CHÚA NHỰT VI

CHỦ ĐỀ :

HẠNH phúc đích THỰC

Chúa Giêsu công bố những mối phúc thật

(Lc 6,17.20-26)


BÀI ĐỌC I:  Gr 17, 5-8

"Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời; phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Đây Chúa phán: "Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, c̣n tâm hồn họ th́ sống xa Chúa. Họ như cây cỏ trong hoang địa, không cảm thấy khi được hạnh phúc; họ ở những nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở. Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ ǵ khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại ǵ khi nắng hạn mà vẫn sinh hoa kết quả luôn.  Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA:  Tv 1, 1-2. 3. 4 và 6

Đáp:  Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa (Tv 39, 5c).

Xướng: 1)  Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.    -  Đáp. 

2)  Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.    -  Đáp. 

3)  Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, v́ Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.    -  Đáp. 

BÀI ĐỌC II:  1 Cr 15, 12. 16-20

"Nếu Đức Kitô đă không sống lại, th́ ḷng tin của anh em cũng là hăo huyền".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nếu Đức Kitô được rao giảng rằng Người đă từ cơi chết sống lại, th́ làm sao có người trong anh em cho rằng không có sự sống lại từ cơi chết? V́ nếu kẻ chết không sống lại, Đức Kitô cũng đă không sống lại. Nếu Đức Kitô đă không sống lại, th́ ḷng tin của anh em cũng là hăo huyền, và hiện anh em vẫn c̣n ở trong tội lỗi của anh em. Như thế ai đă chết trong Đức Kitô, cũng bị tiêu huỷ cả. Nếu chúng ta chỉ hy vọng vào Đức Kitô trong cuộc đời này mà thôi, th́ chúng ta là những người vô phúc nhất trong thiên hạ.

Nhưng không, Đức Kitô đă từ cơi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những người đă yên giấc.  Đó là lời Chúa.

ALLELUIA:  Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

PHÚC ÂM:  Lc 6, 17. 20-26

"Phúc cho những kẻ nghèo khó. Khốn cho các ngươi là kẻ giàu có".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu từ trên núi xuống cùng với mười hai tông đồ, và dừng lại trên một khoảng đất bằng; ở đó có đông môn đệ và một đám đông dân chúng từ Giuđêa, Giêrusalem, miền duyên hải Tyrô và Siđon kéo đến để nghe Người giảng và xin Người chữa bệnh tật. Bấy giờ Người đưa mắt nh́n các môn đệ và nói: "Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, v́ nước Thiên Chúa là của các ngươi. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ đói khát, v́ các ngươi sẽ được no đầy. Phúc cho các ngươi là những kẻ bây giờ phải khóc lóc, v́ các ngươi sẽ được vui cười. Phúc cho các ngươi, nếu v́ Con Người mà người ta thù ghét, trục xuất và phỉ báng các ngươi, và loại trừ tên các ngươi như kẻ bất lương. Ngày ấy, các ngươi hăy hân hoan và reo mừng, v́ như thế, phần thưởng các ngươi sẽ bội hậu trên trời. Chính cha ông họ cũng đă đối xử với các tiên tri y như thế.

"Nhưng khốn cho các ngươi là kẻ giàu có, v́ các ngươi hiện đă được phần an ủi rồi. Khốn cho các ngươi là kẻ đă được no nê đầy đủ, v́ các ngươi sẽ phải đói khát. Khốn cho các ngươi là kẻ hiện đang vui cười, v́ các ngươi sẽ ưu sầu khóc lóc. Khốn cho các ngươi khi mọi người đều ca tụng các ngươi, v́ chính cha ông họ cũng từng đối xử như vậy với các tiên tri giả".  Đó là lời Chúa.
 

Minh họa

- Mille images : 118 C

- Chúa Giêsu công bố những mối phúc thật (Lc 6,17.20-26)

Sợi chỉ đỏ :

Bài đọc Cựu Ước, Đáp ca và bài Tin Mừng hôm nay đều bàn về hạnh phúc và vô phúc :

Ngôn sứ Giêrêmia tuyên bố : "Đáng nguyền rủa thay kẻ tin ở người đời…. Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa" (Bài đọc I) ; Tv 1 có câu "Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa" (Đáp ca) ; Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu liệt kê những hạng người có phúc và những hạng người vô phúc.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Thiên Chúa đă tạo dựng chúng ta để chúng ta sống hạnh phúc ở đời này và đời sau lại được hạnh phúc vĩnh viễn bên cạnh Ngài. Bởi thế loài người luôn khát khao hạnh phúc. Thế nhưng h́nh như ở đời này hạnh phúc th́ ít mà đau khổ th́ nhiều ; và có thứ ta tưởng là hạnh phúc nhưng thực ra lại là bất hạnh.

Hôm nay Chúa sẽ dạy ta biết thế nào là hạnh phúc thật, và làm thế nào để có được hạnh phúc thật ấy.

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Chúng con thường chỉ biết t́m hạnh phúc trần gian mà lơ là với hạnh phúc muôn đời.

- Chúng con thường chỉ t́m hạnh phúc ích kỷ cho bản thân mà không quan tâm xây dựng hạnh phúc cho tha nhân.

- Chúng con chưa thực sự tin vào những mối phúc thật mà Chúa công bố.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Gr 17,5-8)

Ngôn sứ Giêrêmia giới thiệu hai con đường : một dẫn đến hạnh phúc và một dẫn tới bất hạnh :

- Con đường dẫn đến hạnh phúc là đặt niềm tin nơi Chúa. Ngôn sứ diễn tả hạnh phúc ấy bằng những h́nh ảnh thiên nhiên cho dễ hiểu : Người đặt niềm tin vào Chúa là người đi trên con đường có nước, có bóng cây, có hoa trái…

- Con đường đưa tới bất hạnh là đặt niềm tin nơi người đời. Người đi trên con đường ấy chỉ gặp sa mạc khô nóng, đồng khô cỏ cháy, đất mặn, không bóng mát…

2. Đáp ca (Tv 1)

Tiêu chuẩn hạnh phúc và bất hạnh theo ngôn sứ Giêrêmia là đặt niềm tin nơi Thiên Chúa hay loài người. C̣n theo tác giả Thánh vịnh 1 th́ đó là sống theo Luật Chúa hay là đi theo quân gian ác.

3. Tin Mừng (Lc 6,17-26)

Có thể coi đoạn Tin Mừng này là Bài giảng đầu tiên của Chúa Giêsu trước đông đảo dân chúng (bài giảng thứ nhất ở quê hương Nadarét, Lc 4,16-30, chỉ giảng cho đồng hương Ngài nghe).

Bài giảng này có những điểm giống và những điểm khác với bài giảng trên núi trong Tin Mừng Matthêu : Trong khi Thánh Mát-thêu ghi lại 8 lời chúc phúc của Chúa Giêsu, th́ thánh Luca chỉ ghi 4 lời chúc phúc kèm theo 4 lời quở trách.

- Những kẻ được chúc phúc là những người nghèo, đói khát, đang phải khóc lóc, bị bách hại.

- Những kẻ bị chúc dữ là những người đang giàu có, no đầy, vui cười, được tâng bốc.

Điều nên chú ư là : không phải tự thân sự nghèo nàn khổ sở là hạnh phúc, thực ra chúng mang lại hạnh phúc v́ chúng giúp người ta không dính bén với trần gian để hướng ḷng về Chúa. Cũng không phải tự thân sự giàu có sung sướng là xấu, nhưng chúng có thể trở thành nguồn bất hạnh khi chúng trói buộc ḷng con người vào thế giới vật chất đời này.

4. Bài đọc II (1 Cr 15,12-16.20) (Chủ đề phụ)

Người dân Côrintô chịu ảnh hưởng triết lư hy lạp nên không tin có việc kẻ chết sống lại.

Để giúp tín hữu ḿnh tin vào giáo lư ấy. Thánh Phaolô đưa nhiều lập luận :

- Nếu kẻ chết không thể sống lại th́ tại sao Đức Kitô đă chết mà đă sống lại ? Nói cách khác, việc Đức Kitô phục sinh là bằng chứng rơ ràng về việc kẻ chết sống lại.

- Đức Kitô không chỉ có khả năng làm cho bản thân Ngài sống lại, mà c̣n có thể làm cho tất cả những ai tin vào Ngài được sống lại như Ngài.

- Nếu chúng ta đặt niềm tin vào Đức Kitô chỉ v́ đời này mà thôi th́ chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người.

IV. GỢI Ư GIẢNG

* 1. Hạnh phúc đích thực

Vào năm 1918, tại Mỹ đă xảy ra một trận dịch cúm tàn sát bao nhiêu sinh mạng. Các bác sĩ và y tá tối tăm mặt mũi v́ công việc, t́nh cảnh trong các dưỡng đường, bệnh viện thật là thảm hại. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, các thành viên của một hội thượng lưu Ở New York quyết đem sức lực ra giúp đồng bào. Họ giàu có và đă lớn tuổi, có thể chỉ kư một ngân phiếu để giúp bệnh nhân là xong. Nhưng không, họ không những đă bỏ tiền ra mà c̣n t́nh nguyện khoác áo blouse trắng tới bệnh viện cọ sàn, săn sóc tắm rửa cho các bệnh nhân, vỗ về những gia đ́nh đau khổ mà không ngại mệt nhọc, cũng không sợ lây bệnh cho chính bản thân.

*

Tin Mừng hôm nay tŕnh bày bốn lời chúc phúc cho những kẻ nghèo đói, khóc than, bị oán ghét, khai trừ, sỉ vả, kèm theo bốn lời nguyền rủa những người giàu có, no nê, vui cười, được mọi người ca tụng. Đó là những phản dề đối chiếu giữa người nghèo và kẻ giàu, giữa người đói khát và kẻ no đầy. Đó !à hai giai cấp trong xă hội luôn đối chọi nhau mà Tin Mừng muốn mô tả để người tín hữu Kitô chọn lựa.

Một điều rất hiển nhiên là Tin Mừng hướng chúng ta về người xấu số bất hạnh và cho họ niềm hy vọng hạnh phúc ở tương lai. Tin Mừng không hề lên án người giàu chỉ v́ họ có nhiều tiền của, nhưng chỉ lên án những ai giàu có mà không biết sử dụng của cải cho đúng, thậm chí c̣n dùng của cải như chướng ngại vật chặn đứng lối vào Nước Trời. Giàu có mà hành xử như các thành viên của hội thượng lưu Ở New York trong câu chuyện c̣n được Chúa chúc phúc. Họ được hưởng hạnh phúc đời này lẫn đời sau. Bí quyết của họ rất đơn giản, đó chính là biết chia sẻ và trao ban.

Chúa Giêsu không lên án của cải nói chung, nhưng lên án cách sử dụng của cải. Tiền bạc tự nó không có giá trị đạo đức. Nó có thể dùng vào việc tốt cũng như việc xấu. Tự bản chất, của cải không là những ǵ xấu xa, và tự bản chất, nghèo khó cũng không phải là nhân đức.

Chỉ "khốn cho người giàu có" khi họ không phân định rạch ṛi giữa phương tiện và cùng đích, giữa điều kiện vật chất và định mệnh con người. Đời sống của họ bị nhận ch́m bởi các con sóng là các phương tiện vật chất như áo quần, xe cộ, nhà cửa và các tiện nghi trong cuộc sống. Đời sống của họ bị đè bẹp bởi các hành trang vật chất chỉ giúp họ duy tŕ và phát huy sự sống trong cuộc lữ hành ngắn ngủi của một đời người. Họ quên rằng con người sống nhờ phương tiện nhưng lại sống cho cùng đích. Và cùng đích của con người là "Hăy t́m kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, c̣n tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho" (Mt 6,33). Thảm kịch của cuộc sống chính là lo lắng t́m kiếm phương tiện, và để cho cùng đích tan biến trong phương tiện.

Chỉ "Khốn cho người giàu có" khi họ không ư thức rằng họ lệ thuộc rất nhiều vào người khác. Họ mang trong ḿnh căn bệnh vị kỷ, nên không c̣n thấy rằng của cải cá nhân là do của cải tập thể đem lại, họ cũng không nhận ra rằng họ đă thừa hưởng một kho tàng lư tưởng và các tiến bộ mà người đang sống cũng như kẻ đă chết góp phần tạo nên. Họ nghĩ rằng ḿnh có thể sống sung túc trong thế giới nhỏ bé chật hẹp mà họ là trọng tâm. Họ là một con người sống theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan.

Dù có ư thức hay không, mỗi người chúng ta là một con nợ đối với người quen biết cũng như người chưa quen biết. Vậy chúng ta phải trả món nợ ấy ở đâu ? Câu trả lời thật đơn giản : Cho kẻ đói ăn, cho người trần truồng áo mặc, chăm sóc người đau yếu. Nói như Martin Luttler King : "Chúng ta có thể cất giữ số thực phẩm dư thừa của chúng ta trong các bao tử trống rỗng của hàng triệu con cái Thiên Chúa, khi mỗi tối họ phải lên giường nằm ngủ mà không có ǵ để ăn".

Dưới con mắt Chúa, làm giầu một cách lương thiện không phải là tội, tiêu dùng của cải do ḿnh làm ra không hề là một điều xấu. Nhưng điềm nhiên hưởng thụ và nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ của tha nhân lại là một tội ác. Thiên Chúa đă dựng nên trái tim con người để rung lên những nhịp đập yêu thương, và tặng ban cho con người đôi tay để mở ra ban phát. Kẻ nào khoá lại trái tim và nắm chặt đôi tay là đi ngược với bản tính con người mà Chúa đă tạo dựng. V́ thế, ai sống co cụm trong vỏ ốc ích kỷ của ḿnh, kẻ ấy có thể rất giàu về tiền của nhưng lại thật nghèo trong nhân tính.

Có nhiều người lẫn lộn giữa hạnh phúc và cái bóng của hạnh phúc ; họ mải mê chạy theo cái bóng này, để rồi mau chóng thất vọng khi nó vỡ tan như bong bóng xà pḥng.

Hạnh phúc đích thực không nằm nơi của cải, hay trong những ǵ ḿnh đă chiếm hữu, nhưng chính là sự măn nguyện với những ǵ ḿnh đă trao ban. Thánh Phaolô viết : "Cho đi vui sướng hơn nhận lănh".

Hạnh phúc đích thực không nằm trong lời ca tụng hay trong chức tước quyền uy, nhưng chính là sự an b́nh vui tươi của một lương tâm thanh thản với Chúa, với anh em, và với chính ḿnh, như lời Thánh Phaolô : "Lương tâm rôi không trách cứ tôi điều ǵ".

Một tác giả có viết : "Trong hạnh phúc có mầm đau khổ. Quả thật, hạnh phúc bao giờ cũng trộn lẫn với mồ hôi và nước mắt. Có hạnh phúc đích thực nào mà không phải trả giá bằng đau khổ ? Có ai sống trên đời này mà được hạnh phúc trọn vẹn đâu ?

Điều này giải thích tại sao những ǵ chúng ta coi là bất hạnh, th́ Chúa Giêsu lại cho là hạnh phúc.

Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm được cái nghịch lư của Lời Chúa th́ chúng ta mới có được hạnh phúc đích thực.

Chỉ khi nào chúng ta dám nghèo v́ thanh liêm, đói v́ ngay thẳng, khóc v́ đại nghĩa, bị ghét v́ nói thật, bi sỉ vả v́ danh Chúa, chúng ta mới sống trọn vẹn các mối phúc thật.

Chỉ khi nào chúng ta thấy ḿnh giàu lên khi chịu nghèo, no thoả lúc đói khát, vui cười khi lệ rơi, và hân hoan lúc bách hại, chúng ta mới thực sự nếm cảm niềm hạnh phúc của Nước Trời.

*

Lạy Chúa, hạnh phúc đích thực chính là có một lương tâm an b́nh, một con tim biết chia sẻ và một khối óc luôn cảm nghiệm được t́nh Chúa yêu thương. Xin cho chúng con luôn đắm ch́m trong hạnh phúc được làm con cái Chúa. Amen. (TP)

* 2. Hạnh phúc hiện tại của người nghèo

Etienne Charpentier viết :

"Bài giảng trên núi trong Mt và bài giảng trên cánh đồng của Lc mở đầu bằng những lời chúc phúc. Nghĩa là sứ điệp của Chúa Giêsu chủ yếu là loan báo hạnh phúc. Nhưng loan báo cho ai, và như thế nào ?

Phải đau đớn nhận rằng các lời chúc phúc ấy đă bị hiểu sai và bị lợi dụng làm một thứ thuốc phiện nhằm ru ngủ nỗi khổ đau và sự nổi loạn của những người nghèo. Người ta muốn hiểu chúng như sau : "Hỡi những người nghèo, các người hạnh phúc lắm v́ các người được Thiên Chúa yêu thương... vậy cứ tiếp tục nghèo đi ! Hăy chấp nhận thân phận của các người, rồi một nào đó ở trên trời các người sẽ được hạnh phúc". Nhưng thực ra Chúa Giêsu nói ngược hẳn lại : "Hỡi những người nghèo, chúng con hạnh phúc, v́ từ nay chúng con không c̣n nghèo nữa, v́ Nước Thiên Chúa là của anh em". (Pour lire le Nouveau Testament)

Chúa Giêsu không hứa sẽ ban hạnh phúc cho người nghèo, Ngài loan báo cho người nghèo biết là họ đang hạnh phúc. Lư do hạnh phúc của họ là tuy họ không có nhiều tiền bạc của cải, nhưng họ có Nước Thiên Chúa : "Nước Thiên Chúa là của anh em".

Có Nước Thiên Chúa là có tất cả. "Được lời lăi cả thế gian mà mất linh hồn th́ có ích ǵ ?"

* 3. Nghịch lư

Người ta thường nói "nghèo khổ", nghĩa là cái nghèo và cái khổ đi đôi với nhau ; đă nghèo th́ tất nhiên khổ. Thế mà Chúa Giêsu lại nói "Phúc cho anh em là những kẻ nghèo". H́nh như Chúa Giêsu muốn đảo ngược kiểu nói "nghèo khổ" thành "nghèo phúc". Thật là nghịch lư !

Nhưng chuyện nghịch lư không phải là không có trên đời. Thông thường ai cũng muốn một cuộc sống sang giàu. Thế nhưng có những người lại đi t́m một cuộc sống nghèo : chẳng hạn như các nho gia cởi áo từ quan, rời bỏ nếp sống tiện nghi nơi thành thị để t́m nếp sống thanh đạm giữa thiên nhiên ; hay thánh Phanxicô Assisi là con nhà giàu nhưng từ bỏ tất cả để sống nghèo, lại c̣n lập cả một huynh đoàn quy tụ những người muốn sống nghèo như ngài ; hay ngày nay những tu sĩ với lời khấn trọn đời sống nghèo nàn. Những con người đó không phải điên khùng mà hoàn toàn sáng suốt. Quyết định sống nghèo của họ không phải do bốc đồng nhất thời mà là kết quả của một thời gian dài suy nghĩ chọn lựa. Sự chọn lựa ngược đời của họ khiến ta phải suy nghĩ v́ chắc hẳn họ đă nghiệm ra có nhiều điều hay trong cái nghèo nên họ mới chọn lựa như vậy.

- Dĩ nhiên cái nghèo mà họ chọn lựa không phải là t́nh trạng túng thiếu : không đến nỗi phải chết đói, chết khát, chết lạnh, mà chỉ cần tối thiểu để ăn, để uống, để mặc. "Tri túc, tiện túc" : biết đủ th́ đủ.

- V́ chỉ cần tối thiểu như thế nên ḷng họ không bị giao động v́ những ham muốn có thêm. "Túi tham không đáy" : ḷng ham muốn sẽ không bao giờ thỏa măn, nên cứ giao động hoài.

- Không tham muốn thêm mà cũng không sợ bị mất, nên người nghèo như thế rất b́nh tâm, nhờ đó có thể ăn ngon, ngủ yên.

- Người nghèo không kiêu căng, không khoe của, không khinh miệt người khác.

- Người nghèo không cậy dựa vào tiền bạc của cải nên dễ cậy dựa vào Chúa hơn.

- Có thể người nghèo bị người đời khinh ghét, nhưng bù lại, họ được Thiên Chúa yêu thương che chở.

* 4. Những mối phúc của tấm ḷng

Phúc thay ai có ḷng thanh sạch, họ sẽ được thấy Chúa.

Phúc thay ai có ḷng khiêm tốn, họ sẽ t́m được sự ngơi nghỉ cho linh hồn.

Phúc thay ai có ḷng ấm áp, họ sẽ tỏa chiếu ḷng tốt ra chung quanh.

Phúc thay ai làm việc với tấm ḷng, họ sẽ t́m gặp niềm vui trong công việc.

Phúc thay ai không ngă ḷng, họ sẽ t́m được nghị lực để kiên tŕ.

Và phúc thay ai đặt ḷng ḿnh vào Nước Thiên Chúa, mọi điều khác sẽ được ban cho họ. (FM)

* 5. Nghèo mà giàu

Khi Chúa Giêsu nói "Phúc cho những người nghèo", Ngài không chúc phúc cho sự túng thiếu và bần cùng đâu, v́ túng thiếu và bần cùng là những điều xấu.

Điều được chúc phúc chính là sự cậy trông vào Chúa. Ai cậy trông vào những ǵ thuộc về loài người th́ sẽ bị thất vọng, c̣n ai cậy trông vào Chúa sẽ chẳng thất vọng bao giờ. Chỉ một ḿnh Chúa mới có thể đong đầy những chỗ trống của chúng ta. Chỉ một ḿnh Ngài mới có thể thỏa măn những đói khát của chúng ta.

Người giàu thường hay cậy dựa vào tiền bạc của cải của họ. Đối với họ, chỉ có đời này là quan trọng, c̣n đời sau hay là Chúa đều là quá xa vời. Trái lại người nghèo th́ tự nhiên dễ hướng về Chúa, cuộc sống càng cơ cực khó khăn th́ họ càng cậy dựa vào Chúa nhiều hơn. Mà ai cậy dựa vào Chúa th́ sẽ được Ngài phù hộ chở che.

Khi người nghèo nhận được một điều ǵ đó, dù rất tầm thường, họ cũng lấy làm sung sướng và biết ơn.

Một hôm, một người nghèo đang đi đường th́ gặp một người ăn xin. Người ăn xin ch́a tay xin tiền. Người nghèo này bối rối đáp : "Xin lỗi, tôi chẳng có ǵ cho bạn, v́ tôi cũng nghèo như bạn". Người ăn xin nói : "Xin cám ơn v́ món quà bạn đă cho tôi". Người nghèo ngạc nhiên họi lại : "Tại sao bạn cám ơn tôi ? Tôi có cho bạn cái ǵ đâu". Người ăn mày nói tiếp : "Bạn đă cho tôi sự nghèo nàn, ḷng chân thành và sự tin cậy của bạn".

Đối với Chúa, chúng ta đều nghèo. Nhưng dù nghèo, chúng ta cũng có những món quà cho Chúa, đó là ḷng chân thành, sự cậy trông và chính sự nghèo nàn của chúng ta. (FM)

6. Chuyện minh họa

a/ T́m lại hạnh phúc

Tại văn pḥng của một Cố vấn Tâm lư, một thiếu phụ vừa trẻ vừa giàu giải bày tâm sự : "Bất cứ thứ ǵ tôi muốn th́ chồng tôi đều cho cả. Tôi có đủ mọi "sự" nhưng trong ḷng trống vắng vô cùng. Xin bà hăy cho tôi một lời khuyên". Nhà Cố vấn tâm lư không trả lời, nhưng bảo cô thư kư của bà kể chuyện đời cô. Cô này kể :

"Chồng tôi đă chết, cách nay ba tháng. Con tôi cũng chết v́ xe đụng. Tôi cảm thấy mất tất cả. Tôi không ngủ được. Tôi không muốn ăn uống. Tôi không bao giờ cười. Một hôm tôi đi làm về hơi khuya. Có một chú mèo con cứ đi theo sau tôi. Trời lạnh. Tôi cũng tội nghiệp nó, nên tôi mở cửa cho nó vào nhà. Tôi pha cho nó một ly sữa. Nó kêu meo meo và cọ ḿnh vào chân tôi. Lần đầu tiên tôi cười. Rồi tôi nghĩ : nếu việc giúp cho một chú mèo con có thể làm tôi cười, th́ việc giúp cho người nào đó chắc có thể làm tôi hạnh phúc. Thế là hôm sau tôi nướng vài ổ bánh đem cho bà cụ hàng xóm đang bệnh. Mỗi ngày tôi cố làm vài việc ǵ đó cho những người tôi gặp được vui vẻ. Và quả thực tôi đă thấy hạnh phúc. Tôi nghiệm ra được điều này là ta sẽ không hạnh phúc khi ta chỉ chờ người khác đem lại hạnh phúc cho ḿnh ; ngược lại ta sẽ hạnh phúc thật khi ta làm cho người khác hạnh phúc".

Nghe đến đó, người thiếu phụ trẻ bật khóc. Cô đă có bất cứ thứ ǵ đồng tiền có thể mua được nhưng cô đă đánh mất những thứ mà đồng tiền không mua nổi. Và cô quyết định noi gương cô thư kư nọ. (Charlene Johnson).

b/ Người hạnh phúc nhất

   Nhà vua bị bịnh nặng. Quan ngự y lo lắng, nhưng đành bó tay. Một nhà chiêm tinh đến bảo vua chỉ khỏi bịnh khi nào được mặc chiếc áo của một người hạnh phúc nhất.

   Quan quân đổ xô đi khắp nước để t́m người hạnh phúc nhất. Cuối cùng th́ họ cũng t́m được một người hạnh phúc thực sự. Nhưng khổ thay, người ấy quá nghèo, chẳng có lấy một chiếc áo !

c/ Bí quyết sống vui

Một vị giám mục nổi tiếng hiền hoà, dễ mến. Khi được hỏi bí quyết, ngài đáp bí quyết đó là :

Thứ nhất, tôi nh́n lên trời để nhớ rằng đời tôi phải tới đó.

Thứ hai, tôi nh́n xuống đất để thấy phần mộ tôi sau này thật nhỏ hẹp.

Thứ ba, tôi nh́n chung quanh để thấy bao người nghèo khổ mà đáng kính trọng hơn tôi.

Thứ bốn, tôi học để biết hạnh phúc thật nằm ở đâu, mọi nổ lực của tôi sẽ chấm dứt thế nào và những than thở của tôi thật vô cớ biết bao !

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, phúc thay người đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chốn nương thân. Cùng với tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa là Đấng ban hạnh phúc thật sự cho mọi người, chúng ta tha thiết nguyện xin :

1. Hội thánh không ngừng kêu gọi con cái ḿnh sống lời Chúa dạy / đặc biệt là sống theo tinh thần Tám mối phúc thật / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành viên trong đại gia đ́nh Hội thánh xác tín rằng / sống đạo là sống theo Lời Chúa dạy.

2. Trên thế giới ngày nay / người nghèo vẫn chiếm đa số / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các dân tộc được phát triển / để mọi người đều được hạnh phúc ấm no.

3. Là con người / ai cũng mong muốn được hạnh phúc / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho hết thảy mọi Kitô hữu hiểu rằng / họ chỉ được hạnh phúc thật sự / qua việc chia sẻ t́nh thương và cơm áo cho những ai đói rách bần cùng.

4. Mọi thực tại ở trần gian này đều chóng qua / không có ǵ tồn tại măi măi ngoài một ḿnh Thiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / luôn nhớ đến chân lư căn bản này / để đừng bao giờ quá bám víu vào của cải vật chất, nhưng biết hướng tâm hồn lên cùng Chúa / là nguồn hạnh phúc của hết thảy mọi người.

Chủ tế : Lạy Chúa, chúng con chỉ trở nên người Kitô hữu chân chính khi chúng con sống lời Chúa. Xin cho chúng con biết yêu mến và sống theo Lời Chúa dạy trong Kinh thánh, để nhờ đó chúng con t́m được hạnh phúc thật sự trong đời sống thường ngày. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Tất cả những điều Chúa Giêsu dạy chúng ta xin trong Kinh lạy Cha đều nhằm đem đến cho chúng ta hạnh phúc đích thực. Vậy chúng ta hăy hướng ḷng lên Cha trên trời và sốt sắng đọc lời kinh Chúa dạy.

VII. GIẢI TÁN

Hôm nay Chúa đă dạy chúng ta biết đâu là hạnh phúc thật và đâu là hạnh phúc giả trá chóng qua. Ước chi tuần này chúng ta sẽ khôn ngoan, biết t́m kiếm hạnh phúc chân thật vững bền.

 

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

Chúa nhật 06 tn-C

Bài đọc: Gr 17; 5-8;1 Cr 15 ; 12,16-20; Lc 6: 17,20-26

 

PHÚC CHO NGƯỜI  NGHÈO KHÓ

Mark Link S.J.

 

Chủ đề:

Phúc cho ai biết rằng con người không thể t́m được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào của cải vật chất, v́ thế, phải biết đặt trọn vẹn niềm tin cậy vào Chúa.

Cách đây nhiều năm, người ta phát hành một cuốn phim nhan đề Quo Vadis (Con đi đâu đó?) do nữ diễn viên Deborah Kerr thủ vai chính. Chuyện phim nói về cuộc bắt bớ các Kitô hữu tại Roma xưa. Ngày nọ, sau khi Deborah đóng xong một pha nguy hiểm. Một phóng viên báo chí đến hỏi cô: “Cô không cảm thấy sợ hăi khi bầy sư tử xông vào cô ở trong đấu trường sao?” Deborah đáp lại: “Không sợ chút nào cả, bởi v́ tôi đă đọc trước câu chuyện phim và biết chắc rằng tôi sẽ được cứu thoát”. Niềm tin như trẻ thơ mà Deborah Kerr đặt vào các tay nhào lộn được chỉ định bảo vệ cô là một minh hoạ sống động cho niềm tin thơ bé đặt nơi Chúa của đám người nghèo khó trong Kinh Thánh. Để hiểu được lư do Chúa Giêsu dám gọi đám nghèo khó này là những kẻ được chúc phúc, chúng ta cần phải t́m hiểu Chúa Giêsu muốn ám chỉ ai trong khi Ngài nói đến “Những người nghèo khó” trong bài giảng trên núi của Ngài.

***

Khi người Do Thái ngày xưa dùng từ ngữ “nghèo khó” họ thường hiểu từ đó theo nhiều ư nghĩa khác với lối hiểu của chúng ta ngày nay. Chúng ta thường dùng từ ngữ nghèo khó để chỉ về một kẻ túng thiếu, một kẻ không có của cải vật chất. Sự túng thiếu vật chất không phải là điều tốt lành mà phải nói là một điều xấu xa. Mọi người Kitô hữu đều phải gắng sức tiêu diệt xua đuổi tận căn sự túng thiếu ra khỏi cuộc sống của ḿnh. Chúa Giêsu không bao giờ có ư nói rằng sự thiếu thốn vật chất là đáng được chúc phúc. Ngài không bao giờ tán đồng sự khốn khổ trong những dăy nhà tồi tàn nơi các thành phố. Ngày nay, cũng như nơi các thành phố vào thời đại của Ngài. Vậy, Chúa Giêsu muốn ám chỉ ai và điều ǵ khi Ngài nói: “Phúc cho các con là những kẻ nghèo khó?”

Từ ngữ nghèo khó mà Chúa Giêsu thường dùng tiếng Hy bá Lai gọi là “ani”. Chữ này có một lịch sử rất thú vị. Nó đă trải qua bốn giai đoạn phát triển trước khi có được ư nghĩa mà Chúa Giêsu muốn nói khi Ngài xử dụng từ ngữ ấy trong bài giảng trên núi.  Nói cách khác, từ ngữ khó nghèo trong Kinh Thánh có thể mang bốn ư nghĩa.

Trước hết, nó ám chỉ những người thiếu thốn của cải vật chất. Và v́ không có của cải vật chất nên từ ngữ ấy cũng ám chỉ những người không có quyền lực cũng như ảnh hưởng. Nói rơ hơn là những người bơ vơ, cô thế cô thân. Và từ chỗ cô thân, cô thế, bơ vơ lạc lơng, những người này thường hay bị áp bức, bóc lột. Thế là, từ ngữ trên lại được dùng để ám chỉ những người bị bóc lột. Cuối cùng, v́ đám người trên không của cải, bơ vơ, không ai che chở nên nhiều người trong số họ đă đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa. Thế là từ ngữ trên lại được gán cho ư nghĩa cuối cùng để mô tả những kẻ đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa. Và đây mới chính là ư nghĩa Chúa Giêsu muốn ám chỉ trong bài giảng trên núi khi Ngài tuyên bố: “Phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo khó, v́ Nước Trời là của các ngươi”. Nói cách khác, Chúa Giêsu đang ám chỉ đến những người thiếu thốn, những người thấp cổ bé họng, những người không ai che chở, v́ thế họ chỉ c̣n biết đặt trọn niềm hy vọng và tin cậy vào Chúa. Như thế, người nghèo khó được chúc phúc mà Chúa Giêsu muốn nói, chính là những người nhận thức được rằng họ không thể t́m được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào của cải vật chất đời này. Và từ đó họ sẽ t́m kiếm hạnh phúc chỉ ở nơi Chúa. Chúa là tất cả đối với họ, đối với họ của cải vật chất gần như chả là ǵ cả. Theo lời Chúa Giêsu những người này thực sự là kẻ được chúc phúc. Vậy, để hiểu được ư nghĩa lời Chúa Giêsu: “Phúc cho các ngươi là những kẻ nhận thức được rằng không thể t́m được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào của cải thế gian, mà bằng cách đặt trọn niềm tín thác nơi Chúa”.

Nói rơ hơn, đây là những người ở vào hoàn cảnh tương tự như hoàn cảnh của nữ diễn viên Deborah Kerr trong pha hiểm nghèo của bộ phim Quo Vadis. Nàng biết rơ ḿnh hoàn toàn bất lực. Không thể tự bảo vệ ḿnh, v́ thế nàng không hề lo lắng mà chỉ đặt trọn niềm tín thác vào những tay nhào lộn được chỉ định đến cứu thoát nàng. Tương tự như thế, nhiều người nghèo khó dưới thời Chúa Giêsu đă không hề lo lắng, v́ họ đặt trọn niềm tin cậy vào Chúa.

Niềm tin cậy bé thơ mà đám người bơ vơ yếu đuối đặt vào Chúa thật giống với niềm cậy trông Chúa Giêsu đă làm gương cho các môn đệ Ngài khi Ngài bảo: “Ai trong các ngươi nhờ âu lo mà có thể kéo dài thêm cuộc sống được ít lâu?” Vậy nếu các ngươi chẳng thể thay đổi được những việc nhỏ bé th́ làm sao các ngươi có thể lo liệu được những việc khác.?… Chúa Giêsu nói tiếp: “Cha các ngươi đă biết rơ các ngươi cần những thứ này. V́ thế, hăy t́m kiếm Nước của Ngài, và những thứ khác sẽ được ban thêm cho các ngươi. V́ của cải các ngươi ở đâu th́ ḷng các ngươi cũng sẽ ở đó” (Lc 12 : 25-26; 30-31,34)

Để kết thúc, chúng ta hăy nghe một câu chuyện minh chứng cụ thể và thực thể lời mời gọi của bài Phúc Âm hôm nay.

Năm 10 tuổi, Louis Olson bị bệnh bại liệt. Toàn thân dưới của cô bé đều bị bó thạch cao. Một đêm nọ xảy ra một trận băo khủng khiếp, cô cảm thấy giường chiếu và toàn bộ căn nhà rung rinh, nhưng cô hoàn toàn bất lực và chỉ biết nằm dài ra đó. Thế rồi ngay lúc đó bố cô xuất hiện ở cửa pḥng đưa tay ôm cô cùng với toàn bộ lớp thạch cao nặng nề bó quanh người cô và đưa cô xuống tầng dưới. Cô kể rằng cô vẫn c̣n nhớ măi những hạt mồ hôi hằn lên hai bên thái dương của bố cô khi ông cố gắng chuyển cái khối nặng này đi. Thiên Chúa cũng làm như thế đấy. Ngài cũng luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, nhất là khi chúng ta yếu đuối và bất lực. Thánh Augustinô biểu lộ niềm tin cậy mà chúng ta phải đặt nơi Chúa qua những lời sau đây:

“Hăy giao phó quá  khứ cho ḷng Chúa xót thương

Hăy giao phó hiện tại cho T́nh yêu của Ngài

Và hăy giao phó tương lai  cho Ngài định liệu”

 

CHÚA NHẬT VI TN-C

MỘT TRÁI TIM RỘNG MỞ.

Gm. Arthur Tonne

 

Whisler là một nghệ sỹ danh tiếng. Nhiều người biết ông nhờ bức hoạ một thiếu phụ trầm lặng, tựa đề “Mẹ của Whisler” vẽ trên chiếc ghế đá. Ngày kia một người bạn xin Whisler giúp treo một bức hoạ đẹp. Sau vài phút suy nghĩ, nhà nghệ sỹ tuyên bố: “Này bạn, bạn khởi sự sai rồi, bạn không thể làm bức tranh vừa với căn pḥng, bạn phải làm cho căn pḥng vừa với bức tranh”.

Đó là điều chúng ta phải làm về bài Tin mừng hôm nay. Chúa Giêsu phác hoạ cho chúng ta một bức tranh mới đẹp về người môn đệ thật của Chúa Giêsu. Chúa cho chúng ta bốn mối phước. Gọi như vậy, v́ nó là biểu hiện, là dấu chỉ của một con người Thánh, v́ họ hạnh phúc thật sự. Chúa nói với chúng ta những ǵ chúng ta phải làm để xứng đáng với lời hứa: “Phần thưởng của các con trọng đại ở trên trời”. Phần thưởng cũng lớn lao ngay ở đời này nữa: một sự toại nguyện và b́nh an thâm sâu khi biết phải làm ǵ để làm đẹp ḷng Thiên Chúa. Quả là một bức tranh lộng lẫy.

Điều này quá lớn lao với tim, óc của một con người b́nh thường. Chúng ta cần giúp đỡ để bước lên con đường sống ấy, chúng ta không thể làm một ḿnh, tự chúng ta, rất khó để chấp nhận sự nghèo khó, sự đói khát, nỗi lo âu và sự chỉ trích v́ Chúa Kitô. Chúng ta cần sự trợ giúp mà Chúa Kitô sẽ ban cho chúng ta.

Hơn nữa bức tranh về  hạnh phúc chân thật rất khác với bức tranh về hạnh phúc phác hoạ bởi thế gian, bởi bạn bè chúng ta, bởi truyền h́nh, bởi báo chí, và ngay cả bởi nền giáo dục và phong tục xă hội. Nhiều người không tin Chúa Kitô chấp nhận đó là lối sống rất tốt đẹp cho mọi thời đại. Nhưng họ chủ trương là không thể được.

Có thể sống theo các mối phước thật không? Thưa có thể nếu Thày Chí Thánh giúp chúng ta mở rộng cơi ḷng quảng đại hơn, xứng hợp với tầm cỡ bức tranh Đức Kitô đă vẽ về những ǵ Người muốn về chúng ta. Cũng như Whisler đă nhắc nhở bạn ông rằng phải nới rộng bức tường pḥng để thích hợp với tầm cỡ của bức tranh.

Chúa Giêsu không bao giờ đ̣i hỏi cái ǵ không thể thực hiện. Có thể khó, vâng, nhưng không có ǵ quá sức chúng ta khi được sức mạnh Chúa trợ giúp. Để được sức mạnh ấy, chúng ta cầu xin trong Thánh lễ này. Hăy đọc sốt sắng lời kinh: “Xin làm cho chúng con lớn mạnh trong t́nh yêu. Lớn lên trong ước muốn làm đẹp ḷng Chúa bằng cách tuân theo lời chỉ dẫn Con Chí Thánh của Người đă dậy chúng con trong bài Tin mừng hôm nay”.

Nhớ lại và nhắc lại những lời của bài đọc hôm nay: “Hạnh phúc cho những ai tin cậy nơi Chúa: Cho những ai hy vọng nơi Chúa”. Một ư, một ḷng chúng ta sẽ cùng đọc kinh Đấng Cứu Thế đă dạy chúng ta:  “Ư Cha thể hiện”. Ư của Chúa Cha là ǵ? Là chúng ta sống theo lời của Chúa Con, đặc biệt trong bài Tin mừng hôm nay.

Với sự trợ giúp của Chúa mà Thánh lễ ban cho tràn đầy. Chúng ta có thể rộng mở con tim, chúng ta có thể sống các mối phúc thật. Xin Chúa Giêsu giúp chúng ta nghèo khó trong tinh thần, chấp nhận đói khát, buồn sầu, lăng nhục – v́ Đức Kitô. Amen.

 

MỖI TUẦN MƯỜI THANG THUỐC BỔ

Chúa Nhật VI Thường Niên Năm C

 

NỘI DUNG

 

I.Tia sáng:

v  KẾ HOẠCH SỐNG 

    v   T̀NH YÊU   

II.Thư giăn:

 

1.                  DÙNG THUỐC

2.                  TẢ CON HEO

3.                  PH̉NG VỆ CHÍNH ĐÁNG

4.                  VẬY MÀ KHÔNG BIẾT

5.                  ĐOÁN TUỔI

6.                  SAY

7.                  CÓ CÁCH

 

III.Nhật kư truyền giáo của Lm.Piô Ngô Phúc Hậu:

 

v   TIN MỪNG BỐ THÍ HAY TIN MỪNG GIẢI PHÓNG    

IV.Chuyện ngụ ngôn:

 

v  BIẾT NGHĨ 

V.Hẹn bạn trên đỉnh thành công:

v NHỮNG QUYẾT ĐỊNH KHÔNG CÓ CHỮ "NẾU"    

VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:

v  PHÍA SAU T̀NH YÊU LÀ T̀NH BẠN

VII.Chuyện phiếm :

v  FASHION QUAN HỌ 

    GIÁ TRỊ NỤ CƯỜI J

Một nụ cười không làm mất mát ǵ cả, nhưng lại ban tặng rất nhiều… nó làm giàu có những ai đón nhận mà không làm nghèo đi người sinh ra nó. Nụ cười chỉ nở trên môi trong khoảnh khắc phù du, nhưng kư ức về nó đôi khi tồn tại cả một đời. Người dù giàu sang đến đâu đi nữa cũng cần đến nụ cười, và người nghèo hèn cùng tột cũng sẽ được nụ cười làm cho trở nên giàu có.

Nụ cười nuôi dưỡng hạnh phúc trong gia đ́nh, gầy dựng thiện ư trong làm ăn và làm lớn mạnh mối tương giao trong t́nh bạn, mang đến thư giăn mỗi khi ta mệt mỏi, niềm hy vọng mỗi khi tuyệt vọng và là ánh sáng mỗi khi ta tăm tối trong phiền muộn.

Nụ cười, cũng như t́nh yêu, là cái không thể mua bán vay mượn, hay thậm chí đánh cắp từ người khác. Bởi v́, khi đó: nó chỉ là cái khiên cưỡng và vô nghĩa.

Có những người không bao giờ nở một nụ cười với bạn. Họ là những người không c̣n nụ cười để cho, v́ lẽ đó họ chính là những người cần nụ cười của bạn hơn ai hết. Hăy tươi cười với mọi người! Chúng ta chẳng những không mất ǵ cả, mà trái lại sẽ nhận được rất nhiều.

sưu tầm.

 

I.     TIA SÁNG :

* Nếu bạn không thức dậy đúng giờ,

th́ không bao giờ bạn thực hiện được kế hoạch sống.

T̀NH YÊU ĐỐI VỚI LINH HỒN CŨNG GIỐNG NHƯ MẶT TRỜI ĐỐI VỚI THIÊN NHIÊN

Alfred Leroy.

Không có mặt trời, vạn vật dường như chết, đơn điệu, không có ǵ nổi bật. Tia b́nh minh đầu tiên rạng chiếu, tựa như chiếc đũa thần làm cho màu sắc rạng rỡ, vạn vật sống động. Linh hồn mà không có t́nh yêu, cũng giống như mặt đất khô cằn, tối tăm, không có ǵ mọc, không có ǵ sống. Chỉ cần thích một vật ǵ, nhất là yêu mến một con người là mọi sự đều thay h́nh đổi dạng ngay: yêu mến nghề nghiệp, yêu thiên nhiên, yêu âm nhạc, nhất là yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Kitô, yêu mến và giúp đỡ tha nhân, yêu thương những kẻ đang khốn khó, về vật chất lẫn tinh thần, và những ai đang cần đến chúng ta... và cả yêu thương một người bạn, cốt để ánh mặt trời chiếu toả hơn vào nhân loại. Những người lân cận có thấy tôi toả rạng như mặt trời chăng? Qua công việc làm ăn, qua thử thách, qua các tương quan giao tế, sống thân mật với Chúa? Tôi thiếu t́nh yêu nào?

Lạy Chúa, hôm nay đây con sẽ t́m cách toả sáng hơn.

II.  THƯ GIĂN:

 

1. DÙNG THUỐC

Bố dặn ḍ con trai là sinh viên:

- Ở trường, con nhớ giữ ǵn sức khỏe đấy nhé! Gầy quá con ạ!

- Chúng con vẫn dùng thuốc liên tục đấy chứ ạ!

- Ồ, thế th́ tốt. Nhưng mà thuốc ǵ? ố Ông bố hỏi.

- Bọn con dùng rượu ... thuốc ạ.

- ???

2. TẢ CON HEO

Giờ văn, cô giáo ra đề: "Em hăy tả một con heo". Tư ngồi măi không làm được, cô giáo đến bên gợi ư:

- Con heo được chia làm mấy phần?

- Thưa cô cái đó c̣n tùy thuộc vào số bạn nhậu của bố em nhiều hay ít nữa ạ!

3. PH̉NG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Chàng trai đến thăm bạn gái, vừa vào cửa th́ một chú khuyển xổ ra, chàng líu lưỡi:

- Chó!... Chó! Nó cắn.

- Chiếu theo khoảng 1 điều 13 chương III - Cô gái (học trường luật) cười đáp: Anh được quyền pḥng vệ.

- Cách nào?

- Cắn lại nó.

- ???!!!

4. VẬY MÀ KHÔNG BIẾT

Hai người bạn nói chuyện với nhau:

- Tại sao các cha khi giảng, cứ một lúc lại phải ngẩng mặt lên nhỉ?

- Vậy mà không biết, các cha  ngẩng mặt lên để nh́n xem giáo dân c̣n ngồi đấy nghe hay không để các ngài c̣n giảng tiếp chứ.

5. ĐOÁN TUỔI

- Đố cậu ḿnh tuổi ǵ.

- Tuổi hợi.

- Cậu thánh thật! V́ sao đoán trúng?

- Ḿnh để ư khi ngủ cậu cứ ngáy ph́ pḥ như heo!

6. SAY

Một sinh viên đang khật khưỡng bước vào một khu kư túc xá, gặp cán bộ kư túc xá đi ngược chiều:

- Cháu chào hai chú.

Cán bộ kư túc xá đáp lại:

- Ơ... đêm hôm khuya khoắt thế này mà hai cậu đi đâu về thế? Lại uống rượu nữa hả?

7. CÓ CÁCH

Hai giám đốc của hai nhà sản xuất kem đánh răng gặp nhau, một ông phê b́nh ông kia:

- Kem đáng răng do nhà máy của cậu sản xuất chất lượng kém quá.

- Nhưng tớ đă có cách để bán chạy sản phẩm.

- Cách ǵ vậy?

- Thêm thời gian bảo hành tới 6 tháng.

NHẬT KƯ TRUYỀN GIÁO :

 Trích trong “Nhật kư truyền giáo”

Biên soạn : Lm. PIÔ NGÔ PHÚC HẬU

TIN MỪNG BỐ THÍ HAY TIN MỪNG GIẢI PHÓNG

 

Năm Căn & 1973

Ḿnh chui vào căn lều của bà Hai. Gia đ́nh bốn khẩu. Ông chỉ c̣n làm được một việc duy nhất là chuốt đũa. Đứa con trai lớn th́ mắc bệnh tâm thần, may mà hắn không đập phá. Cái đầu của hắn th́ không làm việc, nhưng do luật bù trừ, cái bao tử của hắn th́ lại làm việc tối ngày. Nguồn sống của gia đ́nh là đôi tay gầy của bà Hai cùng với thằng con trai chừng 15 tuổi. Phương tiện làm ăn là một cái búa, một cái cưa và một cái xuồng be chín. Nghề duy nhất là vô rừng đốn củi trộm.

Ḿnh nh́n quanh quất, chả thấy có món đồ nào có giá trị hơn hai cái thùng đạn 81 ly. Chắc hẳn mùng mền, quần áo và chén đĩa đều nằm gọn trong đó. Và chỉ có thế thôi. Ḿnh làm một cuộc phỏng vấn nhỏ.

- Mỗi ngày bà Hai kiếm được mấy thước củi ?

- Một thước.

- Tại sao không rán làm lấy ba, bốn thước ?

- Cái xuồng be chín nhỏ tí xíu mà sông nước th́ như thế kia !

- Bà bán cái xuồng be chín đi. Tôi mượn cho bà năm ngàn đồng. Thế là bà có được một cái xuồng be mười kèm. Mỗi ngày bà sẽ có bốn thước củi, nghĩa là bà sẽ giàu gấp bốn lần. Mỗi ngày bà để dành lấy hai trăm đồng. Sau hai mươi lăm ngày bà sẽ trả xong món nợ năm ngàn. Từ đó cái xuồng be mười là của bà. Cứ mỗi ngày làm được bốn thước củi, ăn một thước, để dành ba thước. Năm thứ nhất bà sẽ xây nhà tường. Năm thứ hai bà sẽ xây hồ nuớc, đóng giếng. Năm thứ ba sẽ có giường hộp, ti vi .. Tôi tính vậy được không bà Hai ?

- Được. Ông Cha giúp tôi, tôi cám ơn. Mắt bà Hai sáng lên, miệng bà Hai toét ra khoe một hàm răng đen thủi đen thui.

 

Năm Căn, & 1973

Hôm nay ḿnh lại chui vào căn lều bà Hai. Ông Hai ngồi chuốt đũa ở cửa. Hai mẹ con bà Hai đang cưa củi ở bên sông. Thấy ḿnh, bà chạy vào nhà, đon đả :

- Ông cố mạnh giỏi hả ông cố ?

- Bà Hai lúc này giàu chưa ? Có để dành mỗi ngày 200 đồng để trả nợ không ?

- Sao cứ thiếu hoài, ông cố ơi !

Thế là kế hoạch giúp dân làm giàu của ḿnh bị vỡ rồi. Theo cuộc điều tra chớp nhoáng, ḿnh được biết như sau :

+ Từ ngày có cái xuồng be mười kèm, hai mẹ con bà Hai quả thật có làm thêm mỗi chuyến được ba thước củi, nghĩa là bà giàu thêm gấp bốn lần. Nói một cách kinh tế học, th́ nền kinh tế gia đ́nh bà Hai tăng 400%. Tuyệt vời !

+ Nhưng cũng từ ngày đó, ông Hai và hai thằng con trai không thèm hút thuốc g̣ nữa. Trong mỗi túi áo đều thấp thoáng một gói Ruby Queen màu tuơi rói.

+ Cũng từ ngày ấy, những em bé bán bánh cam và bán cà rem đều bị bà Hai bắt giam một cách thật dễ thương : Ngồi đây mầy, tao cấm mầy không đi đâu hết. Chừng nào tao ăn chán, mầy mới được đi".

+ Và một ngày kia, anh thợ rừng xách ṭn ten một con kỳ đà đi qua truớc căn lều của bà Hai bỗng giật ḿnh v́ một tiếng hét bất ngờ : "Vô mầy".

- Mấy kư ?

- Ba kư .

- Tao mua luôn. Ở lại nhậu với tao nghe mầy. Hôm nay uống lade cho bảnh. Tao không ưa uống đế, hôi miệng lắm.

+ Làm được một xuồng củi bán lấy tiền, ăn xài cho hết rồi má con bà Hai mới lại vô rừng. Ấy là chưa kể nếu động rừng, hoặc gặp kỳ đà cản mũi th́ bà Hai nghỉ tiếp luôn một tuần. Những ngày "tiên khồng" ấy, bà sẵn sàng ăn vay với lăi suất không tính toán : Hai mươi phân, năm mươi phân, thậm chí chín mươi phân bà cũng chẳng quan tâm. Cái be mười kèm là một bảo đảm có uy tín nhất. Vẫn bánh cam và cà rem ́ xèo. Vẫn Ruby Queen rực rỡ .

 

Cà Mau, & 1979

Có tiếng chuông reo. Ḿnh mở cửa. Một bà già đen đúa và rách rưới mừng rỡ nắm lấy tay ḿnh hôn chùn chụt.

- Ông Cố mạnh giỏi hả ông cố ? Gặp ông cố con mừng hết biết. Hồi ở Năm Căn con nợ ông cố năm ngàn đồng. Không biết đến bao giờ con mới trả được.

- À ! Bà Hai đó hả ? Thôi bà ơi, tôi cho bà luôn đấy. Tôi muốn giúp bà làm giàu mà bà không chịu. Không ai bóc lột bà, mà bà tự bóc lột. Ḿnh nói với giọng chua cay, không phải v́ ḿnh mắc trả cái món "nợ" năm ngàn đồng, mà v́ ước mơ giúp người nghèo làm giàu th́ lại bị chính người nghèo phản bội. Bà Hai đứng truớc mặt ḿnh nghèo hơn lần ḿnh gặp bà ở Năm Căn. Bà đến đây để xin quần áo, xin gạo và xin tiền.

- Ông cố có quần áo cũ cho con xin một bộ, cho thằng khùng nó mặc.

- Ông cố có tiền cho con vài ngàn mua thuốc cho thằng khùng.

- Ông cố cho con ít lon gạo để con nấu cháo cho thằng khùng ăn.

Ông Hai chết rồi. Thằng con đi làm củi ngày xưa đă có vợ và ra riêng. Bà Hai đi hành khất để nuôi miệng và nuôi thằng con khùng. Thằng khùng bây giờ chỉ c̣n nằm một chỗ chờ chết. Bà Hai đă xuống tới vực thẳm của sự nghèo khó. Bà Hai đă và đang là gánh nặng đè trên vai ḿnh. Trước hết ḿnh đă phải trả cái món nợ năm ngàn đồng mà ḿnh đă vay giùm bà. Bây giờ th́ bà Hai đă biết ḿnh ở đây, bà sẽ đến viếng thăm dài dài, mà ḿnh th́ không thể từ chối bà được. Bà không c̣n cách nào khác để sống. Người nghèo cũng là gánh nặng ghê gớm cho Giáo hội!

Nhưng Tin Mừng bố thí hay Tin Mừng giải phóng người nghèo? Câu hỏi này làm ḿnh nhức óc. Giáo hội đă từng bố thí rất nhiều cho người nghèo. Nhiều họ đạo đă được thành lập nhờ Giáo hội đă cấp đất cho người nghèo. Người nghèo theo đạo để có ruộng. Nhưng ngày nay những họ đạo ấy đang sinh hoạt ra sao ? Bạn của ḿnh cho biết : Cứ đi dài dài theo bờ con kênh, chỗ nào thấy toàn nhà lá, th́ đó là xóm đạo.

Vậy trên đường truyền giáo ḿnh có nên bố thí không? Bố thí thế nào? Bố thí cái ǵ? Một điều chắc chắn là con người phải được giải phóng khỏi cái nghèo, cái dốt, cái lười. Nhưng bằng cách nào? Câu hỏi quả là quá khó đối với ḿnh. Nhưng có lẽ cũng là quá khó đối với mọi người.

 

TRUYỆN NGỤ NGÔN: BIẾT NGHĨ 

 

Nóng lực làm khô cạn hết mọi bờ ao, đầm lầy. Hai con ếch rủ nhau đi t́m nước, chúng t́m thấy một cái giếng mới đào. Nhảy tới bên thành giếng, chúng suy nghĩ xem có nên nhảy xuống giếng không. Ếch trẻ nói : " Phải nhảy xuống thôi, dưới đó có nhiều nước và ở dưới đó sẽ không có ai quấy rầy ta nữa". C̣n ếch già trả lời : “Không! Nước nhiều đấy nhưng nước giếng cạn th́ làm sao mà nhảy lên  khỏi đây được ?"

 

III.   HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:

Theo bản tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar

Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU - DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN –
NGUYỄN VĂN DIỄM

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH KHÔNG CÓ CHỮ "NẾU"

Thế rồi, ngày 26/12 anh gọi cho tôi. Từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ được tham dự một buổi điện đàm thú vị như hôm đó. Đường dây hẳn phải nóng đỏ cả lên, và bạn có thể cảm được niềm phấn khích truyền đi trong lúc ấy.

Anh báo cho tôi:

- Ông biết không, sau lần gặp gỡ vừa qua, tôi đă ghi lại tất cả những ǵ đă làm, nên biết ḿnh đă bán được bao nhiêu khi gơ lên một cánh cửa, kêu một cú điện thoại, hướng dẫn một buổi chào hàng hoặc mở hộp hàng mẫu. Tôi biết rành rẽ ḿnh đă bán được bao nhiêu mỗi tuần, mỗi ngày, thậm chí cả mỗi giờ nữa". Rồi anh hồ hởi bảo: "Tôi sẽ phá kỷ lục đó cho ông coi". Tôi liền xen ngang:

- Không đâu, đâu phải anh "sẽ phá kỷ lục". Anh đă phá kỷ lục rồi đấy chứ.

Tôi nó thế v́ không nghe anh nói chữ "Nếu" lần nào. Quyết định của anh không phải là một quyết định "Nếu". Bạn thử phân tích chữ "life" (đời sống) xem. Vấn đề của nó là chữ "if" (nếu). Nhiều người chẳng làm ǵ cả ngoài những quyết định "nếu". Những quyết định này không đưa đến thành công mà chuẩn bị cho thất bại. Anh bán hàng này không như vậy. Anh không bảo: "Tôi sẽ phá kỷ lục đó nếu xe tôi không bị hư". Anh không nói vậy là phải, v́ thế nào xe anh chả có lúc hư. Anh cũng không bảo: "Tôi sẽ phá kỷ lục đó nếu trong gia đ́nh không có ai bị đau hoặc không có ai chết", v́ sau đó anh phải chôn cất hai người thân, trong đó có ông anh ruột. Hoặc anh không bảo: "Tôi sẽ phá kỷ lục đó nếu không bị mất giọng", v́ đúng vào tháng 12, lúc sắp đạt mục đích, anh bị khản giọng nên bác sĩ cấm anh nói chuyện, đến nỗi anh chỉ c̣n cách là đổi bác sĩ khác. Không, quyết định của anh đă đến với tất cả nỗ lực chứ không phải chỉ là câu nói đơn giản, nhẹ nhàng. Tôi sẽ phá vỡ kỷ lục đó.

Ta phải xem xét mục tiêu của anh mới lượng định đúng được tầm mức của quyết định ấy. Trước đây, chưa bao giờ anh bán được quá 34.000 đô la mỗi năm, một doanh số không phải là tệ vào lúc đó. Tuy nhiên, năm kế đó, cũng cùng một loại hàng trong cùng một khu vực, với cùng một giá cả, anh đă bán được trên 104.000 đô la. Chỉ trong một năm trời, anh đă bán được hơn gấn ba lần, kết quả là anh đă phá kỷ lục tuyệt đối. Dĩ nhiên công ty đă tưởng thưởng đúng như anh với tôi đă bàn luận. Anh được nổi tiếng và lănh "cúp" vàng.

 

IV.         T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH: 

(Trích báo An Giang số 1260, ngày 7/9/1996, trang 6)

PHÍA SAU T̀NH YÊU LÀ T̀NH BẠN

Hai con người yêu nhau nhưng không lấy được nhau hoặc v́ mâu thuẫn nên không đi đến hôn nhân th́ điều tốt nhất sau đó là hăy biến t́nh yêu thành t́nh bạn. Trong hôn nhân cũng vậy, họ lấy nhau song trong quá tŕnh chung sống do lư do nào đó đành phải ly hôn th́ cũng nên cố xem nhau như hai người bạn, hai người hàng xóm. Tuy nhiên trong thực tế, không phải ai cũng làm được điều đó.

Ly hôn là bằng chứng chứng minh sự thất bại trong cuộc sống gia đ́nh. Quá tŕnh chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn khiến cả hai (hoặc một người) không thể chịu đựng nhau nên đành phải ly hôn. Ly hôn lúc đó chính là sự giải phóng cho hai con người thoát khỏi sự ràng buộc, thoát khỏi những mâu thuẫn, khi họ đă không c̣n t́nh yêu đối với nhau. Do vậy, ly hôn lẽ ra là một giải pháp để hoá giải mâu thuẫn, làm cho con người nhẹ nhỏm về mặt tinh thần và cả thể xác. Song mọi chuyện không đơn giản như vậy.

Khi đứng trước phiên toà ly dị, cả hai người đều lên tiếng chỉ trích nhau. Bao nhiêu khuyết điểm, yếu khuyết của hai người đều được cả hai bên nêu lên để chứng tỏ ḿnh đúng, ḿnh tốt c̣n người kia quá xấu, quá tệ. Điều đó khiến cho sau khi họ không c̣n chung sống (toà xử ly hôn) họ cũng khó ḷng vui vẻ nh́n mặt nhau, tṛ chuyện với nhau. Lúc đó (sau khi đă ly hôn) lẽ ra khi cả hai vợ chồng c̣n ràng buộc với nhau sẽ vui vẻ hơn. Ngược lại, họ lại càng ghét nhau hơn. Tâm hồn, thể xác họ đă bị suy kiệt, bị bào ṃn trong sự uất ức, tức tối.

Tâm trạng đó ảnh hưởng đến chính cuộc sống của họ, công việc của họ. Và điều ảnh hưởng đáng nói hơn hết là ảnh hưởng đến cuộc sống của đứa con ḿnh. Đứa trẻ phải gánh chịu không khí ngột ngạt hoặc tâm trạng tức tối của cha hoặc mẹ. Thậm chí, có người c̣n tiếp tục nói xấu, thoá mạ người chồng (vợ) cũ của ḿnh, dù họ đă không c̣n ràng buộc ǵ với nhau. Lúc đó đứa trẻ sẽ biết bênh ai bỏ ai. Nhiều người cứ đeo đẳng tâm trạng thù ghét người kia đến mức quay sang mắng chửi cả con ḿnh. Nếu đứa trẻ lỡ làm việc ǵ sai trái, có người c̣n xỉ vả: "Mày giống hệt cha (hoặc mẹ) mày. Thiệt là hư thân mất nết". Hoặc đôi lúc họ lại ch́ chiết con ḿnh: "Lớn lên đừng giống thứ người bạc t́nh bạc nghĩa đó nghe" vv... và vv...

Một đứa trẻ sống trong một gia đ́nh không toàn vẹn đó sẽ ảnh hưởng phần nào đến tâm lư, cách sống. Huống hồ một đứa trẻ phải luôn nghe những lời chỉ trích lẫn nhau của cha và mẹ th́ tâm lư sẽ ra sao?

Ly hôn tức là sự thất bại trong hôn nhân và ly hôn cũng là giải pháp tốt nhất cho cuộc hôn nhân không hạnh phúc. Hăy cố gắng tỉnh táo, b́nh tĩnh kềm nén ḿnh để hạn chế bớt những hậu quả sau ly hôn, nhất là đối với một đứa trẻ, và cuộc sống của chính ḿnh. Khi t́nh yêu đă hết th́ vẫn c̣n t́nh bạn - t́nh người, bởi cả hai đều có một thời trao đổi những lời yêu thương nồng cháy.

 

Bích Vân

 

V.     CHUYỆN PHIẾM :

Trích trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ” non

Biên soạn : PHẠM KHẢI

 

FASHION QUAN HỌ 

Quả như lời quảng cáo :”Tốt nghiệp lớp dạy cắt may cấp tốc, ba tháng có thể mở hiệu riêng”. Hợi đă thành ông chủ hiệu may bề thế nhất thị xă quê nhà. Tấm biển lớn (đặt tận Hà Nội) vẽ cái tháp ba chân và hai hàng chữ to tướng “PARI TAILOR” “MODEL CÁC KIỂU” đă thu hút sự chú ư của mọi người qua lại. Mấy ma-mơ-canh mặc đồ tây đầm sừng sững trong tủ kính càng tôn vẻ sang trọng cho hiệu may.

Sau lễ khai trương có hàng trăm đại biểu dự chiêu đăi, ”Pari tailor” bắt đầu đón khách.. Với tay nghề “cấp tốc ba tháng”, Hợi rất tin ở sức sáng tạo của ḿnh. Maria đấy mới biết đọc biết viết, học may vơ vẽ mà c̣n trở thành nhà tạo mốt nổi tiếng nhất Mêhicô và lừng danh trên đất Pháp. Ḿnh chẳng ǵ cũng hết lớp 5 trường phổ thông thị xă, tốt nghiệp trường cắt may ở tận thủ đô th́ hơn hẳn Maria là cái chắc! Thế mà không hiểu v́ đâu, khách cứ vắng dần. Hay là các hiệu khác v́ ghen tị nên t́m cách hại ta chăng? Không. Vậy th́ tạo sao chứ? Người thân tín lắm mới nói thật: chính cái tay nghề ”cấp tốc” làm hại hiệu may!

Trước nguy cơ sập tiệm, Hợi t́m đến bậc đàn anh để xin chỉ giáo. Ông chú họ làm cán bộ ngành văn hóa, phân tích :

-Quê ta c̣n nghèo, chưa hợp với mốt miếc của Paris. Những người có điều kiện, sắm comlê, váy đầm đều đi Hà Nội chứ chẳng chịu may đồ ở thị xă. C̣n quần áo thường đă có các hiệu may quen giá rẻ. Hiệu may của anh đẹp hơn của họ thật nhưng lại là nơi xa lạ với mọi người.

-Cháu phải làm ǵ đây ?

-Về nguồn.

-Chú nói thế nào ?

-Anh không thấy trên đài, báo luôn có chuyện về nguồn à? Thi xe đạp, ca múa nhạc, thi thời trang đều hướng về nguồn. Quê ta là “đất liền anh, liền chị” mà các đoàn ca múa nhạc hiện nay đang có nhiều tiết mục về quan họ. Nếu anh khai thác được nguồn hàng trang phục bán chợ cho họ th́ sống được đấy.

-Tiếng là ở đất quan họ nhưng cháu có biết ǵ về những thứ ấy đâu.

-Mẹ cháu từng là “liền chị” một thời. Cố vấn đấy chứ c̣n đâu nữa!

Hợi liền về xă thăm mẹ, mượn cả bộ khăn, nón ,dép làm mẫu. Đồng thời vay số tiền bán vườn của mẹ để chuyển hướng kinh doanh. Hợi chăm chú theo dơi các tiết mục quan họ trên màn ảnh nhỏ để học tập tính sáng tạo của các nhà tạo mốt. Th́ ra bộ trang phục của các “liền chị” sau khi cải tiến, đẹp rực rỡ tới mức… chẳng c̣n nhận được ra là quan họ nữa!.

****

Hiệu may, Pari Tailor đổi tên thành “ Fashion quan họ”. Các ma-nơ-canh mắt xanh, mũi nhọn diện theo mốt y hệt trên ti-vi. Ba cô trong tủ kính đều mặc váy áo,xanh, đỏ, tím, vàng loè loẹt; đầu đội khăn vành dây màu vàng của Nam Phương hoàng hậu; tai đeo đôi ṿng ṭng teng to bằng miệng cốc; cổ đeo ”cổ dề” nhưng đen lấp lánh hạt cườm. Tay các cô đeo đồng hồ và nhẫn. Chiếc nón “quai thao” như cái mẹt lợp lá v́ không có bo và chỗ đội đầu…

Buổi lễ khai trương diễn ra linh đ́nh với sự có mặt của nhiều đại biểu các đoàn ca múa từ Bắc chí Nam! Ai cũng khen ông chủ thức thời, nhà tạo mốt trẻ tài năng, hứa sẽ kư hợp đồng mua trang phục chính hiệu quan họ cho đoàn ḿnh biểu diễn.

Ít hôm sau, Hợi nhận được một băng ghi h́nh buổi biểu diễn đặc sắc của một đoàn ở miền Nam gửi tặng. Nhân có bà mẹ ra chơi. Hợi mở video cho cụ xem để khoe tài:

-Đấy mẹ xem, có tuyệt không ?

-Bà cụ căng mắt nh́n hồi lâu hỏi lại :

-Người ở nước nào ấy nhỉ ?

 

HÀNH TRANG BẠN TRẺ

THỜI ĐẠI

Số 164  ~  16 . 02 . 2004

NHÂN LOẠI THỜI NAY ĐỐI DIỆN VỚI ĐỨC TIN

“Người đă khiền nhân loại lan tràn khắp mặt đất. Người đă phân định thời gian và cương thổ cho mọi dân tộc… Những hầu họ t́m kiếm Thiên Chúa và hoạ may, ḍ dẫm mà gặp được Người.” (Cv 17,26.27)

Có dư luận cho rằng con người thời nay không có Đức Tin và chối bỏ Thiên Chúa, rất nhiều phen họ có một khái niệm sai lệch méo mó về Thiên Chúa chúng ta. Một sự ngộ nhận ghê gớm! Chỉ v́ chúng ta đă không biết cách diễn tả, đă có một nếp sống không đúng, đă không làm cho người đời hiểu biết Thiên Chúa…

Đức Giêsu Kitô đă đến giữa nhân loại và “người nhà của Người đă không nhận biết Người”. Chính v́ chúng ta thường đẩy Người ra khỏi nhân loại, ra khỏi đời sống mà Người muốn gặp để gánh vác, v́ chúng ta đă diễn tả t́nh yêu thương của ḿnh bằng một thứ ngôn ngữ khác.

Vậy mà Chúa Thánh Thần vẫn tác động trong trái tim con người và giữa ḷng nhân loại Người vẫn tiếp tục chuẩn bị việc Đấng Cứu Độ ngự đến trong tâm hồn mỗi người. Người lắng nghe những nguyện vọng sâu xa của mọi người, mọi chủng tộc, mọi dân tộc thời nay…

Một cách nào đó, có nhiều người đang trở về một thứ đạo tự nhiên, đạo làm người và phát huy con người toàn diện, đạo công lư và hoà b́nh, hạnh phúc. Cũng có nhiều người xuất phát từ bàn tay Thiên Chúa, vẫn ấp ủ một niềm khát vọng vô biên. Họ khao khát không nguôi, tự biết bản thân ḿnh là cao thượng, luôn luôn mong muốn được cao thượng hơn nữa. Họ muốn cho thế giới thành tựu nhưng giả sử thế giới có thành tựu đi nữa, th́ họ cũng chưa măn nguyện. Rất mau chóng họ sẽ nhận thức rằng: Những hoài băo của họ không phải từ ḿnh mà có, cho nên làm sao có thể thoả măn cho được! Một cách vô t́nh, họ mong đợi, t́m kiếm một sức mạnh, một t́nh yêu thương, một Đấng là Thượng Đế.

Một ngày nào đó, nếu chúng ta biết cách biểu dương Đức Giêsu Kitô, ngày ấy, những người như họ sẽ khám phá ra Chúa, không phải ở cùng đích của các thành tựu trên thế giới, nhưng ngay giữa những thành tựu của họ, ở thượng tầng nội tâm họ…

MICHEL QUOIST, JB sưu tầm.

ĐƠN ÂM:                  DANH

Vua Hêrôđê nhốt Gioan Tẩy Giả để uy danh của ông không bị xúc phạm, mặc dù ông đáng lên án v́ đă cướp vợ anh ḿnh. Khi con gái bà Hêrôđia múa đẹp, ông hứa sẽ cho cô bất cứ thứ ǵ cô xin. Cô xin đầu ông Gioan!

V́ danh dự của một nhà vua, không thể hứa mà không làm, mặc cho việc làm đó có tàn ác đến đâu. Danh này là danh ǵ?

Hôm 4 tháng 2 vừa qua, Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đồng Nai đă tổ chức cho gần 400 giáo viên tiểu học thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Kết quả ở bài tự luận chỉ có hai giáo viên đạt điểm 6, và không tới 20 giáo viên khác đạt điểm lớn hơn 5/10. Rồi cũng sẽ trao danh hiệu giáo viên dạy giỏi cho những người này. Thật là chỉ v́ danh.

Đau đớn và bất ngờ hơn, trong số các nhà giáo dự thi giáo viên giỏi đó, có 27 vị quay cóp bị phát hiện (có thể số quay cóp c̣n nhiều hơn mà không bị phát hiện).

Ngay một cơ quan giáo dục lớn nhất tỉnh cũng chỉ muốn có danh thế thôi sao?

Ḿnh lo không biết có ai trong 27 nhà giáo đáng kính kia là người Công giáo không(?)

AN.

BỊ TỐNG TIỀN DO PHÁ THAI

Một cặp t́nh nhân đi quá giới hạn t́nh yêu, và cô gái buộc phải đến bệnh viện giải quyết “hậu quả”. Chàng trai giữ lại toàn bộ gấy tờ liên quan vụ việc, và khi hai người chia tay, anh ta dùng làm “vũ khí” tống tiền gia đ́nh người yêu cũ.

Ngày 11/2, TAND Tp.HCM tuyên kẻ tống tiền mức án 1 năm 3 tháng tù cho hưởng án treo. Chủ toạ thẩm phán nhận xét: “V́ mấy triệu bạc bị cáo lại mang nỗi bất hạnh của bạn gái để làm chuyện không đáng là một người đàn ông”.

Năm 1996, Nguyễn Văn B́nh và N.T.L. yêu nhau khi cả hai người vừa tṛn 18 tuổi. Cô gái mang thai, họ đưa nhau đến bệnh viện “phá bỏ”. Mối t́nh của đôi bạn trẻ đến năm 2000 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc  chia tay. B́nh ra sức cứu văn t́nh thế nhưng không thể. C̣n L. quên cuộc t́nh đầu bằng cách ra nước ngoài.

Nhớ lại những giấy tờ khám thai của L. vẫn giữ trong nhà, B́nh tập hợp lại, gửi đến cha của người yêu cũ. Anh ta gọi điện yêu cầu ông bố vợ hụt chi 10 triệu đồng, với lời doạ: “Ông nghĩ con ông hơn, danh dự ông hơn hay tiền hơn?”.

Ngày 23/1/2003, B́nh bị bắt giữ ki đang nhận tiền. Trong phiên xử, ngày 11/2 tại TAND Tp.HCM B́nh giải thích về việc làm của ḿnh: “V́ lúc yêu nhau bị cáo có gửi L. giữ khoảng 17-18 triệu đồng, nên bây giờ muốn đ̣i lại. Đồng thời muốn để cho bố của L. biết rằng con gái của ông không phải gia giáo nề nếp như ông nghĩ.”

Gia đ́nh cô gái không ngờ B́nh lại có hành động cạn t́nh, cạn nghĩa, đem những giấy tờ phá thai của L. để tống tiền. Bố L. tŕnh bày: “Quan hệ của bọn trẻ tôi biết và c̣n tạo điều kiện cho B́nh có công ăn việc làm để cho chúng nó nên vợ, nên chồng. Tôi cũng nhiều lần cung cấp tiền cho con gái để nó lo cho B́nh ăn học.”

Chủ tọa nói: “Giả sử bị cáo có đưa tiền cho L., th́ số tiền đó có thấm ǵ so với t́nh cảm cô ấy đă dành cho bị cáo trong suốt mấy năm trời và dâng hiến tất cả cho t́nh yêu.”

(Theo vnExpress, ngày 12 thàng 02 năm 2004)

BẤT CHỢT…

"Hôm Chúa Nhật vừa rồi cháu có gặp lại một cô em kết nghĩa (quen từ ngày xưa, thời cháu đang đi học phổ thông).

Cô đó có tâm sự với cháu là đang yêu một anh bạn người Mỹ, mà anh này lại theo đạo Công giáo, Anh bạn người Mỹ đó th́ đang rất muốn giới thiệu về Chúa cho cô em của cháu... Và thế là cháu rất vui mừng... H́nh như ngày hôm đó Chúa Thánh Thần đă mở miệng cho cháu th́ phải, bởi v́ chưa bao giờ cháu thấy cháu lại có thể giới thiệu về đạo Công Giáo cho một người hoàn toàn chưa biết ǵ như thế?Đó là một điều làm cho cháu vui mừng lắm. Và cô đó cũng là một người biết lắng nghe chứ không phải là người bảo thủ... Thầy cầu nguyện cho cháu thầy nhé.

Thứ  bảy này th́ cháu sẽ dẫn cô ấy đi lễ nhà thờ… Và nếu như Chúa sẽ dần dần mở được trái tim của cô ấy th́ cũng là thành công đầu tiên của cháu đấy thầy ạ!”

Huyền Trang - Hà Nội

GII TR TIN YÊU…

(ABBA - Sàig̣n) _ Nhân dịp Năm Thánh Truyền Giáo, chiều ngày 11.2.2004, tại ĐCV Thánh Giuse Sàig̣n, Giáo phận Tp.HCM đă tổ chức thật trọng thể Thánh Lễ hưởng ứng Năm Thánh Truyền Giáo, để kỷ niệm: Công đồng miền thứ I tại Dinh Hiến năm 1670; 160 năm (1844 - 2004) thành lập Giáo Phận Tây Đàng Trong; và cũng là dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Giáo phận Tp.HCM… Đồng thời cũng là Thánh lễ Tạ Ơn của Đức tân Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.

Thánh Lễ đă diễn ra rất trọng thể có sự tham dự đồng tế của hai tân Hồng Y đến từ Đài Loan và Hàn Quốc, là những người bạn với Đức Hồng Y Mẫn cũng vừa lănh nhận chức vụ Hồng Y với ngài đầu tháng 12 vừa rồi, cùng với Đức Cha phụ tá và các cha đại diện trong giáo phận. Trong bài giảng, Đức Hồng Y Mẫn mời gọi mọi giáo dân hăy sống thật “mạnh mẽ” loan báo Tin Mừng trong năm Hồng Phúc của Giáo Hội Việt Nam.

Sau Thánh Lễ là chương tŕnh văn nghệ mừng Năm Thánh Truyển Giáo và chúc mừng Đức Hồng Y, quy tụ các ca đoàn hợp xướng từ các giáo xứ địa phận đến các ḍng tu, học viện trong địa phận. Một chương tŕnh thật quy mô về dàn dựng lẫn ư nghĩa truyền giáo đă được tŕnh diễn trước bao quư quan khách, các linh mục tu sĩ  các ḍng, các bạn trẻ và giáo dân các giáo xứ về tham dự…

Nguyện xin Thiên Chúa t́nh yêu ban muôn ơn lộc và phúc lành cho muôn dân Việt Nam trong năm Thánh Truyền Giáo Hồng Phúc này.

J.B

 

GÓP GIÓ

 

Đôi tai của tâm hồn

 

Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.

Cô bé buồn tủi ngồi khóc một ḿnh trong công viên. Cô bé nghĩ: Tại sao ḿnh lại không được hát ? Chẳng lẽ ḿnh hát tồi đến thế sao ? Cô bé nghĩ măi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

"Cháu hát hay quá!'. Một giọng nói vang lên: "Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đă cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ". Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm răi bước đi.

Hôm sau, khi cô bé tới công viên đă thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay nói lớn: "Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!" Nói xong cụ già lại chậm răi một ḿnh bước đi.

Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đă trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên t́m cụ nhưng ở đó chỉ c̣n lại chiếc ghế đá trống không.

"Cụ già ấy đă qua đời rồi. Cụ ấy điếc đă hơn 20 năm nay" - một người trong công viên nói với cô. Cô gái sững người. Một cụ già ngày ngày vẫn chăm chú lắng nghe và khen cô hát lại là một người không có khả năng nghe?

 

Angels (Thiên thần)

 

Tác giả: Sưu tầm từ Internet


Hai thiên thần đi chu du duới h́nh dạng của những người nghèo khó dừng chân ở một ngôi nhà khá giả. Hai thiên thần xin gia đ́nh kia cho ở lại nhờ qua đêm nhưng gia đ́nh đó rất khiếm nhă, tỏ vẻ khó chịu và bảo hai thiên thần vào nhà kho mà ở. Khi hai thiên thần dọn dẹp chỗ ngủ trên sàn lạnh, thiên thần lớn tuổi hơn trông thấy một lỗ trên sàn nhà và ra tay sửa lại nó. thiên thần nhỏ hơn hỏi tại sao, thiên thần lớn trả lời : Mọi việc không phải luôn luôn như chúng ta thấy !

Đêm hôm sau, hai thiên thần lại dừng chân ở một gia đ́nh nghèo và xin ở lại qua đêm. Hai vợ chồng bác nông dân túng thiếu về tài sản nhưng có thừa ḷng hiếu khách nên đă mời hai thiên thần bữa ăn đạm bạc và mời họ ngủ trên giường.

Sáng sớm hôm sau, hai thiên thần thấy hai vợ chồng bác nông dân buồn rười rượi. Con ḅ duy nhất cung cấp sữa cho gia đ́nh họ đă chết. Thiên thần nhỏ tuổi hết sức sửng sốt về việc đó và kết tội : "Gia đ́nh thứ nhất rất giàu có th́ người lại giúp họ. Gia đ́nh này nghèo khó và hiếu khách th́ ngài lại bắt con ḅ của họ phải chết".

"Mọi việc không phải luôn như chúng ta thấy" - Thiên thần lớn chỉ nói vậy.

Khi hai thiên thần lại tiếp tục lên đuờng, thiên thần lớn mới nói : "Khi chúng ta ở trong nhà kho của gia đ́nh giàu có, ta để ư thấy có một kho vàng dưới cái lỗ ở nền nhà kho, nhưng chủ nhà lại thô lỗ và keo kiệt nên ta hàn cái lỗ đó lại, họ sẽ không bao giờ t́m đuợc vàng. C̣n tối qua khi chúng ta đang ngủ trên giường nhà bác nông dân nghèo, thần chết đă tới và nói phải đem vợ bác nông dân đi. Ta đă đua con ḅ của nhà bác nông dân ra thay thế, và may mắn là thần chết đă chấp nhận con ḅ. Mọi thứ không phải luôn như chúng ta thấy !"

Lời b́nh : thế đấy, mọi chuyện nếu như nghe bằng tai và thấy bằng mắt chưa hẳn đă là sự thật. Hăy lắng nghe và nh́n bằng trái tim và lư trí , như thế mới rơ được sự thật là thế nào .

 

Trở ngại ư? Mặc! Cứ xông tới

 

Tác giả: Dale Carnegie


Edward Touhey là một trong những người mà tôi mến. Ông ta ở gần nhà tôi và lái một chiếc xe hơi nhỏ, hở thuê cho mọi người. Ông có một t́nh-thần hiểu biết và hăng-hái, biết nghe chuyện và khéo nói chuyện. Một hôm ông ta và tôi bàn với nhau về những nhân-vật đă giúp cho nhân loại được nhiều, mặc dầu gặp những hoàn-cảnh khó-khăn. Ông ta hỏi tôi: -- Có bao giờ bà nghe tên Nathaniel Bowditch chưa? Tôi đáp là có được nghe một tên là Bowditch trong thuật hàng hải. Ông Edward nói:

-- Chính ông ta! Nathaniel Bowditch. Sanh năm 1973 và thọ sáu mươi lăm tuổi. Được đi học ở trường tới mười tuổi, rồi phải tự học, tự học tiếng La-tinh mà đọc được cuốn Pricipia của
Newton. Hồi hai mươi mốt tuổi Bowditch đă là một nhà toán-học có tài. Ông ấy ra biển, nghiên-cứu vè hàng-hải; trong một chuyến đi, ông dạy cách tính trăng, và cách định vị-trí của tàu trên biển, cho hết thảy mọi người đưới tàu, cả cho người làm bếp. Sau ông viết một cuốn về thuật hàng-hải, một cuốn sách vào hàng cổ điển. Mộg anh chàng được đi học có ít năm, mà như vậy, cừ thật chứ?
Tôi đồng ư với Edward rằng Bowditch là một người bất chấp trở ngại. Có lẽ không ai bảo cho Bowditch rằng muốn thành một nhà khoa học th́ điều-kiển thứ nhất là phải có một bằng-cấp đại-học, cho nên ông mới nhắm mắt tự học lấy những điều cần biết. Đối với Nathaniel Bowditch, người đă phiêu lưu trên băi biển, cũng nhưng đối với Edward Touhev, người đương lái xe trong châu thành Nưu Ước, trởi-ngại là một tiếng vô nghĩa.

Những tiếng đó vẫn c̣n được hạng người dùng, hàng người trách trách-nhiệm khi thất-bại. Hàng chục người bảo bạn rằng v́ không được học trường đại-học, nên bị trở ngại trong đời; song tôi dám đánh cá với bạn rằng nếu họ có bằng-cấp đại học th́ họ cũng kiếm được một lư lẽ khác để tự bào chữa khi họ thất bại. Người tinh thần già-giặn quyết chí vượt mọi trở ngại, thành thử không bao giờ nghĩ cách dùng nó để tự bào chữa cho ḿnh.

Alexander Graham Bell có lần phàn-nàn với bạn thân và Joseph Henry, giác-đốc trường Simthsonian Institution ở Hoa-Thịnh-Đốn, rằng do thiếu sự hiểu biết về điện mà bị trở ngại trong công việc. Henry nghe vậy không hề an ủi
Bell, hoặc nói:
-- Buồn thật. Buồn thật. Anh chưa được cái may mắn học nhiều về điện.
Mà cũng không bảo rằng nếu
Bell được cha mẹ cho ăn học lâu hơn th́ công việc có phần dễ-dàng hơn. Chỉ bảo.
-- Th́ học nó đi.
Và Alexnader Graham Bell học về điện, sau thành một nhà khoa-học có công nhất trong lịch-sử về môn truyền tin (sau này ông là người chế ra máy điện thoại)

Nghèo nàm phải là một trở ngại, một lư-do đích đáng để tránh trách nhiệm và bỏ cuộc không? Cựu thổng-đống Herbert Hoover hồi hỏi c̣i-cút, cha làm thợ rèn ở
Iowa. Thomas J Walson, Giám đốc ủy ban "Máy kết toán vạn quốc" có hồi làm kết-toán-viên trong một hăng nhỏ không dùng máy kết toán, nương hai Mỹ-kim một tuần.

Những người thành công rực rỡ đó không hề cho rằng ḿnh bỉ trở ngại vi cảnh nghèo. Họ bận công việc quá, có th́ giờ đầu để mà phí vào sự than thân trách phận.

Robert Louis Stevension, thể chất bạc nhược tới nỗi gần thành một phế nhân suốt đời, mà không chịu để cho bệnh tật làm hại đời hoặc công việc của ông. Mỗi hàng ông viết đều rực rỡ ánh sáng, đều chứa chan tinh lực thanh khiết, mạnh mẽ của ông. Và nhờ ông thắng nổi cái trởi ngại là bệnh tật, mà nền văn học được phong phú lên vô cùng.

Biết bao vĩ nhân trên thế giới đă nổi danh mặc dầu gặp trở ngại, đôi khi là nhờ trở ngại nữa. Byron có tật trẹo chân, Jules César bị chứng phong thấp, Beethoven hóa điếc, Nă Phá Luân lùn tịt, Mozart bị bệnh lao, Franklin D. Roosevelt bị bệnh tê liệt, Helen Keller mù và điếc từ hồi nhỏ.

Danh ca Jane Froman bị một tai nạn máy bay ghế gớm, mà cô chiến đấu với bệnh tật để lấy lại sức khỏe và danh tiếng. Đào hát bóng Suzan Ball bị cưa một chân mà vẫn t́m được hạnh phúc trong hôn nhân và thành công trên màn bạc cho tới khi chết.

Nhân nói về đào hát, tôi nhớ đến Sarah Bernahardt, đến "tiên nữ Sarah". Hồi nhỏ cô xấu xí lại là một đứa con hoang, ai cũng ghét bỏ, có cách nào mà ngóc đầu khỏi cảnh hạ tiện, nhớp nhúa ở chung quanh được. Vậy mà cô đă thành một đào hát tuyệt đẹp và bất thủ trên sân khấu.

Một bà bạn thân của tôi có một người con trai cao lớn đẹp trai, nhưng phải cái tật cà lăm tứ hồi nhỏ. Nhờ học rất giởi, cậu được chúng bạn mến, và tấn tới rất mau ở ban tiểu học. Trong thời gian đó, song thân cậu nhờ các nhà chuyên mon chữa tật cà lăm cho cậu mà vô công hiệu.

Một buổi chiều, cậu ở trường về, báo tin rằng bạn bè giáo sư cho cậu việc đọc diễn vẵn từ biệt trường.

Bồi cậu leo cầu thanh lên pḥng ngủ để soạn bài diễn văn. Song thân cậu giúp cậu t́m ư, nhưng khôn khéo không nhắc chút ǵ về những nỗi khó khăn khi nên diễn đàn.

Đêm phải lên diễn đàn, cậu đứng thẳng người, uy nghi v́ vóc lớn, vai vuông, và bắt đầu nói. Thính giả imi phăng phắc v́ nhiều người ngại cho lật cà lăm của cậu.

Cấu mới đầu nói chậm chạp, được thính giả tín nhiệm rố nói hết mười lăm phút không hề lắp bắp hoặc ngập ngừng một lần nào, nhờ trong khi soạn bài diễn văn, cậu đă quyết thắng mọi trở ngại. Tiếng vỗ tay vang lên trong đám thính giả để thưởng công lao của cậu.

Roy L. Smith đă viết một truyện hay, một tiểu sử nhan đề là: Một đời sống đầy đủ -- ở ngưỡng cửa Âm-ti. Cuốn đó kể đời của Elmer Helms, một người mà hồi mới sanh ở Huntersville, xứa Ohia, bác sĩ đă phải chê:
-- Không có hy vọng ǵ em nhỏ nầy sống được. Nhưng Elmer Helms vẫn sống, mặc dầu bán thân bên phải bị tật nặng, và luôn trong chín chục nam, bị đau đớn dày ṿ thể xác không lúc nào ngớit. V́ không làm được việc ǵ năng nhọc, ông xoay ra đọc sách. Năm 1891, hồi hai mươi tám tuổi, ông thành một mục sư đạo tin lành. Hai lần thất bại xuưt làm giảm nghị lực của ông; nhưng John S. Huyler đề ư tới ông, giúp tiền cho ông, và chỉ trong ít tháng, ông thoái được tử thần, ra khỏi bệnh viện.

Sau Elmer Helms bất đầu xây cất nhà thờ, quyên tiền cho tôi tin lành, giúp đỡ các trường đại học và các dưỡng đường. Ông mục sư "một lá phổi" đó đă quyên được trên ba triệu Mỹ kim cho những công việc hữu ích. Năm sáu mưới chín tuổi, ông mới "về vườn" mà c̣n thuyết giáo trên một ngàn lần nữa, viết hai cuối sách, quyên 500.000 Mỹ kim cho tôn giáo và các việc từ thiện, giúp trong bạn quản trị của hai chục hội và bỏ ra năm vạn Mỹ kim tiền riêng của ông để cất một nhà thờ gần trường đại học Califonia.

Ông không bao giờ biết trở ngại là cái quái ǵ. Ông chỉ biết rằng ông có một đời để sống và một mục đích để đeo đuổi. Ông tận dụng quăng đời chín chục năm kỳ dị của ông, và nhắc tới tên ông, ai cũng nhớ ngay đến đức can đảm.

Ở các thời mà sự trẻ trung được quá ca tụng nầy, nhiều người già cho tuổi tác của ḿnh là một trở ngại. Họ thường cảm thấy rằng ḿnh bị xă hội cho ra ŕa. Tôi c̣n nhớ một bà già bé nhỏ, bảy mươi tư tuổi hồi trước theo học lớp của tôi ở Nưu Ước. Cự không biết phải làm ǵ cho hết đời.

Củ đă dạy học cho tới ngày bị về hưu. Cụ dành dụm không được bao nhiêu, nên rất cần kiếm việc làm cho khỏi ngồi không và có thê tiền chi tiêu. Cụ nói rằng nhớ các trường dạy học, nên khi về hưu có hồi cụ lại các trường mẫu giáo kể chuyện cho trẻ nghe để kiếm tiền.

Tôi cho rằng việc đó hợp với cụ, và cụ có thể hoạt động hơn đển thành một người chuyên môn kể chuyện.

Tôi khuyến kích cụ và cụ hăng hái bước vào một nghề mới. Cụ đă nhận thấy rằng tuổi tác không phải là một trở ngại; trái lại, bây giờ cụ c̣n có nhiều khả năng hơn hồi trẻ nữa, và những kinh nghiệm của cụ làm cho truyện cụ kể say mê hơn.

Cụ có sáng kiến lại viện văn hoá Ford vạch chương tŕnh cụ dự định kể chuyện cho trẻ em nghe. Những người trong viện đều thực tế muốn thấy rơ kết quả rồi mới quyết định. Vậy mà cụ đă thuyết phục phục được họ; họ chịu mướn cụ v́ những chuyện của cụ hấp dẫn.

B6y giờ t́ cụ hăng hái và tự tin như một thiếu nữ dưới hai chục tuổi, cụ tiếp tục đi khắp nơi đem niêm vui vẻ cho hàng ngàn trẻ em. Cụ không chịu để cho tuổi tác thành một trở ngại, cũng không việc nó làm cớ dể ngồi không. Cụ không nói: "Tôi già rồi, kiếm ăn ǵ nhữa". mà cụ bồi bổ tài năng cùng kinh nghiệm để hoạt động. Tuy bảy mươi tư tuổi, mà cu chưa già. Tuổi tác mà người khác cho là một trở ngại th́ cụ cho là một kích thích.

Goerge Bernard Shaw không chịu được hạng người phàn nàn bị trở ngại vi hoàn cảnh. Ông viết:
"Người ta luôn luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh. Tôi không tin ở hoàn cảnh. Ở trên đời, kẻ thành công là những kẻ kiếm ra hoàn cảnh lợi cho ḿnh, mà nếu kiếm không ra th́ tạo nó ra".

Sự thực, nếu nghĩ đến trở ngại th́ ai cũng có thể kiếm được một trở ngại nầy hay một trở ngại khác. Hồi trẻ, tôi buồn rầu lắm v́ cao lớn hơn những bạn học của tôi. Phải sống nhiều năm rồi tôi mới thấy được điều này là; vóc người cao lớn, cũng như mọi cái khác, có thể bất lợi, mà cũng có thể lợi, tuỳ theo thái độ của ta.

Dù ta có một chân mà người láng giềng có hai chân; dù ta nghèo hơn, hoặc giàu hơn người đó; dù ta mập, hoặc ốm, xuấu hoặc đẹp, trắng hoặc đem, e lệ hoặc dạn dĩ; bất kỳ cái ǵ làm cho ta khác người cũng có thể làm một trở ngại cho ta được, nếu ta nghĩ nó là một trở ngại.

Hạng người tinh thần không già dặn luôn luôn sẵn sàng cho những cái khác người của họ là những trở ngại, c̣n hạng người già dặn thi cũng thấy những chỗ kém người của ḿnh, nhưng vui vẻ nhận nó để cải thiện nó.

 

"Khó mà thương yêu được một lần thứ hai người mà ḿnh đă hết thương yêu."
Rochefoucauld

 

Ngụ Ngôn: Tính lầm


Ngày xửa ngày xưa có một anh Sói lười. Nhà cửa của anh, anh chẳng bao giờ quét dọn, sửa sang. Nó bẩn thỉu, rách nát, chỉ chực sụp xuống.
Một hôm, bác Voi đi qua, chẳng may đụng nhẹ vào làm đổ mái nhà anh Sói.
- Xin lỗi anh bạn! - Bác Voi nói với Sói - Tôi sẽ sửa ngay cho anh.
Bác Voi vốn là người giỏi giang, cái ǵ cũng biết và không sợ công việc. Bác liền lấy búa, đinh, sửa ngay mái nhà cho Sói. Mái nhà trở nên chắc chắn hơn trước...
"Ô hô ! - Anh Sói bụng bảo dạ - Rơ ràng là lăo ta sợ ḿnh! Thoạt đầu đă phải xin lỗi, sau đó c̣n sửa lại cả mái nhà. Ḿnh phải bắt lăo ta làm cho ḿnh một cái nhà mới mới được! Lăo sợ, ắt phải nghe theo!"
- Này, đứng lại! - Sói quát bảo Voi - Mày làm cái thói ǵ thế? Mày tưởng có thể bỏ đi một cách dễ dàng thế chắc? Làm đổ nhà người ta, đóng qua loa được mấy cái đinh rồi định chuồn à? Biết điều th́ đi mà làm cho ta một cái nhà mới! Đồ súc sinh! Bằng không ta sẽ cho một bài học, đừng ḥng mong thấy lại bà con thân thích! Nhanh lên!
Nghe Sói nói những lời ấy, bác Voi không nói ǵ cả. Bác lẳng lặng quắp ngang bụng Sói ném xuống hố nước bẩn. Rồi đè bẹp dí nhà Sói.
- Này, nhà mới này! - Bác Voi nói rồi đi thẳng.
Tỉnh dậy, Sói ngạc nhiên tự hỏi:
"Ḿnh thật không hiểu ǵ cả! Lúc đầu lăo có vẻ sợ ḿnh đă xin lỗi tử tế, thế mà sau đó lại hành động thế này... Thật không sao hiểu nổi!"
- Chú mày ngu lắm! - Nh́n thấy hết mọi chuyện, bác Quạ già nói - Chú mày đă không hiểu sự khác nhau giữa người hèn nhát và người được giáo dục tốt!

Mikhankốp

Tấm thẻ của cảm xúc

    Tôi nhớ đă bắt đầu cuộc đời của ḿnh cho đến những năm đầu đại học bằng sự bất măn và chán ghét thế giới xung quanh ḿnh. Tôi giận cả cha mẹ ḿnh và phát chán mỗi khi phải nghe những lời chỉ bảo và nhắc nhở của cha. Cũng như những thanh niên mới lớn khác, tôi lớn lên theo năm tháng cùng với cái tôi quá lớn của ḿnh. Tôi tự cho rằng không ai trên thế giới lại phải chịu đựng một người cha hay một sự bất công khủng khiếp như tôi dang chịu. Xét cho cùng, cha tôi thậm chí c̣n chưa học hết trung học, c̣n tôi th́ dù ǵ cũng là một sinh viên đại học hẳn hoi. Tôi cảm thấy ḿnh rơ ràng hơn hẳn cha, vậy th́ cớ ǵ ông ta lại có thể can thiệp vào đời sống riêng của tôi.

    Tôi tiếp tục sống nổi loạn như vậy và tạm hài ḷng với cuộc sống bất ổn của ḿnh. Ít ra th́ tôi cũng đă t́m thấy sự chia sẻ của đám bạn bè cùng trang lứa trong những cuộc tán gẫu hàng giờ sau giờ học ở quán cà phê hội sinh viên. Chúng tôi "đồng cảm" với nhau về những rắc rối với cha mẹ mà chúng tôi gặp và thoải mái chơi tṛ "đổ lỗi cho cha mẹ".

    Cuộc sống của tôi ở trường có lẽ cũng sẽ trôi qua "b́nh thường" như thế nếu không có những giờ lên lớp của thầy Sidney B. Simon, một trong những thầy giáo khác thường nhất mà tôi đă từng học. Từ trước đến giờ, tôi vẫn thường biết cách để được yên ổn trong lớp: cứ việc ngồi ngay ngắn, ra vẻ say mê bài giảng, chịu khó học thuộc ḷng, rồi nộp những bài viết đă được soạn theo một công thức và đánh máy cẩn thận. Ít thầy cô nào chịu khó đặt câu hỏi buộc chúng tôi sử dụng cái đầu để trả lời. Tất cả dường như chỉ là những cái tên, sự kiện và ngày tháng cần ghi nhớ. Thầy Sidney Simon là người đă mang đến cho chúng tôi một luồng gió mới. Thầy dẫn dắt chúng tôi bằng cách đặt câu hỏi, nêu vấn đề buộc chúng tôi suy nghĩ, t́m ṭi, nghiên cứu, khám phá và tự giải đáp cho ḿnh. Thú thật, dù phương pháp của thầy Simon mang lại cho chúng tôi một điều ǵ đó rất mới, rất sinh động và thú vị, tôi vẫn cảm thấy khó chịu v́ tôi thấy ḿnh lúng túng chưa t́m được cách đối phó với những giờ học "căng thằng" này.

    Nhưng điều mà làm người ta bàn tán về thầy Simon nhiều nhất là cách tṛ chuyện xa lạ mà gần gũi của thầy: tṛ chuyện qua tấm thẻ "cảm xúc".

    Mỗi thứ ba, để được thầy cho vào lớp, chúng tôi phải điền vào một tấm thẻ khổ 14x20 của ḿnh một suy nghĩ, một băn khoăn, một cảm xúc, một câu hỏi hay bất cứ những ǵ chúng tôi có thể nghĩ ra và nộp cho thầy trước khi vào lớp. Lúc đầu, tôi thấy tṛ chơi này cũng hay hay như tṛ "đổ lỗi cho cha mẹ" mà tôi vẫn thường làm. Ngày thứ ba đầu tiên, tôi nghiêm túc điền vào ḍng chữ tinh nghịch "Tất cả những thứ lấp lánh chưa chắc đă là vàng". Nhưng những ḍng chữ hồi âm của thầy Simon không làm tôi dễ chịu tí nào: "Câu này có ư nghĩa ǵ đối với em? Phải chăng nó có một ư nghĩa rất quan trọng!"

    Có vẻ như ông ấy đang muốn tṛ chuyện thật t́nh với tôi qua tấm thẻ này. Dĩ nhiên tôi không thích điều này tí nào v́ tôi chẳng muốn bộc lộ ḿnh với ai cả. Ngày thứ ba tiếp theo, tôi vẫn giữ giọng bông đùa với tấm thẻ của ḿnh: "Một hành động đúng lúc chắc ǵ đă làm nên cơm cháo." Có ǵ đâu, dù ǵ th́ đó cũng là một tṛ chơi thôi mà. Nhưng câu trả lời mà tôi nhận được một lần nữa chẳng làm tôi thích thú tí nào: "Em cũng có óc hài hước đấy nhỉ? Đây có phải là một điểm nổi bật trong cuộc sống của em không?"

    Vẫn lại cái giọng có vẻ như phớt lờ ấy. Thực sự ông ấy muốn ǵ ở tôi! Tôi thực sự chưa thấy một giáo viên nào quan tâm đến tôi kể từ cấp một đến nay như ông ấy. Tôi quyết định cứ mặc kệ ông ấy với tṛ chơi vớ vẩn này. Nhưng có ngờ đâu rồi cũng đến ngày tôi vô t́nh trải ḷng ḿnh trên tấm thẻ vô tri vô giác kia. Vào cái ngày thứ ba đáng ghét tiếp theo tôi căi nhau dữ dội với cha tôi. Cảm thấy bị cha đàn áp, tôi vùng vẫy muốn trốn thoát. Ông ấy thấy tôi bất kham, liền áp đặt quyền làm cha của ḿnh. Chúng tôi đă to tiếng với nhau. Tôi chạy ào ra khỏi nhà đến trường trong một cơn giận dữ. Và cũng trong cơn giận dữ ấy, tôi đă viết vào tấm thẻ không chút đắn đo suy nghĩ: "Tôi là con của một thằng ngốc."

    Khi đă b́nh tĩnh lại, tôi mới thấy minh sợ hăi. Sao tôi lại dại dột đến thế khi cho ông ấy biết về tôi kia chứ ? Bây giờ ông ấy đă biết về tôi, gia đ́nh tôi, và cuộc sống bất ổn của tôi. Tại sao tôi lại kể cho ông ấy nghe về cha tôi kia chứ ? Nếu ông ấy liên lạc với cha tôi th́ sao? Mọi chuyện sẽ vỡ lở từ đây. Nỗi sợ hăi mơ hồ đó kéo dài cho đến khi tôi nhận lại được tấm thẻ. Khó khăn lắm tôi mới đủ can đảm lật tấm thẻ lên. Đập vào mắt tôi đơn giản chỉ là một ḍng chữ: "Thế đứa con của một 'thằng ngốc' sẽ làm ǵ trong suốt cuộc đời c̣n lại?". Tôi cảm thấy như có một cái tát vào mặt. Trước giờ, nếu tôi có làm sai điều ǵ, th́ đó đều là lỗi của cha mẹ. Nếu tôi làm bài kiểm tra tệ hại, tại mẹ mà ra. Nếu ḿnh mất cơ hội có một việc làm thêm, tại cha. Chưa có phút giây nào tôi nghĩ ḿnh phải có chút trách nhiệm ǵ trong đó. Câu hỏi có vẻ như vô tư của thầy Sidnev Simon đă chạm đến cốt lơi của câu hỏi mà tôi thường lảng tránh: Tất cả những vấn đề này là của ai. Trách nhiệm của tôi ở đâu trong những vấn đề này!

    Hôm đó tôi đă không nấn ná ở hội quán sinh viên mà về thằng nhà. Suốt đêm tôi thao thức suy nghĩ về mọi thứ, về một điều mà mẹ tôi nói từ rất lâu: "Một người triệu phú lúc thành công th́ tuyên bố là do một tay ḿnh làm nên sự nghiệp, khi thất bại th́ đổ lỗi tất cả là v́ cha mẹ."

    Những lời nói của thầy Simon không phải là viên thuốc thần để có thể chuyển đổi con ngựa bất kham như tôi ngay lập tức, nhưng nó ngấm dần vào tiềm thức của tôi. Mỗi lần trong đầu tôi xuất hiện tư tường trách móc cha mẹ ḿnh v́ điều này hay điều khác, th́ lại có một giọng nói từ sâu thẳm ḷng tôi lên tiếng: "Có thể cha bạn là một kẻ tệ hại như tất cả những ǵ bạn nói. Nhưng bạn có thể nào bắt cha mẹ ḿnh chịu trách nhiệm cho suốt cuộc đời c̣n lại của ḿnh hay không!"

    Và cứ như thế, chậm chạp và từ từ, cùng với thời gian suy nghĩ của tôi cũng đă thay đổi theo. Tôi nhận thấy từ trước đến nay tôi đă sống một cuộc đời mà tôi không phải là nhân vật chính. Cái cảm giác ḿnh không phải là chủ cuộc đời ḿnh làm tôi khó chịu ghê gớm. Tôi không muốn làm con rối. Tôi bắt đầu nhận thấy rằng tôi phải chịu trách nhiệm chính cho những hành động, suy nghĩ, t́nh cảm của ḿnh. Theo thời gian tôi cảm thấy ḿnh đổi khác rất nhiều. Tôi thấy ḿnh nhiệt t́nh với công việc, năng nổ, sống vui vẻ, có ư nghĩa và có ích cho mọi người hơn. Bạn bè chung quanh tôi cũng nh́n tôi bằng một con mắt khác.

    Vài năm sau, tôi ngạc nhiên nhận ra điểm số của ḿnh đă tiến bộ vượt bậc đến mức nào. Từ một sinh viên phải cố gắng lắm mới kiếm dược một điểm đậu, tôi trở thành một trong những sinh viên đứng đầu lớp, và rồi sau khi tốt nghiệp tôi trở thành một giáo viên trung học thành công. Nhưng điều quan trọng hơn hết là mối quan hệ giữa tôi và cha cũng được cải thiện. Tôi đă nhận ta rằng mặc dù cách dạy dỗ con cái của cha tôi không được "dịu dàng", nhưng tất cả những ǵ cha làm đều xuất phát từ một t́nh cảm yêu thương, quan tâm và lo lắng dành cho tôi. Và ngược lại, về phần ḿnh, hơn bao giờ hết tôi cũng cảm thấy yêu người biết nhường nào. Tôi bắt đầu hiểu được chân lư rằng: "Muốn thay đổi thế giới xung quanh bạn, chỉ cần bạn thay đổi thái độ của bản thân". Trong trường hợp tôi, cuộc đời tôi đă thay đổi hoàn toàn chỉ nhờ vào một câu hỏi, một câu hỏi có vẻ như vô t́nh mà ẩn chứa một t́nh vêu sâu xa.

Tour mạo hiểm


Sau một tuần cùng đoàn khách nước ngoài du lịch theo "tour mạo hiểm", chiều nay, hướng dẫn viên Ba Tê đưa họ tới một nhà hàng, đặt tiệc để chia tay. Nh́n khách vào tiệc một cách uể oải, Ba Tê nâng ly gây khí thế.
- Nào, 100%! Chúc mừng chuyến đi thành công tốt đẹp.
Dứt lời hắn ngửa cổ làm một hơi, khi nh́n lại thấy ly của khách vẫn c̣n nguyên. Không khí của bữa tiệc có vẻ như không được như mong muốn. Ba Tê giả lả:
- Chuyến đi vừa rồi thật hồi hộp, thật ấn tượng phải không?
Gă thanh niên người Ư búng búng liên tục vào ly:
- Xin lỗi ông Ba Tê, cho phép tôi nói thẳng... "Tour mạo hiểm" của quư vị chán phèo! Chẳng có cảm giác mạnh ǵ cả!
Ba Tê ra vẻ ngạc nhiên:
- Ồ, sao lại thế được?!.. Nội chuyến đi vào rừng nguyên sinh với nhiều động vật hoang dă...
Một tiếng "x́..." phát ra, khỏi cần biết tiếng Y Pha Nho cũng hiểu gă người Ư muốn tỏ thái độ ǵ.
- Nguyên thủy... Hoang dă... Toàn tắc kè và chim. Lại c̣n có trang trại nuôi ḅ nữa chứ!... Chẳng bằng ở châu Phi, sư tử đi hàng bầy.
- Thế c̣n chuyến ra đảo Cá Mập?
Cả đoàn bỗng cười hô hố. Tay người Pháp xua tay cười ngặt nghẽo:
- Các bạn có nhớ cái đảo ấy không? Ha ha!.. Xin lỗi, đến con cá gầy cũng chẳng có nữa là...
Ba Tê bỗng nổi tự ái:
- Vậy là quư vị chưa biết đấy thôi, chuyến đi vừa rồi vô cùng nguy hiểm. Công ty đă không cho thông báo tới quư vị những điều xảy ra, e rằng tất cả ngất đi mất. Chao ôi! Mỗi lần nhớ lại tôi c̣n sởn da gà...
Cả đoàn im bặt, trố mắt nh́n như ḍ hỏi... Ba Tê xuống giọng:
- Các bạn c̣n nhớ những chiếc môtô lượn qua lượn lại hôm khởi hành không?... Chúng đă sẵn sàng lao vào xe ta bất cứ lúc nào.
Tất cả lao xao, có người rú lên:
- Khủng bố?
Ba Tê trấn an:
- Không phải! Đất nước tôi hoàn toàn an toàn về mặt này, chẳng qua là bọn choai choai rảnh quá nên giải trí thôi mà. À! C̣n nữa, cả nhóm người bặm trợn trên rừng nữa...
Bà lăo Hà Lan chen vào:
- Cái nhóm mà ông bảo là người dân tộc chứ ǵ?
- Đúng rồi! Nhưng thực ra, chúng là... lâm tặc đấy!
Sau khi nghe giải thích tính chất của lâm tặc, cả đoàn có vẻ hồi hộp. Bà lăo ngả người ra ghế hổn hển... Ba Tê đắc ư:
- Đêm hôm ấy về thị xă ḿnh đi ăn thịt rừng, các bạn thấy thế nào?
Cả nhóm xuưt xoa chép miệng:
- Chà, tuyệt vời!... Rất tươi ngon...
Ba Tê cười nửa miệng:
- Đó là mối nguy hiểm lần ba... Nói thật nhé! Thịt những con thú đă được tẩm...
- Ma túy!? - Ai đó thốt lên hoảng hốt.
- Ồ không! Chỉ là... formol thôi!... Có ǵ đâu, chúng được chôn ở dưới đất cả tháng mới moi lên đấy!
Toàn bộ du khách nữ lăn đùng ra xỉu. Có người nôn thốc nôn tháo dù đă nuốt món ấy cả tuần lễ rồi. Riêng gă người Ư vẫn dửng dưng:
- Ăn thua ǵ!... Hồi đi Nam Mỹ tôi bị lạc, phải ăn cả giun dế ba ngày đấy.
Ba Tê bắt đầu nổi nóng:
- C̣n chiếc xe tải gí sát khiến xe ta phải lao xuống ruộng, các bạn có nhớ không?
Những người chưa bị xỉu ồ lên:
- Nhớ chứ! Tay tài xế bất cẩn quá... đáng lẽ hắn phải phanh lại...
Ba Tê cười ruồi:
- Chúc mừng quư vị thoát hiểm lần thứ tư! Chiếc xe đó đă bị... đứt phanh!
Một số gă đàn ông ngă phịch xuống ghế, mồ hôi tuôn dầm dề trên trán. Ba Tê bồi tiếp:
- Chưa đâu, c̣n lần năm là chuyến qua sông bằng đ̣ "3 không" đấy!
Tay người Mỹ lắp bắp:
- "3 không" là thế nào?
- Người lái không bằng! Đ̣ không kiểm định! Cuối cùng là không có món đồ cứu sinh nào cả!
Phịch!... Giờ chỉ c̣n mỗi gă người Ư.
- Hiện nay, sự nguy hiểm vẫn chưa chấm dứt... - Nh́n vẻ mặt "điếc không sợ súng" của hắn, Ba Tê nhếch mép tung đ̣n quyết định - Chúng ta đang ở trên tầng 10 của khách sạn...
- X́! Ở New York tôi c̣n ở tầng 120 nữa là...
Ba Tê ṿng ra đằng sau lưng gă, ghé vào tai, nói nhỏ:
- Nhưng ṭa nhà này chỉ được cấp phép xây dựng có 3 tầng.
Quả nhiên sự thận trọng không bao giờ thừa. Ba Tê nhẹ nhàng đỡ gă người Ư nằm xuống ghế. Nh́n cả bọn ngất đi v́ sợ hăi, chàng hướng dẫn viên cười khẩy:
- Thế mà cũng đ̣i mạo hiểm!... Hừm! Nếu họ biết rằng nhà này đă xây bít lối thoát hiểm để kinh doanh, lỡ mà cháy th́...
Nghĩ đến đây, Ba Tê cũng ớn lạnh và lăn đùng ra xỉu nốt.

 

Chú mèo không có miệng


Cuộc sống của người Nhật rất tất bật. Trong thời đại công nghiệp, máy tính và tên lửa, người lớn đi làm, trẻ em đi học, cứ thế hàng ngày, hàng tuần... Họ ít có thời gian để ư đến nhau. Cuộc sống tẻ nhạt, nhưng có lẽ họ không cảm thấy vậy, v́ họ c̣n quá bận rộn với công việc hàng ngày.

Một cô bé sống trong một gia đ́nh điển h́nh như vậy. Bố mẹ đi làm th́ cô bé đến trường, rất ít khi gặp nhau. Cô muốn nói chuyện nhưng không biết nói với ai. Chẳng ai có th́ giờ ngồi nghe cô nói. Bạn bè cũng cuốn quưt với những ca học, một số th́ mải mê với tṛ chơi điện tử hiện đại với h́nh ảnh ảo ba chiều như thật. Cô bé cảm thấy cô đơn và thu ḿnh vào vỏ ốc. Nhưng cô cũng không được yên, v́ cô rất bé nhỏ và nhút nhát nên hay bị những đứa trẻ lớp trên trêu chọc, giật cặp sách, giật tóc, đôi khi cả đánh nữa.

Một buổi chiều, khi bị nhóm bạn lớp trên lôi ra làm tṛ đùa, cô buồn bă đi ra công viên gần nhà, ngồi trên ghế đá và khóc. Khóc một lúc, cô ngẩng lên th́ thấy một ông già đang ngồi cạnh ḿnh. Ông già thấy cô ngẩng lên th́ hỏi:

- Cháu gái, tan học rồi sao không về nhà mà lại khóc?

Cô bé lại ̣a lên tức tưởi:

- Cháu không muốn về nhà. Ở nhà buồn lắm, không có ai hết. Không ai nghe cháu nói!

- Vậy ông sẽ nghe cháu!

Và cô bé vừa khóc vừa kể cho ông già nghe tất cả những uất ức, những buồn rầu trong ḷng bấy lâu nay. Ông già cứ im lặng nghe, không một lời phán xét, không một lời nhận định. Ông chỉ nghe. Cuối cùng, khi cô bé kể xong, ông bảo cô đừng buồn và hăy đi về nhà.

Từ đó trở đi, cứ tan học là cô bé vào công viên ngồi kể chuyện cho ông già nghe. Cô thay đổi hẳn, mạnh dạn lên, vui vẻ lên. Cô bé cảm thấy cuộc sống vẫn c̣n nhiều điều để sống.

Cho đến một hôm, cô bé bị một bạn trong lớp đánh. Vốn yếu đuối không làm ǵ được, cô uất ức và nóng ḷng chạy đến công viên để chia sẽ cho vơi bớt nỗi buồn tủi.
Cô bé vội vă, chạy qua đèn đỏ...***


Ngày biết tin cô bé mất, vẫn trong công viên, vẫn trên chiếc ghế đă mà cô bé hay ngồi, có một ông lăo lặng lẽ đốt một h́nh nộm bằng giấy. Đó là món quà mà ông muốn đưa cho cô bé ngày hôm trước, nhưng không thấy cô bé đến. H́nh nộm là một con mèo rất đẹp, trắng trẻo, có đôi tai to, mắt tṛn xoe hiền lành, nhưng không có miệng. Ông già muốn nó ở bên cạnh cô bé, măi lắng nghe cô mà không bao giờ phán xét.

Từ đó trở đi, trên bàn học của mỗi học sinh Nhật thường có một búp bê h́nh mèo không có miệng - Chú mèo hiện nay đă mang hiệu "Hello Kitty" (bạn đă bao giờ để ư mèo Hello Kitty không hề có miệng?) - chú mèo được làm ra với mục đích lắng nghe tất cả mọi người.

Tôi không biết "sự tích" Hello Kitty này có thật hay không. Tôi cũng không phải nhà quảng cáo cho thương hiệu ấy. Tôi chỉ biết mỗi lần nh́n h́nh chú mèo Hello Kitty là một lần tôi được nhắc nhở phải biết lắng nghe người khác - thực sự lắng nghe.