CHÚA NHỰT II PHỤC SINH

 "Các môn đệ vui mừng v́ được thấy Chúa"

(Ga 20,20)

BÀI ĐỌC I: Cv 5, 12-16

"Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng".

Trích sách Tông đồ Công v.

 

Khi ấy, các Tông đ làm nhiu phép l và nhiu vic phi thường trong dân, và tt c mi người tp hp ti hành lang Salômôn; nhưng không một ai khác dám nhp bọn vi các tông đ. Nhưng dân chúng đều ca tng các ngài. S nhng người nam n tin vào Chúa ngày càng gia tăng, đến ni h mang bnh nhân ra đường ph, đt lên giường chơng, đ khi Phêrô đi ngang qua, ít na là bóng ca người ng trên ai trong h, th́ k y khi bnh. Đông đo dân chúng nhng thành ph cn Giêrusalem cũng tuôn đến, mang theo bnh nhân và nhng người b qu ám. Mi người đu được cha lành. Đó là li Chúa.

 

ĐÁP CA: Tv 117, 2-4. 22-24. 25-27a

Đáp: Hăy cảm t Chúa, v́ Chúa ho tâm, v́ đức từ bi ca Người muôn thu (c. 1).

 

Hoặc đc: Alleluia.

 

Xướng: 1) Hi nhà Israel, hăy xướng lên: "Đức t bi ca Người muôn thu". Hi nhà Aaron, hăy xướng lên: "Đức t bi ca Người muôn thu". Hi nhng người tôn s Chúa, hăy xướng lên: "Đức t bi ca Người muôn thu". - Đáp.

2) Phiến đá mà nhng người th xây loi b, đă biến nên tng đá góc tường. Vic đó đă do Chúa làm ra, vic đó k diu trước mt chúng ta. Đây là ngày Chúa đă thc hin, nên chúng ta hăy mng r hân hoan v ngày đó. - Đáp.

3) Thân lạy Chúa, xin gia ơn cứu đ; thân ly Chúa, xin ban cho đi sng phn vinh. Phúc đc cho Đấng nhân danh Chúa mà đến; t nhà Chúa, chúng tôi cu phúc cho chư vị. Chúa là Thiên Chúa và đă soi sáng chúng tôi. - Đáp.

 

BÀI ĐỌC II: Kh 1, 9-11a, 12-13. 17-19

"Ta đă chết, nhưng đây Ta vẫn sng đến muôn đi".

Trích sách Khải Huyn ca Thánh Gioan.

 

Tôi là Gioan, anh em của chư huynh, đồng phn chia s s gian truân, vương quyền và kiên nhn trong Đức Giêsu Kitô, tôi đă đo Patmô v́ li Chúa và v́ làm chng Đức Giêsu. Mt Chúa Nht n, tôi xut thn và nghe phía sau tôi có tiếng phán ln như tiếng loa rng: "Hăy viết nhng điu ngươi thấy vào sách và gi đến by giáo đoàn Tiu Á". Tôi quay li đ xem coi tiếng ai nói vi tôi. Va quay li, tôi thy by chân đèn bằng vàng, và gia by chân đèn bng vàng đó tôi thy mt Đấng ging như Con Người, mc áo dài và ngang lưng thắt mt dây nt bng vàng. Va trông thy Người, tôi ngă xung như chết dưới chân Người; Người đt tay phi lên tôi và nói: "Đừng s, Ta là Đấng trước hết và là Đấng sau cùng, Ta là Đấng hng sng; Ta đă chết, nhưng đây Ta vẫn sng đến muôn đi. Ta gi ch́a khoá s chết và đa ngc. Vy hăy viết nhng ǵ ngươi đă thấy, nhng điu đang xy ra và nhng điu phi xy ra sau này". Đó là li Chúa.

 

ALLELUIA: Ga 20, 29

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Tôma, v́ con đă xem thấy Thy, nên con đă tin. Phúc cho nhng ai đă không thy mà tin". - Alleluia.

 

PHÚC ÂM: Ga 20, 19-31

"Tám ngày sau Chúa Giêsu hiện đến".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

 

Vào buổi chiu ngày th nht trong tun, nhng ca nhà các môn đ hp đu đóng kín, v́ s người Do-thái, Chúa Giêsu hin đến, đng gia các ông và nói rng: "B́nh an cho các con". Khi nói điu đó, Người cho các ông xem tay và cnh sườn Người. By gi các môn đệ vui mng v́ xem thy Chúa. Chúa Giêsu li phán bo các ông rng: "B́nh an cho các con. Như Cha đă sai Thầy, Thy cũng sai các con". Nói thế ri, Người thi hơi và phán bảo các ông: "Các con hăy nhn ly Thánh Thn, các con tha ti ai, th́ ti người y được tha. Các con cm ti ai, th́ ti người y b cm li". By gi trong Mười hai Tông đ, có ông Tôma gi là Điđymô, không cùng vi các ông khi Chúa Giêsu hin đến. Các môn đ khác đă nói vi ông rng: "Chúng tôi đă xem thy Chúa". Nhưng ông đă nói với các ông kia rng: "Nếu tôi không nh́n thy vết đinh tay Người, nếu tôi không thc ngón tay vào l đinh, nếu tôi không thc bàn tay vào cnh sườn Người, th́ tôi không tin".

 

Tám ngày sau, các môn đệ li hp nhau trong nhà và có Tôma vi các ông. Trong khi các cửa vn đóng kín, Chúa Giêsu hin đến đng gia mà phán: "B́nh an cho các con". Đon Người nói vi Tôma: "Hăy x ngón tay con vào đây, và hăy xem tay Thy; hăy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cnh sườn Thy; ch cng ḷng, nhưng hăy tin". Tôma thưa rằng: "Ly Chúa con, ly Thiên Chúa ca con!" Chúa Giêsu nói vi ông: "Tôma, v́ con đă xem thy Thy, nên con đă tin. Phúc cho nhng ai đă không thy mà tin!"

 

Chúa Giêsu c̣n làm nhiều phép l khác trước mt các môn đ, và không có ghi chép trong sách này. Nhưng các điều này đă được ghi chép đ anh em tin rng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và đ anh em tin mà được sng nh danh Người. Đó là li Chúa.

 

Minh họa

- Mille images : 180 B

- "Các môn đệ vui mừng v́ được thấy Chúa" (Ga 20,20)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Các môn đệ đang sợ hăi giam ḿnh trong pḥng kín, nhưng khi gặp thấy Chúa Giêsu phục sinh th́ các ông vui mừng. Chúa Giêsu phục sinh cũng đang ở giữa chúng ta. Vậy chúng ta hăy vui mừng cùng Ngài dâng lễ tạ ơn lên Thiên Chúa là Cha toàn năng của chúng ta.

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Chúa Giêsu phục sinh là bảo đảm cho chiến thắng của sự thiện trên sự ác. Nhưng chúng ta chưa xác tín điều ấy nên chưa tích cực chiến đấu chống lại sự ác.

- Chúa Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên cạnh chúng ta. Nhưng chúng ta thường quên điều đó nên sống và làm việc như không có Ngài bên cạnh.

- Chúa Giêsu phục sinh là nguồn gốc và nền tảng của vui mừng và b́nh an. Nhưng chúng ta thường để ḿnh bị giao động bởi những buồn phiền lo lắng thế tục.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Cv 5,12-16)

Trích đoạn này từ sách Công vụ cho thấy hai tác động lớn của việc Chúa Giêsu phục sinh trên các tông đồ : (1) Chúa đă thông ban cho các ngài quyền năng đến nỗi có thể làm nhiều phép lạ ; (2) Chúa làm cho uy tín các ngài tăng cao trước các tín hữu và cả những người lương.

2. Tin Mừng (Ga 20,19-31)

Hai lần hiện ra cách nhau 8 ngày này nhằm những mục tiêu sau :

- Chúa Giêsu nâng đức tin của các một đệ lên một bậc : từ mức độ thấp là tin dựa vào bằng chứng mà giác quan kiểm nghiệm được (câu 20 "Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài" ; câu 25, Tôma đ̣i điều kiện "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài...) lên mức độ cao là tin chỉ v́ nghe bởi v́ ḿnh đă an tâm về uy tín của người nói cho ḿnh nghe (câu 29 : "Phúc cho những ai không thấy mà tin")

- Chúa Giêsu ban b́nh an cho các môn đệ để rồi các ông lại ban b́nh an cho người khác qua việc tha tội. Sự b́nh an này là hoa trái của Thánh Thần, và đặt nền tảng trên việc tin vào Chúa Giêsu phục sinh.

4. Bài đọc II (Kh 1,9-13.17-19)

Thị kiến đầu tiên trong sách Khải huyền :

- Hoàn cảnh của người được thấy thị kiến : Thánh Gioan Tông đồ đang sống trong cảnh gian truân v́ bị bắt bớ : "Tôi cùng chia xẻ nỗi gian truân… cùng kiên tŕ chịu đựng với anh em trong Chúa Giêsu. Lúc ấy tôi đang ở đảo gọi là Pátmô v́ đă rao giảng Lời Thiên Chúa và lời chứng của Chúa Giêsu".

- Thị kiến nhằm an ủi và khích lệ kẻ đang bị bắt bớ : "Đừng sợ… Ta là Đấng hằng sống. Ta đă chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời ; Ta giữ ch́a khóa của Tử thần và Âm phủ"

IV. GỢI Ư GIẢNG

1. Đấng chữa lành vẫn c̣n mang thương tích

Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh vẫn c̣n mang những thương tích của cuộc thụ nạn. Điều này có ư nghĩa ǵ ? Câu chuyện sau đây có thể cung cấp vài tiêu điểm giúp chúng ta t́m hiểu.

Chuyện kể về một góa phụ lao động ở thành phố New York. Trong khoảng thời gian 6 năm, bà đă chứng kiến cảnh 3 đứa con của ḿnh bị bắn chết, đứa nhỏ nhất bị bắn ngay trước cửa nhà bà. Những cảnh ấy đă để lại một vết thương sâu đậm trong ḷng bà, và vết thương ấy cứ như sống lại làm bà nhức nhối mỗi lần bà nghe tin có một ai đó bị giết chết. Tuy nhiên bà không để ḿnh bị trói buộc trong nỗi sợ hăi. Trái lại bà t́m cách đến với người khác. Bà đi diễn thuyết khắp nơi và trở thành một nhà hùng biện tranh đấu cho việc kiểm soát vũ khí. Bà lập một hiệp hội gồm những phụ nữ cùng hoàn cảnh với Bà. Mỗi khi có một đứa con bị giết chết, bà đến thăm và an ủi cha mẹ chúng. Bà cho biết ban đầu bà ước sao cho những đứa trẻ vô tội ấy đừng sinh ra c̣n hơn. Nhưng bây giờ th́ bà nói : "Hẳn nhiên trong cái chết của chúng có một nỗi buồn phiền, thế nhưng cũng có một niềm vui không thể tin được. Nếu tôi đă không có 3 đứa con bị giết th́ tôi đă không là một con người như hôm nay. Chúng giúp tôi mạnh mẽ, chúng giúp tôi sống không ích kỷ". Khung cửa nhà bà vẫn c̣n lại những vết đạn đă bắn chết đứa con út của bà. Tuy nhiên bà không cho sửa lại khung cửa ấy. Tại sao ? Bà nói "Tôi muốn những lỗ đạn ấy c̣n măi ở đấy để nhắc cho mọi người nhớ là có người đă bị giết chết ngay chỗ ấy. Nếu sửa lại th́ người ta sẽ quên".

"Khi sửa lại th́ người ta sẽ quên". Có lẽ đó là lư do tại sao Chúa Giêsu phục sinh vẫn giữ lại những vết thương của cuộc chịu nạn. Trước hết, những vết thương ấy giúp các môn đệ nhận ra Ngài : Đấng hôm nay chiến thắng sự dữ vẫn là một với Đấng hôm trước đă chịu nạn chịu chết để nhờ đó Thiên Chúa chiến thắng cái chết. Thứ hai, những vết thương ấy là bằng chứng t́nh yêu của Ngài. Chúa Giêsu không chỉ nói suông về t́nh yêu, Ngài đă chịu đau khổ để làm chứng cho t́nh yêu. Đó là những thương tích mà Người mục tử chịu đựng để bảo vệ đàn chiên yêu quư của ḿnh.

Chúa Giêsu không dấu những thương tích. Ngài cho Tôma thấy và mời ông chạm vào. Khi Tôma chạm vào đấy, nỗi hoài nghi của ông tan biến và đức tin của ông sống lại.

Những thương tích thánh thiện của Chúa Giêsu là nguồn an ủi, nguồn can đảm và nguồn hy vọng của chúng ta. Chúng giúp ta chịu đựng đến cùng những thương tích của chúng ta. Chúng bảo ta đừng sống ích kỷ. Nhờ những thương tích của Ngài, chúng ta được chữa lành khỏi chứng bệnh tự thương xót ḿnh và mặc cảm là nạn nhân.

Người ta có khuynh hướng che dấu những thương tích v́ nghĩ rằng người khác mà thấy được sự yếu ớt của ḿnh th́ sẽ không c̣n kính trọng ḿnh. Tuy nhiên những kẻ dám cho người khác biết những cuộc chiến đấu của ḿnh th́ sẽ là một nguồn an ủi cho người khác. (FM)

2. Tần số t́nh yêu

Người Cha dắt đứa con nhỏ đi dạo ngang qua một đài phát thanh của thành phố. Đứa bé chỉ ngọn tháp cao vút hỏi người cha :

- Ba ơi ! Cái tháp đó để làm ǵ vậy ?

Người cha giải thích :

- Con ạ ! Đó là ăng-ten của đài phát thanh, hàng giây hàng phút nó phát đi những tin tức, âm nhạc và các chương tŕnh hữu ích cho đại chúng.

- Nhưng thưa ba, con có nghe thấy ǵ đâu !

- Muốn nghe được những thông tin và các chương tŕnh bổ ích đó, con chỉ cần có một cái máy thu thanh thật tốt, mở đúng tần số là con sẽ nghe rơ ràng, như cha con ḿnh đang nói chuyện với nhau đây !

*

Chiều Phục Sinh đầu tiên, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, vắng mặt Tôma, một con người thực tế, muốn kiểm chứng bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ th́ mới tin. Tám ngày sau, Đấng Phục Sinh lại hiện ra với các ông, có cả Tôma. Người gọi đích danh ông : "Tôma, hăy nh́n xem tay Thầy, hăy đặt ngón tay vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng ḷng nữa, nhưng hăy tin" (Ga 20,27). Ông chỉ c̣n biết run sợ mà thưa với Người : "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con" (Ga 20,28).

Tại sao Gioan chỉ cần nh́n thấy ngôi mộ trống và tấm khăn liệm xếp gọn gàng là ông đă tin Thầy sống lại, c̣n Tôma đă được các môn đệ làm chứng Thầy đă phục sinh mà ông lại không tin. Vậy điều khác nhau cơ bản giữa Gioan và Tôma chính là chiếc máy thu thanh của Tôma không mở đúng tần số. Đó là tần số t́nh yêu, tần số của con tim. Tôma đ̣i phải xỏ tay vào lỗ đinh ở chân tay Thầy ông mới tin ; c̣n Gioan, không cần thấy Thầy bằng con mắt thịt nhưng bằng con mắt đức tin, con mắt t́nh yêu. Chính t́nh yêu đă khiến Gioan chạy đến mộ Thầy nhanh hơn Phêrô, chính t́nh yêu đă mở mắt cho Gioan nhận ra Thầy đầu tiên trên bờ biển Galilê, chính t́nh yêu đă làm cho ông trở nên "người môn đệ Chúa Giêsu thương mến" (Ga 21,7).

Tại sao Phêrô và Gioan đều thấy ngôi mộ trống và khăn liệm, mà Phêrô th́ "rất đỗi ngạc nhiên" c̣n Gioan th́ "ông đă thấy và ông đă tin" ? (Ga 20,8). V́ thế, Phêrô phải cố gắng vượt qua những dấu chỉ khả giác để đến với niềm tin, và Tôma cũng phải vượt qua cái nh́n của giác quan để đến với cái thấy của đức tin. Nhưng Chúa Giêsu đă nói : "Phúc thay những người không thấy mà tin !" (Ga 20,29). Đó cũng chính là phần thưởng của đức tin.

Sở dĩ Gioan nhận ra sự kiện ngôi mộ trống và khăn liệm như dấu chỉ của sự phục sinh, là v́ ông đă nhớ lại lời Kinh Thánh : "Ngày thứ ba, (Người) sẽ cho chúng ta chỗi dậy" (Hs 6,2) và phép lạ "ông Giôna ở trong bụng cá ba ngày ba đêm" (Ga 2,1). Vâng, chính Kinh Thánh sẽ soi sáng, hướng dẫn chúng ta nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong mỗi biến cố hằng ngày.

Niềm tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của chúng ta hôm nay không phải là một niềm tin mơ hồ, mà là một niềm xác tín vào lời chứng chắc chắn của các Tông đồ qua Kinh Thánh. Trong bài giảng đầu tiên của ngày lễ Ngũ Tuần ; Phêrô đứng chung vớt mười một Tông đồ lớn tiếng tuyên bố rằng : "Chính Chúa Giêsu đó, Thiên Chúa đă làm cho sống lại, về điều nầy, tất cả chúng tôi xin làm chứng" (Cv 2,32). Vâng, chính sự phục sinh của Chúa Giêsu đă bảo đảm cho niềm tin của chúng ta. Thánh Phaolô viết : "Nếu Đức Ki tô đă không chỗi dậy, th́ ḷng tin của anh em thật hăo huyền, và anh em vẫn c̣n sống trong tội lỗi của ḿnh" (1Cr 15,17).

*

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con t́nh yêu nhiều hơn nữa, để chúng con tin Chúa mănh liệt hơn.

Xin dạy chúng con biết siêng năng suy niệm Lời Chúa, để Lời Chúa măi là đèn soi cho chúng con bước, là ánh sáng chỉ đường chúng con đi. Amen. (TP)

3. B́nh an

Sau khi sống lại, mỗi lần hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu đều chào các ông "B́nh an cho các con". Đây là lời chào thông thường của người Do thái "Shalom". Giáo hội cũng bắt chước lối chào đó, trong Thánh lễ, Chủ tế chào giáo dân "B́nh an của Chúa hằng ở cùng anh chị em", và giáo dân chào lại "Và ở cùng Cha", nghĩa là "Và cũng xin b́nh an của Chúa hằng ở cùng Cha". Xét ra lời chào này hơi lạ so với những kiểu chào mà chúng ta quen biết, nhưng có ư nghĩa nhiều hơn. Quả thực. B́nh an là điều quư nhất mà chúng ta cần có và cũng là điều tốt nhất mà chúng ta cầu chúc cho nhau. Nhưng b́nh an là ǵ mà quư như vậy ? và làm thế nào để có được b́nh an ? Đó là điều mà chúng ta sẽ đưa vào bài Tin Mừng hôm nay để t́m hiểu.

Khi ấy các môn đệ đang sợ : Thầy đă bị bắt và bị giết chết rồi. Rất có thể tới phiên các ông cũng sẽ bị bắt và bị giết như vậy. Cho nên họ sợ, và họ trốn trong nhà đóng kín cửa lại. Rồi Chúa Giêsu hiện đến ở với họ, tṛ chuyện với họ, cho họ xem các vết thương, ăn uống với họ, khích lệ họ… Thế là họ không c̣n sợ nữa. Họ được b́nh an. Nhưng do đâu mà họ được b́nh an ? Có phải là v́ nguy hiểm đă qua đi rồi chăng ? Thưa không, nguy hiểm vẫn c̣n đó, kẻ thù vẫn c̣n vẫn đang t́m cách hăm hại các ông. Nhưng nay họ không sợ nữa là v́ họ biết đă có Chúa ở bên cạnh họ. Có Chúa bên cạnh th́ mọi nguy hiểm không c̣n làm họ nao núng nữa. Thực ra họ chưa hoàn toàn b́nh an đâu. Sau khi Chúa Giêsu biến đi th́ họ lại sợ, lại đóng cửa trốn. Có lần họ cũng đánh bạo cùng nhau đi đánh cá. Nhưng mới thấy có một cái bóng đen tiến đến là họ lại sợ, họ tưởng là ma. Và khi biết đó là Chúa th́ họ lại hết sợ. Măi tới khi Chúa Giêsu nói với họ trước khi về trời rằng : "Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế", th́ họ mới hết sợ hoàn toàn, họ mới hoàn toàn được b́nh an. Kể từ đó trở đi, các môn đệ mạnh dạn ra đi rao giảng. Người ta bắt, họ cũng không sợ, người ta tra tấn, họ không sợ mà c̣n vui mừng v́ được chịu khổ v́ Thầy ; người ta xử tử, họ vẫn b́nh an vui sướng v́ được giống như Thầy.

Như vậy, B́nh an tức là một sức mạnh, một nơi nương tựa, một nguồn an ủi khiến ta không nao núng sợ sệt dù phải đứng trước bất cứ gian truân nguy hiểm nào. B́nh an ấy có được khi ta ư thức có Chúa vẫn ở bên cạnh ḿnh.

Giống như một em bé. Em đang chơi vui vẻ th́ trời đổ mưa lớn. Sấm chớp ầm ầm, em hoảng sợ khóc thật lâu. Nhưng mẹ em đă đến, bế em vào ḷng, em cuộn ḿnh trong ḷng mẹ và ngủ thiếp đi. Sau đó dù mưa vẫn cứ rơi, sấm chớp vẫn cứ ầm ầm, nhưng em vẫn ngủ yên v́ em đang ở trong ṿng tay che chở của mẹ. Đó là một h́nh ảnh rất đẹp giúp ta hiểu thế nào là sự b́nh an.

Phần chúng ta, nếu chúng ta luôn ư thức có Chúa ở bên cạnh ḿnh, và ta luôn nương tựa vào Chúa như em bé nương tựa vào mẹ nó th́ chúng ta cũng sẽ luôn được b́nh an.

Có một gia đ́nh nọ, nhà nghèo, lao động thật là vất vả, tính toán làm ăn rất là lo âu. Nhưng chiều về, vợ chồng con cái đều quây quần trước bàn thờ gia đ́nh và cùng đọc kinh tối chung. Họ dâng lên Chúa những lao nhọc trong ngày, họ xin Chúa thứ tha những vấp váp lỗi lầm đă phạm, họ phó dâng cuộc sống cùng tất cả mọi âu lo cho Chúa. Sau đó họ lên giường ngủ. B́nh an ! Biết bao gia đ́nh khác cũng lao động vất vả như họ, cũng lo âu toan tính như họ, nhưng các gia đ́nh đó không có được một giấc ngủ b́nh an. Chỗ khác nhau là một bên có Chúa và biết sống với Chúa, c̣n một bên th́ không.

Hay như một cụ già kia đang hấp hối, cái chết gần kề mà vẫn b́nh thản sẵn sàng buông tay nhắm mắt ra đi không hề sợ sệt, v́ cụ già ấy biết rằng ḿnh ra đi là ra đi trong tay Chúa. Trong khi có biết bao nhiêu người khác đối diện với cái chết mà ḷng hoang mang sợ hăi, họ sợ không dám ra đi, v́ họ không biết đi về đâu, họ không có Chúa cùng đi với họ.

Kinh nghiệm mà các môn đệ đă trải qua là một bài học quư giá cho chúng ta. Sau khi Chúa Giêsu bị quân thù bắt giết đi, các ông đă sợ hăi trốn kín trong pḥng đóng cửa lại, sợ v́ cảm thấy cô thế không có Thầy nâng đỡ. Nhiều lần chúng ta gặp cảnh túng thiếu, gian truân, hiểm nguy, chúng ta cũng sợ hăi như thế, chúng ta muốn rút lui trốn tránh, chúng ta muốn ngă ḷng, là v́ chúng ta không có Chúa ở với ḿnh. Nhưng khi các môn đệ đă biết có Chúa ở bên cạnh họ, cho dù Chúa chỉ hiện diện một cách vô h́nh sau khi Chúa đă về trời, các ông không c̣n sợ nữa mà ḷng luôn b́nh an dù phải đối diện với bất cứ hiểm nguy nào. Th́ chúng ta cũng thế : Chúa hằng ở bên cạnh chúng ta nếu chúng ta ư thức được điều đó, nếu chúng ta biết tin yêu phó thác vào Chúa và làm việc ǵ chúng ta cũng nghĩ là có Chúa cùng làm với chúng ta th́ chúng ta cũng sẽ luôn được b́nh an.

Nguyện chúc b́nh an của Chúa hằng ở cùng chúng ta luôn măi. Amen.

4. Bài học từ Tôma

Thật là sai lầm khi tưởng rằng tin là chuyện dễ dàng đối với những kẻ may mắn được thấy Chúa Giêsu hơn là đối với chúng ta ngày nay. Tin Mừng đă cho thấy có nhiều người đă được thấy Chúa Giêsu nhưng họ vẫn không tin. Vậy "thấy" không nhất thiết sẽ dẫn tới "tin". Muốn tin th́ phải có một quyết định.

Thực thế, các sách Tin Mừng đă kể rằng ngay cả các tông đồ mà cũng gặp khó khăn trong việc tin. Tôma không phải là người duy nhất đă hồ nghi về việc Chúa Giêsu sống lại, mọi tông đồ khác cũng thế. Tin Mừng Thánh Mác cô kể rằng khi Chúa Giêsu hiện ra với họ vào buổi chiều ngày phục sinh th́ Ngài đă "trách họ v́ sự không tin và cứng ḷng bởi họ đă không tin theo lời của những người đă từng thấy Ngài sau khi Ngài sống lại" (Mc 16,14)

Chúng ta có thể thông cảm với các tông đồ. Việc Chúa Giêsu bị đóng đinh quả là một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt họ. Họ đă đầu tư rất nhiều vào Ngài. Họ đă bỏ nghề nghiệp và bỏ hết mọi sự để theo Ngài. Rồi bỗng nhiên Ngài bị giết chết. Thực tế về cái chết của Ngài càng rơ ràng bao nhiêu th́ họ càng cảm thấy mất mát bấy nhiêu. Giá trị và ư nghĩa của mọi thứ đều bị đe dọa : t́nh thân với Ngài, niềm tin vào Ngài, và cả cuộc đời của họ nữa.

Đang lúc đó th́ một chuyện không thể tin được xảy ra : đột nhiên họ nh́n thấy Ngài đang đứng ở giữa họ. Việc đầu tiên Ngài làm là chỉ cho họ thấy các vết thương của Ngài. Tại sao Ngài làm thế ? Thứ nhất là v́ những vết thương ấy giúp họ nhận dạng được Ngài, xác định Ngài vẫn là người trước đó đă bị đóng đinh. Thứ hai là những thương ấy là bằng chứng rằng Ngài yêu thương họ, một t́nh yêu chứng tỏ bằng hành động. Kế đó Chúa Giêsu mời họ hăy xem và hăy sờ vào những vết thương ấy.

Thái độ của Tôma rất đáng làm gương cho chúng ta. Đó là một thái độ thẳng thắn v́ không dấu diếm nỗi hồ nghi của ḿnh. Hồ nghi thường là dấu chỉ của sự yếu kém. Khi chúng ta hồ nghi ai th́ đồng thời chúng ta cảm thấy như ḿnh có lỗi với người ấy. Tuy nhiên hồ nghi cũng có thể là một bước khởi đầu tốt, dẫn tới một sự hiểu rơ hơn và sâu hơn. Đây là trường hợp của Tôma : nhờ hồ nghi nên sau đó Tôma đă đạt tới một lời tuyên xưng đức tin cao nhất trong sách Tin Mừng "Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con".

Ở thế gian này, chẳng có ǵ là tuyệt đối chắc chắn về những sự thiêng liêng, v́ nếu có th́ đâu cần tới đức tin nữa. Những sự tuyệt đối chắc chắn có thể dẫn tới thái độ ngạo mạn, bất khoan dung và ngu xuẩn. "Người có đức tin mà không bao giờ cảm thấy hồ nghi th́ thực ra không phải là người có đức tin" (Thomas Merton)

Mỗi cộng đoàn đều cần có một con người như Tôma, tức là con người dám đặt ra những câu hỏi mà không ái khác dám đặt ra. Người như thế là người đáng tin, người như thế c̣n giúp những khác trở thành những kẻ đáng tin, bởi v́ người như thế giúp cho những người đang tin nhận ra đức tin của họ c̣n yếu kém lắm, và đồng thời cũng làm cho những kẻ hồ nghi cảm nhận được nỗi ray rứt khi không có niềm tin.

Sau khi vượt qua cơn khủng hoảng đức tin, Tôma đă mạnh dạn làm chứng cho Chúa Giêsu và trở thành một trong những vị thừa sai vĩ đại nhất của Giáo Hội sơ khai. Theo thánh truyền, ngài đă mang Tin Mừng đến các xứ Ba , Syria và Ấn Độ, nơi ngài chịu tử đạo. Tôma là vị tông đồ đầu tiên chết v́ đức tin.

Chúa Giêsu mời chúng ta đến gần Ngài trong đức tin và chạm vào các vết thương của Ngài. Mặc dù chúng ta không thể chạm tới Ngài một cách thể lư, nhưng chúng ta có thể đến gần Ngài một cách thiêng liêng. Chúa Giêsu cũng mời chúng ta làm chứng cho Ngài trước mặt những người khác. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho Chúa Giêsu trở thành hữu h́nh trong thế giới hôm nay. Đó cũng là nhiệm vụ của các tông đồ ngày xưa. Ngày xưa khi các tông đồ đă nh́n thấy Chúa rồi th́ các ông cảm thấy được thúc đẩy phải làm cho nhiều người khác cũng biết và tin vào Ngài.

Thế giới hôm nay đầy dẫy những hoài nghi và những người không tin. Cách duy nhất khiến họ tin là làm sao cho họ "thấy" được Ngài, "chạm" được Ngài nơi những môn đệ của Ngài. Thế nhưng, nếu các môn đệ của Chúa Giêsu không có những vết thương để chỉ cho người ta thấy và cho người ta chạm vào th́ làm sao mà người ta tin được !

Ước ǵ chúng ta được ở trong số những người được Chúa Giêsu công khai chúc phúc "Phúc cho những ai tuy không thấy mà vẫn tin" (FM)

5. Khủng hoảng đức tin

Khủng hoảng đức tin là chuyện thường gặp. Tôma đă gặp, và Tolstoy cũng đă gặp, như câu chuyện sau đây :

Năm 1879, Tolstoy 51 tuổi. Khi đó ông có đầy đủ mọi lư do để thỏa măn về đời ḿnh. Ông đă viết nhiều tác phẩm, đặc biệt hai bộ "Chiến tranh và Ḥa b́nh", và "Anna Kerenina". Những tác phẩm ấy đă khiến ông nổi tiếng và bảo đảm cho ông một vị trí nổi bật trong lịch sử văn chương thế giới. Ai cũng công nhận ông là người có thiên tài và đầy óc sáng tạo. Lẽ ra Tolstoy phải rất hạnh phúc. Thế nhưng ông lại cảm thấy bất hạnh. Ông thấy đời ḿnh thật vô nghĩa lư. Một câu hỏi luôn ám ảnh ông : "Liệu trong dời ḿnh có cái ǵ có ư nghĩa mà không bị sự chết hủy diệt đi không ?". Khoảng thời gian ấy thật khủng khiếp đối với Tolstoy, đến nỗi ông đă tính đến việc tự tử. Ông đi t́m câu trả lời trong mọi lănh vực kiến thức loài người. Ông t́m kiếm suốt ngày suốt đêm, giống như một người sắp chết đi t́m đường sống. Nhưng t́m măi mà ông chẳng gặp ǵ cả.

Thế rồi ông t́m nơi những niềm tin Kitô giáo. Thực ra ông đă được sinh ra và lớn lên trong đức tin Kitô giáo nhưng ông cũng đă bỏ nó từ lâu, lư do là ông thấy nó quá vô nghĩa trong môi miệng những người sống ngược hẳn với đức tin của họ. Tuy nhiên cũng chính đức tin ấy lại thu hút ông khi ông nh́n những tín hữu sống đức tin ấy. Ông viết : "Tôi đă nghĩ rằng chẳng có sự thật chắc chắn nào trong đời. Nhưng rồi tôi đă t́m thấy một nguồn sáng chắc chắn, ấy là Tin Mừng. Tôi đă loá mắt v́ sự sáng ngời của Tin Mừng. Những lời dạy của Chúa Giêsu quả thực là một giáo huấn tinh tuyền nhất và trọn vẹn nhất cho đời sống. Từ 2000 năm nay, những lời dạy cao quư ấy đă tác động lên biết bao người một cách tuyệt vời không thể t́m được nơi bất cứ ở nào khác. Từ đó một ánh sáng đă bừng chiếu trong tôi và quanh tôi, và ánh sáng ấy không bao giờ rời xa tôi nữa".

Có nhiều người được sinh ra trong đức tin, và trải qua bao năm tháng đức tin ấy vẫn cứ vững mạnh. Thật là một ơn ban vô cùng quư giá. Nhưng cũng có nhiều người mà đức tin luôn là một cuộc chiến đấu liên lỉ. Họ phải trải qua những cơn khủng hoảng đức tin rồi mới có được một đức tin sâu sắc và xác tín.

Nói cách lư thuyết, chỉ có đức tin mới trả lời được cho những câu hỏi sâu xa về cuộc đời. Nhưng trên thực tế, chúng ta không nên hy vọng rằng đức tin sẽ giải quyết hết mọi vấn đề của chúng ta. Không phải chỉ v́ chúng ta tin mà chúng ta có được mọi câu trả lời. Tuy nhiên chúng ta đâu cần biết hết mọi câu trả lời, v́ tin là tín nhiệm chứ không phải là chắc chắn.

Câu chuyện của văn hào Tolstoy giúp chúng ta nhận thức rằng đức tin được chứa đựng trong một chiếc b́nh dễ vỡ như thế nào. Nó cũng giúp ta hiểu thêm rằng đức tin kitô giáo chủ yếu không phải là tin vào một mớ giáo điều, mà là tin vào một Đấng đă yêu thương chúng ta – những thương tích của Ngài chứng tỏ điều đó. Hơn nữa, Thánh Kinh c̣n cho ta biết điều quan trọng không phải là niềm tin chúng ta đặt vào Thiên Chúa mà là niềm tin mà Thiên Chúa đặt vào chúng ta. (FM)

6. Chuyện minh họa

Có một vị hoàng đế kia trị v́ một đất nước giàu có hùng mạnh. Nhưng tâm hồn ông không thoải mái an vui v́ ông luôn bị ray rứt bởi những tội lỗi tàn bạo đă phạm trong thời quá khứ. Một hôm ông bỏ hoàng cung đi vào rừng, cất một túp lều đơn sơ. Trong rừng có một vị ẩn sĩ. Nhà vua t́m đến và nói : "Thưa Ngài, tôi muốn từ bỏ kinh thành ồn ào náo nhiệt vào đây để t́m được một sự b́nh an như Ngài đang hưởng". Ẩn sĩ đáp : "Tâu đức vua, ở đây cũng không hơn ǵ nơi khác, v́ b́nh an phải ở trong ḷng người". Nhà vua trở về lều ḿnh. Khi th́ quỳ gối tha thiết đọc kinh, khi th́ thơ thẩn trong rừng, chỉ ăn lương khô và uống nước lă. Chiều đến nhà vua mệt lả ngả ḿnh xuống đất có trả một mớ là khô. Nhưng suốt đêm cứ trằn trọc không ngủ được. Sáng hôm sau ông t́m đến vị ẩn sĩ : "Thưa ngài, lương tâm tôi cắn rứt làm tôi không ngủ được. Xin ngài nghe lời thú tội của tôi". Ẩn sĩ đáp : "Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội thôi". Nhà vua căi : "Nhưng tôi không nghe được tiếng Chúa". Ẩn sĩ trả lời : "Tiếng Chúa chỉ nghe được trong thinh lặng, mà thinh lặng chỉ có ngay trong ḷng ta. Người nào chỉ biết kêu cầu than rên rỉ măi mà không biết thinh lặng lắng nghe th́ sẽ không nghe được tiếng Chúa". Nhà vua trở về. Vài hôm sau ông đến chào vị ẩn sĩ : "Tôi đă nghe lời ngài, tôi không kêu than rên rỉ nữa mà tập thinh lặng lắng nghe, và tôi đă được nghe tiếng Chúa. Nhưng đó không như tiếng loài người, tôi chỉ nhận thấy như một cảm xúc êm dịu là lỗi lầm của tôi đă được tha thứ. Xin cám ơn ngài, hôm nay tôi sẽ trở về triều đ́nh".

Vài năm sau nhà vua lại trở vào rừng, và cũng t́m đến vị ẩn sĩ : "Thưa ngài không bao giờ tôi quên được tâm trạng an b́nh khi sống trong rừng này. Hôm nay tôi muốn trở lại đây ít lâu để cầu xin Chúa cất bớt những gánh nặng mà hằng ngày tôi phải vác". Ẩn sĩ đáp : "Tâu Bệ Hạ, khi chúng ta phàn nàn với Chúa về các gánh nặng của ḿnh th́ cách đáp ứng tốt nhất của Chúa là không phải cất những gánh nặng đó đi, nhưng là tăng cường đôi vai của ta để ta có thể vác nổi những gánh nặng đó". Nhà vua thắc mắc : "Nhưng làm sao biết được Chúa đang tăng cường sức mạnh cho ta ?" Ẩn sĩ : "Bao lâu ta c̣n dăy dụa chiến đấu th́ ta chưa nhận biết được điều đó. Cần phải thinh lặng, ngưng chiến đấu mà chờ đợi sự trợ giúp của Chúa th́ khi đó ta mới cảm thấy được bàn tay uy quyền của Chúa đang giúp sức cho ta". Nhà vua cám ơn lui về. Vài ngày sau trở lại chào biệt vị ẩn sĩ : "Thưa ngài tôi đă cảm nghiệm rằng Đấng đă làm cho cỏ cây xanh tốt và nuôi nấng chim trời cũng đang dang tay tăng sức mạnh cho đôi vai tôi. Xin cám ơn ngài và chào ngài".

Thế là nhà vua trở về triều đ́nh. Mấy năm sau ông lâm trọng bệnh, sai người đi mời vị ẩn sĩ đến. Khi ẩn sĩ đến, nhà vua nói : "Thưa ngài đă hai lần ngài giúp tôi t́m thấy b́nh an. Bây giờ là lần thứ ba mà cũng là lần chót, v́ tôi sắp từ giă cơi đời này". Ẩn sĩ hỏi : "Bệ Hạ có c̣n nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp đầu tiên rời xa Bệ Hạ ?" Vua đáp : "Không bao giờ tôi quên, đó là ngày tôi biết lắng nghe tiếng Chúa trong thâm tâm". Ân sĩ hỏi tiếp : "Bệ hạ c̣n nhớ cái ngày mà cơn khủng khiếp thứ hai rời xa Bệ Hạ không ?" Nhà vua đáp : "Cũng không bao giờ quên, đó là ngày tôi biết chờ đợi trong thinh lặng ơn Chúa đến tăng sức cho tôi". Ẩn sĩ bây giờ cao giọng : "Tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ đă được nghe tiếng Chúa, Bệ Hạ đă được thấy bàn tay Chúa tăng sức cho Bệ Hạ. Bây giờ Bệ Hạ sắp được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua sung sướng như đang mơ : "A, tôi sẽ được chiêm ngưỡng Chúa. Nhưng làm sao được ?" Ẩn sĩ giải thích : "Chỉ khi ở trong yên lặng tuyệt đối, khi cái nh́n của chúng ta không c̣n nh́n vào cơi đời đầy những sầu thương tang tóc, không c̣n ngó nh́n về những tương lai với những ước mơ hay sợ sệt, không c̣n ngó vào bên trong ḿnh để ngắm chính cuộc đời ḿnh, mà chỉ nh́n về hướng duy nhất là Chúa thôi, th́ khi ấy chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng Chúa". Nhà vua th́ thầm : "Yên lặng tuyệt đối. Người ta có thể yên lặng tuyệt đối không ?" Ẩn sĩ đáp : "Ở đời này th́ không. Nhưng trong sự chết th́ được". Nhà vua sung sướng th́ thầm : "Thế th́ tôi muốn chết". Và ông sai sứ giả đi khắp nơi trong nước ra lệnh cho thần dân đừng cầu nguyện cho ông khỏi chết nữa. C̣n trong pḥng của nhà vua th́ cả ngày hôm đó rất yên tĩnh. Khi b́nh minh ló rạng th́ nhà vua ra đi an b́nh. Cái nh́n của ông như ch́m vào một cơi xa xăm, một nụ cười tươi sáng rạng ngời trên gương mặt của nhà vua. Ông đă chiếm hữu được sự an b́nh vĩnh cửu (Vị Ẩn sĩ)

7. Thơ Tagore

"Vào hôm thần chết đến gơ cửa, anh sẽ lấy ǵ biếu hắn hở anh ?

Ồ, tôi sẽ đặt trước mặt khách cốc rượu đời ḿnh tràn đầy, tôi sẽ chẳng chịu để khách ra đi tay không.

Lúc năm tháng đời tôi khép lại, khi thần chết đến gơ cửa mời đi, tôi sẽ đặt trước hắn tất cả trái nho thơm dịu của những ngày mùa thu, những đêm mùa hè, những ǵ kiếm được, những ǵ chắt chiu trong suốt cuộc đời cực nhọc.

Ôi thần chết, ngươi làm cuộc đời tràn đầy lần cuối. Thần chết của ta ơi, hăy lại và th́ thầm cùng ta chứ (…)

Tôi biết ngày ấy thế nào cũng đến, lúc tôi nhắm mắt thôi không nh́n trái đất này, rồi cuộc đời sẽ thầm lặng ra đi, kéo manh che kín mắt tôi lần cuối (…)

Khi tôi nghĩ đến phút giây cuối cùng ấy (…) nhờ ánh sáng lâm chung tôi thấy thế giới Ngài trần trề châu ngọc. Ở đó, chỗ nương thân tầm thường nhất cũng thú vị, ở đó cuộc đời hèn mọn nhất cũng thơm tho (…)

Tôi đă được phép giă từ. Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em ! Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường !"

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng ta hăy tôn vinh Người và dâng lời cầu xin :

1. Chúa luôn hiện diện trong Hội thánh cho đến ngày tận thế / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các giám mục / linh mục / phó tế / biết luôn chu toàn sứ mạng dẫn dắt Dân Chúa trên con đường lữ thứ trần gian.

2. Khát vọng sâu xa nhất của hết thảy mọi người trên trái đất này / là được sống trong ḥa b́nh và thịnh vượng / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho thế giới được b́nh an / và mọi người thoát được cảnh đói nghèo.

3. Khi sống lại từ cơi chết / Chúa đem niềm hy vọng đến cho những ai tin Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Người thương nâng đỡ những kẻ tật nguyền đau yếu / cho họ mau b́nh phục / để họ sống mạnh khỏe an vui.

4. Lạy Chúa / Lạy Thiên Chúa của con / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / cũng biết noi gương thánh Tôma mà tuyên xưng niềm tin của ḿnh / bằng đời sống mến Chúa yêu người.

Chủ tế : Lạy Chúa Giêsu, sau khi Phục sinh vinh hiển, Chúa đă hiện ra cho các tông đồ được thấy tỏ tường. Xin củng cố niềm tin c̣n quá yếu kém của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Chúc b́nh an : Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ, Ngài đă chúc b́nh an cho họ. Giờ đây, trong niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh, chúng ta cũng hăy chúc cho nhau được b́nh an.

VII. GIẢI TÁN

Chúa Giêsu phục sinh đă mang lại b́nh an cho những kẻ tin Ngài. Chúc anh chị em ra về và luôn sống trong b́nh an của Chúa.

 

GÓP GIÓ

Cá voi hát

Có bao giờ bạn mơ ước được đi ngược ḍng thời gian trở lại thời của những con khủng long không? Dĩ nhiên rồi bạn sẽ không muốn sống ở đó đâu, nhưng bạn sẽ có một cuộc du lịch thật tuyệt vời. Những sinh vật khổng lồ ấy luôn luôn hấp dẫn con người. Nhưng bạn không cần đến cỗ máy thời gian để nghiên cứu những chàng khổng lồ khác không kém phần hấp dẫn vẫn c̣n sống trên hành tinh chúng ta ngày nay. Chúng ta đang nói về loài động vật có vú lớn nhất - cá voi xanh.

Cá voi xanh trưởng thành dài chín mươi bộ và một con cá voi lớn cân nặng một trăm năm mươi tấn! V́ vậy cũng không đáng ngạc nhiên khi ta biết cá voi xanh phát ra những âm thanh mạnh nhất và sâu nhất trong các loài động vật. Bạn có thể tưởng tượng tiếng rên rỉ của cá voi xanh là một âm thanh phức tạp có thể trầm hơn mọi giới hạn nghe được của con người. Những âm thanh đó mạnh đến nỗi chúng có thể đi xuyên qua đại dương. Và v́ thính giác của chúng rất nhạy, có thể cho rằng cá voi xanh đă "tṛ chuyện" với nhau qua hàng ngàn dặm dưới nước.

Một loài cá voi nhỏ hơn, cá voi lưng gù, cũng không kém phần đáng ngạc nhiên. Mặc dù cá voi lưng gù chỉ dài năm mươi bộ thôi và nặng khoảng ba mươi tấn, bộ vây giống như chân vịt của nó dài hơn vây của bất kỳ loài cá voi nào. Cá voi lưng gù chỉ cần quạt vây là có thể bơi giật lùi. Khả năng đó biến nó thành một nghệ sĩ xiếc tính theo tiêu chuẩn của cá voi, nghĩa là những sinh vật khổng lồ như một cái đầu máy xe lửa hơi nước.

Nhưng cá voi lưng gù c̣n biết làm nhiều tṛ ngộ nghĩnh hơn. Chúng hát. Thực ra, chúng có thể phát ra nhiều âm thanh khác nhau với một giọng trầm bổng: rên rỉ, khụt khịt, rít the thé, lầu bầu, tắc lưỡi, huưt sáo, lải nhải, lục cục, gầm gừ, nức nở, thỏ thẻ và cả những âm thanh ầm ầm như sấm nữa. Chúng ta không thể biết những âm thanh đó có nghĩa ǵ, nhưng cá voi lưng gù thường phát âm liên tục thành một chuỗi dài từ sáu đến ba mươi phút.

Bài hát của cá voi lưng gù rất mê hoặc. Chúng hát đi hát lại nhiều lần, từng nốt một, trong suốt thời kỳ t́m bạn đời của chúng ở vùng nước ấm ngoài khơi Hawaii, vùng Baja California và Caribbean. Tuy vậy, suốt sáu tháng kiếm ăn ở vùng nước lạnh chúng gần như không "nói" ǵ.

Những thành viên của cùng một nhóm cá voi luôn luôn hát cùng một bài, hoặc gần như vậy. V́ thế, cá voi bắc Thái B́nh Dương hát một bài, cá voi Đại Tây Dương hát một bài khác. Điều đáng ngạc nhiên là mỗi năm bài hát của chúng mỗi khác. Sau tám tháng đi xa kiếm ăn, cá voi lại trở về vùng nước ấm của ḿnh để hát khúc aria vang vọng của năm trước và thêm vào vài đoạn hoàn toàn mới. Trong mỗi nhóm, cá voi cùng hát bài hát mới. Bài hát đó có nghĩa ǵ? Phải chăng cá voi hát về thân thể của chúng và những việc chúng đă làm năm vừa qua? Phải chăng đó là câu chuyện lịch sử truyền miệng của chúng?

Mặc dù chưa có ai dịch được nghĩa những bài hát đó, một số người đă ghi âm được. Có thể bạn sẽ thích tham quan thư viện đó và nghe vài băng ghi âm của cá voi chăng. Ai biết được? Có lẽ bạn sẽ là người hiểu được điều chúng muốn nói?

 

Chiếc túi màu nâu


Sáng nào, trước khi cha đi làm, cô bé cũng có "nhiệm vụ" đưa cho cha chiếc túi đựng bữa trưa. Nhưng một buổi sáng, ngoài chiếc túi thức ăn, cô bé c̣n đưa thêm cho cha một chiếc túi giấy màu nâu. Cái túi đă rách, và được chắp vá bởi những mảnh băng dính cùng những chiếc ghim.

- Cái ǵ trong cái túi này thế? – Cha của cô bé hỏi.

- Bố cứ cầm đi – Cô bé cười hớn hở.

Không muốn mất thời gian, anh đem theo cả hai cái túi đến cơ quan. Sau mấy tiếng đồng hồ làm việc, anh ăn trưa và mở chiếc túi của con. Trong đó có ba viên sỏi, một con khủng long găy đuôi và hai cái giấy gói kẹo.

Ăn trưa xong, anh bỏ những đồ ăn thừa và cả những thứ lặt vặt của cô bé vào thùng rác.

- Con bé toàn giữ những thứ bỏ đi" – Anh lắc đầu lẩm bẩm.

Tối hôm đó, cô bé chạy lẽo đẽo theo cha và hỏi:

- Túi của con đâu, cha?

- Túi nào?

- Túi con đưa cha sáng nay ấy!

- Cha để ở cơ quan rồi!

- Con quên không bỏ thiệp vào – Cô bé ríu rít – Trong túi là những thứ con thích nhất đấy, con nghĩ cha cũng thích chơi với chúng khi cha làm việc mệt quá! Cha không làm mất cái túi đấy chứ, cha?

- Tất nhiên là không – anh cố nói dối – Cha chỉ quên không mang nó về thôi. Mai cha sẽ lấy về!

Cô bé mừng rỡ đưa "tấm thiệp" cho cha. Đó chỉ là một mảnh giấy gập làm tư, và trong mảnh giấy có ghi " I love you, Daddy".

Chờ lúc cô bé đi ngủ, anh vội vă quay trở lại cơ quan. Anh sợ người lao công dọn những thùng rác, và anh sẽ không lấy lại được kho báu của con.

Anh dốc cả thùng rác ra sàn. Anh nhặt con khủng long găy đuôi lên, đem rửa sạch khỏi chỗ thức ăn thừa. Cả ba viên sỏi, hai cái giấy gói kẹo, anh cẩn thận bỏ vào chiếc túi giấy màu nâu, dù túi đă bị rách thêm một ít.

Sáng hôm sau, anh bảo cô bé kể cho anh nghe về những thứ trong chiếc túi. Mất khá nhiều thời gian, v́ mỗi thứ đều có những câu chuyện riêng, giống như những bạn của cô vậy. Như hai cái giấy gói kẹo chính là từ những chiếc gói kẹo sôcôla mà anh mua cho cô, hay con khủng long găy đuôi là quà của cậu bạn hàng xóm tặng cô bé hôm sinh nhật..

Tối hôm đó, cô bé lại ôm con khủng long găy đuôi đi ngủ, cùng một với nụ cười.

 

Hăy thắp lên một que diêm


Một bữa tối tại vận động trường Los Angeles, Mỹ, một diễn giả nồi tiếng - ông John Keller, được mời thuyết tŕnh trước khoảng 100.000 người. Đang diễn thuyết bỗng ông dừng lại và dơng dạc nói:

- Bây giờ xin các bạn đừng sợ! Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này.

Đèn tắt. Cả sân vận động ch́m sâu trong boáng tối âm u. Ông John Keller nói tiếp:

- Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. những ai nh́n thấy ánh lửa của que diêm đang cháy th́ hăy hô to "Đă thấy!".

Một que diêm được bật lên, cả sân vận động vang lên: "Đă thấy!".

Sau khi đèn được bật sáng trở lại, ông John Keller giải thích:

- Ánh sáng của một hành động nhân ái dù nhỏ bé như một que diêm cũng sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại y như vậy.

Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại được tắt. Một giọng nói vang lên:

- Tất cả những ai ở đây có mang theo diêm quẹt, xin hăy đốt cháy lên ! Bỗng chốc cả vận động trường rực sáng.

Ông John Keller kết luận:

- Tất cả chúng ta cùng hợp lực nhau có thể chiến thắng bóng tối, chiến tranh, khủng bố, cái ác và oán thù bằng những đóm sáng nhỏ của t́nh thương, sự tha thứ và ḷng tốt của chúng ta. Hoà b́nh không chỉ là môi trường sống vắng bóng của chiến tranh. Ḥa b́nh không chỉ là cuộc sống chung không tiếng súng. V́ trong sự giao tiếp giữa người với người, đôi khi con người giết hại nhau mà không cần súng đạn, đôi khi con người làm khổ nhau, áp bức bóc lột nhau mà không cần chiến tranh.

Cách tốt nhất để xây dựng ḥa b́nh là tăng thêm thật nhiều những hành động yêu thương và hảo tâm với đồng loại. Những hành động yêu thương xuất phát từ ḷng nhân hậu sẽ như những ánh sáng nho nhỏ của một que diêm. Nhưng nếu mọi người cùng đốt lên những ánh sáng bé nhỏ, những hành động yêu thương sẽ có đủ sức mạnh để xua tan bóng tối của những đau khổ và cái ác.

 

Cho ngày hôm nay


Có hai ngày trong tuần chúng ta không nên lo lắng.

Một ngày là ngày hôm qua, với những sai lầm, những âu lo, những tội lỗi, những thiếu sót ngớ ngẩn, sự nhức nhối và những nỗi đau. Ngày hôm qua đă đi qua. Mọi tiền bạc trên đời này cũng không thể đem ngày hôm qua quay trở lại. Chúng ta không thể huỷ bỏ một hành động mà chúng ta đă làm cũng như không thể nào xoá đi một ngôn từ mà chúng ta đă thốt ra. Ngày hôm qua cũng đă đi xa rồi.

C̣n một ngày nữa mà chúng ta cũng không nên lo lắng, đó là ngày mai với những kẻ thù quá quắt, gánh nặng cuộc sống, những hứa hẹn tràn trề hi vọng mà việc thực hiện th́ tồi tệ. Mặt trời của ngày mai sẽ mọc lên hoặc là chói lọi hoặc là khuất sau một đám mây, nhưng dù ǵ th́ nó vẫn sẽ mọc lên. Và ngay trước khi nó mọc lên vào ngày mai chúng ta vẫn chẳng có mối đe dọa nào, bởi lẽ nó vẫn chưa được sinh ra cơ mà.

V́ vậy, chỉ c̣n một ngày duy nhất - ngày hôm nay - Bất cứ ai đều phải đấu tranh để sống dù chỉ một ngày. Thật ra chẳng phải những ǵ trải qua ngày hôm nay khiến chúng ta lo lắng, mà đó chính là sự hối tiếc về những ǵ đă xảy ra ngày hôm qua và những lo sợ về những ǵ ngày mai có thể đem

 

Gặp gỡ của người đời

Tác giả: Khuyết danh

Chuyện gặp gỡ của người đời không giống nhau, có ngựi suôn sẻ, yên ấm, có người long đong lận đận; có người b́nh yên vô sự, có người gập gềnh trắc trở....Đối với một số cảnh ngộ khác nhau, có người b́nh tĩnh, nhă nhặn, có người nóng giận bất b́nh, có người thản nhiên hứng chịu, có người oán trời trách đời, than thời không đến với ḿnh......

Kỳ thực cảnh ngộ khác nhau cũng có thể xem là trời xanh thử thách và rèn luyện chúng ta khác nhau. Khi vào quân đội, ngày thứ nhất đội trưởng tập hợp mọi người lại huấn thị, đều nói qua một câu: "Vào quân đội th́ phải chịu rèn luyện, các anh cần phải có một cách suy nghĩ, đó chính là: không được kháng nghị, không được oán than, chỉ có quyết tâm chịu đựng vượt qua, bởi v́ đó là phương pháp tốt nhất cho mọi người trưởng thành"

"Nghỉ ngơi là để đi trên con đường dài, rèn luyện là khiến cho ta có thể leo lên được đỉnh núi cao" Đương nhiên đối mặt với cảnh ngộ không giống nhau, thản nhiên vượt qua những thử thách song cúng phải rút ra được những kinh nghiệm của bản thân từ trong đó.

Có câu chuyện kể:

Có một ngưởi thanh niên, ḷng đầy nhiệt huyết rời quên hương đi làm ăn xa, trải qua 3 năm phấn đấu, cuối cùng cũng thành công, trong ḷng luôn mơ tưởng đến cảnh tượng huy hoàng, áo gấm về quê. Không ngờ v́ một ngọn lửa vô t́nh đă đem công sức 3 năm thiêu thành tro bụi. Mộng đẹp phút chốc biến thành ảo ảnh, quá thương tâm, anh ta t́m đến cái chết.

Anh ta trèo lên bờ vực định nhát xuống, kết thúc cuộc đời. Lên đến đố, anh ta phát hiện có một ông cụ, đứng trên bờ vực đang do dự không dám nhảy xuống. Anh ta hiếu kỳ lại gần hỏi nguyên nhân tại sao do dự một ḿnh đứng ở nơi đây, Ông già trả lời:

"Tôi vốn có 1 gia đ́nh nhỏ có bốn người, cuộc sống rất yên ấm. Không ngờ mấy năm trước, bản thân bị một chứng bệnh nan y, các danh y đều đă cgữa qua nhưng bó tay, tiêu tốn hết cả gia sản, bây giờ để chữa bệnh của tôi, vợ con đến 3 bữa ăn hàng ngày cũng đều phải nhin, trả tiền thuốc thang cho tôi. Tôi thành ra một gánh nặng trong nhà. Tôi nghĩ nếu như tôi chết đi, họ sẽ có thể qua được cuộc sống khó khăn này".

Nghe ông già nói, trong ḷng người thanh niên cảm động sâu sắc. Cũng lúc đó, có một người ăn mày cụt chân, tay cầm một cái túi, ḷ ḍ từng bước vui vẻ trèo lên núi dạo chơi. Người ăn mày nh́n thấy 2 người, không cần để ư tới, ngồi ngay vào giữa, vừa mở chiếc túi trong tay ra, vừa lẩm bẩm nói:

"Hôm nay thời tiết thật là đẹp, 2 vị đại ca vui vẻ hay sao mà mới sớm ra đă lên núi ngắm cảnh"

Ngồi gần nh́n mới thấy, người ăn mày không chỉ mất 1 chân mà c̣n thiếu một chiếc xương sườn, hoá ra cái gói là buộc vào tay áo anh ta. Sau khi nh́n thấy t́nh cảnh này, người thanh niên nghĩ đến t́nh cảnh của ông già và nghĩ đến bản thân:
“Ta chẳng qua chỉ mất đi thành quả của 3 năm phấn đấu, nhưng vẫn c̣n trẻ, c̣n có cơ hội làm lại lần nữa. Ông cụ kia chẳng qua chỉ tạm thời không được khoẻ mạnh, nhưng ngược lại, ông ta lại có vợ hiền, con thảo. Anh ăn mày kia tuy mất một chân và một rẻ xương sườn, không có chỗ dựa, ngược lại tự do tự tại mà sống. So với họ, ta thực tế ngay đến tư cách để chết cũng không có”.

Anh ta liền nói với ông cụ: “Tôi không muốn chết! Tôi cảm thấy 2 chúng ta không phải là người đáng thương nhất thiên hạ, chúng ta chẳng qua là không có giầy để đi mà thôi, cần biết trên thế giới c̣n có người không có chân, người không có chân c̣n không muốn chết, người không có giầy càng không có tư cách để đi tự tử”.

Ông già chợt tỉnh ngộ bèn gật đầu cùng anh thanh niên xuống núi.

 

Một việc nhỏ

Tác giả: Khuyết danh

Một gia đ́nh gồm 2 vợ chồng và 4 đứa con nhỏ. Dịp hè, cùng đi nghỉ mát ở một băi biển. Bọn trẻ rất thích tắm biển và xây những ṭa lâu đài trên cát. Bố mẹ chúng thuê một cái lều và ngồi uống nước trên bờ, dơi nh́n các con vui đùa không quá xa ngoài kia phía trước mặt.

Thế rồi chợt trông thấy một bà cụ nhỏ nhắn, ăn mặc xuyềnh xoàng, trên tay cầm một chiếc túi cũ đang tiến lại. Tóc bà đă bạc trắng, bị gió biển thổi tốc lên càng làm cho khuôn mặt nhăn nheo của bà càng khó coi. Bà cụ lẩm bẩm một điều ǵ đó, dáo dác nh́n rồi thỉnh thoảng lại cúi xuống nhặt những thứ ǵ đó trên băi biển, bỏ vào cái túi.

Hai vợ chồng không hẹn mà cùng vội chạy ra gọi các con lại, căn dặn chúng phải tránh xa người đàn bà khả nghi kia. Dường như họ cố ư nói to cho bà ta nghe thấy để bà ta đi chỗ khác kiếm ăn.

Cụ già không biết có nghe thấy ǵ không giữa tiếng sóng biển ́ ầm, chỉ thấy bà từ từ tiến về phía họ. Thế rồi cụ bà dừng lại, nh́n mấy đứa trẻ dễ thương đang ngơ ngác nh́n ḿnh. Bà mỉm cười nhưng không ai đáp lại, chỉ giả vờ ngó lơ đi chỗ khác. Bà cụ lẳng lặng làm công việc khó hiểu của ḿnh. C̣n cả gia đ́nh kia th́ chẳng c̣n hứng thú tắm biển nữa, họ kéo nhau lên quán nước phía trên băi biển.

Trong lúc chuyện tṛ với người phục vụ bàn ăn cùng những khách hàng trong quán, hai vợ chồng quyết định hỏi thăm xem bà cụ khả nghi kia là ai và họ... sững sờ : Bà cụ ấy là người dân ở đây, từng có một đứa cháu ngoại v́ bán hàng rong trên băi biển, vô t́nh đạp phải một mảnh chai rồi bị nhiễm trùng, sốt cao, đưa đi bệnh viện cấp cứu không kịp và đă chết không lâu v́ bệnh uốn ván. Từ dạo ấy, thương cháu đến ngẩn ngơ, bà cứ lặng lẽ đi dọc băi biển, t́m những mảnh chai, mảnh sắt hoặc ḥn đá có cạnh sắc. Mọi người hỏi lư do th́ bà đáp mà đôi mắt ướt nḥe: "Ồ tôi chỉ làm một việc nhỏ thôi ấy mà, để các cháu bé có thể vui chơi trên băi biển mà không bao giờ bị chết như đứa cháu đáng thương của tôi !".

Nghe xong câu chuyện người chồng vội vă chạy xuống băi biển mong có thể nói một lời xin lỗi và một lời biết ơn chân thành, nhưng bà cụ đă đi rất xa rồi. Bóng bà chỉ c̣n là một cái chấm nhỏ trên băi biển vắng người khi chiều đang xuống.

Có Thể

Tác giả: Tóc Bím

+ Có thể bạn không phải là một chàng trai hay một cô gái xinh đẹp nhưng nếu bạn biết yêu thương và chia sẻ th́ bạn là người đẹp nhất.

+ Có thể tôi không phải là người mà bạn cảm thấy yêu thương nhưng tôi cũng xin cảm ơn v́ bạn đă có mặt trên đời và cho tôi biết rằng được yêu thương ai đó là một điều hạnh phúc.

+ Có thể hôm nay bạn cảm thấy mọi chuyện diễn ra thật tồi tệ như một đám mây đen che kín cả bầu trời nhưng cũng đừng v́ vậy mà nghĩ rằng mặt trời sẽ không bao giờ xuất hiện.

+ Có thể một ai đó đă tổn thương bạn và làm bạn cảm thấy đau khổ nhưng nếu như bạn biết thông cảm và tha thứ th́ một ngày nào đó t́nh yêu đích thật cũng sẽ gơ cửa trái tim bạn.

+ Có thể bạn thấy thật hối tiếc v́ đă để thời gian trôi đi vô ích nhưng đừng v́ thế mà ngồi đó than thở để rồi cuối cùng bạn lại mất đi một khoảng thời gian khác.

+ Có thể bạn cho rằng ḿnh là một người yếu đuối nhưng nếu như bạn biết phấn đấu từng ngày để chiến thắng bản thân ḿnh th́ bạn là một trong những người mạnh mẽ nhất.

+ Có thể ai đó nói rằng họ rất yêu quư bạn nhưng tiếc rằng họ lại không phải lả người mà bạn yêu quư vậy sao bạn không cho họ một cơ hội v́ khi bạn cho đi một cơ hội th́ cũng chính là cho ḿnh một cơ hội để yêu thương thêm một người nào đó.

Chúng ta cần những ǵ

Tác giả: Khuyết danh

-Khi bạn buồn, cô đơn bạn cần một người bạn để cùng tâm sự, chia sẻ buồn vui.

-Khi bạn khóc, bạn cần một lời dỗ dành ngọt ngào, một bàn tay để gạt đi nước mắt hộ bạn, một bàn tay dang rộng để ôm bạn vào ḷng.

-Khi bạn gặp khó khăn, bạn cần một lời khuyên, một lời động viên khích lệ.

-Khi bạn tức giận, bạn cần một lời nói dịu dàng để xoa dịu cơn tức giận của bạn.

-Khi bạn hoàn thành tốt công việc, bạn cần một lời khen ngợi.

-Khi bạn vui vẻ, hạnh phúc bạn cần một người để chia sẻ niềm vui của bạn, nghe bạn kể về niềm vui của ḿnh.

-Khi bạn ốm đau, mệt mỏi bạn cần người quan tâm, săn sóc.

Cám ơn cuộc sống

Tác giả: Khuyết danh

Tôi rất trân trọng:

+ Đống bừa băi mà tôi phải thu dọn sau mỗi buổi tiệc v́ điều đó có nghĩa là tôi có rất nhiều bạn bè.

+ Thuế thu nhập mà tôi phải trả v́ điều đó có nghĩa là tôi không thất nghiệp.

+ Quần áo mà tôi mặc hơi chật v́ điều đó có nghĩa là tôi được ăn uống đầy đủ.

+ Đám cỏ mà tôi phải cắt, những cửa sổ mà tôi phải lau, những quyển sách phải đóng lại v́ điều đó có nghĩa là tôi có một mái nhà.

+ Mọi lời than phiền về chính phủ mà tôi nghe được v́ điều đó có nghĩa là chúng ta có quyền tự do ngôn luận.

+ Hóa đơn điện ḷ sưởi khổng lồ mà tôi phải trả v́ điều đó có nghĩa là tôi được ấm áp.

+ Đống quần áo mà tôi phải giặt ủi v́ điều đó có nghĩa là những người thân thuộc vẫn đang sống quanh tôi.

+ Chuông đồng hồ réo vào sáng sớm v́ điều đó có nghĩa là tôi vẫn sống.

+ Xương cốt ră rời và đau đớn mà tôi phải chịu đựng khi cuối ngày v́ điều đó có nghĩa là tôi đă làm việc rất hiệu quả.

Cái máy bơm

Tác giả: Khuyết danh

Một người đàn ông bị lạc giữa một sa mạc rộng lớn. Ông mệt lả và khát khô, sẵn sàng đánh đổi bất kỳ cái ǵ chỉ để lấy một ngụm nước mát. Đi măi đi măi, đến khi đôi chân ông đă sưng lên nhức nhối, th́ ông thấy một căn lều: cũ, rách nát, không cửa sổ.

Ông nh́n quanh căn lều và thấy ở mộ góc tối, có một cái máy bơm nước cũ và gỉ sét. Tất cả mọi thứ trở nên lu mờ đi bên cạnh cái máy bơm, người đàn ông vội vă bước tới, vịn chặt tay cầm, ra sức bơm. Nhưng không có một giọt nước nào chảy ra cả.

Thất vọng, ông nh́n quanh căn lều. Lúc này, ông mới để ư thấy một cái b́nh nhỏ. Phủi sạch bụi cát trên b́nh, ông đọc được ḍng chữ nguệch ngoạch viết bằng cách lấy viên đá cào lên: " Hăy đổ hết nước trong b́nh này vào cái máy bơm. Và trước khi đi, hăy nhớ đổ nước đầy vào chiếc b́nh này".

Người đàn ông bật nắp b́nh ra, và đúng thật: trong b́nh đầy nước mát. Bỗng nhiên, người đàn ông rơi vào một t́nh thế bấp bênh. Nếu ông uống ngay chỗ nước trong b́nh, chắc chắn ông có thể sống sót. Nhưng nếu ông đổ hết nước vào cái máy bơm cũ gỉ, có thể nó sẽ bơm được nước trong lành từ sâu trong ḷng đất – rất nhiều nước.

Ông cân nhắc khả năng cả hai sự lựa chọn; nên mạo hiểm rót nước vào máy bơm để có nguồn nước trong lành, hay uống nước trong cái b́nh cũ và coi như không đọc được lời chỉ dẫn? Dù sao, lời chỉ dẫn không biết đă ở đó bao lâu rồi và không biết có c̣n chính xác nữa không?

Nhưng rồi cuối cùng, ông cũng quyết định rót hết nước vào cái máy bơm. Rồi ông tiếp tục nhấn mạnh cái cần máy bơm, một lần, hai lần... chẳng có ǵ xảy ra cả! Tuy hoảng hốt, nhưng nếu dừng lại, ông sẽ không c̣n một nguồn hi vọng nào nữa, nên người đàn ông kiên tŕ bơm lên xuống, lần nữa, lần nữa...nước mát trong lành bắt đầu chảy ra từ cái máy bơm cũ kỹ. Người đàn ông vội vă hứng nước vào b́nh và uống.

Rồi ông hứng nước đầy b́nh, dành cho người nào đó không may mắn bị lạc đường như ông sẽ đến đây. Ông đậy nắp b́nh, rồi viết thêm một câu dưới ḍng chữ có sẵn trên b́nh: "Hăy làm theo chỉ dẫn trên. Bạn cần phải cho trước khi bạn có thể nhận".

 

Lời hay ư đẹp:

Smile and the world will smile with you. Cry and you will cry alone

 

GIÁ TRỊ CỦA CHIA SẺ

Hăy chia sẻ kiến thức của bạn. Đó là cách để bạn sống măi trong ḷng người khác.

DANH NGÔN TÂY TẠNG

sưu tầm

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

LẠY CHÚA LÀ THIÊN CHÚA CỦA CON

Mark Link S.J.

Bài đọc: Cv 5, 12-16;Kh 1, 9-11, 12-13, 17-19;Ga 20 : 19-31

Chủ đề: Mỗi người chúng ta phải biểu lộ niềm tin được… tiếp xúc với Chúa Giêsu và thưa với Ngài: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con”.

Trong một tập san được phát hành trong nước, một bác sĩ chuyên phẫu thuật bàn tay có viết rằng lần nào giải phẫu ông cũng đều kêu lên vào một lúc nào đó: “Lạy Chúa, là Thiên Chúa của con !”. Ông có thói quen lạ lùng này từ hồi ông c̣n ở VN. Một đêm nọ, vừa mới ra trường Y, ông được kêu đi gắp một viên đạn bị kẹt trong tay một người lính. Đă vậy, ông c̣n phải giải phẫu dưới ánh sáng của ngọn đèn Pin. Cuộc giải phẫu ấy khiến ông cảm xúc sâu xa đến nỗi sau khi cuộc giải phẫu kết thúc, ông đă quyết định đi chuyên ngành giải phẩu bàn tay. Nhờ đi sâu vào lănh vực chuyên môn này, ông đă thẩm định được cách sâu sắc cơn đau khủng khiếp do một vật gây ra, chẳng hạn như viên đạn, khi vật ấy xưyên thủng lớp xương, lớp gân và những sợi dây thần kinh nơi bàn tay con người. Nhà giải phẫu ấy kể rằng ông thường giật thót người mỗi lần nghĩ đến cơn đau khủng khiếp Chúa Giêsu phải chịu khi đôi tay Ngài bị đóng đinh vào thập giá. Khi b́nh phẩm về bài Phúc Âm hôm nay, ông nói rằng theo ông tiếng kêu: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con” của thánh Tôma không chỉ là một lời tuyên xưng đức tin. Nó c̣n là tiếng kêu đầy rung động khi vị tông đồ nh́n thấy dấu vết của đôi bàn tay bị xé toạc ra của Chúa Giêsu. Chỉ đến lúc đó, Tôma mới hoàn toàn nhận thức được cơn đau đớn Chúa Giêsu đă phải chịu trên thập giá. Theo nhận định của nhà phẫu thuật, khám phá này hầu như vượt quá mức chịu đựng của Tôma. Và ông đă kết thúc bản văn đầy cảm động đó với lời chứng sau đây: “Mỗi lần giải phẫu mà nh́n phía dưới lằn da của bàn tay con người, tôi luôn nhớ tới Chúa Kitô đă hy sinh đôi tay toàn hảo của Ngài cho tôi, và cũng như Tôma, tôi thốt lên: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con” (Bác sĩ Scott Harrison, tạp chí Guideposts - Cột chỉ đường, tháng 4. 1985)

Sở dĩ tôi thích câu chuyện trên v́ nó làm nổi bật lên được một điểm thuộc về đức tin mà chúng ta rất thường hay quên. Đó là mỗi người chúng ta phải tiếp xúc trực tiếp với Chúa Giêsu qua đức tin. Không phải chỉ v́ bạn bè chúng ta tin nên chúng ta tin theo. Quả là đức tin của họ có giúp ích cho chúng ta, nhưng chỉ như thế th́ không đủ. Chúng ta phải tự tiếp xúc trực tiếp bằng đức tin với Chúa Giêsu giống như nhà phẫu thuật trong câu chuyện hoặc giống thánh Tôma trong Phúc Âm hôm nay. Và sau đây chúng ta hăy xem vài tấm gương của một số người, tương tự như chúng ta, đă đạt được niềm tin  trực tiếp với Chúa Giêsu.

Robert Cleath, một tác giả viết sách đă trở lại với đức tin khi ông suy niệm về sự biến đổi kỳ diệu đă đến với những môn đệ Chúa Giêsu vào dịp lễ Phục sinh. Trước biến cố này, họ là đám người thất vọng thảm bại, thế mà sau biến cố này, họ đă được biến đổi kỳ diệu và c̣n có năng lực làm phép lạ nữa. Cleath nói: “Không có cắt nghĩa nào hữu lư về biến đổi của họ hơn là sự cắt nghĩa của chính họ; Đó là v́ họ đă nh́n thấy Chúa Giêsu… hiện c̣n sống”. Blaise Pascal, vị thiên tài toán học được hấp dẫn đến với đức tin khi ông suy niệm về sự kiện không có sự đe doạ giết chóc nào có thể ngăn cản các môn đệ Chúa Giêsu nói thật to cho thế gian biết rằng Ngài đă sống lại. Pascal nói ông tin chắc chắn vào kẻ nào dám sẵn sàng chịu “cắt cổ” v́ lời rao giảng của ḿnh.

Sau cùng ta hăy xét đến đám tù nhân trong cái trại trên bờ sông Kwai. Họ được lôi cuốn đến với đức tin qua cảm nghiệm riêng tư về quyền năng Chúa Giêsu đang hoạt động trong cuộc sống của họ. Chúng ta hăy nhớ lại đám tù binh này từng bị lao động đầu trần chân đất dưới cơn nóng cháy da miền nhiệt đới. Trong chỉ vài tuần lễ, từ những người đàn ông lực lưỡng, họ đă biến thành những bộ xương biết đi. Tinh thần họ bị xuống đến mức  tệ nhất. Người ta lo sợ sắp có điều ǵ xảy ra. Thế nhưng vào ngay thời điểm ấy, hai tù nhân đă đứng lên tổ chức đám tù c̣n lại thành những nhóm t́m hiểu Kinh Thánh. Nhờ suy tư t́m hiểu Thánh Kinh, các tù nhân đă học biết rằng Chúa Giêsu phục sinh đang ở giữa họ. Họ chỉ việc tiếp xúc với Ngài và sau khi tiếp xúc với Ngài, đám tù đă được biến đổi kỳ diệu trong cuộc sống từng người, chính cảm nghiệm thiêng liêng này khiến họ qú gối xuống thưa cùng Chúa Giêsu: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con”.

Và cảm nghiệm trên đă qui tụ chính chúng ta lại trong ngôi thánh đường này. Chúng ta cũng phải biểu lộ niềm tin trực tiếp vào Chúa Giêsu như thế. Chúng ta cũng phải t́m được lư do riêng tư thôi thúc chúng ta qú gối xuống thưa với Chúa Giêsu: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con!. Dĩ nhiên chúng ta không thể leo lên cỗ máy thời gian bay ngược ḍng lịch sử cách đây 2004 năm để dự lễ phục sinh đầu tiên. Chúng ta cũng không thể đặt ngón tay vào lỗ đinh nơi tay Chúa Giêsu giống như thánh Tôma. Chúng ta cũng không biết giải phẫu bàn tay người giống như nhà phẫu thuật nọ để cảm nghiệm được nỗi đau khủng khiếp mà Chúa từng gánh chịu. Vậy th́ chúng ta có thể làm ǵ?

Chúng ta có thể làm như đám tù binh ở sông Kwai. Chúng ta có thể tin vào Phúc Âm, có thể tiếp xúc với Chúa bằng đức tin, có thể tự cảm nghiệm được Chúa Giêsu phục sinh đang ngự giữa chúng ta, Ngài sẵn sàng giúp đỡ chúng ta như Ngài từng giúp đỡ đám tù binh nọ. Đây là lời mời gọi mà bài Phúc Âm hôm nay dành cho chúng ta. Đây là lời mời gọi Chúa Giêsu ngỏ với chúng ta khi Ngài nói với thánh Tôma: “Hỡi Tôma, v́ con đă thấy nên con mới tin, nhưng phúc cho kẻ nào không thấy mà tin” (Ga 20; 29)

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô, khi Chúa Giêsu nói với thánh Tôma: “Phúc cho ai chẳng thấy mà tin” là Ngài đang ngỏ lời với chính chúng ta cũng như với triệu triệu Kitô hữu trong suốt ḍng lịch sử: “Phúc cho các con nếu các con tin vào Phúc Âm. Phúc cho các con nếu các con tiếp xúc với Ta bằng đức tin. Thực thế, phúc cho các con, v́ cũng như các tù binh nọ sẽ khám phá được rằng Ta đă sống lại và hiện đang sống ngay lúc này đây giữa các con và luôn sẵn sàng giúp đỡ các con”.

Chúng ta hăy kết thúc bài giảng này bằng bài thơ mà một độc giả ở Cedar Rapids thuộc tiểu bang Iowa đă gởi tặng bà Ann Landers, Bà cho in lại trong mục báo của bà vào chúa nhật phục sinh. Bài thơ ngỏ lời với những kẻ giống như chúng ta là những kẻ trong lúc yếu đuối thường bị cám dỗ, nghi ngờ rằng không biết Chúa có thực sự hiện hữu hay không, và nếu Ngài hiện hữu th́ Ngài có thực sự lo lắng cho chúng ta không. Đây chúng ta hăy lắng nghe:

“Nếu các ngươi không thể khiến một v́ sao di động và dựng xây một ngọn núi trên địa cầu,

“Nếu ngươi không hiểu nổi một chùm bông tuyết và ngẩn người trước mầu nhiệm “sinh sản” th́ hỡi giống người hay chết đầy cao ngạo,

ôi ! ngươi chẳng thể thay đổi tí ǵ cho vũ trụ

chẳng làm ra được một nụ bông nhỏ bé,

chẳng cấu tạo nổi một giọt mưa sa,

chẳng tung ra được một cụm mây vào một ngày rực nắng.

Ôi ! Hỡi loài bởi đất! Ngươi chẳng bao giờ vẽ được,

một bức tranh về cảnh hoàng hôn,

hay làm cho hừng đông bừng lên toả sáng.

Ôi! Con người yếu ớt biết bao!

“Ngươi chẳng thể làm nên một phép lạ cỏn con, thế th́ sao lại dám hồ nghi

Đấng duy nhất làm nên tất cả?”

(Tác giả vô danh)

TIN LÀ YÊU

Gm. Arthur Tonne

Trước khi một ông vua nước Anh lên ngôi, một vài thần dân đến xin chức vị. Khi thuận lời xin, ông vua tương lai viết một tấm phiếu để làm tin. Một hôm có người đến xin một chức vị quan trọng, khi vua tương lai chuẩn bị viết lời hứa, nhà quí tộc tâu với vua rằng: “Lời phán của vua là đủ rồi” và nhà vua rất hài ḷng trước câu nói đó, vua đáp lại: “Nhà quí tộc này thật ḷng kính nể ta, Ngài đối xử với ta như ta đă làm vua”

Thật khác với lời lẽ của Thánh Tôma trong bài Tin mừng hôm nay. Tôma đă không tin lời hứa của Vua ḿnh. Đức Giêsu Kitô Người đă tiên báo rằng Người sẽ sống lại từ cơi chết. Tôma cũng không tin các bạn tông đồ của ông, họ đă thấy Chúa sống lại, Chúa Giêsu đă khiển trách Tôma v́ thiếu ḷng tin, Người tuyên bố: “Có phước và  hạnh phúc cho ai không thấy mà tin”.

Tin là sự tín nhiệm vững chắc vào sự thành thật, uy tín và sự công minh của người khác. Thường chúng ta nói về ḷng tin vào Thiên Chúa trong Chúa nhật này, đó là điều quan trọng nhất. Nhưng ḷng tin nơi bạn bè cũng quan trọng. Tôi xin bàn một chút xíu về điểm này.

Đặt niềm tin của bạn vào một ai đó, Thiên Chúa  hay người ta là bạn bày tỏ ḷng tôn kính hết mực của bạn đối với người đó. Tin là Yêu. Một người chồng phải tin vợ, và cố gắng sống xứng đáng niềm tin của Nàng. Và người vợ cũng phải làm như vậy, phải bỏ tính nghi ngờ, ghen tương và căi lẩy. Cha mẹ phải cho con cái có cơ hội chứng tỏ chúng đáng tin. Mặt khác, con cái cần tin tưởng nơi cha mẹ, cần ư thức rằng kỷ luật và tập tục của gia đ́nh không phải đặt ra để kiềm chế, nhưng để bảo vệ con cái. Chủ chăn phải tin rằng con chiên sẽ theo ḿnh, và ngược lại con chiên phải cảm thấy rằng chủ chăn quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của họ. Thầy cô giáo tin tưởng học sinh. Học sinh cần tin tưởng nơi thầy cô giáo. Bệnh nhân cần tin tưởng Bác sỹ mới có nhiều cơ may khỏi bệnh. Chúng ta củng cố ḷng tin bằng mọi cố gắng trở nên đáng tin cậy.

Một người tin vào Chúa, họ thật sự tin Chúa, th́ họ cũng tin người lân cận, ngược lại, chỉ cho tôi thấy người không tin vào Chúa, tôi sẽ chỉ cho bạn người thật sự không tin tưởng người lân cận.

Khi bạn thấy khó tin được ai hay khi bạn cảm thấy khó tin ngay chính bạn, hăy kêu lên Chúa những lời của Thánh Tôma: “Lạy Chúa tôi. Lạy Thiên Chúa Tôi”. Hăy cầu nguyện theo lời Thánh vịnh đáp ca: “Chúa là sức mạnh, là sự dũng cảm của tôi, Người là Đấng cứu độ tôi”. Xin Chúa Giêsu giúp tất cả chúng ta biết tin tưởng và xứng đáng được tin tưởng. Xin Chúa chúc lành Bạn. Amen.

 

 

I.Tia sáng:

v E NGẠI VÀ NHĂ NHẶN  

v THINH LẶNG 

II.Thư giăn:

 TIếNG NÓI CON TIM

1.         LANG Y DẠY CON  

2.         CHỉ ĐƯợC ĐứNG CổNG

3.         HOÀN MĨ 

4.         Nữ QUYềN LÊN NGÔI

5.         CHỨNG LĂNG TAI 

6.         TÔI KHÔNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN         

III.Nhật kư truyền giáo của Lm.Piô Ngô Phúc Hậu:

v CÔNG BẰNG XĂ HỘI 

IV.Chuyện ngụ ngôn:

v  MƯA SỢ PHẠT THUẾ    

V.Hẹn bạn trên đỉnh thành công:

v TIẾN BƯỚC HOẶC DỪNG BƯỚC TRƯỚC TRỞ NGẠI 

VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:

v 10 CÁCH ĐỂ CẢM THẤY HẠNH PHÚC       

VII.Chuyện phiếm :

v H̀NH NHÂN THẾ MẠNG         

       

 

I.     TIA SÁNG :

*Tính e ngại và nhă nhặn là bạn thân của đức trinh khiết .

* TRONG T̀NH YÊU, THINH LẶNG ĐÁNG GIÁ HƠN LỜI NÓI.

Pascal

Nhưng cần phải có cái "tai" rất thính mới có thể hiểu được sự im lặng đó. Khi đọc Phúc Âm, đă bao nhiêu lần tôi biết dừng lại và ngạc nhiên: chỗ này, có lẽ phải im lặng? Những lúc ấy Phúc Âm đă nói rất mạnh, đă bày tỏ sứ điệp tối đa. Môi không mấp máy. Đôi mắt hạ thấp xuống thinh lặng. Bởi v́ con mắt không nhận ra Sự thật của Phúc Âm.

Lạy Chúa, xin cho con nhận ra t́nh Chúa yêu con trong âm thầm lặng lẽ, cho con cũng biết yêu mà không cần nói ra làm ǵ.

II.      THƯ GIĂN:

1. Tiếng nói con tim.

Mẹ ơi, anh Jack yêu con ghê lắm!

- Sao con biết?

- Mỗi lần anh ấy ôm con, con đều nghe tiếng tim anh ấy đập rơ mồn một...

- Dẹp ngay cái tṛ ngu xuẩn ấy đi. Ngày xưa bố mày cũng giấu đồng hồ quả lắc trong túi đấy!

2. LANG Y DẠY CON 

Có một ông lang băm bốc thuốc chữa bệnh, thuốc bốc lung tung, cho nên dẫn đến chết người. Người nhà nạn nhân đến trói ông lang băm nọ, khiêng về nhà ḿnh để trị tội.

Nửa đường, nhân khi trời tối, ông lang băm đă cởi được trói, rồi nhảy xuống sông bơi được sang bên kia, thế là thoát.

Về đến nhà, ông lang băm thấy con ḿnh đang chúi đầu vào đọc sách. Ông lang băm bảo con:

- Con ơi, sách thuốc học sau cũng được. Bây giờ con phải học bơi cho giỏi cái đă.

3. Chỉ được đứng cổng

Trong ngày lễ thánh, thị trưởng mở tiệc chiêu đăi các chức sắc và thương gia có máu mặt trong tỉnh, tháp tùng họ là cả một đoàn các quư bà, quư cô, cậu ấm, cô chiêu. Khi tất cả tề tựu đông đủ, thị trưởng đề nghị vị linh mục của nhà thờ thị trấn ra chủ tŕ buổi lễ.

Khi tiệc tàn và rượu vơi đi khá nhiều, quan khách bắt đầu bỏ qua các phép tắc lễ nghi và lôi ra đủ thứ chuyện dung tục tầm phào để tán gẫu. Một bà quả phụ có chồng vừa chết là bạo dạn nhất, cứ xoắn lấy vị linh mục, lôi những chuyện "tế nhị" ra để châm chọc và cười hô hố.

Chờ tới lúc mọi người đổ dồn ánh mắt về phía hai người, bà ta lớn tiếng hỏi vị linh mục:

- Thưa Cha! Nghe nói Cha có thể biết mọi chuyện xảy ra ở bên kia thế giới, xin Cha nói cho em biết, lăo chồng em nay đang ở đâu?

Vị linh mục chậm răi đáp:

- Chuyện ǵ mà ta chả biết. Thế con thử đoán xem, chồng con đang ở đâu?

- Lăo chồng em đang ở địa ngục?

- Không, không phải.

- Lăo ấy đang ở nơi chuộc tội?

- Không. Ông ta là người tử tế, suốt đời có làm hại ai đâu.

- Vậy là lăo ấy ở trên thiên đàng?

- Cũng không phải ở đó.

- Thưa Cha, Cha lại đùa con rồi. Con hỏi là hỏi thành tâm. Lăo chồng con không ở địa ngục, không ở nơi chuộc tội, không ở trên thiên đàng, vậy lăo đang
ở đâu?

- Nếu con đă mong mỏi được biết sự thật đến thế, ta cũng thành thật cho con rơ: chồng con đang đứng trước cổng thiên đàng với thánh Phêrô.

- Đứng ở cổng thiên đàng? Thế sao lăo ấy không vào bên trong?

- Khốn khổ cho ông ta, trên đầu ông ta mọc đầy sừng nên không đi lọt
qua cổng.

4. HOÀN MỸ 

Mục sư: "Thượng đế vạn năng sáng tạo ra mỗi vật đều hoàn mỹ ..."

Người gù: "Thế c̣n con th́ sao?"

Mục sư: "Con là người hoàn mỹ nhất trong những người gù!"

5. Nữ quyền lên ngôi

Nhà nghiên cứu nhân chủng học Barbara Walters thực hiện một cuộc khảo sát tỉ mỉ về vai tṛ của giới tính ở Kuwait trong nhiều năm, trước khi cuộc chiến vùng Vịnh nổ ra. Bà nhận thấy rằng, theo phong tục, phụ nữ thường đi sau chồng khoảng 3 mét.

Chiến tranh vùng Vịnh làm cuộc nghiên cứu của Walters bị gián đoạn.
Khi cuộc chiến chấm dứt và an ninh được văn hồi, bà trở lại Kuwait và sửng sốt khi nhận thấy ngày nay, đàn ông nước này khi ra đường đi sau vợ cả chục thước.

Bà lại gần một phụ nữ và chúc mừng:

- Thật là tuyệt vời! Xin cô vui ḷng cho tôi và thế giới tự do biết, điều ǵ đă giúp phụ nữ nơi đây giành được sự đảo lộn vai tṛ đại đến nhường ấy?

- Ḿn! - Người phụ nữ đáp.

6. CHỨNG LĂNG TAI. 

Khả năng nghe của cậu John đă bắt đầu suy yếu và bác sĩ đề nghị cậu dùng một trợ thính cụ. Nghĩ rằng dụng cụ ấy quá đắt tiền, cậu John chỉ gắn một ống nghe của một chiếc máy thu thanh xách tay vào một bên tai của ḿnh và giấu đầu dây cắm vào ngay phía sau cà vạt cho khuất mắt.

Một người bạn biết được việc cậu làm bèn bảo với cậu:

- Đầu dây kia có nối vào được thứ ǵ đâu. Nó làm sao giúp ông nghe được cơ chứ?

-Ồ, ông bạn chớ có ngạc nhiên- Cậu John bảo- Này nhé, khi ai trông thấy như thế họ sẽ nói to hơn!

7. TÔI KHÔNG MÊ TÍN DỊ ĐOAN 

Quản lư nhân sự: Trước giờ anh có kinh nghiệm thương mại nào chưa?

Người xin việc: Chưa, tôi vừa mới ra trường thôi.

Quản lư nhân sự: Thế anh đang t́m việc ǵ?

Người xin việc: Tôi muốn công việc ǵ đó đại loại như cấp điều hành. Làm Phó Giám đốc chẳng hạn.

Quản lư nhân sự: Nhưng chúng tôi đă có tới mười hai vị Phó Giám đốc rồi.

Người xin việc: Không sao đâu. Tôi không phải là người mê tín dị đoan.

III.             NHẬT KƯ TRUYỀN GIÁO :

Trích trong “Nhật kư truyền giáo”

Biên soạn : Lm. PIÔ NGÔ PHÚC HẬU

CÔNG BẰNG XĂ HỘI

Sài G̣n, …

Hôm qua ḿnh nhận được điện tín báo: "Lên gấp". Ḿnh chạy vội ra bến Thợ Nhuộm nhờ chị Bảy Thanh dẫn đi mua giùm một vé tốc hành Cà Mau - Sài G̣n.

- Hết vé rồi chị Bảy ạ. Tụi em chỉ bán có 11 vé thôi. Chị dẫn ông cha qua bên kia cầu. Bên đó bán 11 vé, may ra th́ c̣n.

- C̣n có cái may nào khác nữa không? Ḿnh hỏi thêm ngụ ư: Nếu thêm tiền th́ sao?

- Hết phương rồi ông cha ơi. Mỗi tối chỉ có hai chuyến "phôca" thôi.

Ḿnh lủi thủi qua bên kia cầu, để thử vận.

- C̣n vé đi Sài G̣n không chị ?

- Hết rồi chú. Chú cứ ngồi uống nước đi. May ra có người bỏ cuộc chăng. Ḿnh kêu một ly cà phê đá và ngồi chờ vận may ngàn năm một thuở. Có thể vận may đi Sài G̣n th́ không có, mà chỉ có vận may bán được thêm một ly cà phê. Nếu thế th́ ḿnh bị gạt rồi ...

Một lát sau có một chú thanh niên lốc cốc từ trên dốc cầu đi xuống, hành trang gọn nhẹ với một cái túi lép kẹp vắt trên vai.

- Ê, hết chỗ rồi mày !

- Hết sao được. Chị hứa dành cho em vé số 22 mà.

- Mày th́ có việc ǵ cần đâu. Mai đi cũng được.

- Không chơi. Chị hứa th́ chị phải giữ lời.

- Tao nói rồi mà. Hết vé. Mai hẵng đi.

Anh chàng thanh niên tiu nghỉu quay gót. Khi hắn đă đi thật xa, chị chủ quán quay lại phía ḿnh, đon đả.

- Cha! Con bẻ chĩa thằng đó để lấy vé cho cha đó. Con là người ngoại, nhưng con biết cha từ hôm đám tang ông Năm Phần. Hồi năy con làm bộ kêu cha bằng chú, cha thông cảm nhe. Xe sắp qua rồi đó.

Hai mươi giờ rưỡi. Chiếc FK vượt cầu và dừng lại ở phía bên kia đường. Ḿnh vội vàng xách túi đồ đi theo chị chủ quán.

- Ê, mày xuống dưới kia, nhường chỗ cho ông cha. Cô gái đang ngồi ghế số 5 ngoan ngoăn đi xuống ghế số 22.

Xe lăn bánh.

Ḿnh vẫy tay chào chị chủ quán. Ḷng khấp khởi mừng "Nhất thân, nh́ thế" là vậy đấy …

Bây giờ th́ ḿnh đang ở Sài G̣n rồi. Cái vui của hôm qua đă tàn lụi. Bây giờ th́ lương tâm cắn rứt quá chừng. Chỉ v́ ḿnh, mà chị chủ quán cà phê đă hai lần vi phạm luật công bằng xă hội. V́ ḿnh, mà anh chàng thanh niên phải tiu nghỉu ra về. V́ ḿnh mà cô gái đang ung dung ngồi ghế số 5 phải rút xuống ghế chót để chịu xe dằn xe lắc. Lẽ ra ḿnh phải chống lại bất công th́ ḿnh đă im lặng đồng loă. Ḿnh đă xây dựng niềm vui trên nỗi khổ của người khác. Ḿnh không chống bất công, chỉ v́ ḿnh là người được hưởng lợi ích của bất công...

 

Cần Thơ, …

Tin từ Toà Giám mục: Đức cha Nguyễn Kim Điền phát biểu tại Thượng Hội đồng Giám mục ở Rôma: "Đă có nhiều Giám mục tử đạo v́ đức tin. Nhưng chưa có Giám mục nào tử đạo v́ công bằng xă hội". Ừ, có lẽ như thế thật. Tại sao? Có lẽ v́ các ngài chưa bao giờ là nạn nhân của bất công, nên không phải đấu tranh chống bất công. V́ không phải là nạn nhân của bất công nên không bén nhạy trước nỗi thống khổ của những người chịu đựng bất công. Các ngài yêu thương và giúp đỡ người bị đàn áp, nhưng không tích cực đến mức độ đứng hẳn về phía họ và chịu đổ máu v́ họ.

Ḿnh dám suy nghĩ như thế chỉ v́ ḿnh "suy bụng ta ra bụng người" mà thôi. Một lần kia ḿnh chứng kiến cảnh tranh chấp giữa hai thằng cu tí. Hai đứa được mẹ cho một tô chè với lời dặn thằng anh: "Chia đều cho em nghe con". Thằng anh láu cá tuyên bố:

- Tao lấy cái tăm đặt ở giữa tô. Mày múc bên đó. Tao múc bên này. Thế là đều. Đồng ư chưa ?

- Đồng ư.

Hai anh em cùng múc, múc trong khu vực của ḿnh. Nhưng thằng anh múc nhiều hơn. Chè bên phía thằng em chảy qua phía thằng anh.
Khi thằng em khám phá được cái tṛ bịp bợm của thằng anh, th́ đă quá trễ, chỉ c̣n biết khóc, khóc nức nở, khóc hậm hực. C̣n ḿnh th́ cười một cách thích thú. Ḿnh không chia sẻ cảnh bất công của thằng em và không can thiệp, chỉ v́ ḿnh không hề là nạn nhân của thằng anh láu cá. Đời là
thế đấy !

Cái Răng, ...

Hôm nay ḿnh ghé chủng viện Cái Răng. Pḥng đầu tiên mà ḿnh bấm chuông là pḥng cha giáo Chương. Cha giáo đang duyệt phim.

- Cha Piô coi phim Les Missions chưa?

- Về phim ảnh th́ ḿnh dốt đặc cán mai, dài cán thón. Bác tóm tắt giùm em coi. Hết sức vắn tắt thôi.

- Phim mô tả cảnh thực dân da trắng tấn công các bộ lạc da đỏ. Các nhà truyền giáo th́ có hai thái độ: Thái độ một đứng hẳn về phía người da đỏ, cầm vũ khí chống lại thực dân. Thái độ hai: khước từ bạo lực, chỉ rao giảng và cầu nguyện. Nhưng cuối cùng th́ thực dân tấn công và tiêu diệt tất cả. Hàng giám mục địa phương báo cáo về Toà Thánh như sau :

"Hàng giáo sĩ của chúng tôi đă đứng ra bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người dùng bạo lực, có người dùng lời cầu nguyện. Cả hai đều đă chết, nhưng dường như họ vẫn sống. C̣n chúng tôi, hàng Giám mục th́ vẫn c̣n đang sống. Chúng tôi đang sống, nhưng dường như chúng tôi đă chết".

Nội dung chuyện phim cùng với giọng truyền cảm của cha giáo Chương làm ḿnh bị xúc động. Có lẽ ḿnh c̣n phải suy nghĩ về đề tài này nhiều năm nữa.

Mau, …

Hôm nay trong bài giảng tĩnh tâm hạt Minh Hải, Cha Triều nhắc đến cái chết của Đức cha Oscar Romero. Tổng Giám mục El Salvador. Ngài bị ám sát ngay trong thánh lễ sau một bài giảng chống bất công. Ngài đ̣i chính quyền phải chia tài nguyên tổ quốc cho nhân dân, v́ hầu hết đất đai của tổ quốc là tư hữu của những người quyền thế. 90% nhân dân chỉ là người đi làm mướn.

Hôm nay ḿnh mới được nghe nói đến tên Oscar Romero và cái chết của ngài. Phải chăng đây là của lễ đầu mùa mà hàng giáo phẩm Công giáo dâng lên Chúa một vị Giám mục tử đạo v́ công bằng xă hội. Phải chăng ước nguyện của Đức Cha Nguyễn Kim Điền hôm nay đă thành hiện thực. Và dường như những vị tử đạo v́ công bằng xă hội đang nở rộ trên khắp các lục địa !

IV.             TRUYỆN NGỤ NGÔN:

MƯA SỢ PHẠT THUẾ

Giai đoạn lịch sử trước thời nhà Tống, có thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Khi đó có một nước tên là Nam Đường. Thuế khóa ở nước Nam Đường này rất nặng nề, người buôn bán v́ thuế quá cao nên chán nản lo lắng.

- Kim Lăng (nay là khu vực Nam Kinh) là kinh thành nước Nam Đường, hạn hán kéo dài, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ.

Vua nước Nam Đường là Lư Thăng. Một lần vua mở tiệc trong vườn Bắc Uyển gọi là ủy lạo các đại thần. Giữa bữa tiệc, vua Lư Thăng hỏi các đại thần:

- Sao lâu rồi không thấy kinh thành có mưa nhỉ. Một vị đại thần có tên là Thân Triều Cao, đáp:

- Thưa quốc vương, mưa không dám rơi xuống kinh thành chúng ta v́ nó sợ bị phạt thuế .

Vua nghe xong bật cười, rồi sau đó ra chiếu chỉ băi bỏ những thứ thuế vô lư.

 

 

 

V.  HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:

Theo bản tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar

Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU - DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN –
NGUYỄN VĂN DIỄM

CHƯƠNG BA

ĐỀ RA MỤC TIÊU

TIẾN BƯỚC HOẶC DỪNG BƯỚC TRƯỚC TRỞ NGẠI

Khi đă sắp xếp mục tiêu theo thứ tự quan trọng rồi, bạn nên kê ra các trở ngại. Nếu không có tức là bạn đă nắm được trong tay mọi điều ḿnh muốn rồi đấy. Liệt kê trở ngại xong, bạn có thể hoạch định chương tŕnh và thời biểu để vượt qua. Đa số những vị giám đốc đều cho rằng bạn đă giải quyết được một nửa vấn đề sau khi xác định được chúng. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy ḿnh vượt qua trở ngại thật mau nhờ đă xác định được chúng. Và khi đă vượt được những trở ngại của một mục tiêu rồi th́ những trở ngại của mục tiêu khác cũng sẽ dễ vượt qua hơn.

VI.         T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH: 

(An Giang số 1369, ngày 4/10/1997, trang 9)

10 CÁCH ĐỂ CẢM THẤY HẠNH PHÚC

1. Hăy tập thể dục. Tham gia vào một khoá luyện tập cơ thể hoặc đến bể bơi ở gần nhà. Hăy cố làm nhiều công việc chân tay hơn.

2. Hăy tính toán trong một ngày bạn phải làm bao nhiêu tiếng những công việc bắt buộc và bao nhiêu tiếng những việc ưa thích. Nếu số thời gian bạn phải làm những việc bắt buộc lớn hơn th́ bạn phải học cách "chiều" ḿnh hơn chút nữa.

3. Nếu nhà bạn chưa đủ ánh sáng hăy mua thêm bóng đèn. Sống trong một khung cảnh tối mờ mờ dễ dẫn đến t́nh trạng buồn nản.

4. Hăy gởi những chiếc bưu thiếp vui nhộn cho năm người bạn thân chẳng v́ lư do ǵ hết. Chỉ biết rằng chúng sẽ cho bạn một cảm giác vui vẻ và cả người nhận cũng vậy.

5. Nếu bạn cảm thấy cơ thể mỏi ră rời và tinh thần suy sụp, hăy tắm bằng nước nóng và nếu có điều kiện hăy ngâm ḿnh trong nước ấm khoảng nửa giờ sẽ dễ chịu hơn.

6. Hăy thật sự để tâm vào h́nh dáng bên ngoài của ḿnh.

7. Ăn ít và có chất lượng. Hầu hết chúng ta đều ăn quá nhiều. Ăn nhiều sẽ gây cảm giác mệt mỏi nặng nề.

8. Hăy lập kế hoạch làm một việc ǵ đó cụ thể cho từng tuần.

9. Hăy chọn cho ḿnh một thú vui - thứ mà bạn vẫn hằng mong muốn được thử sức.

10. Nếu tối nào bạn cũng đi ngủ đúng giờ, hăy thử phá lệ thức khuya hơn một chút, xem vô tuyến, đi dự tiệc hay mời bạn bè đến nhà chơi xem sao?

Liên Hương

VII.                        CHUYỆN PHIẾM :

Trích trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ” non

Biên soạn : PHẠM KHẢI

H̀NH NHÂN THẾ MẠNG 

Phải tới mười ngày liền bà Sáu cứ thấy bồn chồn, hồi hộp như điềm báo có chuyện chẳng lành. Nghe nói điện cô Tốn trong Hoà B́nh thiêng lắm, bà giấu chồng con sắm lễ vật, thuê taxi đi ngay.

“Cô” Tốn là một người đàn bà luống tuổi, chưa mất đi vẻ quê mùa, lam song lại có những điệu bộ ơng ẹo, đỏng đảnh kiểu đồng cô. Nhận khay lễ vật đầy đặn (có cả bia lon, thuốc lá ba số) cô lẩm nhẩm:

- Tiền oan nghiệp chướng đây, tiền oan...

- Cô bảo sao? Liệu nhà tôi có tai qua nạn khỏi không?

- Có hạn to đấy. May mà bà có ḷng thành mới biết đường đến điện của cô đây. Cầu xin bà chúa thượng ngàn và mười nàng tiên sông Đà chứng giám.

Sau khi hỏi ngày sinh tháng đẻ của vợ chồng bà Sáu và gieo quẻ, cô bỗng rùng ḿnh;

- Quả không sai. Ông ấy gặp năm sung tháng hạn, lai có âm hồn đ̣i trả oán từ kiếp trước nên số trời đă định…

Bà Sáu vái lia lịa:

-Lạy Thánh mớ bái, lạy bà chúa thượng ngàn, lạy các nàng tiên sông Đà phù hộ nhà con, cho của đi thay người. Tốn kém bao nhiêu cũng không dám tiếc.

- Cái bà này chẳng hiểu ǵ cả! Số trời đă định th́ quỉ sứ, ma vương cứ chiếu theo người mà bắt. Có phải cứ lấy tiền của mà rẫy được đâu! Thôi để cô xem có cách nào không?

Bà Sáu bỏ thêm một sấp bạc vào khay lễ vật:

-Xin cô cầu các vị thánh thần hoá phép thần thông, ra tay cứu nạn.

- À, được. Ta có cách này: Dùng h́nh nhân thế mạng.

- Là thế nào ạ?

- Là dùng h́nh nhân mang tên họ chồng bà nộp cho âm phủ. Dưới ấy coi như đă bắt được phạm nhân theo số trời đă định. Thế mà chồng bà vẫn sống trên đời, chẳng có ma quỉ nào ám nữa. Nói th́ đơn giản nhưng chưa biết làm thế nào đây.

-  Vâng, tôi hiểu. Trăm sự nhờ cô. Tôi đâu dám quên ơn.

Theo sự hướng dẫn của cô đồng Tốn, bà Sáu chẳng ngại tốn kém đặt làm một h́nh nhân thế mạng giống hệt ông chồng. Cũng mặc âu phục kẻ sọc. Mắt đeo kính “dâm” to bằng đôi miệng chén rất hợp với bộ ria tài tử “môđen” nhất trên màn ảnh. Cổ đeo xích xoắn 9999 một cây. Tay vàng chóe những nhẫn, lại cầm môbiphôn thật oách. Bà Sáu c̣n bỏ vào túi áo ”chồng”  mấy tập đôla ngân hàng địa phủ để khi cần có mà… “làm luật” cho quỷ sứ âm cung.

Chuyện h́nh nhân thế mạng (lừa cả diêm vương) khó tày trời nhưng nhờ tài phép linh thiêng, cô đồng vẫn làm trót lọt. Tất nhiên cô và các thánh thần đều được tạ ơn hậu hĩ. Thế là nhờ của đi thay người, từ nay ông Sáu tha hồ tung tẩy trên thế gian này. Có khi thành bất tử cũng nên v́ đă có kẻ thế chân, lại có phong b́ đầy đủ cho các vị chức sắc th́ họ c̣n gọi ông làm ǵ nữa? Bà Sáu mừng cho ông chồng mà khoẻ hẳn ra. Song vốn là người cẩn thận, bà khuyên ông bớt điều sắc dục, giảm chuyện hại nhân, ngày rằm mùng một ăn chay, thỉnh thoảng đi chùa cầu thánh thần phù hộ. Ông nghe bà tuần nào cũng đến hiệu ăn chay có máy lạnh và các em phục vụ tận t́nh. Bên cạnh món chay, có thêm vài món cầy nhắm rượu Tây cho đỡ ngán. Đôi khi, ông trích quỹ công làm từ thiện lấy tiếng như Khánh Trắng cho oai.

Đùng một cái, ông Sáu bị bắt v́ tội tham nhũng, tiếp tay cho bọn gian phi, buôn lậu, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Bà Sáu chạy khắp các cửa công để t́m đường lo lót mà không kết quả. Có người cho biết: Nếu ở Trung Quốc th́ tội này có thể bị mức án cao nhất. Bà Sáu vội đến cầu cứu cô đồng Tốn. Sau khi khấn vái bà Chúa thượng ngàn và mười nàng tiên sông Đà, cô phán:

-Lần trước các ngài đă gíup nhưng lần này th́ gay lắm. Số trời đă định mà Bao Công luôn xử theo ư trời.

- Nhưng dưới âm ty có kẻ chịu tội thay ông ấy rồi?

- Tên ấy đă vào vạc dầu ngay khi mới xuống

- Sao thế ạ?

- V́ trong người giấu ma tuư đến cả cân!

 

*

2nd Sunday of Easter

 

Introduction

We meet to praise Christ, the Father who raised him from the dead, and the Spirit poured into our hearts. Let us give thanks to the God who has done so much for us.

 

Penitential Rite

The risen Jesus comes to dispel our doubts in him. He assures us that those who believe in him are happy indeed.

 

You are forgiveness and peace.

Lord, have mercy.

 

You are light and life.

Christ, have mercy.

 

You are goodness and truth.

Lord, have mercy.

 

Today's Readings

First Reading Acts 5:12-16

In spite of the dangers, people came to believe in the Lord. Through the ministry of the disciples, the Church began to grow.

 

Second Reading Apocalypse 1:9-13. 17-19

John is in exile for witnessing to Christ. He begins to record his visions.

 

Gospel John 20:19-31

The risen Christ is not constrained by walls, and can break down the barriers of scepticism in the human heart.

 

Prayer of the Faithful

Celebrant

We pray to the Father, through Jesus who sits at God's right hand. Jesus pleads for us, and his intercession is certain. Let us therefore present our needs with confidence.

 

Intercessions

We pray for all people who can see no meaning in their lives. May the risen Christ enlighten them with faith.

Lord, hear us.

 

We pray for all who are longing for healing, and tormented in spirit. May the risen Christ restore them and give them peace.

Lord, hear us.

 

We pray for all the disciples of Christ. May we never cease to proclaim the Good News of his resurrection.

Lord, hear us.

 

We pray for all who have died. May they rise to life with Christ, the Lord of the living and the dead.

Lord, hear us.

 

Celebrant

Father, raise your people to new life in Christ. Hear our petitions for all your people, and in your mercy answer them. We make all our prayers through Christ our Lord. Amen.

 

The Lord's Prayer

Let us pray in the Spirit of Christ, as he taught.

 

Final Blessing

May the Lord increase our faith.

May the Lord send the Spirit upon us.

May the Lord give us peace.

May the Lord bless us, Father, Son and Holy Spirit. Amen.

 

HOMILY

"...in the hope that at least the shadow of Peter might fall across some of them." (Acts 5:15)

 

Illustration

A former pop star claimed recently that his wealth brought him only misery and poor health. He visited doctors and hospitals all over the world in an attempt to deal with his feeling that he was not well and needed treatment. It appears that the ailment was real, but was psychiatric rather than physiological. A psychiatrist identified his condition as "hypochondriasis", a condition caused by chronic anxiety and depression expressing themselves as physical symptoms. Wealth was not the direct cause of the condition, but it certainly contributed. The former pop star could afford the endless round of medical tests and examinations, and these in turn fed his anxiety, making his symptoms worse. He was indeed ill, but not in the way he first imagined.

 

It is, however, quite clear from a broad spectrum of research statistics that rich people are not more prone to illness than poor people; quite the reverse is true. One survey showed that poor people were twice as prone to anxiety or depression. Another survey showed a direct correlation between car-ownership and depression - the more cars you own, the less likely you are to be depressed. So it appears that poverty is a double blight. Not only do poor people have less money to spend, they are also more likely to suffer ill-health.

 

Gospel Teaching

The milieu in which Jesus preached, and in which the disciples continued his mission, had much in common with that in which we live today. Rich people, poor people, sick people, mentally ill people, anxious, depressed people; people lacking any kind of direction, people filled with superstition and despair. A creed which offers healing and hope, meaning and assistance, is bound to attract the crowds. This is what Jesus and the disciples discovered. It is interesting to look at each of Jesus' encounters in the gospels and to examine what it is the person he meets is looking for, and how he meets the need.

 

In today's gospel the disciples are anxious and afraid. They are huddled together; the shadow of the cross lies across their hearts. When Jesus appears in their midst, he addresses their need, wishing them peace. After he breathes the Holy Spirit on them, there is a fundamental transformation in their attitude. The shadow of the cross, instead of instilling fear, is suddenly something which fills them with hope. Preaching the cross, they are now preaching not about death, but about a love that is stronger than death. And it is as though when they are strengthened in spirit, they are stronger in body and mind too. As the Acts of the Apostles testifies, they were tireless in preaching the Good News to all.

 

Application

Jesus attracted, and still attracts, followers from all conditions of life. Then, as now, those who follow him most assiduously are the poor and the sick. They look to Jesus for healing and rescue, and for an understanding of a life that seems so hard. Health of spirit, health of body and health of mind are all precious gifts, and we look to the one who can grant them. Perhaps more precious still is a glimpse of understanding, of knowing what our life is about. However great the healing, we must still face death. If our anxiety about our inevitable demise can be completely laid to rest, then we are happy indeed. Thomas saw the wounds that were evidence of how Christ had died; yet he saw and felt them in the body of the risen Christ. Death had clearly changed. The human body, the human mind and the human spirit could never be the same again.

 

Where do we fit into the gospels? If we were in the crowds trying to see Jesus, or the disciples, what would we be asking for? For healing, forgiveness, meaning, inner peace, knowledge, understanding? It is good to reflect on our own gifts and needs, so that when we approach Christ we will know what to ask him for. We are like the people in the streets hoping that the shadow of Peter will fall across them, making them whole. We are praying that the shadow of the cross, which once meant death and despair, will truly mean to us light and life, safety and peace, healing and hope. We pray now that the shadow of the cross will fall again on our troubled world, reminding us of the transformation and salvation that are promised to all through the risen Christ.

 

Summary

1. Poverty is a double blight.

 

2. Those in need will flock to those offering help.

 

3. The shadow of the cross became a source of energy, strength and life.

 

4. Christ's healing is for body, spirit and mind.

 

5. What do we ask from the risen Christ?