MÙA
PHỤC SINH
LỄ PHỤC SINH
CHỦ ĐỀ :
Chúa đã SỐNG
LẠI RỒI
BÀI ĐỌC I: Cv 10, 34a. 37-43
"Chúng
tôi đã ăn uống với Người, sau
khi Người từ cõi chết sống lại".
Trích sách Tông
đồ Công vụ.
Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: "Như anh em biết
điều
đã xảy ra
trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao
giảng phép
rửa: ấy là Chúa Giêsu thành
Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người
đi khắp
nơi, ban bố
ơn lành và chữa
mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả
những gì Người đã làm
trong nước
Do-thái, và tại
Giêrusalem, Người
là Đấng
người ta
đã giết
treo Người
trên thập
giá. Nhưng
ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra
không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính
chúng tôi đã ăn uống với Người sau
khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người
đã truyền cho
chúng tôi rao giảng cho
toàn dân và làm chứng rằng chính Người
đã được Thiên
Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì
nhờ danh Người mà
được tha tội". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 117,
1-2. 16ab-17. 22-23
Đáp: Đây là ngày Chúa đã lập ra, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó (c. 24).
Hoặc đọc: Alleluia.
Xướng: 1)
Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn
thuở. Hỡi nhà
2)
3) Phiến
đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa
làm ra, việc
đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. - Đáp.
BÀI ĐỌC II: Cl
3, 1-4
"Anh em hãy tìm
những sự trên trời, nơi Đức Kitô
ngự".
Trích thư
Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê.
Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô,
anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô
ngự bên hữu Thiên
Chúa. Anh em hãy nghĩ đến
những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết,
và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong
Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống
anh em xuất
hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. Đó là lời Chúa.
Hoặc đọc: 1 Cr 5, 6b-8
"Anh em hãy tìm
những sự trên trời, nơi Đức Kitô
ngự".
Trích thư
thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Cô-rintô.
Anh em thân mến, anh
em không biết sao?: chỉ một tí men là đã đủ làm dậy men cả khối bột! Anh em
hãy tẩy trừ men cũ để nên bột mới; anh em là bánh
không men. Vì Chiên Vượt Qua của ta, là
Đức Kitô,
đã chịu sát tế. Cho nên
ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ, và men gian tà,
ác độc,
nhưng là với
Bánh không men của
lòng tinh tuyền
và chân thật.
Đó là lời Chúa.
CA TIẾP LIÊN
(Đọc trong
Chúa Nhật Phục Sinh, còn các ngày khác
trong tuần Bát nhật thì không buộc đọc)
Các Kitô hữu hãy tiến dâng
lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua.
Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên mẹ:
Đức Kitô
vô tội
đã hoà giải tội nhân với Chúa Cha.
Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ,
tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị.
Hỡi Maria, hãy nói cho chúng
tôi nghe
bà đã thấy gì
trên quãng đường
đi?
Tôi đã thấy mồ Đức Kitô
đang sống
và vinh quang của Đấng Phục Sinh,
thấy các
thiên thần làm chứng,
thấy khăn liệm và y phục.
Đức Kitô
là hy vọng của tôi đã phục sinh,
Người
đi trước chư vị tới xứ Galilêa.
Chúng tôi biết Đức Kitô
đã sống lại thật từ cõi chết!
Lạy Chúa, Vua chiến thắng, xin thương xót chúng con.
ALLELUIA: 1 Cr 5, 7b-8a
Alleluia, alleluia! -
Lễ Vượt Qua của chúng ta là Đức Kitô đã hiến tế; vậy
chúng ta hãy mừng lễ trong Chúa. -
Alleluia.
PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9
"Người phải sống lại từ cõi chết".
Tin Mừng Chúa
Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna
đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn
đệ kia
được Chúa
Giêsu yêu mến, bà
nói với các
ông rằng:
"Người ta
đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta
đã để Thầy ở đâu". Phêrô và
môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh
hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống
thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước
đây, khăn này không
để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia
mới vào,
dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông
tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết. Đó là lời Chúa.
Minh họa
- Mille images 172 B
- Chúa đã sống
lại rồi
Sợi chỉ đỏ :
Những lời
chứng về việc Chúa Giêsu sống lại :
- Bài đọc I
(Cv 10,34a.37-43) : Lời chứng của
Thánh Phêrô
- Tin Mừng (Ga
20,1-9) : Lời chứng của Thánh
Gioan tông đồ
- Bài đọc
II (Cl 3,1-4 ; hoặc 1 Cr 5,6-8) : Lời
chứng của Thánh Phaolô
Anh chị em thân
mến
Lễ
Phục sinh là lễ lớn nhất của năm Phụng
vụ. Chúa Giêsu
đã chiến thắng sự chết, không phải chỉ
cho Ngài mà còn cho tất cả chúng ta. Tất
cả chúng ta hãy mở rộng cõi lòng để đón nhận
niềm vui to lớn này.
- Chúa sống lại
có nghĩa là sự thiện chắc chắn chiến thắng
sự ác. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã không tin điều
ấy.
- Chúa sống có
nghĩa là ân sủng chắc chắn chiến
thắng tội lỗi. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã
không tin điều ấy.
- Chúa sống có
nghĩa là tình thương chắc chắn chiến thắng
hận thù. Chúng con xin Chúa tha thứ vì đã không tin điều
ấy.
1. Bài đọc
I (Cv 10,34.37-43)
Tại
nhà ông Cornêliô ở Xêdarê, Thánh Phêrô đã tóm lược sứ
vụ của Chúa Giêsu. Cao điểm của sứ vụ này là việc
Ngài chịu chết và sống lại. Nhưng như
thế chưa phải là hết : việc
Chúa sống lại có ảnh hưởng đến mọi
người : "Ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài
mà được ơn tha tội". Vì thế
các tông đồ phải làm chứng và loan truyền Tin Mừng
ấy.
2. Đáp ca
(Tv 117)
Ca tụng Thiên
Chúa vì tình thương mà làm những việc diệu kỳ,
nhất là đã làm cho Chúa Giêsu, "tảng đá thợ
xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc
tường"
3. Tin Mừng
(Ga 20,1-9)
Bằng cách viết
rất súc tích với những ý tưởng sâu sắc chứa
đựng trong những chi tiết được chọn
lựa rất kỹ, Thánh Gioan muốn mô tả hành trình
đức tin của 3 nhân vật trong bài tường thuật
này : Maria Mađalêna, Phêrô và "người môn đệ
kia" (tức tông đồ Gioan).
- Khi ấy là
"sáng sớm khi trời còn tối" :
họ vẫn còn ở trong đêm tối chưa hiểu
được mầu nhiệm Chúa Giêsu, nhưng đã là
lúc sáng sớm rồi, bình minh sắp tỏa sáng.
- "Chúng tôi
không biết người ta đã để Thầy ở
đâu" : "địa chỉ"
của Chúa Giêsu là một điều được Tin
- Cả 3 nhân vật
trong chuyện này đều "chạy" :
Mađalêna chạy tìm Simon-Phêrô, ông này cùng với Gioan
"cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh
hơn". Họ "chạy" để làm chi ? Để tìm đến
"địa chỉ" Chúa Giêsu. Đây
là cuộc hành trình của đức tin.
-
Thiên Chúa đã đặt sẵn những dấu chỉ
giúp họ tìm, đó là ngôi mộ trống, những khăn
vải liệm còn đó được xếp gọn gàng
và những lời tiên báo của Thánh Kinh. Nhưng chỉ một mình "môn đệ
kia" đã đọc được ý nghĩa của những
dấu chỉ ấy nên "đã thấy và đã tin".
Gioan đã tìm được "địa
chỉ" của Chúa Giêsu. Thực ra, nhiều lần
Chúa Giêsu đã ám chỉ đến "địa chỉ"
này ("Thầy về cùng Cha Thầy" :
xem Ga 7,33-34 8,21 13,33) nhưng các môn đệ vẫn chưa
hiểu. Hôm nay Gioan đã hiểu :
Chúa Giêsu đã sống lại và về cùng Thiên Chúa.
4. Bài đọc
II (Cl 3,1-4 ; hoặc 1 Cr 5,6-8)
Vì
được thông phần vào sự sống lại của
Chúa Giêsu Kitô, kitô hữu phải sống một đời
sống mới.
1. "Tôi tin
kính Chúa Giêsu Kitô"
Đức tin của
chúng ta thường có tính cách "quy thần", nghĩa
là tin có Thiên Chúa, Đấng tạo dựng trời đất
muôn vật ; và Thiên Chúa ấy chúng ta chỉ biết
được khi linh hồn chúng ta rời khỏi thân xác
này. Một đức tin như thế thì vừa
lý thuyết vừa tĩnh.
Dưới ánh
sáng phục sinh, chúng ta phải làm cho đức tin trở
thành sống và động ; đồng
thời chúng ta phải làm chứng về đức tin sống
động ấy cho những người chỉ có một
đức tin vừa lý thuyết vừa tĩnh như
đã nói trên. Nhưng làm thế nào ?
Thưa chúng ta phải
tập tin vào Chúa Giêsu Kitô :
- Tin vào Chúa Giêsu
Kitô là tin vào Đấng đã chịu nạn chịu chết
và sống lại, như Thánh Gioan tông đồ (bài Tin Mừng).
Thánh Gioan đã nhìn thấy ngôi mồ trống
và đã tin. Khi đó đức tin của Gioan mang một
chiều kích mới hẳn : Thiên Chúa
của Thánh Kinh không còn là một Thiên Chúa của quá khứ
nữa mà đã trở thành "Đức Chúa",
"Thiên Chúa của sự sống", luôn hiện diện
trong lịch sử. Một Thiên Chúa như thế luôn có ý
nghĩa với cuộc đời con người :
cho dù Ngài đã chịu nạn chịu chết nhưng Ngài
đã sống lại. Ngài đã chiến thắng
đau khổ và sự chết. Từ
nay đau khổ và chết chóc không phải là những chuyện
phi lý nữa. Từ nay chúng ta cứ bước theo Ngài thì sẽ đi qua được mọi
khổ đau chết chóc để đến sự sống.
- Tin vào Chúa Giêsu
Kitô cũng là tin vào mầu nhiệm cuộc sống của
chính chúng ta : nhờ bí tích Rửa tội,
chúng ta có một sự sống mới, "và sự sống
mới ấy hiện đang tiềm tàng với Chúa Giêsu
Kitô nơi Thiên Chúa" (Bài đọc II), vì thế chúng ta
"hãy hướng lòng về những gì thuộc thượng
giới".
2. Đi
thăm mộ
Sáng
Chúa nhật Phục sinh, các phụ nữ đi đến
ngôi mồ đã chôn xác Chúa Giêsu.
Họ đến đấy để ướp
xác Ngài. Nhưng đó không phải là lý do duy nhất. Họ
còn muốn được ở gần Đấng đã từng
làm cho đời họ tràn đầy ý nghĩa, nhưng
bây giờ cái chết của Ngài lại khiến lòng họ
tràn ngập nỗi u sầu không gì an ủi
được.
- Chúng ta cũng
thường làm như các bà ấy. Khi một
người thân yêu của chúng ta chết, chúng ta khó chấp
nhận rằng người ấy đã vĩnh viễn xa
cách chúng ta. Vì thế chúng ta thấy cần
phải duy trì một sự liên kết nào đó với
người đã chết. Và một
trong những cách chúng ta có thể làm, đó là đi thăm
mộ. Tuy nhiên việc này chẳng những
không làm dịu đi nỗi đau bị mất mát, mà còn
khiến mình càng thấy mất mát hơn, bởi vì không
nơi nào khiến ta ý thức về cái chết của
người thân cho bằng nơi chôn cất người
thân ấy.
Sáng hôm ấy, nếu
mọi sự diễn ra đúng như các bà dự kiến
thì các bà đã ướp xác Chúa Giêsu, xong rồi lắp của
mồ lại, rồi trở về nhà với cõi lòng nặng
trĩu u sầu vì các bà càng ý thức rằng những chuyện
khủng khiếp xảy ra hôm Thứ Sáu không phải chỉ
là một giấc mơ mà là một sự thật :
Thầy của họ đã chết thật rồi !
Tuy
nhiên mọi sự không xảy ra như dự kiến. Khi đến mộ, các bà đã gặp
hai thiên thần. Các vị ấy bảo "Sao các bà lại
tìm người sống nơi cõi chết ?
Ngài không còn ở đây, Ngài đã sống lại".
Nghĩa là các bà đừng mất thời giờ
để tìm Chúa Giêsu ở ngôi mộ nữa.
- Tất cả
chúng ta thường cảm thấy tuyệt vọng khi
đứng trước những nấm mồ, vì ở
đó mọi sự đều nói lên chết chóc. Tuy nhiên chính ở một ngôi mộ như thế
mà lần đầu tiên tin mừng sống lại
được loan báo. Chúa đã chọn
một nơi thật thích hợp, nơi mà xem ra sự chết
thống trị, để loan báo Tin Mừng phục sinh.
Phụng vụ
hôm nay cũng gởi đến chúng ta một sứ điệp
tương tự : Đừng tìm kiếm
những kẻ thân yêu của mình nơi những nấm mồ,
vì họ chẳng có ở đó đâu. Chúa
Giêsu đã chiến thắng sự chết, không chỉ cho
bản thân Ngài mà cho tất cả mọi người chúng
ta. Ngài là Đấng đầu tiên sống
lại, và chúng ta cũng sẽ sống lại như Ngài.
Như thế, đối với Kitô hữu
thì sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng.
Người thân quá cố của chúng ta không
chết, mà vẫn còn sống. Cuộc sống
của họ còn thực và đẹp hơn cả cuộc
sống hiện tại của chúng ta nữa. Hơn nữa họ không hề xa cách chúng ta.
Những ai đã chết trong ân sủng
thì khoảng cách giữa họ với chúng ta không xa hơn
khoảng cách giữa Thiên Chúa với chúng ta. Mà
Thiên Chúa thì rất gần với chúng ta. (FM)
3. Kỷ nguyên
cứu rỗi
Một
bề trên tu viện Công giáo đến tìm một ẩn sĩ
ấn giáo tại chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Ông lo âu trình bày
về tình trạng bi đát của tu viện.
Trước kia tu viện này là một trung tâm thu hút nhiều
khách hành hương. Nhà thờ lúc nào cũng
vang tiếng hát của giáo dân khắp nơi tuôn đến.
Nhà dòng không còn chỗ nhận thêm người
xin gia nhập. Thế mà bây giờ tu viện
chẳng khác nào một ngôi chùa hoang phế. Nhà thờ
vắng lặng, tu sĩ thì leo teo mấy
người. Cuộc sống thật là buồn tẻ...
Vị bề trên
hỏi tu sĩ ấn giáo cho biết nguyên nhân nào hay lỗi
lầm nào đã dưa tu viện tới tình trạng trên
đây. Tu sĩ ấn giáo ôn tồn bảo :
- Tội của
cộng đoàn đó là tội vô tình.
Và ông giải thích :
-
Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một
người trong quí vị, nhưng quí vị không nhận
ra Người.
Từ đó, mọi
người đối xử với nhau như với
Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu bầu khí yêu
thương huynh đệ thấm thiết, sức sống
mới nảy sinh, và niềm vui tràn ngập tu viện. Khắp nơi người ta lại tìm đến
tu viện tĩnh tâm cầu nguyện. Nhiều
bạn trẻ lại đến xin gia nhập cộng
đoàn.
*
"Sao các bà lại tìm người sống giữa kẻ
chết ? Người không còn đây
nữa, nhưng đã chỗi dậy rồi" (Lc 23,5-6). Buổi sáng Phục Sinh
đầu tiên, Chúa Giêsu đã vinh thắng ra khỏi mộ
tối, để mở đầu cho một kỷ nguyên
mới, kỷ nguyên cứu rỗi. Người đã hiện
ra với Mađalêna, với Phêrô, với hai môn đệ trên
đường Emmau, với các môn đệ "đang
"tập họp trong nhà cửa đóng kín," - trên bờ
biển Tibêria. Và Người" vẫn còn
hiện diện giữa chúng ta, những kẻ "tin
vào" Người," ở mọi nơi, trong mọi
thời đại. Đó là một Tin
vui không chỉ cho thành Giêrusalem mà còn cho toàn thế giới.
Tin vui chính là Chúa
Giêsu Phục Sinh, ánh sáng rạng ngời, đã xoá tan bóng tối
của tử thần và tội lỗi, để dẫn
đưa con người bước vào miền ánh sáng sự
sống.
Tin vui chính là Chúa
Giêsu Phục sinh luôn hiện diện giữa những kẻ
tin Người sống lại để mang lại cho họ
niềm vui và an bình trong cuộc sống
mới.
Nếu ngôi mộ
tối đã không thể giam giữ Chúa Giêsu Phục sinh, và
xiềng xích của sự chết đã bị Người
bẻ gãy, thì không còn gì có thể tiêu diệt chúng ta
được. Thánh Phaolô viết : "Ai có thể
tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải
chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy,
bắt bớ gươm giáo ?" (Rm 8,35).
Vì thế,
Sống
niềm vui Phục Sinh chính là chết đi cho tội lỗi
để sống lại với Chúa trong đời sống
mới, đời sống Phục Sinh.
Sống
niềm vui Phục Sinh chính là tin rằng Chúa đã sống
lại và đã cứu thoát chúng ta khỏi vòng tội lỗi,
nên chúng ta hãy đặt niềm tin và hy vọng nơi
Người.
Sống niềm
vui Phục Sinh chính là sống vui tươi, an
bình và yêu thương trong sự hiện diện của
Chúa Giêsu Phục Sinh.
Cộng
đoàn tu viện trong câu chuyện kể trên chỉ tìm
được bầu không khí yêu thương và niềm vui
huynh đệ khi mà mọi người nhận ra Đấng
Cứu Thế đang ở giữa họ, trong người
anh em.
*
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã vượt qua khổ nạn
và cái chết để Phục Sinh về với Chúa Cha.
Xin cho chúng con biết : Vượt
qua ích kỷ nhỏ nhen để quảng đại yêu
thương. Vượt qua tự ái, tự kiêu để
tha thứ bao dung. Vượt qua đau khổ, cực nhọc
để dấn thân hy sinh.
Ước gì cuộc sống chúng con luôn mãi tràn đầy
niềm vui và bình an của Chúa Phục
Sinh. Amen. (TP)
4. Mầu nhiệm
Vượt qua
Cao
điểm của năm Phụng vụ là Tuần Thánh vì
có rất nhiều lễ nghi, giáo dân tham dự đông đảo
và sốt sắng. Hôm
nay thì Tuần thánh đã qua đi rồi. Nhưng chúng ta hãy nhìn lại một trong những
lễ nghi phong phú ý nghĩa của Tuần Thánh, đó là ngọn
nến phục sinh.
Trong
đêm thứ Bảy Tuần Thánh, lúc mới bắt đầu
nghi lễ thì mọi đèn nến trong sân nhà thờ đều
tắt hết, bóng tối bao trùm tất cả. Thế rồi Chủ Tế lấy lửa
từ một bếp than châm vào ngọn nến phục
sinh. Một tia sáng nhỏ loé lên
trong đêm tối. Tiếp đó ánh sáng từ ngọn nến
Phục sinh lại được châm vào những ngọn
nến của các tín hữu. Ánh sáng tỏa lan
dần, và cuối cùng mọi đèn nến đều sáng
rực. Ánh sáng đã hoàn toàn đẩy lui bóng tối.
Hình ảnh này rất
đẹp, và nhất là chứa đựng một ý nghĩa
sâu sắc :
- Bóng tối không
thể nào thắng được ánh sáng.
- Ma quỷ không
thể nào thắng được Thiên Chúa.
- Sự ác không thể
nào thắng được sự thiện.
Đó chính là một
chân lý mà các lễ nghi Tuần Thánh muốn soi sáng cho chúng ta.
Khi Chúa Giêsu chết thì tưởng như bóng
tối, quyền lực ma quỷ và sự ác đã hoàn toàn
chiến thắng. Thế nhưng không phải
như vậy, Chúa Giêsu đã sống lại. Nghĩa
là ánh sáng đã chiến thắng tối tăm, Thiên Chúa
đã chiến thắng Satan, và sự thiện đã chiến
thắng sự ác.
Sự
thật này không phải chỉ đúng cho một mình Chúa
Giêsu mà còn đúng cho tất cả mọi người chúng
ta nữa. Bởi vì Chúa Giêsu đi
vào cuộc chịu nạn, chịu chết và sống lại
là trong tư cách Ngài là đại diện của loài người,
Ngài là trưởng tử của tất cả mọi
người, là hoa trái đầu mùa. Ngài chiến
thắng nghĩa là dọn đường cho tất cả
chúng ta chiến thắng. Bởi thế, tất cả
chúng ta đều có thể cùng với Chúa Giêsu mà lạc
quan tin tưởng rằng sau cùng rồi mọi sự ác sự
dữ đều sẽ bị đánh bại.
Chính vì thế mà
trong khi các tín hữu Rôma đang phải lao
đao khốn đốn vì những cuộc bách hại,
thánh Phêrô đã gởi thư cho họ nói rằng "Anh em
hãy vui mừng mặc dù còn phải ưu phiền ít lâu giữa
trăm chiều thử thách. Thực ra những thử
thách đó chỉ nhằm tinh luyện đức tin của
anh em, cũng như lửa thử vàng vậy" (1Pr.1,3-9).
Còn thánh Phaolô,
đang lúc phải ngồi tù mà đã viết thư cho giáo
đoàn Philip rằng : "Anh em hãy
vui lên. Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng
anh em hãy vui mừng luôn trong Chúa" (Pl.3,1).
Trong đêm thứ
Bảy Tuần Thánh vừa qua, chúng ta đã thấy rất
đông người lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức. Trong số những người
đó, có nhiều người hồi trước hầu
như bỏ đạo ; vì nghèo quá,
khổ quá, gặp thử thách nặng quá nên họ đã
chán nản. Nhưng vì trong lòng họ còn một chút ánh sáng
đức tin, họ đã không buông trôi. Thế rồi dần
dần những khó khăn của họ được
tháo gỡ, họ đã quay trở lại với Chúa, và
trong đêm đó họ đã vui mừng đứng trong
vùng ánh sáng chan hòa của Chúa. Bóng tối không thể nào thắng
được ánh sáng.
Trong cuộc
đời của chúng ta, có nhiều lúc chúng ta thấy mình
quá yếu đuối tội lỗi nên chúng ta ngã lòng muốn
buông trôi luôn, có nhiều lúc chúng ta thấy mình bị ác tâm và
tội lỗi của kẻ xấu tấn công mạnh quá
nên bị nhận chìm trong tăm tối mênh mông… những
lúc đó chúng ta chán nản vô cùng. Nhưng mầu nhiệm Chúa
Giêsu phục sinh dạy cho chúng ta rằng đừng nên ngã
lòng bởi vì cuối cùng thì ánh sáng sẽ luôn chiến thắng,
sự thiện sẽ luôn chiến thắng sự ác.
Bởi
đó từ đêm lễ phục sinh, Giáo hội hân hoan cất
tiếng hát Alleluia, hãy tạ ơn Thiên Chúa. Tiếng hát Alleluia ấy vẫn tiếp
tục cất lên trong suốt năm Phụng vụ để
nhắc mọi người tín hữu hãy luôn sống lạc
quan.
Xin
cho chúng ta đừng bao giờ ngã lòng thất vọng.
Xin cho chúng ta luôn
luôn tin tưởng vào mầu nhiệm phục sinh.
Xin
cho cuộc đời chúng ta lúc nào cũng đầy tràn tiếng
hát Alleluia.
5. Lăn tảng
đá ra khỏi mộ
Khi các phụ nữ
đang trên đường đến mộ Chúa Giêsu, họ
băn khoăn tự hỏi "Ai sẽ lăn tảng
đá ra khỏi mộ Chúa đây ?"
Sau một trận
cãi vả với cha mình, một người kia
không thèm nói chuyện với cha nữa. Nhà của hai cha con
chỉ cách nhau một quãng ngắn ngủi, nhưng họ
không đến thăm nhau và chẳng hề nói với nhau
tiếng nào trong nhiều năm dài. Người
mẹ thì đã bỏ nhà ra đi từ lâu. Do đó
người cha phải sống một mình trong cô độc
lẻ loi. Thế giới của ông ngày càng thu
hẹp lại, bầu trời của ông ngày càng u ám
hơn. Tuy ông chưa chết, nhưng có thể
nói ông đang bị chôn trong mồ rồi.
Chúng
ta ngạc nhiên vì quyền phép Chúa Giêsu đã làm cho kẻ chết
sống lại. Nhưng chúng ta
có biết rằng chính chúng ta cũng có thể làm được
như thế không ? Có
thể lắm chứ. Như người con trong câu
chuyện trên. Anh có thể lăn tảng
đá ra khỏi nấm mộ của cha anh bằng cách
đến thăm ông, nói chuyện với ông. Làm như thế
tức là lại mở rộng thế giới của ông
và lại làm cho bầu trời cuộc sống của ông
trở nên tươi sáng. (FM)
6. Lễ Phục
sinh và vấn đề đau khổ
Mừng
lễ Phục sinh nhưng chúng ta vẫn còn cảm nhận
những đau khổ, đau khổ của bản thân và
đau khổ của tha nhân.
Tuy
nhiên một yếu tố mới đã phát sinh. Nó không làm đau khổ biến mất, nhưng mang lại
cho đau khổ một ý nghĩa và chiếu lên đau khổ
một ánh sáng hy vọng.
Mọi
sự đã đổi khác rồi, vì Chúa Giêsu vẫn còn sống
và nói cho chúng ta nghe những lời bình an.
Ngài đã bẻ
gảy quyền lực của sự chết và ban cho chúng
ta hy vọng sự sống muôn đời.
Bởi thế,
dù vẫn sống giữa những khổ đau, trong lòng
chúng ta đã có một niềm vui âm thầm và một cảm
giác bình an sâu lắng.
Lạy Chúa, xin ân
sủng Chúa bảo vệ niềm hy vọng này, và làm cho niềm
hy vọng ấy được thực hiện trọn vẹn
trong Nước Chúa trên trời.
7. Bài giảng
của Thánh Gioan Kim Khẩu (+ 407)
Tôi sẽ giải
thích cho các bạn thế nào về những sự kín nhiệm ? Tôi sẽ công bố thế nào
về điều vượt quá mọi ngôn ngữ và mọi
trí hiểu ? Tôi phải làm thế nào
cho các bạn biết về mầu nhiệm Chúa sống lại ? Thập giá của
Ngài là một mầu nhiệm, và việc Ngài chết 3 ngày
cùng với những điều xảy đến cho Ngài
đều là mầu nhiệm.
Thật vậy,
Ngài đã được sinh ra từ cung lòng vẹn sạch
của Đức Trinh Nữ như thế nào, thì Ngài cũng
được sống lại từ ngôi mồ đóng kín
như thể ấy. Con Một Thiên Chúa đã trở thành
con đầu lòng sinh bởi một người mẹ thế
nào, thì Chúa Giêsu phục sinh cũng trở thành kẻ sống
lại đầu tiên của loài người như thể
ấy. Hơn nữa, cũng như việc Ngài sinh ra không
làm mất đi sự đồng trinh của Đức Mẹ
thế nào, thì việc Ngài sống lại cũng chẳng
phá vỡ những dấu ấn của ngôi mồ thế ấy.
Tôi không biết dùng lời lẽ nào để
nói về sự sinh ra của Ngài, tôi cũng chẳng biết
nói sao về việc Ngài ra khỏi nấm mồ.
"Hãy đến xem
nơi Chúa đã nghỉ" (Mt
28,6), nghĩa là "Hãy đến xem
nơi soạn thảo sắc chỉ bảo đảm sự
sống lại của bạn. Đó là nơi
sự chết bị chôn. Đó là nơi
mà một thân xác, một hạt giống không được
gieo xuống bởi con người, đã trổ sinh nhiều
bông lúa bất tử.
"Hãy đi loan báo cho các anh em Ta là họ phải
đến Galilê và gặp Ta ở đấy" (Mt 28,10), nghĩa là "Hãy đi báo
cho các môn đệ của Ta về những điều các
người đã được chiêm ngưỡng".
Trên
đây là những lời Chúa phán với các phụ nữ. Và ngay bây giờ nữa, bên bờ giếng
rửa tội, Chúa vẫn hiện diện vô hình cạnh
các tín hữu. Ngài ôm ấp những
người mới được rửa tội như ôm
ấp những bạn hữu và anh em. Ngài
đổ đầy niềm vui và hoan lạc trong tâm hồn
họ. Ngài rửa sạch mọi vết nhơ của
họ trong dòng nước ân sủng. Ngài xức dầu Thánh Thần cho những người
được tái sinh. Chúa trở thành
lương thực và người nuôi dưỡng họ.
Ngài nói với mọi tín hữu rằng "Hãy ăn bánh bởi trời, hãy uống nước
chảy ra từ cạnh sườn của Ta. Các con
đang đói, hãy ăn no nê ; các con
đang khát, hãy uống thỏa lòng"
Ôi lạy Đức
Kitô, Thiên Chúa chúng con. Chỉ mình Ngài là Đức
Chúa duy nhất, đầy lòng nhân từ yêu thương con
người. Cùng với Chúa Cha hoàn toàn vẹn
sạch và Chúa Thánh Thần Đấng ban sự sống,
chúng con xin dâng lên vinh quang và quyền lực, bây giờ và
mãi mãi đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Thiên Chúa
Cha đã cho Đức Kitô Phục sinh để trở nên
nguồn sống mới và chính Người sẽ dùng quyền
năng của mình mà làm cho chúng ta sống lại trong ngày
sau hết. Vì thế, với tâm tình cảm tạ tri ân,
chúng ta cùng dâng lời cầu xin :
1. Khi sống lại
từ cõi chết / Chúa Giêsu đã báo Tin mừng cho mấy
phụ nữ và
các tông đồ / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi
thành phần Dân Chúa / trở nên những chứng nhân
trung thành của Đấng Phục sinh.
2. Khi sống lại
từ cõi chết / Chúa Giêsu đã chiến thắng tội
lỗi và tử thần / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho các tín hữu / biết cởi bỏ con người
cũ / và mặc lấy con người mới theo hình ảnh
Đức Kitô Phục sinh.
3. Khi sống lại
từ cõi chết / Chúa Giêsu đã hiện ra nhiều lần
với các tông đồ / và ban Thánh thần cho các
ngài / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa cũng ban
Thánh thần / để Người tái tạo chúng ta.
4. Khi sống lại
từ cõi chết / Chúa Giêsu đem đến cho những
ai tin Người bình an và vui mừng / Chúng ta hiệp lời
cầu xin cho mọi thành viên trong cộng đoàn giáo xứ
chúng ta / trở nên những sứ giả mang bình an /
và niềm vui đến cho hết thảy mọi người.
Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã chết đau thương và sống lại vinh
hiển để cứu chuộc chúng con. Xin cho chúng con biết
luôn cố gắng sống xứng đáng với tình
thương hải hà của Chúa là Đấng hằng sống
và hiển trị muôn đời.
- Trước
Kinh Lạy Cha : Chúa Thánh Thần là Đấng
cho chúng ta được tham dự vào sự sống và sự
sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Vậy chúng ta hãy kết
hợp với Chúa Thánh Thần mà dâng lên Chúa Cha những lời
cầu nguyện do chính Chúa Giêsu dạy.
- Sau Kinh Lạy
Cha :
"…. Xin đoái thương cho những ngày chúng con
đang sống được bình an, sự bình an mà Chúa
Giêsu phục sinh luôn chúc cho các môn đệ…"
Chúa
Giêsu đã sống lại.
Ngài đang hiện diện trong cuộc sống
chúng ta và trong thế giới. Chúng ta hãy làm chứng cho
Ngài, làm chứng về niềm vui và sự bình an của Ngài. Alleluia, alleluia.
Ghi nhận
về cách chọn các bài đọc
Mùa Phục sinh năm C
Các bài đọc từ Chúa Nhật II đến Chúa
Nhật VII Mùa Phục sinh năm C được chọn
đọc cách bán liên tục :
- Bài đọc I : luôn trích từ
sách Công vụ Tông đồ
- Bài đọc II : luôn trích từ
sách Khải huyền
- Bài Tin Mừng : luôn trích từ Tin Mừng Gioan
Do mỗi bài
đọc được trích một cách bán liên tục từ
một quyển sách, cho nên chúng ta không thể tìm ra
được chủ đề chung cho 3 bài đọc
được.
GÓP
NHẶT CÁT ĐÁ-
LỄ
PHỤC SINH NĂM C
Bài đọc:Cv:
Chủ đề:
Phục sinh là Tin Mừng loan báo cho chúng ta
biết Chúa Giêsu sẵn sàng làm phép lạ trong đời
sống chúng ta nếu chúng ta sẵn lòng với Ngài.
Ernest
Gordon có viết một quyển sách tựa đề Through
the Valley of the Kwai (ngang qua
thung lũng sông Kwai) trong đó ông trích dẫn một
mẩu chuyện có thật xảy ra tại một
trại tù binh Nhật Bổn dọc bờ sông Kwai trong
thế chiến thứ hai. Nhiều người trong chúng
ta đã nghe nói về trại này trong cuốn phim Bridge
Over the River Kwai (chiếc cầu trên sông Kwai). Nơi
đây 12 ngàn tù
binh đã bị chết vì bệnh tật và vì bị
đối xử tàn tệ trong khi họ phải xây
dựng một tuyến đường xe lửa. Đám
đàn ông bị cưỡng bức lao
động dưới cơn nóng đôi khi lên tới 120
độ fahrenheit (tức 49độC) Đầu
trần, chân đất, họ vác từng thúng đá trên vai
để xây cho xong toàn bộ tuyến đường. Họ chỉ mặc mỗi manh áo rách và nằm
ngủ trên mặt đất không chăn chiếu.
Thế nhưng kẻ thù khủng khiếp nhất
đối với họ không phải là đám lính Nhật
hay cuộc sống gian khổ mà lại là chính bản thân
họ. Theo lời kể của Gordon, vì quá
sợ tụi lính Nhật, nên đám tù binh đã bị
mắc chứng hoang tưởng. Họ
lấy luật rừng cư xử với nhau. Họ trộm cắp của nhau, ngờ vực
nhau và chỉ điểm lẫn nhau. Đám
lính gác cười nhạo khi thấy những người
lính từng kiêu hãnh biết bao giờ đây đang phá
hoại lẫn nhau.
Thế rồi một điều khó tin
đã xảy ra.
Hai tù nhân nọ tổ chức cho những tù nhân còn lại
thành những nhóm học hỏi Kinh Thánh và qua việc
học hỏi Kinh Thánh dần dà đám tù nhân khám phá ra Chúa
Giêsu là một người đang sống động
giữa họ. Hơn nữa, họ còn khám phá
được rằng Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh
của họ, vì Ngài đã từng không có chỗ gác
đầu vào ban đêm, Ngài đã từng chịu đói
khát, chịu da bọc xương, Ngài từng bị
phản bội, từng nếm roi vọt trên lưng
như họ. Thế là tất cả những gì liên quan
đến Chúa Giêsu, về con người của Ngài,
về những gì Ngài nói, những gì Ngài làm bắt đầu mang
đầy ỹ nghĩa và trở nên sống động
đối với họ. Đám tù không còn cho
rằng họ là những nạn nhân của một tấn
bi kịch độc ác nào đó; họ không còn chỉ điểm,
không còn phá hoại lẫn nhau nữa. Họ
biểu lộ sự hoán cải rõ rệt nhất trong
những lời cầu nguyện. Họ
bắt đầu cầu nguyện cho nhau nhiều hơn
cho chính mình. Nếu có xin gì cho riêng mình thì họ
chỉ xin được nới lỏng tự do
để đến bên nhau. Dần dà, cả
trại đã được biến đổi,
đến nỗi không phải chỉ đám lính Nhật mà
cả các tù binh cũng phải ngạc nhiên. Một đêm nọ, sau khi hội thảo với
nhóm học hỏi Thánh Kinh xong, Gordon khập khễnh
bước về trại của mình. Đang
lúc lần mò trong bóng đêm, ông bỗng nghe có tiếng nhiều
người ca hát, có người dùng một mảnh gỗ
gõ vào một chiếc lon thiếc để giữ
nhịp. Tiếng mảnh gỗ vào một chiếc lon thiếc và
tiếng ca hát làm cho bóng đêm trở nên sống
động. Sự khác biệt giữa
tiếng hát vui tươi lúc đó và cái yên lặng chết
chóc của những tháng qua giống hệt sự khác nhau
giữa cái sống và cái chết, giữa cái chết và
sự Phục sinh.
Câu chuyện về sự biến
đổi xảy ra trong trại tù binh Nhật Bản là
một minh họa tuyệt vời cho Lễ Phục sinh hôm
nay.
Lễ Phục sinh chính là phép lạ làm cho các tù nhân tin
tưởng lẫn nhau sau khi đã ngờ vực nhau, làm
cho họ biết chia xẻ với nhau thay vì trước
đó chỉ biết cướp bóc của nhau, làm cho
họ biết giúp đỡ nhau thay vì trước đó
chỉ lo tìm cách chỉ điểm nhau.
Và
lễ Phục sinh đã qui tụ chúng ta lại nơi giáo
đường này, trong buổi sáng Phục sinh đẹp
trời hôm nay. Vậy Lễ phục sinh
đem lại điều gì cho chúng ta? lễ
ấy cho ta biết rằng sự biến đổi
nơi cuộc sống các tù nhân nọ cũng có thể
xảy ra trong chính cuộc sống chúng ta, sự thay
đổi nơi trại tù binh nọ cũng có thể
xảy ra trong thế giới chúng ta. Chúng ta chỉ cần
bắt chước các tù binh ấy mở rộng tâm
hồn ra đón nhận ân sủng Chúa
Giêsu đã gặt hái được cho chúng ta vào dịp
lễ phục sinh cách đây 2000 năm.
Kính thưa các anh chị em của tôi trong
Chúa Kitô, Tin Mừng Phục sinh cho ta biết rằng không gì
có thể chế ngự chúng ta được nữa, dù là
sự ngã lòng, sự bất hạnh, sự ruồng
bỏ, sự đớn đau và kể cả sự
chết.
Tin Mừng
Phục sinh còn cho ta hay rằng ta chẳng
cần phải đợi đến lúc chết mới
tham dự quyền năng Phục sinh, chúng ta có thể tham
dự quyền năng ấy ngay từ bây giờ.
Như
thế Lễ Phục sinh mời gọi mọi
người đang hiện diện trong giáo đường
sáng nay đây mở rộng tâm hồn cho Chúa Giêsu Phục
sinh để Ngài làm cho chúng ta điều Ngài đã làm cho
các tù binh trong trại nọ, hãy để Chúa giúp chúng ta biết
tin tưởng lẫn nhau như xưa chứ đừng
phản bội nhau, hãy để Chúa giúp chúng ta yêu
thương nhau như xưa chứ đừng
khước từ nhau, hãy để Chúa giúp ta biết
tiếp tục hy vọng khi mà niềm hy vọng đã
vỡ tan thành từng mảnh, hãy để Ngài giúp chúng ta
nhặt lên những mảnh vỡ và khởi sự lại
từ đầu khi mà chúng ta hầu như sẵn sàng
muốn phể bỏ chúng đi.
Và đây là tất cả những gì lễ
phục sinh mang lại cho chúng ta.
Trước hết, phục sinh là tin vui cho biết Chúa
Giêsu Phục sinh hiện đang ở giữa chúng ta. Ngay
trong giáo đường này, vào buổi sáng phục sinh này. Phục sinh cũng là tin vui cho biết Chúa Giêsu
đã chiến thắng sự dữ, sự chết và chúng
ta cũng làm được điều ấy, chỉ
cần chúng ta biết mở rộng tâm hồn ra với
Ngài. Ngoài ra phục sinh còn là tin vui cho biết Chúa Giêsu
sẵn sàng làm phép lạ cho chúng ta chỉ cần chúng ta
để cho Ngài làm. Sau cùng phục sinh thực sự là tin
vui cho biết không có gì có thể tiêu diệt chúng ta
được – dù là đớn đau, phiền não,
chối từ, tội lỗi và ngay cả chính cái chết.
Tóm
lại, đó chính là tất cả những gì Lễ
phục sinh mang laị cho chúng ta.
Và đó chính là điều chúng ta hân hoan chúc mừng khi chúng
ta chuẩn bị cùng nhau bẻ bánh nhân ngày khai sinh trọng
thể đức tin Kitô giáo của chúng ta hôm nay.
HÃY VUI LÊN
GM.
ARTHUR TONNE
Khoảng
tháng 3 tháng 4 năm 1973, tại Hoa Kỳ, nhiều
người cảm động khi nhìn trên màn ảnh tivi
thấy hàng trăm tù nhân chiến tranh Hoa Kỳ trở
về quê nhà. Trong đám tù binh có một
người họ không hy vọng trở về.
Đó là Trung sỹ hải quân Ridgeway, cha mẹ của anh ở
Bất ngờ, tên Ridgeway
xuất hiện trên bảy danh sách tù nhân. Ridgeway còn
sống, cha mẹ và họ hàng vui mừng.
Hôm
nay chúng ta tôn vinh một vị anh hùng, Người thật
sự đã chết trên thập giá. Thi hài
của Người đã thật sự được mai
táng trong mồ và một tảng đá lấp cửa
mồ lại, Người thật sự sống lại
và ra khỏi mồ.
Có sự lầm lẫn
về cái chết và an táng của Ridgeway.
Nhưng không lầm lẫn về cái chết Chúa Kitô không có
sự kiện lịch sử nào rõ ràng và chắc chắn
như sự chết và sự an táng và
sống lại của Chúa Giêsu Kitô, vì không có sự kiện
nào được tra cứu phê bình và tìm hiểu bằng.
Gia
đình, bạn bè của trung sỹ Ridgeway đã tổ
chức đón ngày trở về, sự sống lại
của anh. Họ trang hoàng nhà cửa, giăng
cờ, tổ chức tiệc mừng, hát và đọc
diễn văn ca tụng anh. Những ngừơi theo Chúa Kitô đã cử hành lễ
Người sống lại hơn 1.900 năm rồi. Chúng ta vẽ quả trứng Phục sinh.
Chúa Kitô ra khỏi mồ như con gà ra khỏi vỏ
trứng. Chúng ta mặc áo mới, đeo
dấu hiệu Phục sinh, trang hoàng hoa nến. Chúng ta chúc nhau mùa Phục sinh hạnh phúc sự vui
mừng thật của Chúa Kitô đem lại cho mọi
người sức sống.
Việc cử
hành Chúa sống lại được thực hịên trên
bàn thờ này. Trong Thánh lễ, Người không chỉ tái
diễn sự chết, nhưng còn tái diễn sự
sống lại cho chúng ta nữa. Chúng ta ca hát tán
tụng người bằng những bài Thánh ca và lời
nguyện trong Thánh lễ, chúng ta lặp lại lời chúc
của Thiên Chúa làm người đã Phục sinh: Bình an.
Chúng ta tiếp
nhận Chúa Phục sinh khi rước lễ, Người
là bảo đảm sự sống lại của thân xác
chúng ta trong ngày tận thế.
Khi
gia đình và bạn bè tổ chức mừng Trung sỹ
Ridgeway, họ biết điều họ đang làm. Hơn
thế nữa, chúng ta phải ý thức điều chúng ta
cử hành: sự sống lại của Đấng
cứu chuộc chúng ta. Trong sự chiến thắng
của người trên sự chết, trong niềm vui
mừng và bình an của Người,
chúng ta có thể chúc cho nhau điều tôi chúc cho mỗi
người trong các bạn.
“Phục
sinh chiến thắng,
hạnh phúc”
Xin Chúa chúc lành Bạn. Amen.
MỖI TUẦN MƯỜI THANG THUỐC BỔ
I.Tia
sáng:
v KHÔNG THỂ BỀN
CHÍ
v NGƯỜI NGHÈO - NGƯỜI GIÀU
II.Thư
giãn:
1.
CẢ
ÐỜI NGƯỜI
2.
MƯỢN
TRÂU
3.
TRỐN
NỢ
4.
DANH
THỦ CỜ TƯỚNG
5.
NHẪN
CƯỚI
6.
GIỜ
LÀM TÍNH
7.
TUYỂN
THÊM NHÂN VIÊN
III.Nhật
ký truyền giáo của Lm.Piô Ngô Phúc Hậu:
v LÒNG KHIÊM TỐN LÀ
CHỨNG TÁ TIN MỪNG
IV.Chuyện ngụ ngôn:
v NGỰA VÀ TRÂU
V.Hẹn bạn trên đỉnh thành
công:
v MỤC TIÊU
QUAN TRỌNG NHẤT
VI.Tình
yêu – Hôn nhân – Gia đình:
v TÌNH YÊU MỘT MÓN QUÀ NHƯNG NGUY
HIỂM
VII.Chuyện phiếm :
v MÓN
LỘC BẤT NGỜ
GIÁ TRỊ CỦA CHIA SẺ
Hãy chia sẻ
kiến thức của bạn. Đó là cách
để bạn sống mãi trong lòng người khác.
DANH NGÔN TÂY TẠNG
GIÁ TRỊ NỤ
CƯỜI J
Một
nụ cười không làm mất mát gì cả, nhưng
lại ban tặng rất nhiều… nó làm giàu có những ai
đón nhận mà không làm nghèo đi người sinh ra nó. Nụ cười chỉ nở trên môi trong
khoảnh khắc phù du, nhưng ký ức về nó đôi khi
tồn tại cả một đời. Người
dù giàu sang đến đâu đi nữa cũng cần
đến nụ cười, và người nghèo hèn cùng
tột cũng sẽ được nụ cười làm
cho trở nên giàu có.
Nụ
cười nuôi dưỡng hạnh phúc trong gia đình,
gầy dựng thiện ý trong làm ăn
và làm lớn mạnh mối tương giao trong tình
bạn, mang đến thư giãn mỗi khi ta mệt
mỏi, niềm hy vọng mỗi khi tuyệt vọng và là
ánh sáng mỗi khi ta tăm tối trong phiền muộn.
Nụ
cười, cũng như tình yêu, là cái không thể mua bán
vay mượn, hay thậm chí đánh cắp từ
người khác. Bởi vì, khi đó: nó chỉ là cái khiên
cưỡng và vô nghĩa.
Có
những người không bao giờ nở một nụ
cười với bạn. Họ là những
người không còn nụ cười để cho, vì
lẽ đó họ chính là những người cần
nụ cười của bạn hơn ai hết. Hãy
tươi cười với mọi người! Chúng ta chẳng những không mất gì cả, mà
trái lại sẽ nhận được rất nhiều.
sưu tầm
I.
TIA SÁNG :
*Không có đức trinh
khiết, ta không thể bền chí trong việc tông
đồ
*NGƯỜI NGHÈO SINH RA, LÀM VIỆC RỒI
CHẾT.
NGƯỜI GIÀU SINH RA, ƯU TƯ RỒI QUA
ÐỜI.
Châm ngôn.
Phúc cho những người
nghèo, vì họ đâu có phải lo lắng: Họ chỉ
ước ao làm việc để phát triển chút ít tài
năng đã nhận được. Bác ái
trước tiên là cho làm việc, và đối với các
bệnh nhân, những người tàn tật, là cần tái
thiết lại những cơ sở giúp họ hoạt
động, sống hữu ích và hiệp nhất với
nhau. Dù nguồn thu nhập của
tôi thế nào đi nữa, thì những ngày hè của tôi
sẽ là những ngày ưu tư hoặc sẽ vui
sướng như người nghèo chỉ biết cho
những gì mình có, điều đó tùy thuộc vào tôi.
II.
THƯ GIÃN:
1. CẢ ÐỜI NGƯỜI
Một ông
đi du học ngoại quốc, trở về với
một ôm văn bằng tiến sĩ, nào văn
chương, nào sử ký, nào pháp luật, nào kinh tế
học, nào xã hội học, nào triết học, ngoài ra có
cả bằng y khoa bác sĩ và bằng kỹ sư cầu
cống nữa. Bởi thế, thiên hạ
gọi ông ta là "bác học". Nhưng
người đời trọng ông bao nhiêu thì ông lên mặt
bấy nhiêu. Thậm chí với ai ông
cũng chê là dốt, và ngồi với ai, dù người
ấy là người cùng nước ông cũng thao thao
xổ ra những tiếng ngoại quốc.
Bữa
nọ, nhà bác học "đáng kính" phải qua một
con sông rộng bằng chiếc thuyền tam bản.
Thấy anh lái đò vừa chèo vừa nghêu ngao hát, ông nhổ
nước miếng xuống sông đánh phì rồi hỏi :
- Anh cũng
biết văn nghệ nữa à ?
Anh lái đò
lễ phép :
- Thưa ông,
tôi chỉ có biết chèo đò, chớ đâu có biết
văn nghệ là cái gì ?
Nhà bác học nói :
- Văn
nghệ mà anh không biết thì anh chết nửa đời
người rồi. À mà anh có biết tiếng Anh hay
tiếng Pháp gì không, và chính trị nữa ?
- Dạ không
biết.
- Thế thì
anh chết nửa đời người nữa rồi.
- Vậy anh có
biết sử ký, pháp luật, kinh tế và khoa học gì không ?
- Dạ
thưa ông, tôi đã nói là tôi dân ngu khu
đen, chỉ biết chèo đò kiếm ăn, chớ không
biết gì cả.
- Không biết
thật sao? Trời ơi! Như thế thì anh lại
chết nửa đời người nữa rồi!
Nói
đến đây ông định thuyết thêm, nhưng
trời bỗng thình lình nổi gió, nước sông cuộn
sóng lên ầm ầm, mà thuyền mới lênh đênh ra
giữa. Anh lái đò sợ một mình chèo không
kịp vào bến, muốn nhờ nhà bác học giúp
đỡ một tay cho mau chóng thoát hiểm, nên hỏi :
- Dạ
thưa, ông biết chèo không ạ ?
Nhà bác học la :
- Hừ ! Cái anh này, chèo, tôi đâu
có biết.
Anh lái đò
vừa ráng sức chống chọi với phong ba, vừa
cười bảo :
- Dạ
thế thì hôm nay ông chết nửa đời người
rồi đấy.
Nhà bác học
ta lúc đó mới cảm thấy nóng mặt nóng tay,
nhưng rồi sóng càng to, thuyền càng bị đánh,
bị nước ào ạt vào, biết không thể nào tránh
khỏi bị đắm giữa sông sâu, sóng cả, anh lái
đò hốt hoảng hỏi :
- Chết,
chết, thưa ông, ông biết bơi không ạ
?
Nhà bác học
tái xanh mặt mày lại :
- Dạ
thưa anh, tôi không biết lội. Lạy anh,
anh cứu tôi, không thì tôi nguy mất.
Anh lái đò
nhướng mắt nhìn nhà bác học đáp :
- Không biết
lội nữa à ? Chèng đét ơi ! Thế thì hôm nay ông chết cả
đời người rồi còn gì ?
2. MƯỢN TRÂU
Có một anh
nhà giàu, trình độ văn hóa "Ðại học chữ
to" nhưng lại thích ra vẻ ta đây lắm văn
hay chữ.
Một hôm anh
nhà giàu đang tiếp khách thì người nhà đưa cho
anh ta một phong thư của
người hàng xóm gửi. Bức thư
ghi rõ: “Tôi muốn mượn anh
con trâu đi cày một buổi”. Anh nhà giàu sợ khách
biết mình đọc chưa thông viết chưa thạo,
bèn làm ra dáng ta đây trí thức rồi bóc thư
ra xem. Xoay ngang xoay dọc một lát, anh nhà giàu bèn nói với
người đưa thư.
- Được
rồi, nói với chủ anh rằng: lát nữa ta sang.
3. TRỐN NỢ
Có
một người vay nợ, nhiều lần chủ
nợ đến đòi nhưng anh đều trốn,
dặn người nhà nói rằng, anh ta không có nhà. Chủ nợ nổi cáu, cho người nhà rình
ngoài nhà anh ta. Anh ta vừa bước
chân ra khỏi cổng liền bị người nhà
chủ nợ ôm chầm lấy khiêng về nhà chủ
nợ. Ðến nửa đường người nhà
chủ nợ mệt quá, đặt con nợ xuống
nghĩ giải lao. Con nợ nói :
- Ði nhanh lên,
nghỉ ở đây thì sẽ bị chủ nợ khác
khiêng mất tôi đi đấy.
4. DANH THỦ CỜ TƯỚNG
Có một
người rất ham chơi cờ tướng và
thường khoe khoang là cao tay, sắc
nước ít ai bì được. Một
lần, anh ta đánh cờ với một người khác,
anh ta bị thua ba ván liền. Hôm sau, có người
vờ không biết hỏi:
-Tối qua
chơi mấy ván?
Anh ta trả
lời:
-Ba ván!
-Thắng thua
thế nào?
Anh ta nói dõng dạc :
-Nước
cờ tối qua à, ván thứ nhất tôi không thắng anh
ta. Ván thứ hai, anh ta không thua tôi. Ván
thứ ba tôi bảo thủ hòa, anh ta dứt khoát không nghe!
5. NHẪN CƯỚI
- Anh yêu, em
gửi lại anh chiếc nhẫn. Em không
thể lấy anh được. Em
đã lỡ yêu một người khác rồi.
- Nó là ai?- Người chồng sắp cưới
liền hỏi.
Cô gái ngạc
nhiên hỏi:
- Nhưng anh
biết để làm gì?
- Tôi cần
phải biết nó là ai để bán lại chiếc
nhẫn này cho được giá!
6. GIỜ LÀM TÍNH
Thầy: Tèo,
nếu thầy lấy toàn bộ bốn lần một
phần tư thì còn mấy?
Tèo
im lặng.
Thầy:
Thầy giúp em nhé. Thầy cắt quả soài
làm bốn phần, thầy lấy cả bốn phần
đi thì còn mấy?
Tèo vui vẻ:
- Dạ! Còn
cái hột ạ!
7. TUYỂN THÊM NHÂN VIÊN
Tại
một cơ quan hành chính, Giám đốc gọi
trưởng phòng lên bảo:
- Các quyết
định đã chính thức rồi. Bộ ra thông báo vì lý
do kinh tế phòng anh phải thải hồi ít nhất là
mười người.
- Nhưng tôi
chỉ có sáu nhân viên dưới quyền mình.
- Trong
trường hợp đó, anh phải đi tuyển
gấp thêm bốn nhân viên nữa.
III.
NHẬT KÝ TRUYỀN
GIÁO :
Trích trong “Nhật ký
truyền giáo”
Biên soạn
: Lm. PIÔ NGÔ PHÚC HẬU
LÒNG KHIÊM TỐN LÀ CHỨNG TÁ TIN MỪNG
Sài Gòn, 1.4 ...
Mình
được mời về Sài Gòn giảng mùa chay. Đề tài tự do. Mình chọn đề tài truyền giáo. Nhà thờ đông nghẹt giới trẻ.
Mặt mũi sáng sủa. Áo quần model.
Mùi nuớc hoa phảng phất.
Đề tài hôm nay:
Truyền giáo là bản chất của Giáo hội. Mình duyệt lại lịch sử Giáo hội và
nghiệm ra rằng từ thế kỷ VIII đến
thế kỷ XVI Giáo hội gần như không còn
đến với lương dân nữa. Âu châu đã
được nghe Tin Mừng. Phía Bắc chỉ còn
hải cẩu và băng tuyết. Phía Tây và
Đại Tây Dương, lúc ấy ngành hàng hải chưa
vượt qua được. Phía
Đông và phía
- Chính trong thời
này nhiệm thể Chúa Kitô bị chia thành bốn khúc: Công
giáo, Chính thống, Tin lành và Anh giáo.
- Ngoài ra cơ
cấu lãnh đạo còn bị chính trị và các gia đình
thế lực chen vào làm mất phẩm
chất. Sự hư hỏng không phải
chỉ có ở cấp dưới mà có ngay ở cấp cao
nhất.
- Lòng đạo
đức của giáo dân sút kém. Người
ta sống trong thời Tân Ước mà như trong thời
Cựu Ước. Thiên Chúa đáng sợ hơn đáng yêu.
Dòng chiêm niệm cũng sa sút. Dòng kín trở thành dòng hở. Mẹ
Têrêxa Avila phải đứng ra cải tổ hơn 40 dòng
kín. Mẹ phải đương
đầu với bao lực lượng chống
đối, thậm chí có lần bị giáo dân bao vây,
chụp mũ lạc giáo, và đòi lôi cổ đưa lên
giàn hoả thiêu.
- Toà án
tôn giáo đưa lên giàn hoả thiêu những người
lạc giáo. Một việc làm không phù hợp với Phúc Âm
và ngày nay bị coi là vi phạm nhân
quyền.
- Gần hai thế
kỷ tuốt gươm chống người Hồi giáo
(1096- 1270). Điều này không phù hợp
với giáo huấn của Chúa khi Ngài dạy Phêrô "Hãy
xỏ gươm vào bao". Ngoài
sai lầm trên, cuộc chiến tranh này còn gặp thất
bại về nhiều mặt khác. Bảy
cuộc chiến thì thập tự quân chỉ thẳng hai
và thua năm. Thập tự quân cũng
biết cướp bóc và hãm hiếp. Các
vua Anh - Pháp - Đức tham chiến thì giành ảnh
hưởng với nhau, khoèo giò nhau. Hơn 30.000
thiếu niên vì cuồng tín đã đòi vượt địa Trung Hải qua
Đất Thánh để đánh quân Hồi nhưng không
một em nào trở về.
Cuối
cùng là hậu quả hận thù giữa Công giáo và Hồi
giáo kéo dài cho đến nay, khiến chưa có
được một cuộc đối thoại tốt
đẹp nào giữa hai tôn giáo này.
Sau bài giảng
của mình, một thính giả đụng đầu
với cha sở ngay tại cửa nhà thờ, ông tỏ
vẻ bất bình và than rằng: "Giảng
như thế là thất bại, người giáo dân chưa
trưởng thành đủ để nghe những sự
thật ấy". Mình giơ tay
đầu hàng và thưa với Chúa rằng: "Lạy chúa tại sao giáo dân
vẫn chưa trưởng thành? Tại sao
giáo dân vẫn còn chưa hiểu mình yếu đuối
để thấy sức mạnh của Chúa? Có cần phải đặt lại nền giáo
dục cho giáo dân không? Giáo dục bưng bít có phải
là giáo dục lành mạnh không?".
Saì Gòn, 2.4 ...
Sáng nay
ông Chủ tịch Hội đồng Giáo xứ đến
gặp mình. Ông
kể rằng :
- 4 giờ sáng con
đã thức dậy để chuẩn bị đi
kiếm người giúp tuần phòng. Bà xã con nằm trong
mùng hỏi vọng ra :
- Anh đi đâu mà
sớm thế ?
- Anh đi "lo
việc cho cha ta".
- Anh không nghe bài
giảng hôm qua sao? Đức Giáo Hoàng còn
chả ra gì, huống hồ là các cha của anh.
Mình
hiểu rằng có một luồng gió mạnh đang
thổi khắp họ đạo. Có những
niềm tin đang rụng lá.
Cha
sở không phát biểu gì.
Mình ái ngại nhìn ông. Sự
im lặng của ông giống như mảnh đất
hoang có gài mìn. Bất giác mình phải lên tiếng:
- Anh có ý kiến gì
về bài giảng của mình sáng hôm qua không?
- Có thắc mắc
mới có vấn đề. Gây
được thắc mắc là bắt đầu thành
công rồi. Cậu cứ tiếp
tục giảng đi.
Mình nghĩ bụng:
Ông cha sở này khôn quá, ông không hề đá động
đến nội dung của bài giảng. Ông vẫn
đứng bên ngoài và đứng quan sát cả cha giảng
phòng lẫn giáo dân của ông. Ông nói mà như
vẫn im lặng. Mảnh đất
hoang vẫn bị nghi ngờ có gài mìn.
Bài giảng
chiều nay: Giáo dân truyền giáo thế nào trong 20 thế
kỷ qua. Mình đúc kết lịch sử truyền giáo
của giáo dân như sau :
-
Thời Công vụ Tông đồ là thời vàng son của
giáo dân. Mỗi
người đều rao giảng: Philip, Xtêphanô, vợ
chồng Prixkilla, Apollô. Tại Antiôkia, giáo dân là những
người đầu tiên có sáng kiến loan báo Tin Mừng
cho lương dân. Khi đã thành công, các Tông đồ ở
Giêrusalem mới phái Barnaba tới để quan sát. Trong thơ Rôma, thánh Phaolô nhắc đến tên
một lô giáo dân, trong đó có hàng chục người
phụ nữ. Những người này đã
đồng lao cộng tác với ngài trong sứ vụ loan
báo Tin Mừng (Rm 16,1-15).
- Sang thời Giáo
phụ thì địa vị giáo dân tụt xuống và
bị định nghĩa: "Giáo dân là những
đứa con nít cần phải canh chừng".
- Sang Trung Cổ giáo
dân chỉ còn là một giai cấp tùng phục.
- Phải chờ
tới Đức Piô XI, người giáo dân mới bắt
đầu tìm lại được địa vị và
công tác của mình. Nhưng với câu định nghĩa
sau đây của Đức Piô XI, người giáo dân
mới chỉ được vực từ thế nằm
sang thế ngồi: "Công
giáo tiến hành là việc giáo dân tham dự vào việc tông
đồ của hàng Giáo phẩm dưới quyền lãnh
đạo của hàng Giáo phẩm".
- Phải chờ
đến Vatican II người giáo dân mới thực
sự đứng dậy và đi hàng đầu trong công
tác loan báo Tin Mừng.
Sau bài giảng,
một ông bạn sồn sồn đến tâm sự rằng :
- Vatican II đề
cao giáo dân. Ban đầu con tưởng rằng vì thiếu
linh mục và tu sĩ, nên Giáo Hội mới mị giáo dân
như thế. Bây gìơ thì con hiểu rằng Giáo hội
đã chân thành xác nhận địa vị của giáo dân
trong công tác truyền giáo, đó là ơn soi của Thánh
Thần.
Sài Gòn, 3.4 ...
Chiều nay mình
kết thúc tuần phòng bằng đề tài: "Thánh Thần trong công tác loan báo Tin
Mừng". Trước khi vào đề, mình gởi tới
thính giả một lời tâm sự:
"Tôi
rất buồn vì bài giảng đầu tiên của tôi làm
một số người trong anh chị em bất bình,
một số khác bị lung lay về đức tin. Tôi xin lỗi,
nhưng tôi không rút lời. Sự thật thì anh
chị em đã nghe biết nhiều chuyện còn
động trời hơn:
+ Thứ nhất: Đức
Giáo Hoàng Phêrô đã run sợ trước một đứa
con gái gác cổng mà đã chối Chúa một lần. Rồi sau đó Ngài còn chối Chúa thêm hai lần
nữa.
+ Thứ hai: Có
một vị Giám mục hay ăn
cắp tiền của tập thể, rồi cuối cùng
đã thắt cổ tự tử. Đó là
Đức Cha Giuđa Ixcariốt mà anh chị em vẫn quen
miệng gọi là thằng Giuđa.
Những
chuyện tiêu cực như thế không nên làm ta nản lòng. Tốt hơn
chúng ta hãy từ đó khám phá ra sức mạnh của Thánh
Thần trong Giáo hội".
Có nhiều cái
đầu gật gù tỏ vẻ đồng ý. Nhiều bà
nhiều chị mỉm cười đắc ý. Mình an tâm và trình bày về sức mạnh của
Thánh Thần trong công tác loan báo Tin Mừng.
Quả thật
đến bây giờ ngồi viết lại những
điều này mình mới hiểu lời Đức Gioan
Phaolô II trong Thông điệp Sứ vụ Đấng
Cứu Độ. Bên cạnh chứng tá bác ái Kitô giáo, Ngài
còn nói đến một chứng tá mới đó là khiêm
tốn nhìn nhận sự hèn yếu của mình trong
phạm vi cá nhân cũng như tập thể.
Bây
giờ mình hiểu thấm thía điều đó. Có lẽ trong
cuộc đời rao giảng của Thánh Phêrô, không có
lời nào có sức thuyết phục cho bằng lời
kể về những lần ngài chối Chúa. Có
lẽ bài giảng làm nhói tim thính giả
của Thánh Phaolô chính là lời kể về những lúc
ngài bắt bớ tàn nhẫn các tín đồ của Chúa.
IV.
TRUYỆN NGỤ NGÔN:
NGỰA VÀ TRÂU
Ngựa và Trâu cùng ăn cỏ trên đồng. Ngựa nhìn Trâu
khinh bỉ nói:
- Tên thợ cày kia! Sao mi dám gậm cỏ
cạnh ta. Hãy tránh xa ta ra!
Trâu rất tức,
hỏi lại Ngựa:
- Mày là gì mà dám coi
thường ta thế?
Ngựa đáp:
- Thế mày không
thấy bộ yên cương đẹp trên lưng ta sao?
Con người dùng châu báu, vàng bạc để trang
điểm cho ta. Nhà vua cưỡi ta, xoa
bờm, vuốt ve và khen ngợi ta. Ta vừa có tài
chạy mau, vừa có ích cho người. Còn
mày là gì, ai thèm để ý tới?
Trâu đáp:
- Đúng! Nhưng dẫu sao tao vẫn có ích hơn mày.
Nếu không có tao cày ruộng, kéo nước từ
dưới giếng lên để uống và tưới
ruộng, không kéo xe chở thóc vào kinh đô, không kéo làm quay
bánh xe cối xay bột thì chẳng những riêng mày mà
cả đến Nhà vua cưỡi trên lưng mày cũng
nhăn răng ra mà chết đói. Tao đem
sức ra làm cho mọi người trên khắp thế gian
được no ấm.
Ngựa hí lên :
- Tên nói láo, ta đá
cho mi một đá lòi ruột ra bây giờ!
Trâu cũng không lép,
sỉ vả ngựa và nghêng cặp sừng sẳn sàng
đánh nhau. Vừa lúc Voi đi qua, nghe kể
đầu đuôi xong. Voi bảo :
- Hai tên mất trí kia! Cãi nhau chẳng tích sự
gì.
Chú Ngựa! Trâu không làm được việc của chú, còn
chú cũng không thể làm được việc của
Trâu. Chú hầu hạ con người, còn
Trâu thì làm lụng cho con người. Cả
hai chú đều có ích. Những lời
tự khen chỉ là rỗng tuếch.
Này! Người nào
việc nấy đi mà làm!
V.
HẸN BẠN TRÊN
ĐỈNH THÀNH CÔNG:
Theo bản tiếng
Anh: See you at the top của Zig Ziglar
Biên soạn: ÐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí
cha: VŨ SỬU - DƯƠNG ÐÌNH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN
VĂN DIỄM
MỤC TIÊU QUAN TRỌNG NHẤT
Bạn
hãy xem xét các mục tiêu về thể thao, tài chánh, tinh
thần, nghề nghiệp, gia đình và xã hội. Một số quy tắc sau sẽ giúp bạn
lượng định chính xác hơn các mục tiêu này.
Nên nhớ là về bản chất những
qui tắc này phải hoàn toàn phổ quát mới
được. Dĩ nhiên bạn phải thích ứng
chúng theo hoàn cảnh riêng của mình.
Bạn
nên viết ra những điều mình mong muốn và
nhắm tới. Có lẽ bạn sẽ bảo
ngay: "Viết ra những
điều tôi muốn ư? Phải ba ngày
mới hết". Cứ làm thử
xem, bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy thực sự
không cần lâu đến thế. Viết rõ ra và
sắp xếp thứ tự tuỳ theo
tầm quan trọng của chúng. Dĩ nhiên,
bạn đang thực hiện nhiều mục tiêu cùng
một lúc. Bạn vừa muốn
đoạt giải quán quân trong câu lạc bộ đánh
gôn, vừa muốn ghế chủ tịch công ty mãi
dịch, chủ tịch PTA, lại vừa muốn làm
xếp trong công đoàn của bạn. Vì
vậy, bạn sẽ phải quyết định xem
mục tiêu nào quan trọng nhất đối với mình,
vì mục tiêu nào cũng đòi hỏi thời gian và sự
thích hợp với công việc đang làm cả. Biết đâu, bạn lại chẳng phải
bằng lòng với điểm 8 thay vì chiếm giải quán
quân, là hội viên hoạt động thay vì là chủ
tịch thì sao. Nhưng dù ở mức
độ nào, bạn cũng phải sắp xếp hoàn
thành những mục tiêu đó.
VI.
TÌNH YÊU
– HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH:
(An Giang số
1361, ngày 6/9/1997, trang 6)
TÌNH YÊU MỘT MÓN QUÀ NHƯNG NGUY
HIỂM
"Tại sao ngay cả tình yêu nồng
cháy trước hôn nhân cũng không đảm bảo
được hài hoà trong gia đình, ngược lại
còn chứa mầm mống của sự đổ
vỡ".
Ngày nay, các bạn trẻ lấy nhau
chủ yếu vì tình yêu. Nhưng tại sao có nhiều người
mới hôm qua tưởng như không thể sống
thiếu nhau, hôm nay đã không thể chung
sống dù chỉ một ngày? Tại sao các
vụ ly dị ngày một nhiều? Nếu
có ai ly dị một người xấu thì hiểu
được. Nhưng tại sao,
nhiều cặp vợ chồng, cả hai người
đều tốt mà vẫn ly dị nhau?
Có ý kiến cho rằng gia đình đã
lỗi thời. Không phải như vậy.
Kiểu gia đình cũ, giống như một thùng gỗ
được gắn kín nhờ những chiếc đai
sắt ở bên ngoài, đã được hoàn toàn thay
thế bằng một kiểu gia đình mới, có bền
vững hay không hoàn toàn là nhờ nỗ lực của hai
vợ chồng.
Con
người ta rất khó từ bỏ các đặc
quyền cũ và cũng rất khó quen các trách nhiệm
mới. Ngược lại, ai cũng mau chóng
tiếp nhận những đặc quyền mới và quên
đi những trách nhiệm đã cũ. Ðàn ông thì sau
khi bị mất quyền lực về luật pháp và kinh
tế trong gia đình vẫn cố sức ra lệnh theo thói quen. Phụ nữ thì
ngược lại, sau khi được bình quyền
lại đã hiểu nghĩa từ "bình quyền"
quá rộng. Một số người vẫn giữ
thói quen áp chế, cứ muốn cải tạo
người kia trong khi đáng lẽ
phải chấp nhận và thích nghi. Trước kia chỉ đàn ông mới có thói ấy, nay
phụ nữ cũng thế. Ðó là lý do tại sao ngay cả
tình yêu nồng cháy trước hôn nhân cũng không
đảm bảo được sự hài hoà trong gia
đình, ngược lại còn chứa mầm mống
của sự đổ vỡ.
Tình
yêu là một món quà vô giá, nhưng cũng rất nguy
hiểm! Giống như một chiếc kính thần
kỳ, nó phóng to lên hàng trăm lần những nét tốt
của người yêu còn tất cả những nét
xấu, nó thu nhỏ lại cũng hàng
trăm lần. Hai người yêu nhau không thấy con người
thực của nhau, mà chỉ thấy hình ảnh lý
tưởng do trí tưởng tượng tạo nên.
Lấy nhau rồi họ mới thấy người kia không phải là lý tưởng, mà là một
con người sống, với những thói quen tính
nết, quan niệm cần phải lưu ý tới và
cần phải thích nghi. Quá trình thích nghi
lẫn nhau là một quá trình gian khổ kéo dài từ 5
đến 10 năm. Trong khi đó bản chất con
người thường nôn nóng: Người ta không
muốn chờ đợi, chỉ muốn có sẵn luôn
hạnh phúc. Họ chẳng thấy vui sướng và mùa
xuân vĩnh cửu đâu mà chỉ thấy tã lót, ít tiền,
tính nết thất thường hoặc các thói xấu
của người kia... Ngày nay, việc
xây dựng gia đình bắt đầu đặt ra
những đòi hỏi mới, nhưng các đôi vợ
chồng thường không biết khoa học ấy,
thế là tình yêu biến thành một cái gì đó
ngược lại! Chiếc kính thần kỳ sẽ làm
việc theo một cách những gì nó thu
nhỏ lại bây giờ sẽ phóng to ra. Những
gì mới đây tưởng như tuyệt vời, nay
trông thật là tồi tệ. Kết quả: Thất
vọng căm ghét và thù địch, cuối cùng là ly
dị.
Từ xưa, ở tất cả các
thời đại, tất cả các dân tộc đều
cho rằng cuộc sống vợ chồng không phải là
điều dễ dàng. Ví dụ một nhà triết học và
sử học cổ La mã cho rằng điều chủ
yếu trong gia đình không phải là tình yêu của hai
vợ chồng đối với nhau, mà là tình yêu của
họ đối với cuộc sống vợ chồng,
tức là công việc gian khổ của hai người
"được thắng vào một cỗ xe". Mà đó là công việc, thì bao giờ cũng
vất vả. Có lẽ chính vì thế
đa số các cuộc ly dị là những cặp vợ
chồng mới sống với nhau từ 1 đến 3
năm.
Ở
những thời đại cũ, mấy năm
đầu tiên này cũng cực kỳ gay go. Nhưng dù
họ có cãi nhau, có bất hoà đến mấy, dù họ có
thích sống với nhau hay không, họ vẫn chung sống năm năm, mười
năm, năm mươi năm cho tới khi một
người chết đi. Họ biết
thế, nên họ đành "thích nghi" với nhau.
Có khi nhờ vậy tình yêu sẽ đến
với họ.
Ngày
nay chúng ta thấy rõ rằng trong cuộc sống riêng, con
người ta hạnh phúc hay không hoàn toàn tuỳ thuộc
người đó có biết cách sống trong gia đình hay
không.
Không phải chúng ta ủng hộ gia
đình lý trí và chống lại tình yêu. Không, không thể nào thiếu tình yêu. Không thể được. Ta không tin vào
kiểu hôn nhân không tình yêu, bởi vì không thể sống
hạnh phúc với một con người ta khó chịu
hoặc ta dửng dưng. Nhưng
điều này không hề mâu thuẫn với những
điều ở trên. Nếu có tình yêu
ngay từ đầu thì tuyệt vời, đó là một
món quà trời cho. Tuy nhiên, cũng không phải là
tồi nếu tình yêu đến như một sự ban
thưởng, thưởng cho công chúng ta đã kiên trì
nhẫn nại.
Vũ Ðình Bình (Theo tài liệu nước
ngoài)
VII.
CHUYỆN
PHIẾM :
Trích
trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ” non
Biên soạn : PHẠM KHẢI
MÓN LỘC BẤT NGỜ
Ai
bảo thầy bói nói mò? Tôi không tin. Ông Q. càng không tin vì có chứng cứ hẳn hoi.
Đầu năm ngoái, ông Q theo vợ
đi xem bói tận trong Tây Mỗ. Chẳng biết có
phải vì thấy chíêc xe Win mới khừ và tướng
mạo phương phi của ông hay không mà lão thầy bói sang
nói ngay: “Tuổi Hợi này quí
lắm đấy. Lợn sa chậu cám
mà! Ăn no béo mẫm; hưởng lộc còn dài!”. Đúng là mới hơn
một năm mà nhận chức giám đốc, ông Q như
người đào được mỏ vàng. Cơ
quan ông tuy nhỏ nhưng lại nắm “yết hầu”
của các nhà máy, xí nghiệp, công ty, liên doanh trong quận
nên đơn vị nào cũng phải “nhờ vả” ông,
nhất là những nơi đang gặp khó khăn.
Mới
đây, nghe đồn có một bà đồng ở
Thường Tín nói đúng như thần. Bà Q lại rủ chồng cùng đi. Bà này
mắt sáng, nhìn chữ rậm như rừng nhưng nhìn
tương lai, hậu vận của mọi người
lại rõ như lòng bàn tay. Bảo ông Q
khấn vái xong, bà gieo quẻ rồi phán một câu rất
gọn: “Sắp có lộc to… “.
Còn lộc gì, từ đâu tới thì… “thiên cơ bất khả lậu,
tới nơi khắc biết!”
Vài hôm sau
bỗng có tin dữ: ông Q bị tai
nạn giao thông! Thì ra trên đường về nhà, do tránh
một thằng bé choai choai đánh võng, ông phải tạt
mạnh vào lề đường, tay
chân bị xây xát vì quệt gốc cây. Ức một nỗi
kẻ gây tai nạn cho ông lại là con út
vị phó chủ tịch Quận thì còn kiện cáo gì!
Vả lại vị phó chủ tịch đã có lời xin
lỗi hộ con và khuyên ông vào bệnh viện điều
trị vết thương.
Tin ông Q bị
nạn lan nhanh như điện. Người lo lắng, kẻ mỉm cười.
Tuy nhiên, cửa bệnh viện bỗng
tấp nập hẳn lên vì có nhiều đoàn đến
thăm ông giám đốc. Các bác sĩ, y tá trực ban
đã khản cổ kêu gọi:
- Bệnh nhân
cần tĩnh dưỡng. Đề
nghị các vị chỉ nên cử đại biểu vào
thôi.
Mọi
người nhao nhao:
-
Đâu có được. Mỗi đơn vị, cơ quan chúng tôi
đều có phần riêng mà! (hàng
chục cánh tay giơ những gói quà lên). Không
lâu đâu. Chỉ vào một lát
để ông ấy nhận ra chúng tôi là đủ.
Bà Q. nét
mặt rầu rầu, cũng nói thêm vào:
- Xin các y bác
sĩ thông cảm. Toàn là nghĩa đồng
chí, anh em khi hoạn nạn cả mà.
Ông
Q nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Mỗi đoàn vào, bà vợ lại khẽ gọi.
Ông hé mắt, gật đầu, giơ tay
cầm cái phong bì để dưới gối rồi
lại như thiếp đi. Còn túi quà gồm nho, lê, táo,
đường sữa, bít qui hộp…khách tự chất
lên cái bàn to cạnh cửa. Chập tối bà
Q. tranh thủ kiểm kê số phong bì dưới gối
của ông và cho khuân hết các túi quà về để
nhờ cô em họ ở Hàng Da bán hộ.
Hôm sau,
bệnh viện cho biết kết quả kiểm tra, xét
nghiệm: vết thương không thương tổn gì
đến xương tuỷ, lục phủ ngũ tạng, có thể ra viện sớm.
Bà Q vẫn xin thư thư lại vài
ngày cho ông lại sức. Thật ra, ở
đây bà hái ra tiền mà chẳng cần bỏ vốn.
Vả lại, số đơn vị trong quận tới
mấy trăm mà số đoàn tới thăm mới có
mấy chục? Còn ông Q một ngày ở viện là một
ngày mất sức! Rõ khổ!
Nhưng
rồi cũng đến ngày ông Q ra viện. Bà Q đã
kịp thời “kết toán” và lên danh sách những
đơn vị đã cử đại biểu
đến thăm hỏi với từng số tiền và
món quà cụ thể. Món “lộc” này là mấy triệu có
trời mà biết! Chỉ biết rằng vài
hôm sau bà thửa cái lễ tạ ở chùa T.C và hẹn ông
bữa nào đi Thường Tín thưởng cho bà
đồng mấy chục ngàn.
GÓP GIÓ
E
thẹn - vũ khí lợi hại của tình yêu
1.
Khi khuôn mặt ngây thơ hồn nhiên của
người thiếu nữ đỏ ửng lên vì xấu
hổ, tay chân lóng ngóng, đầu hơi cúi xuống thì
chính cô cũng không tự nhận biết rằng đó là
tư thế mê ly và cuốn hút nhất. Ðối với những
bạn gái yêu lần đầu, nét tâm lý này quả thực
rất hấp dẫn. Trong tâm hồn bạn còn giữ nét
ngây thơ, trẻ trung, nỗi khao khát yêu đương
thường đi đôi với sự xuất hiện của
tâm lý e thẹn rụt rè.
Tâm lý này vừa có sức hấp dẫn mãnh liệt thể
hiện nữ tính lại là bức tường vững chắc
giúp bạn tránh được cám dỗ của tình dục.
Các bạn gái khi gặp người mình yêu thầm, nhớ
vụng thường che dấu tình cảm của mình,
điều đó thể hiện bạn là con người
có "lý trí và bình tĩnh". Nó thể hiện một tâm
hồn nữ tính, trong sáng như những bông hoa chúm chím làm
rung động những trái tim đang
khao khát yêu đương, khám phá, nó thể hiện một
người con gái sống có chiều sâu nội tâm.
Sự cả thẹn là phẩm chất quý báu hình thành do xã
hội và bản thân mỗi người phụ nữ. Sự
phát sinh và phát triển của tâm lý rụt rè e thẹn phần
lớn sẽ bị dòng chảy của tình yêu phá vỡ khi
nó phát triển đến độ thích hợp. Cần phải
biết điều hòa tâm lý này cho phù hợp với sự
phát triển của tình yêu, tâm lý e thẹn rụt rè nhanh
chóng mất đi hay tồn tại một cách có lợi cho
tình yêu, thậm chí làm tan rã tình yêu hoặc mất đi những
cơ hội tốt.
Có cô gái chỉ vì hay xấu hổ mà đánh mất các mối
quan hệ. Hễ cứ có bạn trai đến là chân tay lóng ngóng, mặt đỏ như gấc,
nói năng lắp bắp, thậm chí thấy họ đến
thì sợ không dám ra tiếp. Những bạn trai cứ
đến rồi đi vì ngồi với cô chẳng biết
nói năng gì. Ðàn ông thực sự không thích những phụ
nữ quá ư nhút nhát, chẳng có chút tự tin nào.
Nhiều lúc cô ngồi một mình khóc, song những giọt
nước mắt đó cũng không giúp cô tự tin
hơn. Chẳng qua tính cả thẹn biến cô thành con
người nhút nhát, sợ giao tiếp, nhưng nếu cố
gắng thì vẫn có thể khắc phục được.
Có nhiều phụ nữ đã qua một lần yêu lại
thường đánh mất tính cả thẹn. Họ không
còn biết thế nào là xấu hổ khi biểu lộ tình
yêu. Những phụ nữ kiểu này, đàn ông ngay lập
tức nghi ngờ sự trong sáng, cho rằng các cô có quá nhiều
kinh nghiệm trong tình trường.
Chẳng hạn có một người con trai nói: "Em yêu!
Cho anh hôn nhé?" Cô gái đáp gọn lỏn: "Hồn
nhiên đi anh". Bạn đừng tưởng thỏa
mãn anh ta ngay lập tức như thế sẽ khiến anh
ta yêu bạn. Chẳng có kiểu thổ lộ tình yêu nào lại
quá thẳng thắn lộ liễu như thế, như vậy
sẽ mất hết ý vị, người con trai cũng sẽ
mất hứng.
Cử chỉ yểu điệu, e ấp nhìn qua như là cự
tuyệt, song thực tình lại là chào mời, điều
đó sẽ làm cho đối phương khát khao hơn, mục
đích của "động tác giả" đó có tác dụng
thổi bùng lên ngọn lửa tình yêu đang cháy bỏng
trong lòng đối phương. Thể hiện tâm lý e thẹn
rụt rè ở mức độ thích hợp sẽ tạo
nên sức hấp dẫn đặc biệt.
Tuy nhiên trên thực tế những tình cảm e thẹn rụt
rè nảy nở trong ngày đầu nam nữ mới yêu nhau
lại thường mang sắc thái mất tự nhiên. Tình
cảm đã dành trọn cho người bạn khác giới
nhưng lại sợ không được đáp ứng lại
như bản thân mong muốn, vì thế tâm lý e thẹn lại
mang lẫn cả "tính tự trọng" cao độ.
Trạng thái tâm lý đan xen giữa "bản năng tự
vệ" và "lòng tự trọng" đã dẫn
đển các biểu hiện tâm lý e thẹn rụt rè
được hiện ra muôn màu, muôn vẻ khiến
"đời sống" của những mối tình mang
đậm vẻ bí ẩn có một không hai của con
người.
Cả thẹn là phẩm chất thiên phú của con người
nhất là với phái nữ. Ðánh mất tính e thẹn chẳng
khác nào đánh mất những phẩm chất nữ tính,
đánh mất sự lãng mạn bí ẩn của tình yêu.
Rút-xô đã nói: "Người hay cả thẹn mới
chính là chuyên gia tình yêu". Sử dụng đức tính này
phải hài hòa, tự nhiên như nó vốn có, trong trường
hợp đáng xấu hổ lại không xấu hổ sẽ
đánh mất đi vẻ tình tứ tế nhị, thế
nhưng những trường hợp không đáng xấu hổ
lại cố tình xấu hổ thì cũng hết sức vô
duyên, đáng ghét.
(Theo Thế giới
phụ nữ)
Lời
hay ý đẹp:
"Mối tình đầu chỉ cần một chút khờ
dại và tò mò."
G. Berward Shaw
Lời hay ý đẹp:
"Chỉ có người ta yêu nhất mới làm cho ta
đau khổ nhiều nhất mà thôi."
J. Chardonnes
Những vết đinh
Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay
nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một
túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi
nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một
cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ.”
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37
cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã
tập kiềm chế cơn giận của mình và số
lượng đinh cậu đóng trên lên hàng rào ngày một
ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế
cơn giận của mình còn dễ hơn là phải đi
đóng một cây đinh lên hàng rào.
Đến một ngày, cậu đã không nổi
giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu
đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm,
bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề nổi giận
với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ một cây
đinh ra khỏi hàng rào.”
Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm
cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng
đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở
đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất
tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để
lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống
như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều
gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng
giống như những lỗ đinh này, chúng để lại
những vết thương rất khó lành trong lòng người
khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa,
vết thương đó vẫn còn lại mãi mãi. Con hãy luôn
nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn
hơn cả những vết thương thể xác. Những
người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá
quý. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ
nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con
và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho
con. Hãy nhớ lấy lời cha…”
Lời hay ý đẹp:
Không hứa bậy
nên mình không phụ ai, không tin bậy nên không ai phụ mình
Anh có giúp tôi?
Vào năm 1989 tại
Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, một người
cha chạy vội đến trường học mà con ông
đang theo học. Tòa nhà trước kia là trường học nay chỉ còn là
đống gạch vụn đổ nát.
Sau cơn sốc, ông nhớ lại lời hứa với
con mình rằng "Cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa,
cha sẽ luôn ở bên con!" Và nước mắt
ông lại trào ra. Bây giờ mà nhìn vào đống đổ
nát mà trước kia là trường học
thì không còn hy vọng. Nhưng trong đầu ông luôn nhớ
lại lời hứa của mình với cậu con trai.
Sau đó, ông cố nhớ lại cửa hành lang
mà ông vẫn đưa đứa con đi học qua mỗi
ngày. Ông nhớ lại rằng phòng học của con trai
mình ở phía đằng sau bên tay phải
của trường. Ông vội chạy đến
đó và bắt đầu đào bới giữa đống
gạch vỡ.
Những người cha, người mẹ khác cũng chạy
đến đó và từ khắp nơi vang lên những tiếng
kêu than "Ôi, con trai tôi!", "Ôi, con gái tôi!". Một số người khác với
lòng tốt cố kéo ông ra khỏi đống đổ nát
và nói đi nói lại:
"Đã muộn quá rồi!"
"Bọn nhỏ đã chết rồi!"
"Ông không còn giúp được gì cho chúng nữa
đâu!"
"Ông hãy về đi!"
"Ông đi đi, không còn làm được gì nữa
đâu!"
"Ông chỉ làm cho mọi việc khó khăn thêm thôi!"
Với mỗi người, ông chỉ đặt
một câu hỏi "Anh có giúp tôi không?" Và sau đó với từng miếng gạch, ông lại
tiếp tục đào bới tìm đứa con mình. Đến đó có cả chỉ huy cứu hỏa
và ông này cũng cố sức khuyên ông ra khỏi đống
đổ nát "Xung quanh đây đều đang cháy và
các toà nhà đang sụp đổ. Ông
đang ở trong vòng nguy hiểm. Chúng
tôi sẽ lo cho mọi việc. Ông hãy về
nhà!" Người đàn ông chỉ hỏi
lại "Ông có giúp tôi không?"
Sau đó là những người cảnh sát và họ cũng
cố thuyết phục ông ta "Ông đang xúc động.
Đã xong hết rồi. Ông
đang gây nguy hiểm cho cả những người còn lại.
Ông về đi. Chúng tôi sẽ
lo cho mọi việc!" Và với cả
họ ông cũng chỉ hỏi "Các anh có giúp tôi
không?" Nhưng không ai giúp ông cả.
Ông tiếp tục chịu đựng một mình, vì ông phải
tự mình tìm ra câu trả lời cho điều day dứt
ông: Con trai tôi còn sống hay đã chết?
Ông đào tiếp... 12 giờ... 24 giờ... ,
sau đó ông lật ngửa một mảng tường lớn
và chợt nghe tiếng con trai ông. Ông kêu lớn tên con
"Armand!" Ông nghe "Cha ơi?! Con
đây, cha! Con nói với các bạn đừng sợ vì nếu
cha còn sống cha sẽ cứu con và khi cha cứu con thì các
bạn cũng sẽ được cứu. Cha đã hứa
với con là dù trường hợp nào cha cũng ở bên
con, cha còn nhớ không? Và cha đã làm được,
cha ơi!!"
- Có chuyện gì xảy ra vậy? Ở đó
ra sao rồi? - Người cha hỏi.
- Tụi con còn lại 14 trên tổng số 33, cha ạ. Tụi
con sợ lắm. Đói, khát… Nhưng bây giờ tụi con
đã có cha ở đây. Khi tòa nhà đổ, ở
đây tạo ra một khoảng không nhỏ và thế là tụi
con còn sống.
- Ra đây đi con!
- Khoan đã cha! Để các bạn ra trước,
con biết rằng cha không bỏ con. Có chuyện gì xảy
ra, con biết là cha chắc chắn sẽ không bỏ
rơi con!
Bài thuyết giảng
Tại một ngôi làng nhỏ,
có một vị giáo sư thường đến nói chuyện
về cuộc sống, về cộng đồng vào mỗi
ngày chủ nhật. Ngoài ra, ông còn tổ chức
nhiều hoạt động cho những cậu bé trong làng
cùng chơi.
Nhưng đến một ngày chủ nhật nọ, một
cậu bé, vốn rất chăm đến
nghe nói chuyện bỗng nhiên không đến nữa. Nghe nói
cậu ta không muốn nghe những bài nói chuyện tầm
xàm và cũng chẳng muốn chơi với những cô cậu
bé khác nữa.
Sau hai tuần, vị giáo sư quyết định đến
thăm nhà cậu bé. Cậu bé đang ở nhà một mình,
ngồi trước bếp lửa.
Đoán được lí do chuyến viếng thăm, cậu
bé mời vị giáo sư vào nhà và lấy cho ông một chiếc
ghế ngồi bên bếp lửa cho ấm.
Vị giáo sư ngồi xuống nhưng vẫn
không nói gì. Trong im lặng, hai người
cùng ngồi nhìn những ngọn lửa nhảy múa.
Sau vài phút, vị giáo sư lấy cái kẹp, cẩn thận
nhặt một mẩu than hồng đang cháy sáng ra và đặt
riêng nó sang bên cạnh lò sưởi.
Rồi ông ngồi lại xuống ghế, vẫn
im lặng. Cậu bé cũng im lặng quan sát mọi
việc.
Cục than đơn lẻ cháy nhỏ dần,
cuối cùng cháy thêm được một vài giây nữa rồi
tắt hẳn, không còn đốm lửa nào nữa. Nó trở nên lạnh lẽo và không còn sức sống.
Vị giáo sư nhìn đồng hồ và nhận
ra đã đến giờ ông phải đến thăm một
người khác. Ông chậm rãi đứng
dậy, nhặt cục than lạnh lẽo và đặt lại
vào giữa bếp lửa. Ngay lập tức, nó lại
bắt đầu cháy, tỏa sáng, lại một lần nữa
với ánh sáng và hơi ấm của những cục than
xung quanh nó.
Khi vị giáo sư đi ra cửa, cậu bé chủ nhà nắm
tay ông và nói:
- Cảm ơn bác đã đến thăm, và đặc biệt
cảm ơn bài nói chuyện của bác. Tuần
sau cháu sẽ lại đến chỗ bác cùng mọi người.
Chiếc túi màu nâu
Sáng nào, trước khi cha đi làm, cô bé cũng có
"nhiệm vụ" đưa cho cha chiếc túi đựng
bữa trưa. Nhưng một buổi sáng, ngoài chiếc
túi thức ăn, cô bé còn đưa thêm cho cha một chiếc
túi giấy màu nâu. Cái túi đã rách, và được
chắp vá bởi những mảnh băng dính cùng những
chiếc ghim.
- Cái gì trong cái túi này thế? – Cha của cô bé hỏi.
- Bố cứ cầm đi – Cô bé cười hớn hở.
Không muốn mất thời gian, anh đem theo
cả hai cái túi đến cơ quan. Sau mấy tiếng
đồng hồ làm việc, anh ăn
trưa và mở chiếc túi của con. Trong
đó có ba viên sỏi, một con khủng long gãy đuôi và
hai cái giấy gói kẹo.
Ăn trưa xong, anh bỏ những
đồ ăn thừa và cả những thứ lặt vặt
của cô bé vào thùng rác.
- Con bé toàn giữ những thứ bỏ đi" – Anh lắc
đầu lẩm bẩm.
Tối hôm đó, cô bé chạy lẽo đẽo theo cha và hỏi:
- Túi của con đâu, cha?
- Túi nào?
- Túi con đưa cha sáng nay ấy!
- Cha để ở cơ quan rồi!
- Con quên không bỏ thiệp vào – Cô bé ríu rít – Trong túi là những
thứ con thích nhất đấy, con nghĩ cha cũng
thích chơi với chúng khi cha làm việc mệt quá! Cha không làm mất cái túi đấy chứ, cha?
- Tất nhiên là không – anh cố nói dối – Cha chỉ quên
không mang nó về thôi. Mai cha sẽ lấy về!
Cô bé mừng rỡ đưa "tấm thiệp" cho
cha. Đó chỉ là một mảnh giấy gập làm
tư, và trong mảnh giấy có ghi " I
love you, Daddy".
Chờ lúc cô bé đi ngủ, anh vội vã quay trở lại
cơ quan. Anh sợ người lao công dọn
những thùng rác, và anh sẽ không lấy lại được
kho báu của con.
Anh dốc cả thùng rác ra sàn. Anh nhặt
con khủng long gãy đuôi lên, đem rửa sạch khỏi
chỗ thức ăn thừa. Cả ba viên sỏi, hai cái giấy gói kẹo, anh cẩn
thận bỏ vào chiếc túi giấy màu nâu, dù túi đã bị
rách thêm một ít.
Sáng hôm sau, anh bảo cô bé kể cho anh nghe về những thứ
trong chiếc túi. Mất khá nhiều thời
gian, vì mỗi thứ đều có những câu chuyện
riêng, giống như những bạn của cô vậy.
Như hai cái giấy gói kẹo chính là từ những chiếc
gói kẹo sôcôla mà anh mua cho cô, hay con khủng long gãy đuôi
là quà của cậu bạn hàng xóm tặng cô bé hôm sinh nhật..
Tối hôm đó, cô bé lại ôm con khủng long găy
đuôi đi ngủ, cùng một với nụ cười.
Lời khuyên của người cha
H.
"Mỗi ngày con nhớ dành lời khen tặng
cho vài ba lần"
"Một năm ít nhất một lần con hãy
chờ xem mặt trời mọc"
"Nhìn thẳng vào mặt mọi người"
"Nói lời CÁM ƠN càng nhiều càng tốt"
"Cũng vậy, nói lời LÀM ƠN càng nhiều
càng hay"
"Hãy sống dưới mức con kiếm
được. Đối xử với mọi người
như con muốn được đối xử như
thế"
"Kết thêm những người bạn mới
nhưng trân trọng những người bạn cũ"
"Hãy giữ kỹ những điều bí mật"
"Con đừng mất thời giờ học
các mánh khoé doanh nghiệp. Hãy học làm doanh nghiệp chân
chính"
"Dám chịu nhận những lầm lỗi của
mình"
"Con hãy can đảm. Nếu tự con không
được can đảm làm thì cũng phải tỏ
ra can đản. Người ta không phân biệt một
người can đảm với một người tỏ
ra can đảm"
"Con phải dành thì giờ và tiền bạc
làm việc thiện trong cộng đồng của con"
"Đừng bao giờ lừa gạt một
ai"
"Học cách lắng nghe. Cơ hội trong
đời nhiều khi ghõ cừa nhà con rất khẽ"
"Đừng làm cho ai mất hy vọng, nhiều
người chỉ sống nhờ hy vọng đó con ạ"
"Con đừng cầu mong của cải, mà
phải cầu mong có sự khôn ngoan, hiểu biết và lòng
can đảm"
"Đừng hành động khi con đang giận
giữ"
"Con phải giữ tư thế đàng hoàng.
Muốn đến một nơi nào đó thì phải có mục
đích và tự tin rồi hãy đến"
"Hãy sẵn sàng thua một trận đánh
để dẫn đến thắng một cuộc chiến"
"Đừng bao giờ ngồi lê đối
mách"
"Cẩn thận với những người
nào mà họ không còn gì để mất"
"Khi gặp một nhiệm vụ khó khăn, con
hãy hành động như không thể bị thất bại"
"Đừng giao du quá rộng. Phải học cách
trả lời KHÔNG một cách lễ phép và dứt khoát"
"Đừng mong cho cuộc đời đối
xử sòng phẳng với con"
"Đừng đánh giá thấp sức mạnh
của sự trả thù"
"Thay vì dùng từ ngữ CÓ VẤN ĐỀ,
con hãy thay bằng từ ngữ CÓ DỊP MAY"
"Cẩn thận về đồ đạc,
áo quần: nếu con định dùng thứ gì trên 5 năm
thì phải cố sắm thứ tốt nhất có thể
được"
"Con hãy mạnh dạn trong cuộc sống"
"Khi con nhìn lại quãng đời đã qua, hãy
tiếc những điều chưa làm được, chứ
đừng tiếc những điều đã làm xong"
"Đừng quan tâm đến bè nhóm. Những
ý tưởng mới mẻ, cao thượng và có tác động
tốt đến cuộc sống luôn luôn là những ý
tưởng của các cá nhân biết làm việc"
"Những nhạc sĩ trình diễn bên
đường thường có nhiều điều
đáng trân trọng. Con hãy dừng lại, lắng nghe và nhớ tặng
một cái gì đó cho họ"
"Khi gặp vấn đề trầm trọng
về sức khỏe , con hãy nhờ ít
nhất là ba vị thầy thuốc khác nhau xem xét"
"Hãy chiến đấu chống thói vô trật
tự"
"Gặp hàng hóa xấu, hay phục vụ tốt,
con phải báo ngay cho người có trách nhiệm để
họ nắm biết. Những người quản lý tốt
rất mong được hiểu biết mọi điều"
"Đừng tập thói trì hoãn công việc"
"Làm ngay những gì cần làm đúng vào lúc phải
làm"
"Không ai chờ đến lúc hấp hối
để nói:
GIÁ NHƯ TÔI CÓ THÊM ĐƯỢC THỜI GIAN ..."
"Đừng sợ phải nói: TÔI KHÔNG BIẾT"
"Đừng sợ phải nói: XIN LỖI, RẤT
TIẾC..."
"Hãy ghi rõ những điều con muốn trải
qua trong đời. Luôn luôn mang theo trong
túi áo bảng ghi những điều đó, và thường
xuyên tìm cơ hội có thể để thực hiện"
Liều
thuốc cho trái tim
Tác giả: Khuyết
danh
Khi
cánh của hạnh phúc đang đóng lại
, một cánh của khác mở ra , nhưng ta thường
nhìn quá lâu vào cánh của đang đóng mà không thấy
được một cái của khác đanh mở ra cho ta.
Ta không biết ta có gì đến khi ta đánh mất và ta cũng
không biết ta thiếu gì cho đến khi nó đến.
Đừng bao giờ nói lời tạm biệt nếu bạn
còn muốn cố gắng , đừng
bao giờ bỏ cuộc nếu bạn vẫn cảm thấy
có thể tiếp tục , đừng bao giờ nói không còn
yêu nữa nếu nước mắt của người
kia vẫn có thể giữ chân bạn .
Có những điều bạn không bao giờ được
nghe từ người mà bạn muốn nghe ,
nhưng cũng đừng giả điếc khi một
người khác nói điều đó với cả trái tim.
Chỉ mất một phút để quý ai đó
, một giờ để thích ai đó , một ngày
để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời
để bạn quyên đi một người mà bạn
yêu.
Hãy luôn thử đặt mình vào đôi giày của
người khác. Nếu bạn cảm thấy đau , nó cũng có thể làm đâu họ .
Hãy mơ những gì bạn muốn mơ ,
tới đâu bạn muốn tới , trở thành những
gì bạn muốn , bởi bạn chỉ có một cuộc
sống và một cơ hội để làm tất cả
những gì bạn muốn .
Một điều đáng buồn trong cuộc đời
là khi yêu một ai đó mà không được đáp lại , nhưng điều đáng buồn
hơn là khi yêu một ai đó mà không bao giờ tìm thấy
lòng can đảm để cho người khác thấy
được cảm xúc của bạn.
Có những khoảnh khắc trong cuộc đời khiến
bạn nhờ người ta thật nhiều
, đến nỗi bạn chỉ muốn kéo người
ta ra khỏi giấc mơ và ôm họ thật chặt . Hãy
mơ về ai đó đặc biệt của bạn .
Dành cho một người tất cả tình yêu của bạn , không có nghĩa là họ sẽ yêu lại
bạn . Đừng hi vọng tình yêu sẽ được
đáp lại . Hãy cho nó thời gian để
nó lớn lên trong trái tim họ . Nhưng
nếu không , hãy hài lòng vì nó đã lớn
lên trong bạn .
Tình yêu đến với người vẫn hi vọng mặc
dù họ đã từng thất vọng ,
những người vẫn có niềm tin mặc dù họ
đã bị lừa dối .
Một tương lai tươi sáng luôn dựa trên một
quá khứ bị quên lạng .Bạn không thể đứng
vững trong cuộc sống cho đến khi bỏ qua
được những thất bại và nỗi đau .
Một điều đáng buồn trong cuộc sống là
khi bạn gặp một người có nghĩa đối
với bạn , để rồi cuối
cùng nhận ra rằng họ sinh ra không phải để
cho bạn và chỉ có thể để họ đi
.........
Tôi mong bạn có đủ hạnh phúc để trở
lên ngọt ngào , có đủ thử thách để trở
lên vững mạnh , có đủ nỗi buồn để
giữ bạn là con người , có đủ niềm tin
để bạn vui vẻ và có đủ tình yêu để
dâng hiến cho đời .
*
Easter Sunday
Introduction
Today Christ our champion triumphs. Decay is discarded and death is dethroned.
Penitential
Rite
Let
us ask God's mercy for vision which has been dulled by disillusion, for an
outlook which has been beset by earthly cares.
You
draw our eyes towards heaven.
Lord,
have mercy.
Our
true life is hidden with you.
Christ,
have mercy.
We
will be revealed with you in glory.
Lord,
have mercy.
Today's
First
Peter
announces himself as a witness to the whole saving saga of Jesus. Those who believe his account can be saved.
Second Reading 1 Corinthians 5: 6-8
Paul
says that Passover is not for the passive.
We must make a determined effort to live it out.
Gospel John 20: 1-9
Alarm
mixes with mystery, dismay with excitement, as the apostles are brought running
by the first signs of the Resurrection.
PRAYER OF THE FAITHFUL
Celebrant
The
power of the Father, which raised Jesus from the dead, can raise us from the
death of despair. Let us turn to him in
faith.
Intercessions
Let
us pray that the angel who broke open the tomb will break the mould of behaviour
which demeans and destroys.
Lord,
hear us.
Let
us pray that hearts which are decaying with grudges may experience the
resurrection of forgiveness.
Lord,
hear us.
Let
us pray that relationships which are are numbed and cold may be touched by the
warmth of the Son's rising.
Lord,
hear us.
Let
us pray that wintry resentment may become covered with the breaking blossom of
reconciliation.
Lord,
hear us.
Celebrant
Father,
give your people resurrection eyes, so that they can see the springtime which
your Son ushers in. We ask this in the
name of the Risen Jesus. Amen.
The
Lord's Prayer
Christ
gives us confidence that the Father will deliver us from every evil. Let us pray in the words which he taught us.
Final
Blessing
May
the rising Son give colour to vision that has faded,
May
he give warmth to hope that has chilled,
May
he give song to voices which were silent,
And
may the source of life bless you, the Father, the Son and the Holy Spirit. Amen.
HOMILY
"Mary
of Magdala came to the tomb."
Illustration
Easter
is the time of blossom: the yellow
bridesmaids of gorse trailing the white bride of hawthorn, all attended by a
retinue of buzzing insects. Who could
have believed, looking at these laden twigs, that they were once bare with the
deathly touch of winter? As the petals
burst forth from the buds, so beauty breaks out of the bondage of time. Each spring is life's triumph over the spell
which time casts to make everything wither and decay. Then there is the cherry
blossom: cascades of white and pink, overwhelmingly beautiful, as overwhelming
as the power of the Resurrection. Truly
it is time-stoppingly exquisite, and as we gaze upon it we are taken out of
time into the eternal spring of Christ's rising.
Gospel
Teaching
Christ
is risen! Such
is the news that makes us rejoice today.
What then are we to say of the gospel reading which the Church gives us
for this day of our Lord's resurrection? We are presented with a cameo of three
characters: Mary of Magdala, John and
Peter. And what are they doing on this
great day of exultation? Looking at a tomb. A tomb which is dark, musty and blood-stained.
As
we sing our alleluias at the bursting forth of new life, have our three
characters met this new life? No, they
have not. Not today at least. They are gazing at an empty space. At best
what they see are hints and traces. Mary
of Magdala is the first to see a sign - the removal of the stone. And she misinterprets it, thinking it merely
the piling of one disaster upon another, of theft upon killing.
Then
Peter and John see another sign, the linen cloths lying where the body had
been. John, the only apostle to see
Jesus die, is the first to believe that he is alive: that his body has not been pillaged, but
energised, leaving the linen an empty wrapping on the ground. What a pattern
for the Church these three are, this partnership of ineptitude! Mary, who misunderstands; John, who on his
own lacks the boldness to enter the tomb; and Peter, who blunders in but cannot interpret what he sees. Yet how God weaves their weaknesses with
consummate skill to achieve his purpose:
faith in the rising of the Sun of suns.
Horror
is driven out by hope, and the groans of despair are drowned by the rising cry
of rejoicing. But where is the new life which
unseals this cavern of death? It is
still unseen. What has changed? Not the vista, but the vision. What is transformed? Not the spectacle before the eyes, but the
eyes which see it. Resurrection has
entered the eyes of John, the beloved apostle, and everything has become new.
Application
The
Son has risen, and yet, as the gospel tells us, it is still dark. For us too, is it still dark? Are we also, on this great day of
resurrection, staring into a tomb, a tomb perhaps of intractable difficulties
and intransigent loved-ones, all bare and wintry in their unchangingness? At best we may see hints and traces of
resurrection; at best, as one does in the gathering darkness, catch glimpses of
it out of the corners of our eyes.
Easter
is a season of mystery. It is a time
when we are transported out of time. It
is when we know that new life has broken from the tomb even though, like John,
we cannot yet see it.
This
Easter, much of our existence may seem still to lie in the bondage of time,
with its spell of despair and decay. Yet
today we can look upon it with resurrection eyes, knowing that the Lord of life
is just around the corner.
In
the Church's liturgy we have only to wait until next Sunday until the apostles
will see with their own eyes the risen Lord, victorious over death. And in such a short space of time we too will
be with him where there is no more death, nor pain, nor crying. What has
changed? Though we cannot see it yet,
everything has changed. Christ is risen indeed!
Alleluia!
SUMMARY
1.
The mystery of Easter takes us outside of time.
2.
Mary of Magdala and the apostles have not yet met Jesus.
3.
It is their way of seeing things that has changed.
4.
Our lives may appear to be unchanged by the Easter mystery.
5.
Yet the risen Lord truly does make all things new.