỡ Chủng viện.
Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, Chúa sai chúng con
đem Tin mừng cứu độ, mang sứ điệp
yêu thương đến cho biết bao anh chị em
chưa nhận biết Chúa. Xin Chúa cho chúng con biết dùng
đời sống bác ái yêu thương và phục vụ tận
tụy, mà làm tròn sứ mạng này. Chúa hằng
sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG
THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Trong bài Tin Mừng
hôm nay Chúa Giêsu đã nói "Lúa chín đầy đồng mà
thợ gặt thì ít. Chúng con hãy xin chủ ruộng sai thợ
đến gặt lúa của Người". Giờ đây chúng ta hãy tha thiết cầu xin Chúa
Cha cho Nước Chúa mau trị đến.
-
Chúc bình an : Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng
bảo mỗi kitô hữu chúng ta hãy làm sứ giả của
bình an. Chúng ta hãy thật lòng chúc bình an cho nhau.
VII. GIẢI
TÁN
Anh chị em thân mến. Môn đệ Chúa
là những sứ giả của bình an. Chúng ta hãy ra về
và mang bình an đến cho tất cả
những người chúng ta sẽ gặp gỡ.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài đọc:
Is 66 ; 10-14 ; Gl 6 ; 14-18 ; Lc 10 : 1-9
Chủ đề:
Chúng ta có sứ mệnh đem bình anh đến
cho thế gian.
Năm 1980, có
một tạp chí trong nước đăng câu chuyện
ngộ nghĩnh sau. Có một người kia đậu xe
phía bên ngoài lối đi một cửa hàng rộng lớn,
khi quay trở ra lấy xe thì thấy trên ghế ngồi
đằng trước có một mẫu giấy ghi:
“Thưa ông hoặc Bà quí mến, tôi đã tính ăn cắp
chiếc xe hơi này, nhưng tình cờ đọc thấy
tấm bảng gắn trên xe có lời cầu chúc “Bình an cho
quí bạn”. Câu này khiến tôi phải dừng lại suy nghĩ.
Tôi tin chắc nếu tôi ăn cắp chiếc xe này thì hẳn
ông hoặc bà sẽ không còn được bình an, và chính tôi
cũng chẳng được an bình nữa, vì đây là lần
“ra nghề” đầu tiên của tôi. Vì thế “Bình an cho
quí bạn” và cho cả tôi nữa. Hãy lái xe cẩn thận
và lần sau nhớ khoá xe cho kỹ lưỡng”. Dưới
mẫu giấy ký tên “Người đáng lẽ ra đã là
một kẻ trộm cắp”.
Câu chuyện
ngộ nghĩnh trên minh hoạ cho lời giáo huấn khá kỳ
lạ Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ trong bài Phúc
Âm hôm nay: “Khi vào bất cứ nhà nào, nếu ở đó có
người yêu chuộng bình an thì sự bình an của các
con sẽ ở lại trên kẻ ấy, bằng không, sự
bình an sẽ trở lại với các con”. Áp dụng lời
này vào câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng tấm bảng
gắn trên xe có đề câu “Bình an cho quí bạn” đã
đem lại bình an của Chúa Kitô cho kẻ đang dự
tính ăn cắp xe kia. Tên ăn trộm này yêu chuộng an
bình nên sự bình an của Chúa Kitô đã ở lại trên
anh ta.
Điều
này gợi ra cho chúng ta một câu hỏi. Theo chúng ta, “Bình an
của Chúa Kitô” có nghĩa là gì? Đâu là nội dung hàm chứa
trong câu nói đó?
Khi Thánh Kinh
dùng từ ngữ Bình An, nó thường bao gồm bốn ý
nghĩa. Trước hết hiểu theo nghĩa quân sự
bình an ám chỉ tình trạng không có chiến tranh giữa các
dân tộc, chẳng hạn chúng ta thường nói “các dân tộc
sống trong bình an”. Thứ đến hiểu theo nghĩa
từng cá nhân, Bình an chỉ trạng thái an ổn của từng
người, chẳng hạn chúng ta nói “Chúng tôi sống an
bình với nhau”. Thứ ba, Kinh Thánh dùng từ ngữ Bình an
theo nghĩa tôn giáo để chỉ mối tương giao
thực sự giữa Chúa và chúng ta, chẳng hạn chúng ta
nói : “Chúng tôi được bình an trong Chúa”. Cuối cùng,
Kinh Thánh dùng từ ngữ Bình An để ám chỉ tình trạng
trong đó mọi người trên trái đất sống an
hoà với Chúa với láng giềng và với chính mình. đây
là sự “Bình an Chúa Kitô”. Đây chính là sự bình an Chúa Giêsu
nói đến khi Ngài tuyên bố: “Ta để lại bình an
cho các con, Ta ban sự bình an của Ta cho các con” (Ga 14;27). Mỗi
khi cử hành thánh lễ vị linh mục đều nhắc
lại những lời này. Sự bình an này không là gì khác
ngoài sự thực hiện Nước Chúa trên Trái đất,
“Nước” mà chúng ta vẫn thường khấn cầu
trong Kinh Lạy Cha: “Chúng con nguyện…. Nước Cha trị
đến”. Và đây cũng là sự bình an mà Chúa Giêsu truyền
bảo các môn đệ Ngài mang đến cho đồng loại
của họ, cũng như Ngài truyền chúng ta mang đến
cho mọi người chung quanh chúng ta. Chúng ta phải là những
khí cụ mang bình an của Chúa Giêsu đến từng
người trong mọi dân tộc trên trái đất này.
Ví dụ sau
đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn Chúa Giêsu muốn
chúng ta làm điều đó thế nào.
Khi có những
cơn bão từ vùng nhiệt đới có vận tốc
trên 75 dặm/giờ (tức trên 100km/giờ) thổi tới
trên biển Thái Bình Dương,
thì người ta gọi là cuồng phong, còn nếu thổi
tới trên biển Đại Tây Dương thì người
ta gọi là Bão biển. Để có được khái niệm
về một cơn bão biển, chúng ta hãy tưởng
tượng đến một cái đĩa nhựa
(Frisbee) với một cái lỗ ở trung tâm. Nào bây giờ
chúng ta hãy tưởng tượng chiếc đĩa
(Frisbee) này càng lúc càng to lên cho đến khi đường
kính lên tới 100 dặm (160 km), và cái lỗ ở giữa cũng
sẽ rộng lên tới 10 dặm (16km). Rồi chúng ta làm
cách nào xoay cái đĩa ấy đạt đến tốc
độ 100 dặm (160 cây số) một giờ. Hình ảnh
cơn bão biển cũng giống như thế đó.
Điều thú vị là ngay giữa trung tâm cơn bão biển
– có thể so sánh với phần ngay giữa cái lỗ ở
trung tâm chiếc đĩa nhựa (Frisbee) - vẫn tuyệt
đối yên tĩnh. Ngay cả giữa lúc gió gào thét lên tới
tốc độ 100 dặm (160 cây số) một giờ,
thì nơi trung tâm này vẫn chẳng hề có tí gió nào cả.
Nếu quí vị đứng ngay giữa trung tâm cơn bão
biển mà nhìn lên. Quí vị sẽ thấy bầu trời
xanh lơ và mặt trời rực sáng.
Trung tâm của
bão biển là một hình ảnh thật đẹp mô tả
nội dung của bữa tiệc thánh mà Chúa Giêsu muốn diễn
tả, bữa tiệc mà mỗi Chủ nhật chúng ta cùng
quây quần chia xẻ với nhau. Chung quanh chúng ta thế giới
đang gào thét khác nào những cơn bão táp cuồng nộ:
người thì la ó, kẻ khác cắp trộm, nhóm này phản
loạn, nhóm kia cướp bóc, nước này giao tranh tiêu
diệt nước kia…. Tuy nhiên nơi bàn tiệc Chúa, mọi
sự đều yên tĩnh. Ngước nhìn lên chúng ta chỉ
trông thấy bầu trời xanh và ánh mặt trời sáng rực.
giống như chúng ta đang ở giữa nhìn lên “bình an của
Chúa Kitô”. Tuy nhiên, Chúa Giêsu ban cho chúng ta sự bình an này không
phải chỉ là trạm tiếp ứng sức mạnh tạm
thời cho chúng ta thôi, giống như nơi trung tâm bình an của
cơn bão biển ấy chỉ tồn tại khoảng 1
giờ đồng hồ, thì bàn tiệc Chúa cũng chỉ
kéo dài khoảng 1 tiếng đồng hồ như thế.
Chúa Giêsu không hề có ý định muốn chúng ta lưu lại
mãi ở chốn yên tĩnh vùng trung tâm cơn bão biển, mà
Ngài muốn chúng ta xông pha trở lại vào giữa cơn
bão đang hung hãn thổi. Ngài muốn chúng ta từ bàn tiệc
Chúa bước vào giữa dòng bão táp trần gian để
chia xẻ với mọi người sự bình an của
Chúa Kitô mà chúng ta cảm nghiệm từ nơi bí tích Thánh Thể.
Nói cách khác, Ngài muốn chúng ta là khí cụ gieo rắc bình an
của Đức Kitô cho tất cả thế gian.
Tóm lại,
Thánh Kinh nói cho chúng ta biết về bốn loại bình an:
bình an giữa các dân tộc, bình an giữa chúng ta với
nhau, bình an với Chúa và cuối cùng là bình an của Chúa Kitô
tức tình trạng mọi người trên thế gian sống
an hoà với Chúa, với láng giềng và với chính mình.
Loại bình an
sau cùng này, tức bình an của Đức Kitô chẳng là gì
khác ngoài việc thực thi nước Chúa trên trần gian.
Để thực hiện sự bình an này, Chúa Giêsu đã mặc
lấy thân xác con người, và Ngài đã truyền cho các
môn đệ gieo rắc bình an này cho đồng loại của
họ, cũng như Ngài truyền cho chúng ta mang bình an này
đến cho mọi người sống chung quanh chúng ta.
Và sáng hôm nay đây chúng ta cùng cầu xin Chúa Giêsu đổ
tràn trên chúng ta sự bình an này; “Lạy Chúa xin hãy biến
thành khí cụ bình an của Chúa, để con gieo yêu
thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi
lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem
chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi
nan, chiếu hy vọng vào nơi tuyệt vọng, dọi
ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến
chốn u sầu. Xin hãy dạy con tìm an ủi người
hơn được người ủi an, tìm hiểu biết
người hơn được người hiểu biết,
tìm yêu mến người hơn được người
mến yêu. Vì chính khi cho đi là khi được nhận
lãnh, chính lúc thứ tha là khi được tha thứ, chính
lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh
Phanxicô Assisi)
Các bạn đã nghe nói về
Helen Keller, một người vừa mù vừa điếc. Tuy nhiên cô là một người
có học vấn cao. Một chiều kia
sau bài diễn thuyết, cô mời thính giả đặt
câu hỏi, có người hỏi cô; ‘Thưa cô Keller. Nếu cô được phép ước một
điều, cô sẽ ước điều chi?”
Đây là một phụ nữ
chưa bao giờ nghe được tiếng nói, chưa
bao giờ thấy được khuôn mặt người
thân thương, cô chỉ tiếp xúc với thế giới
bằng xúc giác, chúng ta tưởng rằng chắc cô sẽ
ước được thấy hay được nghe.
Không, cô trả lời: “Tôi sẽ ước Hoà Bình cho thế
giới”
Chúa Giêsu muốn nói gì với
hai chữ “Bình An”? Người không nói rằng
đó chỉ là vắng bóng chiến tranh hay không ồn ào.
Đúng hơn, Hoà Bình, theo ngôn ngữ Do Thái có nghĩa là
không lo âu, sức khoẻ tốt, được an toàn và
hài lòng với cuộc sống,
có nghĩa là được mọi hồng ân vật chất
và thiêng liêng Thiên Chúa ban cho dân Người.
Sự an toàn
và an tâm ấy chúng ta thấy trong bức tranh dễ mến.
Isaia phác hoạ trong bài đọc thứ nhất: “Người
con nhỏ trong lòng người Mẹ”. Trong
bài đọc hai, Thánh Phaolô mặc dầu trong tù ngục,
Người cũng chúc cho chúng ta sự bằng lòng trọn
vẹn mà chúng ta nói tới nơi đây.
Vị linh mục nói cũng
như lời này khi đem Chúa Kitô cho bệnh nhân hoặc
người già cả và khi Ngài khởi sự bí tích xức
dầu bệnh nhân.
Bình an bao gồm tất cả
những gì Chúa Giêsu muốn ban: sự chữa lành thân xác và
tâm hồn, Lời giảng dạy khôn ngoan của Người,
sự hiện dịên đầy đủ an ủi của
Người, nhất là cuộc khổ nạn, sự chết
và sống lại của Người được lập
lại trong Thánh lễ.
Bạn thấy chúng ta cầu
xin Bình an nhiều lần trong thánh lễ.
Tội lỗi là thù nghịch của Bình an. Sự
chết của Chúa Giêsu tái diễn trên bàn thờ này xoá bỏ
tội lỗi, giúp chúng ta xa tránh tội lỗi. Bạn hãy chú ý lời cầu nguyện “xin đừng
chấp tội lỗi chúng con. Nhưng xin nhìn đến
Đức tin của Hội Thánh Chúa, và ban cho chúng con Bình an
và hợp nhất của Nước Cha”
Sau đó vị Linh mục
đọc: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các tông
đồ rằng Thày để lại Bình an cho các con, Thày
ban Bình an của Thày cho các con, xin đừng nhìn đến
tội lỗi chúng con” rồi Ngài nói thêm: “Bình an của Chúa
hằng ở cùng anh chị em” Sau đó chúng ta được
mời gọi tỏ bày một dấu chỉ Bình an cho
nhau. Bắt tay, cúi đầu với một
lời chúc Bình an hay ít ra hướng lòng chúng ta đến
với người lân cận.
Trong kinh nguyện Thánh Thể
III chúng ta kêu cầu; “Lạy Chúa, xin cho của lễ hoà giải
này đem lại Bình an và ơn cứu độ cho toàn thể
thế giới”. Bạn lắng nghe vị linh
mục tiễn biệt: “Anh em về Bình an’
Vâng, Thánh lễ là một lễ
Bình an, một dấu chứng Bình an, một nguồn mạch
Bình an, một giao ước Bình an. Ước gì mọi
nhà, mỗi con tim trên thế giới nghe
lời chúc của Chúa Kitô “Bình an cho nhà này”
Xin
Chúa chúc lành bạn. Amen.
GÓP GIÓ
Bầu trời - Cuộc sống
Mỗi chúng ta từ khi sinh ra tới lúc mất đi
ắt hẳn đã không ít lần nhìn lên bầu trời.
Vậy có khi nào bạn để ý dường như
cuộc sống của chúng ta cũng giống như là
bầu trời :
-
Bầu trời buổi bình minh khi mặt trời mọc lên
từ sau những đám mây - khởi đầu của
một con người, sự bắt đầu của
mọi thứ.
-
Bầu trời buổi trưa, rực rỡ và chói chang làm
cho người ta vừa thích thú vừa căm ghét - thành
công và vinh quang của một đời người
để bên cạnh nó là sự khâm phục, yêu mến
lẫn sự đố kị, căm ghét.
-
Bầu trời buổi hoàng hôn, mặt trời sắp
lặn nhưng nó như còn muốn níu kéo, vội vàng
chiếu sáng những tia nắng nhạt
nhoà - cái gì bắt đầu cũng phải có kết thúc
cũng giống như vầng hào quang của một người
rồi cũng sẽ lu mờ dần, bắt đầu
nào cũng cần kết thúc.
-
Bầu trời đêm tĩnh lặng, không mặt trời,
chỉ là màn đêm và những ngôi sao, vầng trăng
toả ánh sáng dịu dàng - khoảng lặng của một
đời người, những phút giây bình yên, những
phút giây để ta lắng đọng, một chút suy tư
về đời mình.
-
Bầu trời những ngày mưa xám xịt - những
nỗi buồn, những giọt nước mắt
khổ đau, nỗi tuyệt vọng để rồi
sau cơn mưa là cầu vồng bảy sắc - nước mắt qua đi, nụ cười
và hạnh phúc đang đợi mỗi chúng ta, hi vọng
lại tràn về để chúng ta thêm yêu cuộc sống.
-
Bầu trời như gào thét những ngày bão giông - giông bão
của mỗi con người, những khó khăn chồng
chất khi ta bước đi trên con đường hoa
hồng đầy hương sắc mà cũng lắm gai
nhọn. Rồi giông bão cũng qua để
lại một bầu trời trong xanh nhưng không bao
giờ giống như cũ, chúng ta đã trưởng
thành hơn.
Cho
dù bầu trời - cuộc sống của bạn có ở
gam màu nào chăng nữa thì bạn hãy thử nhìn kĩ xem,
lúc nào cũng có ánh sáng soi đừơng cho bạn, dù cho
đó là ánh sáng mặt trời rực rỡ hay là mặt
trăng dịu dàng, hay là cầu vồng hạnh phúc. Không
bao giờ ánh sáng mất đi trên bầu trời cũng như
không bao giờ hi vọng và niềm tin vụt tắt ngay
cả khi trong những ngày giông bão, khi mà cả thế
giới như sụp đổ, hãy nhìn lại, bạn
nhé...
Lợi thế của người xấu
Người
xấu đơn giản là người không đẹp
về ngoại hình. Nhưng xấu hay đẹp
đều rất tương đối, tuỳ thuộc
vào sự cảm nhận của mỗi người.
Cứ cho là bạn xấu đi thì cái rủi bao giờ
cũng để lại không ít cái may.
1.
Không ai quấy rầy. Bạn tha hồ
sống nội tâm và khám phá năng lực của bản
thân. Sinh ra xấu xí khác nào nhiều
việc lớn trong đời đang đợi bạn.
Nếu thành công, ngoại hình của bạn có
khi làm nhiều người thán phục cũng nên.
Bạn nổi tiếng, các nét xấu xí của bạn
cũng sẽ "nổi tiếng" theo.
2.
Thường thì người xấu ít có khả năng gây
ra ham muốn cháy bỏng - khó kiềm chế nổi ở
đối phương. Do đó không rơi vào các tình
thế khó tránh khỏi: sa ngã, không vướng
vào các quan hệ phiền toái ngoài công việc như người
đẹp. Chưa hết, người ta thường
đặt lòng tin vào người xấu, rằng họ
sẽ không mất thời gian cho việc ngắm vuốt
cũng như đối phó với người hâm mộ,
để toàn tâm toàn ý với công việc.
3.
Người xấu không có những mơ mộng cao xa hay
quyền ỷ lại như người đẹp. Người xấu tiến bộ nếu không
dựa vào bản thân thì cũng không thể viện
đến sắc đẹp. Vì thế
người xấu sẽ không có cơ hội than thân trách
phận sao giời sinh mình đẹp. Cũng
chẳng hơi đâu để ý đến nhan sắc
đang tàn phai ra sao.
4.
Mọi người thường tự tin hơn trước
những người nhan sắc không bằng họ. Mà tự tin thì dễ bày tỏ. Cho nên người xấu có cơ hội tiếp
xúc và hiểu biết về đối tác. Bản thân đối tác cũng có cơ hội
nhận thấy bản chất (tốt đẹp) của
người xấu do không bị vẻ đẹp bên ngoài
gây nhiễu.
5.
Người đẹp không cảm thấy có gì trở
ngại khi tiếp xúc với người xấu, bởi
vì 2 lý do:
- Người
xấu thường có những mặt tích cực, đôi
khi vượt trội mà người đẹp có khi
thiếu: ý chí, sự hài hước, lòng tốt...
- Đơn thuần là sự chọn lọc gene. Người
ta hay bị hẫp dẫn bởi vẻ đẹp khác
mình. Trong cuộc sống thường thấy những
cặp lùn-cao, béo-gầy, kể cả xấu đẹp
đi với nhau rất ăn ý.
6.
Người nào cũng có cái duyên nhưng cái duyên của người
xấu dễ nhận ra hơn bởi nó tồn tại
độc lập. Chẳng ai xấu toàn
diện, trên một cơ thể tưởng không có gì
nổi bật lại hiện lên một nét đẹp khó
quên, một khi đã được khám phá.
7.
Là người xấu, bạn chủ động trong
nhiều mối quan hệ, nhất là trong chuyện tình
cảm. Vô hình trung người xấu mới
là kẻ lựa chọn, chứ không phải người
đẹp. Và người đẹp thường
vui sướng khi được lựa chọn, vì thói thường
ai cũng tưởng đẹp thế hẳn phải
thừa thãi các mối quan hệ. Đâu
biết người đẹp vẫn thiếu mối quan
hệ sâu sắc mà người xấu có thể đem
lại.
8.
Thực ra người xấu cũng như người
đẹp đều đặt ra sự thử thách
đối với những người có bản lĩnh,
đều đòi hỏi được chinh phục hay
chịu đựng. Khác cái là trong khi người
đẹp cứ thắc mắc về việc người
ta đến với mình vì ngoại hình hay không, người
xấu có ngay câu trả lời: không.
Một lời cám ơn!
Nó chưa thể quá 6 tuổi. Mặt mũi bẩn, đi chân đất, áo rách,
tóc rối bù. Nó chẳng khác gì mấy so với hàng
trăm nghìn hoặc hơn thế trẻ em mồ côi lang thang trên đường phố khắp
thủ đô Ri-ô-đờ-Ja-nê-rô.
Tôi
đang đi tới quán cà phê, suy nghĩ lung tung
về những công việc ở cơ quan mình vừa làm
xong và lớp học chuyên môn buổi chiều mà tôi
giảng dạy, thì bông thấy có ai đó đạp
nhẹ vào tay. Tôi dừng : không có ai
cả. Tôi đi tiếp. Lại thấy
có ai đập nhẹ vào tay. Lần này tôi quay hẳn người lại, và
nhìn xuống. Thằng bé đứng ở đó.
Mắt nó màu nhạt,cũng có thể
đó là do tôi có cảm giác từ hai gò má nhem nhuốc và mái
tóc đen rối của nó.
-
Bánh mì, ông ơi??
Nếu
sống ở Braxin, chúng ta có nhiều cơ hội
để mua một thanh kẹo hay một cái bánh mì cho
những đứa bé vô gia cư và mồ côi này. Tôi bảo
nó đi theo tôi và chúng tôi cùng vào một
tiệm giải khát:
- Cà
phê cho tôi và cái gì đó ăn được cho cậu
bạn nhỏ này ? - Tôi gọi.
Thằng
bé chạy đến quầy hàng và lựa chọn. Bình thường,
bọn nhỏ này sẽ cầm đồ ăn và bỏ
đi luôn, quay trở lại đường phố.nơi
chúng đang phải lang thang, mà không nói
lời nào. Nhưng thằng bé này lại làm tôi ngạc
nhiên.
Quầy
giải khát khá dài, người ta đặt cốc cà phê
ở một đầu và một cái bánh mì ở
đầu kia. Thường
người ta cũng biết là bọn trẻ đường
phố xin được khách hàng mua cho cái bánh rồi
sẽ bỏ đi ngay, mà người ta cũng không
muốn cho chúng ở lại vì trông chúng rách rưới và
bẩn thỉu.
Tôi
bắt đầu uống cà phê của mình và khi tôi uống
xong, trả tiền, tôi nhìn ra cửa mới phát hiện ra
nó đứng ở ngoài (vì nó không được ở lâu
trong cửa hàng), kiễng chân lên, tay cầm bánh mì, mắt
gí vào cửa kính, quan sát.
"Nó
làm cái quái gì thế ?!" - Tôi nghĩ.
Tôi
đi ra, nó nhìn thấy tôi và chạy vụt theo.
Thằng bé đứng trước mắt tôi, chỉ cao
đến thắt lưng. Đứa bé mồ côi người
Braxin ngước nhìn khách lạ người Mỹ cao
lớn, là tôi, mỉm cười (một nụ cười
có thể làm trái tim bạn phải ngừng vài giây), và nói:
"Cảm ơn chú?! " Rồi, có
vẻ lo lắng, nó gãi bàn chân và kiễng chân lên, nói to hơn:
"Cảm ơn chú nhiều lắm ạ !
"
Lúc
đó, nếu tôi có thể thì tôi đã mua cả tiệm
ăn cho nó.Trước khi tôi nói được câu gì, nó
đã quay người bỏ chạy đi mất Khi tôi
viết bài này tôi vẫn đang ngồi bên ngoài quán giải
khát, nơi tôi mua chiếc bánh mì cho thằng bé. Tôi đã muộn giờ lên lớp. Nhưng tôi
vẫn còn cảm thấy xúc động và nghĩ về
thằng bé. Và tôi tự hỏi: nếu tôi bị xúc
động đến thế chỉ bởi một
cậu bé đường phố nói lời cảm ơn
tôi vì một mẩu bánh mì, thế thì mọi người
sẽ xúc động đến đâu khi chúng ta nói
những lời cảm ơn - thực sự cảm ơn
- vì những gì họ làm cho chúng ta . Hãy dành thời gian để nói những lời
cảm ơn, và đừng bao giờ tiết kiệm
lời cảm ơn cả.
Hoa nhân ái
Có những món quà khiến người cho trở thành
kẻ ban ơn, khiến người nhận trở thành
kẻ mang nợ. Có những món quà
khiến người cho trở thành ông chủ, khiến người
nhận trở thành kẻ nô lệ.
Có những món quà khiến người cho trở thành
kẻ xâm lược, khiến người nhận trở
thành kẻ bị áp bức. Những món quà
ấy được đo bằng giá trị tiền
bạc.
Bạn
có biết về một món quà, món quà khiến người
cho kẻ nhận thành bạn của nhau, món quà khiến người
cho kẻ nhận được trở thành người hơn;
món quà làm người cho có cơ hội nhận ra chính mình,
món quà làm người cho trở thành người được
nhận. Vì món quà ấy được cho và
nhận trong tình yêu. Tôi muốn nói
đến Hoa Nhân Ai.
Tình
Yêu ...
Mỗi loài hoa đều có mảnh đất của
riêng mình. Hoa hồng chỉ nở trên
mảnh đất màu mỡ; Hoa xương rồng
chỉ nở trong sa mạc.
Riêng
Hoa Nhân Ái chỉ có thể nở trên sa
mạc của lòng người, nhưng được
tráng bằng một lớp đất màu mỡ của yêu
thương.
Không ai có thể diễn tả được tình yêu
là gì. Nhưng có thể nói
đôi điều về miền đất có thể
nảy sinh tình yêu. Đó chính là sự hy
sinh tự nguyện. Sự hy sinh làm cho
ta thành người, làm cho ta thành bạn của người
bên cạnh, trước khi có thể nhìn nhận người
bên cạnh là người, là bạn của chính mình.
... và Lòng Nhân Ái
Trên vùng đất hy sinh, tình yêu đâm chồi và
kết hoa nhân ái, trái của nó là tất cả những gì
chúng ta nhận thấy. Ai dám bảo rằng đó là
điều không cần thiết trong cuộc sống
thực dụng hôm nay ?
Hoa
Nhân Ái : rất dễ nhưng cũng
rất khó trồng tỉa, rất dễ nhưng cũng
rất khó trao tặng, rất dễ nhưng cũng
rất khó đón nhận, rất dễ nhưng cũng
rất khó nhận ra. Điều khó-dễ ấy là do tình
yêu nơi người cho và kẻ nhận. Bởi cho không
phải là dư của và nhận không phải do thiếu thốn,
nhưng là tất cả người cho và kẻ nhận
đã cảm thấy khuôn mặt của Tình yêu và cố
gắng diễn tả tình yêu ấy...
Đi tìm hạnh phúc
Hạnh
phúc là điều ai cũng mong muốn. Khi
phải sống trong những ngày có quá nhiều sự
kiện không tốt ập đến, người ta
dễ rơi vào những rắc rối về sức
khỏe, nghề nghiệp và cả những mối quan
hệ xã hội. Hãy tập trung vào
việc làm cho mình hạnh phúc, bạn sẽ cảm
thấy dễ chịu hơn, cũng như mọi người
sẽ nhìn thấy một vẻ ngoài tràn đầy
thiện cảm của bạn. Sau đây là một
số “mẹo vặt” sẽ giúp bạn hạnh phúc hơn:
1.
Hãy lạc quan:
Nhìn
cuộc sống tích cực đi nhé! Chính bạn sẽ
thấy cuộc sống hạnh phúc và nhiều năng lượng
đến thế nào! Hãy nhớ: một cô nàng hay một
anh chàng nào đó sẽ bị hút về phía bạn nếu
bạn là một người lạc quan và tích cực.
2. Vươn
tới những viễn cảnh tương lai:
Bạn hãy nhìn về bức tranh rộng lớn
của cuộc đời bạn, đừng để
một vài mặt trái lật đổ bạn. Trong cuộc đời, bạn sẽ phải
chạm trán với nhiều chướng ngại, nhưng
hãy để đôi mắt của bạn hướng
về những giá trị lâu dài và tránh trở nên bất
hạnh khi vướng phải những vấn đề
khó khăn thứ yếu.
3.
Tỏ ra biết ơn:
Cám ơn đồng nghiệp của mình khi anh ta giúp
đỡ bạn. Chúc mừng
cấp trên khi thành công trong một dự án. Nói một
lời tử tế với người phục vụ bàn
khi họ mang cho bạn tách cà phê buổi sáng. Cho người
hành khất một vài tờ bạc lẻ khi bạn
gặp trên đường… Đó là những
cách cảm ơn cuộc đời và bạn sẽ
thấy mình thật hạnh phúc.
4.
Hòa nhập vào cuộc sống:
Sao
bạn không cho phép mình “nuông chìu” bản thân một chút:
chải chuốt lại chiếc xe
của bạn, sửa chữa vài món lặt vặt trong
nhà, xem tivi, đi xem kịch… Bạn hãy
thử “ưu tiên” mình và làm những gì bạn thích sau
những giờ bận rộn với công việc trong ngày.
5.
Chăm sóc cơ thể:
Ăn uống điều độ
và tập thể dục, chơi một môn thể thao
vừa sức. Biết đâu bạn sẽ tìm thêm được
một “đồng đội” trong môn thể thao mà
bạn chơi, điều ấy sẽ càng tăng thêm
những thú vị cho cuộc sống của bạn khi sau
mỗi buổi tập, hai người cùng đi ăn,
hoặc trò chuyện về những vấn đề quan
tâm.
6.
Thay đổi thời khóa biểu:
Sau những “lề thói hằng ngày” làm việc cũ,
bạn cũng cần tìm nguồn năng lượng
mới. Thay đổi
một chút giờ giấc hoặc công việc phải làm
sẽ xóa bỏ sự nhàm chán của thời khóa biểu.
Duy trì sự cân bằng giữa làm việc và thư
giãn sẽ giúp cuộc sống của bạn không nhàm chán.
7.
Liên lạc với mọi người:
Có bao giờ bạn bất ngờ nhận được
một cú điện thoại từ một người
quen cũ sau thời gian dài không liên lạc? Bạn cảm thấy thế nào? Lâng lâng? Vui sướng?…
Hãy gửi email hoặc gọi điện thoại
đến bạn bè và những người thân mà lâu
rồi bạn không liên lạc, không vì bất cứ lý do gì
mà chỉ để nói câu “xin chào”.
8.
Sáng tạo:
Tìm
một chỗ thoát ra cho những ý tưởng sáng tạo
của bạn đi nhé! Vẽ tranh, làm thơ, viết
văn hoặc trổ tài làm nhà thiết kế, làm
đẹp lại phòng khách hoặc khu vườn của
bạn. Chẳng có nghĩa lý gì về
chuyện tốn thời gian cho những việc này vào
những ngày nghỉ cuối tuần. Nếu bạn
dành thời gian để sáng tạo, bạn sẽ
thấy mình yêu đời và khoẻ mạnh hơn.
9.
Tìm một nửa kia…
Một tình yêu không điều kiện sẽ đem
đến cho bạn những ý nghĩa lớn trong
cuộc sống. Bạn hãy tìm một nửa kia của mình và cùng người ấy chia
sẻ buồn vui và những kinh nghiệm thành bại trong
đường đời mà cả hai đã gặp.
10.
Trò chuyện:
Bạn sống có khép kín không? Hãy cởi mở, trò chuyện với ai đó
sẽ luôn làm cho cuộc sống của bạn tràn
đầy những điều mới mẻ và hạnh
phúc.
11.
Mơ:
Viết
lại những “tham vọng” của bạn và thực
hiện chúng một cách nghiêm túc, có đầu tư. Bạn phải biết
những gì bạn cần, những nơi nào bạn có
thể đến.
12.
Biết tha thứ:
Có lẽ đã đến lúc bạn nên tha thứ cho
ai đó (hoặc cho chính mình) về những điều
họ đã nói hoặc làm. Nếu
bạn đã bị bỏ lỡ một cơ hội
thăng tiến hoặc mất việc, bạn hãy tự
nhận ra rằng đừng nên hệ lụy vào chúng –
bởi vì bạn không thể viết lại hồi ký
đời mình. Chấp nhận nó và
để nó trôi qua. Ai biết để
quá khứ ngủ yên, cuộc sống sẽ hạnh phúc.
Trong cuộc đời, chúng ta không thể trông
chờ người khác đem lại hạnh phúc cho chúng
ta. Hạnh phúc là điều phải do ta
tạo ra và giữ lấy.