"Thưa Thầy, trong mọi điều
răn, điều răn nào trọng nhất ?" (Mc
12,28)
----------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI CHÚA
Minh họa
- Mille images 115 C
- "Thưa Thầy, trong mọi điều
răn, điều răn nào trọng nhất ? " (Mc
12,28)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Đnl 6,2-6) : Ông Môsê dạy cho
dân do thái rằng điều răn trọng nhất là Kính
mến Chúa.
- Tin Mừng (Mc 12,28b-34) : Đức Giêsu dạy
rộng hơn : Điều răn trọng nhất cũng
là kính mến Chúa, nhưng nó gắn liền với
điều răn yêu thương anh em.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Từ hồi học giáo lý Rước Lễ
Vỡ Lòng, chúng ta đã thuộc lòng câu "10 điều
răn ấy tóm về hai điều này mà thôi,
trước kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự,
sau là yêu người như mình ta vậy, Amen". Tuy nhiên
chúng ta đã không thực hiện đúng như điều
ta đã thuộc : một mặt, chúng ta không ý thức
rằng yêu thương là điều quan trọng nhất
trong cuộc sống ; mặt khác, chúng ta cố gắng
mến Chúa nhưng chưa cố gắng yêu người
cho đủ.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta thực
hành hai điều răn quan trọng ấy một cách
trọn vẹn hơn.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng con chưa thực sự kính mến Chúa
trên hết mọi sự.
- Chúng con lỗi phạm rất nhiều về
điều răn yêu thương anh em.
- Rất nhiều lần chúng con hành động
vì bị thúc đẩy bởi lòng giận ghét.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Đnl 6,2-6)
Ông Môsê nhấn mạnh cho dân do thái thấy
tầm quan trọng của điều răn kính mến
Chúa bằng những chữ "hết"
được lặp đi lặp lại nhiều
lần : "Hãy yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của
anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em".
Trải qua bao thế hệ, người do thái
đã cố gắng tuân giữ điều răn ấy.
Tuy nhiên giáo huấn của Cựu Ước còn thiếu
sót vì chỉ nhấn mạnh đến việc kính mến
Chúa mà không quan tâm đủ đến việc yêu
thương tha nhân.
Điều thiếu sót này sẽ được
Đức Giêsu bổ túc.
2. Đáp ca (Tv 130)
Thánh vịnh này là bài ca bày tỏ một tấm
lòng yêu mến Chúa thiết tha.
3. Tin Mừng (Mc 12,28b-34)
a. Các luật sĩ tấn công Đức Giêsu :
"Trong các giới răn, giới răn nào trọng
nhất ?". Đối với họ, đây là một
câu hỏi hóc búa, vì Cựu Ước ghi lại rất
nhiều giới luật nhưng không cho biết giới
luật nào trọng hơn giới luật nào. Nguyên
việc thuộc hết các giới luật đã là một
chuyện rất khó, huống chi đánh giá và so sánh các
luật đó.
b. Nhưng Đức Giêsu trả lời rất
gọn gàng và rõ ràng : 2 giới luật trọng nhất là
yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân
như chính mình.
4. Bài đọc II (Dt 7,23-28) (Chủ đề
phụ)
Tác giả thư do thái so sánh chức
Thượng tế trong đạo do thái với chức
Thượng tế của Đức Giêsu : (1) Chức
thượng tế do thái chỉ có một đời
người, khi chết rồi thì mất ; còn chức
Thượng Tế của Đức Giêsu là chức
Thượng tế đời đời, tồn tại
mãi mãi ; (2) Các thượng tế do thái cũng là
người phàm với những tội lỗi ; còn
Đức Giêsu là vị Thượng tế thánh thiện,
vẹn toàn, vô tội ; (3) Các thượng tế do thái
phải dâng lễ đền tội nhiều lần ; còn
Đức Giêsu chỉ dâng lễ đền tội một
lần là đủ.
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Giới luật yêu thương, điểm
độc đáo
Có một giáo lý viên kia đang dạy đạo
cho một người dự tòng. Một hôm, người
dự tòng hỏi "Điểm đặc biệt
nhất của Đạo Công Giáo là gì ?". Giáo lý viên
đáp : "là Yêu Thương". Người dự tòng
là một thanh niên, nghĩa là đang ở tuổi yêu
đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía
với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau
một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn
đề : "Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất
nhiều, và rất nhiều người nói : Những
cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau ; những đạo
khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu
thương ; và ngay cả những tổ chức không có
đạo cũng dạy người ta yêu thương
nhau". Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết
sức bất ngờ : 1/ Đạo Công giáo chẳng có gì
hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo
; 2/ Chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết
yêu thương". Và giáo lý viên bí !
Chúng ta phải công nhận rằng người
dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu
thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim
mọi người. Yêu thương là nhân đức cao
trọng nhất trong mọi nhân đức. Vì thế không
cần đạo công giáo dạy, không cần Đức
Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết
trân trọng tình cảm và nhân đức yêu thương.
Nhưng chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta
không có gì hơn các đạo khác, cũng không có gì hơn
các nền luân lý không có đạo sao ? Chẳng lẽ
Đức Giêsu từ trời xuống thế làm
người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà
mọi người đã biết hết rồi sao ? Chúng
ta phải tìm hiểu kỹ lại bài Tin Mừng hôm nay
mới được.
1. Đoạn Tin Mừng mà chúng ta nghe trong Thánh
Lễ hôm nay là do thánh Marcô chép. Marcô thì quen chép ngắn
gọn, nên đôi khi không đủ ý. Muốn đầy
đủ hơn, chúng ta phải đọc thêm đoạn
Tin Mừng của Thánh Mathêu, cũng chép về câu chuyện
này, nhưng đầy đủ hơn. Theo bản chép
của thánh Matthêu, để trả lời cho câu hỏi
của một người luật sĩ xem điều
luật nào trọng nhất, thì CG sau khi đưa ra
luật mến Chúa, đã nói "Còn điều thứ hai
cũng giống như điều trước" và CG
đưa ra luật yêu người. Nghĩa là Đức
Giêsu đã xếp luật Yêu thương người
nặng với luật mến Chúa. Nói cách khác, CG đã nâng
luật yêu người lên cao bằng luật mến Chúa.
Phía trên đã nói rằng mọi người,
không phân biệt là có đạo hay không có đạo,
đều trân trọng tình cảm yêu thương. Tuy nhiên
tình thương của người ta có nhiều cấp
bực khác nhau : thương một người bạn thì
không bằng thương anh em ruột, thương anh em
cũng không bằng thương cha mẹ, và thương
ai cũng không thể nào bằng thương người
tình của mình. Đối với một người có
đạo, thì họ nghĩ phải thương yêu Chúa
trên hết, kế đó mới là tình thương
đối với những người khác. Còn CG thì
dạy phải đặt tình thương người và
tình thương Chúa ngang nhau. Nghĩa là ta thương Chúa
bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy
nhiêu. Nói cách khác, ta phải coi người ta như Chúa
vậy, và phải thương người ta như
thương Chúa vậy. Đó chính là điểm độc
đáo thứ nhất của Tình Thương Công Giáo.
2/ Nhưng thương người là
thương ai ? Về điểm này, chúng ta lại
đọc thêm đoạn Tin Mừng của Thánh Luca
để bổ túc cho đoạn của thánh Marcô quá
ngắn gọn. Thánh Luca chép thêm rằng người
luật sĩ ấy sau khi nghe CG nói về luật thương
người, thì hỏi một câu tương tự như
câu hỏi tôi vừa đặt ra : Nhưng thương
người là thương ai ? CG đưa ra dụ ngôn
về người xứ Samaria tốt bụng đã
tốn công tốn tiến cứu giúp một người
Do thái, tức là một kẻ thù của dân Samaria. Ý
nghĩa dụ ngôn ấy là : ta phải coi mọi
người là người thân, do đó phải biết
thương tất cả mọi người, cho dù đó
là một người chưa hề quen biết, cho dù
đó là một kẻ thù của chúng ta.
Thiết tưởng cũng cần giải thích
về bối cảnh của đoạn Tin Mừng này.
Người Do thái cũng có luật thương
người, luật ghi rõ phải thương
người thân cận. Theo lối hiểu của
người Do thái, thì người thân cận tức là người
cũng dân tộc, cùng tín ngưỡng với mình. Còn
những kẻ thuộc dân khác, thuộc đạo khác thì
không phải là người thân cận nên không buộc
phải thương. Bấy giờ CG qua dụ ngôn về
người Samaria đã thương yêu giúp đỡ
một người Do thái khác dân tộc và khác tín ngưỡng,
đã phá bỏ hàng rào ấy. Theo CG, tình yêu thương
không có biên giới. Ta phải thương yêu mọi
người, phải coi mọi người đều là
kẻ thân cận. Nói cách khác đi, ta không chỉ
thương người đồng bào, đồng
đạo, đồng chí mà phải thương bất
cứ ai ta gặp trên đường đời, bất
cứ ai đứng bên cạnh ta trong cuộc đời,
ta đều phải thương hết. Người ta
thường vẽ ranh giới cho tình thương,
người ta thường đặt hàng rào cho tình
thương : ai ở trong ranh giới và trong hàng rào đó
thì thương hết là thương, còn ai ở ngoài thì là
người dưng, người lạ khỏi thèm
thương. Đức Giêsu khi phá bỏ mọi hàng rào,
mọi biên giới, tức là thêm một điểm
độc đáo nữa cho Tình Yêu thương Công giáo.
3/ Và điểm độc đáo thứ ba, chúng
ta thấy ngay trong đoạn văn của Thánh Marcô.
"Yêu thương người thân cận như chính mình
thì hơn là dâng mọi lễ toàn thiêu và hy lễ". Chúng
ta hãy chú ý đến hai chữ Hơn Là. Cho người
nghèo một lon gạo, và dâng cho Chúa một bó bông huệ.
Việc nào quý hơn. Nếu chưa đọc câu Tin
Mừng này, chắc hẳn ai cũng bảo dâng bông huệ
cho Chúa là quý hơn. Nhưng câu Tin Mừng này đánh giá
ngược lại : cho người nghèo một lon gạo
quý hơn. Đó là điểm độc đáo thứ 3
của Tình thương Công giáo.
Xin trở lại với câu chuyện ban
đầu. Người Giáo lý viên đã bí không trả
lời được khi người dự tòng cho
rằng Tình yêu Thương của Đạo Công giáo
chẳng có gì khác hơn tình yêu thương của các
đạo khác, kể cả của người không có
đạo. Lý do có lẽ là vì Giáo lý viên ấy không thấy
3 điểm độc đáo của Tình yêu Tin Mừng, mà
nhất là đã không thực hiện 3 điểm ấy.
Chắc chúng ta cũng vậy thôi. Nếu chúng ta không
thực hiện 3 điểm ấy thì danh nghĩa công giáo
của chúng ta cũng là vô ích, dù là công giáo nhưng chúng ta
chẳng hơn gì một người ngoại đạo.
Xin nói rõ hơn để tóm lại và cũng là để
kết thúc :
. Chúng ta yêu mến Chúa nhiều lắm. Nhưng
nếu chúng ta không yêu thương người bằng Chúa
thì chúng ta không hơn gì người ngoại đạo.
. Chúng ta cũng rất yêu thương những
người thân của chúng ta, như vợ chồng, cha
mẹ, anh chị em, con cái... Nhưng nếu chúng ta không coi
tất cả mọi người cũng là người
thân và không yêu thương họ như yêu thương
người thân, thì chúng ta cũng không hơn gì những
người ngoại đạo.
. Chúng ta thường dâng lễ vật cho Chúa
như dâng hoa, xin lễ, dâng việc hy sinh hãm mình, những
việc lành phúc đức v.v... Nhưng có một thứ
lễ vật mà Tin Mừng nói còn quý hơn những lễ
vật kể trên, mà Chúa rất thích chúng ta dâng, đó là
lễ vật tình thương mà ta đối xử
với mọi người. Mỗi lần đến Nhà
thờ dự lễ, chúng ta đừng quên mang theo
những lễ vật tình thương ấy.
* 2. Hai giới răn đi đôi
Các tín đồ Hồi giáo rất coi trọng
luật buộc hành hương thánh địa Mecca vì
đây là nơi sinh của đức giáo chủ Mahomet.
Ngày xưa Vua các loài mèo cũng đi hành
hương thánh địa Mecca. Khi ngài trở về,
vị vua các loài chuột nghĩ rằng mình có bổn
phận phải đến chúc mừng. Tuy nhiên các bề
tôi chuột ái ngại cho tính mạng của vua mình. Họ
tâu : "Mèo là kẻ thù của chúng ta. Không thể tin
cậy được". Nhưng vua chuột đáp :
"Ông ta đã đi hành hương thánh địa, cho nên
chắc là tâm tính của ông đã thay đổi".
Thế là vua chuột tìm đến hoàng cung
của vua mèo. Mới tới cửa thì vua chuột đã
thấy vua mèo đang nằm mọp cầu kinh rất là
sốt sắng. Vua mèo thấy an tâm, tiến vào gần
hơn chút nữa. Đột nhiên vua mèo chồm lên
định vồ lấy vua chuột. Rất may là nhờ
nhanh hơn nên vua chuột kịp phóng ra ngoài thoát thân.
Khi vua chuột trở về nhà, các bề tôi
hỏi : "Phải chăng là sau khi hành hương thánh
địa trở về, vua mèo đã thay tâm đổi tính
?" Nhưng vua chuột đáp : "Các ngươi đã
đoán đúng, còn ta thì sai".
Câu chuyện tưởng tượng trên muốn
giúp ta thấy rằng thật là nguy hiểm nếu tách
riêng hai giới răn mến Chúa và yêu người.
Thiên Chúa là tình yêu và là nguồn của mọi tình
yêu. Vì thế nếu yêu Chúa thật thì cũng phải yêu
người. Một tôn giáo chỉ lo yêu Chúa mà không biết
yêu người là một tôn giáo không hợp ý Chúa và không
phải là tôn giáo thật.
Nơi nào không có tình yêu, ta hãy gieo tình yêu và ta
sẽ gặt được tình yêu
Nơi nào không có tình yêu, ta hãy đặt tình yêu
vào đấy và ta sẽ tìm thấy tình yêu
Tôi đi tìm Chúa nhưng tôi không gặp được
Ngài
Tôi đi tìm linh hồn tôi nhưng linh hồn
trốn né tôi
Tôi đi tìm người láng giềng, và tôi
gặp được cả ba. (Viết theo Flor McCarthy)
* 3. Mến Chúa yêu người
Trong báo Los Angeles ngày 13-13-1997 có đăng lá
thư của một độc giả ở Sun City, California
gởi cho nữ ký giả Ann Landers – người phụ
trách mục "Giải đáp thắc mắc" như
sau :
Bà Ann thân mến
…Ba tôi đi làm sáu ngày một tuần, còn mẹ
tôi lúc nào cũng bận rộn với việc lau chùi nhà
cửa, giặt giũ, nấu ăn. Cả hai
người đều lớn lên trong những gia đình
không bộc lộ tình cảm. Ông bà tôi không bao giờ
bộc lộ tình cảm dành cho cha mẹ tôi và chẳng bao
giờ nói với họ rằng họ được yêu thương.
Vì vậy, cũng dễ hiểu là tại sao ba mẹ tôi
đã không bộc lộ tình cảm hay nói những lời
thương mến với chúng tôi.
Cuộc đời tôi đã thay đổi khi tôi
lên chín tuổi. Hôm ấy có dịp ở lại qua đêm
ở nhà một cô bạn. Mẹ cô hôn cả hai chúng tôi khi
cho chúng tôi lên giường ngủ. Cử chỉ ấy
đã biến đổi đời tôi. Tôi quá cảm
động vì hành vi yêu thương ấy, đến
nỗi tôi không thể ngủ được. Tôi nghĩ :
"Đây mới thực là cách lẽ ra ba mẹ phải
làm cho mình". Khi về nhà, tôi đã giận ba mẹ
một thời gian. Nhưng vì không thể giận ba mẹ
hoài vì tính tình sẵn có của họ.
Đây là điều tôi đã làm để thay
đổi tình hình : Tôi bắt đầu hôn mẹ tôi thường
xuyên đến nỗi mẹ tôi phải bật
cười. Tôi đã kết hôn khi lên 17 tuổi và đã có
hai con khi chưa đầy 20. Tôi thường hôn chúng
đến khi má chúng ửng hồng. Khi nói chuyện
với mẹ tôi trên điện thoại, tôi nói :
"Mẹ ơi ! Con thương Mẹ !" Sau một
thời gian, cuối cùng mẹ tôi cũng đã nói
được với tôi : "Mẹ cũng rất
thương con". Tôi chưa được nghe như
thế bao giờ. Sau lần ấy vài tuần khi tôi
đến thăm mẹ, bà hỏi tôi : "Những cái hôn
của mẹ đâu ?" Khi tôi sắp về mẹ tôi
bảo : "Mẹ thương con. Con biết mà phải
không ?"
*
Đạo Do thái dựa trên 10 điều
răn. Nhưng qua các thế hệ, họ chú giải thêm
thành 613 luật. Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365
luật cấm làm. Họ không đồng ý với nhau
về điều luật nào trọng nhất, nên hôm nay
một luật sĩ đã đến hỏi Đức
Giêsu : "Trong các giới răn, điều nào trọng
nhất ?" Người đáp : "Hãy yêu mến Thiên
Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí
khôn và hết sức ngươi. Còn giới răn thứ
hai : Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi"
(Mc.12,30-31). Giới răn thứ nhất trích trong sách
Đệ Nhị luật đoạn 6, câu 5. Giới
răn thứ hai rút trong sách Thứ luật đoạn 19,
câu 18. Vậy Đức Giêsu đã nâng luật mến Chúa
ngang với luật yêu người. Người đã
kết hợp thành một luật duy nhất : "Mến
Chúa yêu người". Nó như hai mặt của một
đồng tiền, không thể tách rời nhau
được. Thánh Gioan quả quyết : "Nếu ai
nói : "Tôi yêu mến Chúa" mà lại ghét anh em mình,
người ấy là một kẻ nói dối ; vì ai không yêu
thương người anh em mà họ trông thấy, thì
không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không
thấy" (1Ga.4,20).
Vậy bắt đầu yêu thương từ
đâu ? – Trước tiên, hãy yêu thương những
người trong gia đình mình, những người
gần gũi thân thiết nhất trong trái tim ta. Không yêu
được các thành viên trong gia đình, chúng ta không
thể yêu thương người khác. Không yêu
thương người khác, chúng ta cũng không thể yêu
mến Thiên Chúa.
Người đàn bà ở Sun City bằng
những lời nói yêu thương, những cử chỉ
âu yếm, những đón tiếp chân thành đã mang lại
niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người
thân yêu trong gia đình. Từ đó, như vết dấu
loang tình yêu lan tỏa ra bên ngoài. Ngạn ngữ Trung Hoa có
câu : "Hãy tử tế khi còn gần nhau để sau này
khỏi hối hận khi đã xa nhau".
Cũng thế
với những lời nói yêu thương, những
nghĩa cử chân thành, chúng ta sẽ làm tươi mát
biết bao cuộc đời. Lúc đó, chúng ta sẽ ra
khỏi sự hạn hẹp của tình yêu con
người, để vươn cao tới tình yêu Thiên
Chúa. Bởi vì, thước đo tình yêu của chúng ta
đối với Thiên Chúa là tình yêu của chúng ta
đối với nhau. Thánh Augustinô mô tả : "Tình yêu có
đôi chân đến với người nghèo. Tình yêu có
đôi mắt để thấy nỗi bất hạnh và
thiếu thốn. Tình yêu có đôi tai để nghe
được tiếng than thở và nỗi buồn
phiền của tha nhân". Thomas Merton nói : "Không yêu
thương và nhân từ với kẻ khác, thì tình yêu chúng
ta dành cho Đức Kitô chỉ là tưởng
tượng". Rosalie còn khẳng định :
"Nước Thiên đàng không dành cho những
người cằn cỗi yêu thương".
*
Lạy Chúa, để gặp gỡ tha nhân chúng
con phải mở to đôi mắt, để đón
tiếp tha nhân chúng con phải dọn dẹp cho trống
trải lòng mình, để yêu thương anh em chúng con
phải biết quên mình.
Xin cho chúng con luôn xác tín : Chúng con chỉ kính
mến Chúa khi thực sự yêu thương anh em. Amen.
(Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 4. Thứ tội phạm nhiều nhất
Thứ tội mà chúng ta phạm nhiều nhất
là tội không yêu thương. Tuy nhiên chúng ta lại không coi
đó là tội, vì chúng ta vẫn nghĩ cái gì làm hại
đến người khác mới là tội.
Một người kia bán một chiếc xe
"dỏm" cho một người khách lạ. Một
hôm anh vừa đi nhà thờ xưng tội ra thì gặp
một người bạn. Người bạn nói :
"Chắc là anh có kể cho Cha giải tội nghe
chuyện anh bán chiếc xe dỏm ?" Anh đáp lại :
"Tôi chỉ xưng các tội thôi. Còn chuyện buôn bán thì
có ăn thua gì tới ông cha đó"
Một nguy hiểm lớn cho những tín hữu
thường đi nhà thờ là không thấy sự liên
hệ giữa điều họ làm ở nhà thờ ngày
Chúa nhật với điều họ làm trong tương
quan với người khác vào những ngày trong tuần.
Nhiều người xét mình theo đủ
mọi điều răn nhưng không hề xét tới
những tội thiếu sót ; thiếu tinh thần trách
nhiệm, thiếu ngay thẳng trong việc làm ăn,
thiếu tôn trọng những người cùng sống chung
với mình v.v. Đối với những người
đó, đạo và đời hoàn toàn tách biệt nhau.
Đức Giêsu nói với người kinh sư
"Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Ông đã
biết liên kết hai giới răn mến Chúa và yêu
người thành một, đó là một bước. Ông
chỉ cần bước thêm bước thứ hai
nữa là vào được Nước Thiên Chúa,
bước đó là thực hành điều ông biết.
(Viết theo Flor McCarthy)
* 5. Các bậc thang yêu thương
Maimonides là một thầy giáo người do thái
rất nổi tiếng ở Tây ban nha trong thế kỷ
20. Ông đã liệt kê 8 bậc thang yêu thương như
sau :
. Bậc thứ nhất và cũng thấp
nhất là cho, nhưng cho một cách miễn cưỡng.
. Bậc thứ hai là cho cách vui vẻ, nhưng
không tương xứng với nhu cầu của
người nhận.
. Bậc thứ ba là cho vui vẻ và tương
xứng với nhu cầu người nhận, nhưng
đợi người ta xin mới cho.
. Bậc thứ tư cho vui vẻ, tương
xứng và không chờ người ta xin.
. Bậc thứ năm là cho một cách nào đó
khiến người-nhận nhận được
của cho đồng thời biết được
người-cho, nhưng người-cho không biết
người-nhận.
. Bậc thứ sáu là người-cho biết
người-nhận nhưng người-nhận không
biết người-cho.
. Bậc thứ bảy là cho, nhưng cả
người-cho và người-nhận đều không
biết nhau.
. Bậc thứ tám cao nhất, là thấy
trước nhu cầu người-nhận nên cho
để người-nhận khỏi rơi vào cảnh nghèo
khổ.
6. Chuyện minh họa
Một người nghèo kia đi từ nhà này
sang nhà khác để ăn xin. Nhưng chẳng ai cho ông
một đồng hay một mụn bánh, trái lại ông còn
nhận được rất nhiều lời xua
đuổi, thậm chí chửi rửa.
Một ngày mùa đông, ông bị trượt té
gãy chân. Có người đi ngang thấy thế đưa
ông vào bệnh viện. Khi dân chúng hay tin có người nghèo
bị té gãy chân và đang phải nằm bệnh viện,
họ kéo đến rất đông, họ an ủi ông,
họ đem thức ăn đến cho ông. Khi ông rời
bệnh viện, họ còn cho ông những quấn áo ấm
và cả một số tiền nữa.
Trở về nhà, người ấy nói với
vợ : "Ngợi khen Chúa vì đã làm một phép lạ là
cho tôi được gãy chân !"
Sớm giúp cho người ta khỏi té còn
tốt hơn là khi người ta té rồi mới giúp.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến,
Đức Giêsu đã dạy rằng : Mến Chúa trên
hết mọi sự và yêu người như chính mình ;
không có giới răn nào khác quan trọng hơn hai giới
răn này. Chúa cùng cầu xin Chúa giúp chúng ta hiểu và
sống đúng lời dạy của Chúa :
1. Xin cho mọi thành phần trong Hội thánh luôn
thực thi đúng lời Chúa dạy / để chứng
minh cho mọi người hiểu rằng : người
công giáo mến Chúa là để yêu người / và yêu
người là để chứng tỏ lòng mến Chúa.
2. Xin cho mọi nhà cầm quyền trong xã hội
hiểu biết rằng / lòng mến Chúa của
người Công giáo không gây thiệt hại gì cho tình yêu
đồng loại / trái lại còn giúp họ yêu
thương đồng bào trọn hảo hơn.
3. Xin cho mọi người đang thiếu tình
thương, thiếu sức khỏe, không có công ăn
việc làm / gặp được những người
thật tình giúp đỡ vì lòng mến Chúa và vì lòng yêu
thương họ.
4. Xin cho mọi người trong cộng
đồng họ đạo chúng ta / biết bày tỏ lòng
mến Chúa yêu người một cách thành thật và cụ
thể / để loại trừ thói giữ đạo
bề ngoài và giả hình.
Chủ tế :
Lạy Chúa, xin cho chúng con sau khi được bồi
dưỡng lòng mến Chúa yêu người nhờ Thánh
lễ, biết thực thi lòng mến Chúa yêu người
đó với mọi người chung quanh trong cuộc
sống hằng ngày. Chúng con cầu xin nhờ Đức
Kitô.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay khi
đọc kinh Lạy Cha đến câu "Và tha nợ
chúng con", chúng ta hãy chú ý đến phần kế
tiếp "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng
con".
VII. GIẢI TÁN
Hai điều răn quan trọng nhất và
đi đôi với nhau là mến Chúa và yêu người.
Trong Thánh lễ, chúng ta đã bày tỏ lòng yêu mến Chúa.
Trở về với môi trường sống hằng ngày,
chúng ta hãy thể hiện đức yêu người.
1ĐÔI SONG SINH
DÍNH LIỀN NHAU (Mark Link S.J.) 1
“GIỚI RĂN
TRỌNG NHẤT”(N. Quesson) 4
VỚI CẢ
TÂM TRÍ BẠN.(Gm. Arthur Tonne) 6
HAI GIỚI
LUẬT, MỘT TÌNH YÊU.... 7
Lm. Gérard Bessière
và Hyacinthe Vulliez 7
Bài đọc: Đnl
6 : 2-6 ; Dt 7 ; 23-28 ; Mc 12 : 28-34
Chủ đề;
Nếu anh em của ngươi là
những người ngươi thấy được mà
ngươi lại không yêu thương, thì làm sao
ngươi có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng
ngươi không thể thấy được?
Cha
George Anderson là tuyên uý cho một nhà tù hết sức nghiêm
khắc tại Riker’s Island thuộc tiểu bang New York. Cha
thành lập một nhóm bàn việc cầu nguyện và chia
sẻ Lời Chúa cho một số tù nhân. Nhóm này
thường đọc đoạn Kinh Thánh nói về
người Samaritanô nhân hậu dụ ngôn đứa con
hoang đàng. Sau đó họ thường yên lặng suy
gẫm đoạn Thánh Kinh đó rồi chia sẻ với
nhau về cách thức áp dụng tinh thần của
đoạn Kinh Thánh đó vào cuộc sống hằng ngày
của họ.
Một
buổi tối nọ, có một tù nhân tên Richard, thuộc
khu những người rối loạn tâm thần, lần
đầu tiên đến chia sẻ với nhóm. Cha Anderson
mô tả câu chuyện xảy ra như sau:
“Đó
là một buổi tối có gió vào tháng Ba. Trong phòng không
đủ ấm. Người bạn ngồi đối
diện với Richard chỉ mặc một chiếc áo
mỏng và chiếc quần dài nên đang lạnh run. Trên vai
Richard thì khoác những hai
chiếc mềm. Thế là trong lúc chúng tôi đang bàn
luận về ý tưởng tương trợ lẫn
nhau, đột nhiên Richard đứng lên, tiến
đến người bạn tù kia, và choàng một
chiếc mền lên người bạn ấy.
Cử
chỉ không lời của Richard gây ấn tượng mãnh
liệt cho cả nhóm hơn bất cứ mọi lời
đang thốt ra. Nó cũng nêu ra được
điểm quan trọng mà chính Chúa Giêsu đã đề
cập trong bài Phúc Âm hôm nay.
Yêu
Thiên Chúa và yêu tha nhân là hai tình yêu đi đôi với nhau
như hai mặt của một đồng tiền không
thể tách rời nhau được. Nói cách khác, chúng ta
không thể cầu nguyện với Chúa bằng những
lời thật dễ thương giống như những
tù nhân đã cầu nguyện trong nhóm chia sẻ của
họ, nếu chúng ta không đối xử với
những người bên cạnh chúng ta bằng những
hành động và cử chỉ đầy yêu thương.
Thánh
Gioan tông đồ đã nhấn mạnh điểm này
trong lá thư thứ nhất của Ngài. Ngài nói thẳng
thừng: “Nếu ai nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại
ghét anh em mình, kẻ ấy là một tên nói dối. Bởi
vì hắn ta không thể yêu mến Chúa là Đấng hắn
không thấy, nếu hắn không yêu người anh em
hắn là kẻ hắn thấy được. Chính Chúa Giêsu
đã truyền cho chúng ta huấn lệnh này: “Ai yêu mến
Thiên Chúa thì cũng phải yêu mến anh em mình” ( 1 Gn 4 : 20)
Các
tác giả tu đức nói rằng lệnh truyền
của Đức Giêsu đòi buộc chúng ta yêu tha nhân và
lệnh truyền của Ngài đòi buộc chúng ta yêu
mến Thiên Chúa, hai lệnh truyền đó tương quan
mật thiết với nhau đến nỗi chúng ta không
yêu thương anh em mình thì chẳng bao lâu chúng ta cũng
chẳng còn yêu mến Thiên Chúa nữa. Thực thế,
chẳng bao lâu chúng ta sẽ không còn tiếp xúc
được với Thiên Chúa và với linh hồn bất
tử của mình nữa. Một câu châm ngôn rất phổ
biến diễn tả chân lý ấy thật sống
động như sau:
“Tôi
tìm linh hồn tôi, nhưng hồn tôi nào thấy
được. Tôi tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa
lại lẩn tránh tôi. Tôi tìm kiếm anh em tôi, thì tôi lại
gặp được cả ba người tôi muốn tìm
ấy”.
Bí
quyết để gặp được Thiên Chúa và
gặp được chính mình là tìm gặp và yêu
thương người lân cận của mình.
Bi
đát thay, việc yêu thương tha nhân của chúng ta
thường lại gặp thất bại từ
đầu ngay trong chính gia đình của chúng ta. Không yêu các
thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ
không thể nào yêu thương những người khác
được. Và ngược lại cũng thế. Khi
yêu thương các thành viên trong gia đình mình, chắc
chắn chúng ta sẽ yêu thương được
những người khác nữa.
Yêu
Chúa và yêu tha nhân, hai tình yêu ấy ví như hai anh em sinh
đôi dính liền nhau. Khi tìm
được người này, chúng ta sẽ gặp
được người kia. Và khi không tìm
được người này chúng ta cũng sẽ
chẳng gặp được người kia.
Bài
Phúc Âm hôm nay bao hàm một trong những giáo huấn quan
trọng nhất trong toàn bộ Phúc Âm. Nó mời gọi
chúng ta tự đặt cho mình một trong những câu
hỏi quan trọng nhất.
“Chúng
ta đã dành tình thương cho những người trong
gia đình mình thế nào?” Nếu chúng ta trả lời là
“chưa mặn mà lắm” thì có lẽ tình yêu ta dành cho láng
giềng cũng chẳng thể khá hơn. Và nếu chúng ta
chẳng yêu tha nhân, chẳng yêu láng giềng mặn nồng
thì chúng ta cũng không thể yêu mến Thiên Chúa nồng nàn
được. Ngược lại, nếu chúng ta yêu quí
mọi người trong gia đình mình, chúng ta mới có
thể yêu quí người hàng xóm và một khi yêu
được người hàng xóm, thì chúng ta cũng dễ
dàng yêu mến Thiên Chúa.
Cách
đây ít lâu, tờ Dallas
Morning News (Dallas Tin Sáng) có đăng lá thư của
một thiếu phụ nọ viết nhân cái chết
của mẹ mình, trong đó có đoạn này:
“Mẹ
tôi sống gần chỗ tôi, việc dành chút ít giờ pha
cho mẹ một tách trà nóng, hay tỏ ra một cử
chỉ yêu thương đối với mẹ lẽ ra
đối với tôi phải là một việc rất
dễ dàng… khi tôi gọi địên thoại cho mẹ, tôi
lại nói quá vắn tắt và vội vàng. Tôi cảm
thấy thật xấu hổ khi nghĩ lại những
lần tôi cúp điện thoại cho lẹ khi nói chuyện
với mẹ. Lúc đó tôi nói với mẹ: “Tiếc quá, con
phải đi ngay, mẹ ạ !”. Thế giới
đầy dẫy những người giống như tôi.
Tôi hy vọng trong số những người con ấy,
nhiều người sẽ nhận ra điều này… và
biết rút ra bài học cho mình”.
Tôi
chắc chắn nhiều người trong chúng ta cảm
thấy những lời nhận xét của thiếu phụ
này cũng đúng đối với mình. Chúng ta cũng
đã từng cư xử với cha mẹ con cái chúng ta
hoặc những ai cần đến tình thương và
sự âu yếm của chúng ta, một cách tương
tự, như người thiếu phụ trên.
Bài
Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xem xét lại cuộc
sống và tự vấn xem chúng ta có giống người
thiếu phụ viết lá thư đăng trong tờ
“Dallas Tin Sáng” kia không? nếu có thì bài Phúc Âm hôm nay là lời
kêu gọi của chính Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta làm một
điều gì đó để sửa đổi lại
thái độ của chúng ta.
Để kết thúc, tôi xin
lặp lại những lời trích từ Phúc Âm ngày hôm nay;
“Một vị tiến sĩ luật tiến đến
hỏi Chúa Giêsu: giới luật nào là quan trọng nhất?
Chúa Giêsu trả lời; Giới luật quan trọng
nhất là; Ngươi hãy yêu Chúa ngươi hết lòng, và
giới luật thứ hai cũng quan trọng như
thế: Ngươi hãy yêu láng giềng ngươi như
chính ngươi. Không giới luật nào quan trọng
hơn hai giới luật này”.
Ngày
đầu tiên Betty vào trường nội trú. Cô bé
đọc bản nội quy của trường. Và chán
ngán. Cô tự hỏi không biết làm sao mình giữ nỗi
cả cuốn luật lệ đủ thứ đủ
loại này. Nhưng đến chiều, Betty gặp bà
hiệu trưởng, cô thấy bà thật hiền hậu,
dễ mến, bà có nụ cười đầy thiện
cảm. Cô thấy mến bà, và thấy việc giữ
những luật lệ của trường cũng chả
có gì khó lắm. Tình yêu đã làm cho những khó khăn
mệt mỏi biến tan.
Trong Do Thái giáo có tất cả 613
điều luật. Học thuộc những điều
luật này đã là khó, nói chi việc cắt nghĩa cho
chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu
óc một tín đồ Do Thái giáo luôn thấp thoáng câu
hỏi; Luật nào là quan trọng nhất? nhưng khi câu
hỏi đạo đạt lên Chúa Giêsu, Chúa chỉ trả
lời một câu thật chính xác và đầy đủ:
Giới răn trọng nhất là hãy yêu mến Thiên Chúa hêt
lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức
ngươi. Và giới răn thứ hai cũng giống
giới răn thứ nhất là; ngươi hãy yêu
người khác như chính mình ngươi. Như vậy
Chúa Giêsu đã tóm gọn hơn sáu trăm khoảng luật
vào một câu vắn tắt: Mến Chúa và yêu người.
Hay đúng hơn, Chúa đã tóm gọn vào một chữ:Yêu.
Đối với Thượng Đế,
các triết gia, các tôn giáo thường diễn tả
như một nhân vật đòi buộc người ta tôn
thờ, kính sợ và tuân phục, đối với
người Do Thái thì vẫn cần giữ những tâm tình
ấy đối với Thiên Chúa, nhưng trước
hết phải yêu mến Thiên Chúa. Độc đáo
của Cựu ước là hướng dẫn con
người trung thành trong một giao ước tình yêu. Đặc
biệt Chúa Giêsu đã đặt mối quan hệ giữa
con người với Thiên Chúa trong tình cha con. Chúng ta
sống với Thiên Chúa trong bầu khí gia đình thân
thương. Tình phụ tử đó Thiên Chúa đã biểu
lộ ở mức độ cao nhất và hoàn hảo
nhất: Chúa đã yêu ta đến nỗi đã ban Con
của Người đến làm lễ vật đền
tội chúng ta. Phần chúng ta, cũng phải biểu
lộ tình yêu đối với Thiên Chúa bằng hết
khả năng của mình, tinh thần cũng như
thể xác và cả linh hồn nữa.
Còn đối với anh chị em
đồng loại, chúng ta phải yêu thương mọi
người. Điều quan trọng là tình yêu đó không
xây dựng trên liên hệ máu thịt, không do cảm tính,
nhưng do trên liên hệ tình yêu với Thiên Chúa. Chúng ta coi
Thiên Chúa là cha, và mọi người là anh chị em ruột
thịt.
Chúa Giêsu đã đẩy tình yêu anh em lên
một trình độ tuyệt đỉnh. Phải yêu anh
em như yêu Chúa; Ai giúp đỡ một người
thấp hèn nhất là giúp đỡ chính Chúa. Và yêu với
mức độ như Chúa đã yêu: Các con hãy yêu nhau
như Thầy đã yêu các con, và không có tình yêu nào lớn
hơn bằng hiến mạng sống vì bạn hữu.
Chúa bảo yêu mến Chúa và yêu người
phải đi đôi với nhau. Thiên Chúa đòi ta yêu
mến Thiên Chúa như một người cha, nhưng tình
yêu đó phải biểu lộ trong tình yêu đối
với anh em. Phải yêu anh em mới chứng tỏ mình
mến Chúa. Vì yêu anh em là chứng minh là con Thiên Chúa, và
chứng tỏ mình tuân giữ lời Chúa dạy.
Lạy Chúa, xin
giúp chúng con luôn nhận ra tình thương bao la của Chúa
đối với chúng con để chúng con có thể yêu
mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và sống tình huynh
đệ với mọi người. Xin giúp chúng con chu toàn
mọi giới răn Chúa vì yêu mến Người.
Một
người mẹ nói với cô con gái nhỏ của bà
về tình yêu Thiên Chúa. Cô bé bối rối: “Mẹ ơi, làm
sao con có thể yêu Chúa? Con chưa bao giờ thấy
Người.” Ít ngày sau cô bé nhận được một
bưu kiện, trong đó có một cuốn sách hình rất
đẹp, trên trang bìa cuốn sách đề hàng chữ:
“Tặng Maria thân yêu, Dì Rosa” (Bé Maria chưa bao giờ
gặp dì Rosa và họ sống xa nhau hàng ngàn cây số. Khi
Maria nhìn những bức hình đẹp trong cuốn sách, em
nói với mẹ: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa qúa! Dì cho con cuốn
sách đẹp này!” Người mẹ phản đối:
“Nhưng con chưa bao giờ thấy dì Rosa mà.” Maria trả
lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì gởi cho con
cuốn sách đẹp này”.
Nhiều người trong chúng ta có thể
thắc mắc: “Làm sao chúng ta có thể yêu Chúa nếu
chưa bao giờ chúng ta thấy Người?” Tất
cả chúng ta đã nhận quà của Chúa, những món quà
này dẫn chúng ta yêu Đấng đã gởi tới.
Dĩ nhiên một cách nào đó, chúng ta có
thể thấy được Thiên Chúa trong hình dạng
của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Thiên Chúa làm
người. Hôm nay nói lại
cho chúng ta rằng: chúng ta phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa
chúng ta hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và
hết sức lực. Sẽ giúp chúng ta hiểu và giữ
luật này nếu hôm nay chúng
ta chỉ nhìn một góc cạnh của giới răn: “Yêu
Chúa.. với tất cả tâm trí.
Để yêu ai, trước tiên chúng ta
phải biết người ấy. Để biết ai,
chúng ta phải dùng tâm trí. Làm sao chúng ta có thể biết
Chúa?
Làm sao tôi biết một người trong
các bạn? tôi phải nói với bạn là lắng nghe khi
bạn nói. Đối với Chúa, chúng ta gọi là cầu
nguyện. Bạn hãy gọi như thế nếu bạn
muốn. Chúng ta không thể biết Chúa, trừ khi chúng ta
nói với Người. Đó là lý do tại sao Giáo hội
kêu gọi chúng ta cầu nguyện với Chúa, ít nhất là
sớm mai và chiều tối. Đó là lý do bạn và tôi
cầu nguyện với Chúa bất cứ lúc nào trong kinh
nhật tụng, và nhất là trong thánh lễ.
Chúng ta biết một người do công
việc họ làm hoặc họ là thợ mộc, là
hoạ sĩ biếm hoạ hay một đầu bếp.
Chúng ta biết Chúa qua những việc Chúa
đã làm cỏ cây, chim chóc, gió mây, sao trời… Nói với
chúng ta về Chúa. Tất cả những cái đó đòi
hỏi chúng ta phải sử dụng lý trí.
Muốn hiểu biết một
người, chúng ta cố gắng gặp người
đó càng nhiều càng hay. Chúng ta gặp Chúa trong mỗi
ngày, trong mỗi cuộc sống chung quanh, nhất là chúng ta
gặp Chúa trong Giáo hội, trong Thánh lễ, rước
lễ và các Bí tích.
Chúng ta cũng biết một người
do những điều một người khác biết
về người đó nói với chúng ta. Linh mục
của bạn, Ngài đã dùng nhiều thì giờ học
hỏi về Chúa, nói về Chúa. Các ngài có thể nói
nhiều về Cha trên trời, về Thiên Chúa làm
người, về Chúa Thánh Thần cho bạn. Cha mẹ
nói cho chúng ta về Chúa. Thực sự các ngài là thầy
tốt nhất nói về Chúa. Giáo lý viên. Báo chí, tạp chí và
sách vở công giáo nó với chúng ta nhiều sự thật
về Chúa.
Sử dụng lý trí để tìm hiểu,
mọi cái về Chúa. Như thế bạn yêu Chúa với
tất cả lý trí của bạn.
Xin Chúa chúc lành
bạn.
Thầy kinh sư hỏi về một
giới răn trọng nhất, Ðức Giêsu trình bày với
ông hai giới răn song song, tuy hai mà một. Hai giới
răn đó, các tín hữu Công giáo Việt Nam thuộc
nằm lòng từ thuở còn thơ bé: "Trước kính
mến một Ðức Chúa Trời trên hết mọi
sự, sau là yêu người như mình ta vậy".
Hai giới luật, nhưng gồm tóm
lại một tình yêu. Mến Chúa hết lòng, yêu
người hết dạ, hai điều ấy chỉ là
một. Yêu người anh em,
tức là mến Chúa rồi. Ðọc Tin Mừng theo thánh
Matthêu chương 25 đoạn nói về ngày chung thẩm,
chúng ta thấy Chúa nói rất rõ về chân lý này: "Ta
bảo thật các ngươi: mỗi lần các
người làm như thế cho một trong những anh em
bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã
làm cho chính Ta vậy". Một vị thánh môn đệ
của Chúa cũng nói rõ điều đó: "Anh không yêu
người thân cận mà mắt anh nhìn thấy, thì làm sao
anh có thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng anh không hề nhìn
thấy?".
Thời Ðức Giêsu, người ta tranh
luận về một số vấn đề thần
học. Một trong những vấn đề đó đã
được thầy kinh sư đem ra hỏi Chúa,
với thiện chí, như hỏi ý kiến một vị
tôn sư. Và ông đã được Ðức Giêsu trả
lời thỏa đáng: mến Chúa, yêu người là
điều răn quí trọng nhất, và cả hai là
một. Vị kinh sư rất thỏa mãn trong bụng, tâm
phục khẩu phục Chúa. Ông gọi Chúa là Thầy:
"Thưa Thầy, hay lắm. Thầy nói rất
đúng". Ông lại đưa lời sách ra bàn bạc,
cho vấn đề thêm sáng tỏ: "Yêu mến Thiên Chúa
hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu
người thân cận như chính mình, là điều quí
hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ". Trước
đây, người ta cứ cho rằng giết chiên
giết bò làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa là đẹp lòng Ngài.
Thực ra không của lễ nào quí trọng bằng tình yêu.
Ðó là điều Ðức Giêsu hằng rao giảng. Nay
thấy vị kinh sư này thấm thía được
điều đó, Ðức Giêsu rất mừng và khen
ngợi ông: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa
đâu!".
Thật
vậy, vương quốc Thiên Chúa chính là vương
quốc của những yêu người thương nhau, vì
họ là anh em của một Cha trên trời, điều mà
"ngôn sứ" Khổng Tử đã tiên báo trong khái
niệm "Tứ hải giai huynh đệ"
(người trong bốn bề đều là anh em).
THEO BƯỚC
CHÂN CÁC NGÀI (Mark Link S.J). 1
HẠNH PHÚC THAY
(N. Quesson)..... 4
NGƯỜI
KHỔNG LỒ THIÊNG LIÊNG (Gm. Arthur Tonne ) 6
1.11 Các thánh nam
nữ : Mt 5,1-12a..... 8
Hạt
giống nẩy mầm-lm.Carôlô Hồ Bạc Xái 8
2.11 Các tín
hữu đã qua đời : Ga 6,51-59 12
NGHĨ VỀ
SỰ CHẾT (ĐC.G.B. Bùi Tuần ) 14
ÐỜI SỐNG
VÀ CẦU NGUYỆN (ĐC.G.B. Bùi Tuần) 18
Bài đọc: Kh
7 : 2-4, 9-14; 1 Ga 3 : 1-3; Mt 5; 1-12
Chủ đề:
Các thánh đã gìn giữ đức
tin cho chúng ta. Các Ngài là những người hướng
dẫn chúng ta trong hành trình đức tin của chúng ta.
Khoảng
60 năm sau khi Chúa Giêsu ra đời, một cơn hoả
hoạn khổng lồ đã xảy ra ở thành Rôma.
Đám cháy kéo dài hơn một tuần lễ. Người
ta đồn rằng Hoàng đến Neron đã ra lệnh
phóng hoả. Ông ta muốn tiêu huỷ thành phố Roma cổ
xưa, xây dựng lại một thành mới và đặt
bằng tên của chính ông ta.
Neron
đã cố gắng hết sức để ngăn
chận tiếng đồn ấy, nhưng nào có
được. Cuối cùng trong cơn thất vọng, ông
ta vội tìm một đối tượng để trút
lên đó mọi lời nguyền rủa của dân chúng. Ông
ta liền vu khống cho cộng đoàn Kitô hữu ở
Roma là đã gây ra cơn hoả hoạn. Lời tố cáo
của Neron khai mào cho cuộc bắt bớ tôn giáo kéo dài
gần 300 năm. Một sử gia Rôma đã mô tả
cuộc bắt bớ dưới thời Neron như sau:
“Các Kitô hữu bị đối xử tàn bạo khác
thường. Nhiều người phải khoác lên mình
một tấm da thú để rồi bị đàn chó
dữ cắn xé ra từng mảnh. Nhiều người
khác bị treo lên thập tự giá và ban đêm bị dùng
làm bó đuốc đốt sáng soi cho bóng đêm”.
Để
tự vệ và củng cố có thể thi hành đời
sống tôn giáo của mình, nhiều Kitô hũư đã
thực sự chui xuống sinh hoạt dưới lòng
đất. Họ đào được hệ thống
đường hầm tỉ mỉ trong lòng đất
ở vùng có núi lửa tại Roma. Một số trong
những đường hầm nổi tiếng này dài
đến nhiều dặm và được thiết
kế như những mê lộ để gây khó khăn cho
các nhà cầm quyền đương thời.
Hiện
nay, một số những hang động này
(được gọi là hang toại đạo), là
những trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn
du khách đi đến Rôma. Chính trong những
đường hầm này, các Kitô hữu đã từng
tổ chức Thánh lễ, rửa tội các cháu bé và chôn
cất những người chết. Trong các tác phẩm
của mình, thánh Jerôme cho biết: Khi còn là một chú bé, ngài
và các bạn thường hay chơi trong các hang toại
đạo. Sau thánh Jerôme nhiều thế kỷ, các chú bé
Roma cũng vẫn thường vui chơi trong các hang
toại đạo. Một ngày nọ, một nhóm các
cậu bé đang đi lang thang qua các mê lộ, dưới
đường hầm, đột nhiên chiếc đèn pin
duy nhất của chúng bị hỏng. Các chú hoàn toàn lâm vào
bóng tối, không biết lối ra, đang khi cả đám
bị kinh hoàng cực độ, thì một chú bé cảm
thấy như có một đường rãnh bằng
phẳng nơi nền đá của đường
hầm; đường này dẫn ra một lối đi
đã được bào phẳng nhờ bước chân
của hàng ngàn Kitô hữu trong thời kỳ bị bắt
bớ ở Roma. Thế là các chú bé lần theo những
dấu chân các vị thánh xưa và tìm được
lối thoát khỏi hang sâu tối tăm và bình yên
đến vùng có ánh mặt trời.
Chúng
ta có hai lý do để suy nghĩ về câu chuyện trên:
Thứ
nhất, nó cho ta thấy cái giá khủng khiếp mà tổ
tiên những Kitô hữu chúng ta phải trả giá cho
đức tin của họ. Nếu các ngài đã không
trả giá đắt như thế, có lẽ nhiều
người trong chúng ta sẽ không được làm Kitô
hữu như ngày hôm nay.
Thứ
hai, câu chuyện các cậu bé trong hang toại đạo
giống như một loại dụ ngôn cho ta thấy các
vị thánh ngày xưa vẫn còn đóng vai trò quan trọng
trong cuộc đời chúng ta như thế nào.
Nhiều
người trong chúng ta giống những chú bé trong các hang
toại đạo: chúng ta bị lạc lối, hoang mang vì
những ý kiến xung đột nhau, chúng ta chả
biết điều gì đúng điều gì sai, giống
như chúng ta đang bị lâm vào bóng tối, không biết
rõ đường đi nước bước. Câu
chuyện các chú bé trong hầm mộ quả là một
dụ ngôn cho chúng ta.
Các
chú bé đã tìm ra con đường trên nền hầm
được bước
chân các vị thánh bào phẳng hằng bao thế
kỷ trước. Nhờ đi thoát khỏi bóng tối
trong hang để tới được ánh sáng ban ngày.
Một cách tương tự, chúng ta cũng có thể
bước theo các vị thánh để tìm ra con đường
dẫn chúng ta khỏi vùng tối tăm và hỗn
độn của thời đại chúng ta hầu
đến được ánh sáng ban ngày.
Và
như thế, là mừng CÁC THÁNH đem lại hai mục
đích cho chúng ta:
Trước
hết, lễ này nhắc nhở chúng ta công ơn rất
lớn lao của các thánh thời xưa là những
người đã bảo tồn đức tin Công giáo cho
chúng ta.
Thứ
đến lễ này nhắc chúng ta nhớ nếu chúng ta
biết bắt chước các thánh và noi theo gương các
ngài chúng ta cũng sẽ tìm ra lối đi dẫn chúng ta
từ vùng tăm tối của trần thế bước
vào ánh sáng huy hoàng của Chúa.
Các
thánh chẳng phải là những người khác
thường gì, các ngài cũng bình thường như chúng
ta, nhưng đã sống cuộc đời bình
thường của các ngài một cách phi thường.
Chúng ta hãy dùng đoạn thơ nhan đề The Way (Con
đường) của John Oxenham để kết thúc;
đoạn này tóm tắt lời mời gọi và sự
thách đố mà ngày lễ các Thánh hôm nay đặt ra cho
mỗi người chúng ta:
“Ở
đó, có hai con đường mở ra trước
mặt mỗi người; một con đường cao
và một con đường thấp. Những linh hồn
cao thượng thích leo lên con đường cao mà đi,
còn những linh hồn thấp kém lần mò theo con
đường thấp mà đi. Giữa hai con
đường ấy là những linh hồn còn lại trôi
vật vờ trên những vùng sương mờ vô
định. Nhưng mỗi người phải quyết
định xem trong hai con đường ấy linh hồn
mình sẽ đi con đường nào”.
Lễ Các Thánh mời gọi chúng ta hãy can
đảm bắt chước các thánh chọn con
đường cao để một ngày kia chúng ta cũng
sẽ được xum họp với các ngài trên trời
để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn
đời.
Cách
đây mười năm, một người Pháp tên là Pi-e
Quốc (Alfred de Pierrecourt) để lại gia tài hai
triệu đô la với lời di chúc phải dùng số
tiền này gây giống những người khổng
lồ. Người ta đã tìm và chuyển những
người cao lớn ngoại khổ về một vùng
gần tỉnh Ru-ăng (Rhuen), rồi khuyến khích họ
lập gia đình với nhau, mong thành lập một dòng
giống khổng lồ.
Chương
trình này tiến hành được ít năm rồi thất
bại. Còn Chúa Giêsu cũng muốn gây dựng một dòng
giống vĩ nhân và đã thành công. Bí quyết thành vĩ
nhân của Chúa đã tóm gọn trong Bài giảng trên núi,
cũng gọi là là “Tám mối phúc thật”.
Chúa
Giêsu công bố những bí quyết hạnh phúc này trên
một ngọn núi. Khung cảnh làm tăng vẻ hùng vĩ
long trọng, khiến ta nhớ tới núi Sinai của
Cựu ước, nơi Thiên Chúa công bố mười
giới luật. Những điều hạnh phúc này
cũng gọi là Hiến Chương Nước Trời,
đây là tóm lược toàn bộ giáo lý của Đức
Kitô. Tuy đơn sơ giản dị nhưng là tinh hoa
của Tin Mừng, Chúa muốn gửi gấm với
tất cả nhân loại, nhất là những người
đau khổ, ốm yếu, tật nguyền, nghèo túng,
thất nghiệp, những người bị khinh chê,
tuyệt vọng, giới thu thuế và người tội
lỗi…
Phúc
cho những ai có tâm hồn nghèo khó…, phúc cho những
người hiền lành… phúc cho những ai khóc lóc…. Phúc cho
những ai đói khát công lý…, phúc cho ai có từ tâm…., phúc cho
ai tinh sạch trong lòng…, phúc cho ai kiến tạo hoà bình….,
phúc cho ai bị bắt bớ vì sự công chính…
Những
người gặp khó khăn đau khổ sẽ
được hạnh phúc trong giáo lý Đức Giêsu,
đây là kiểu nói khác của Lời Chúa; “Ai vất
vả mệt nhọc hãy đến với Ta và Ta sẽ
cho nghỉ ngơi. Hãy nhận lấy gánh của Ta và hãy học
cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng và các con
sẽ được nghỉ ngơi lại sức vì ách
của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt.11,28-30).
Chính vì đem hạnh phúc lại cho người đau
khổ mà Chúa Giêsu mới đúng là “Đấng
được trông chờ”, là “người
được tiên báo’ là “người đem Tin Mừng
Cứu độ’. Chúng ta đừng quên từ ngữ Tin
Mừng Cứu Độ đã được chính Chúa
nhắc lại: “Thần Linh Chúa xuống trên tôi,
Người đã xức dầu tôi, sai tôi mang Tin Mừng
cho người nghèo, băng bó cho ai có cõi lòng tan vỡ, công
bố giải thoát cho các tù nhân an ủi những
người bị áp bức…” (Is.61,1-6; Lc4,18).
Hạnh
phúc cho ho… vì Nước Trời là của họ… Tám mối
phúc thật đóng khung trong kết lụân đó.
Nước Trời thuộc anh em, không phải chỉ là
lời hứa hẹn mai sau, nhưng niềm hạnh phúc
này còn lan toả ngay trong hiện tại. Khi hiến
chương tám mối phúc thật được thực
hiện thì những người đau khổ sẽ
hạnh phúc, tình thế sẽ thay đổi. Chúa không ca
tụng đói nghèo, đau khổ, nhưng muốn cải
thiện cuộc sống dưới ánh sáng Tin Mừng.
Nước Trời, Nước Thiên Chúa là tổ chức
được xây dựng ngay trong cuộc sống thế
trần, và đầu tiên nhằm xoá hết khổ đau,
áp bức. Chúa Giêsu không phải chỉ là Vua mai sau, nhưng
ngay bây giờ Nước Chúa đã hình thành, và Chúa đã là
Vua luôn đem hạnh phúc cho dân của Người.
Phúc
cho người có tâm hồn nghèo, vì Nước Trời
thuộc về họ. phúc cho người hiền lành,
họ sẽ được đất. Trong từ ngữ
Hy Lạp, hai ý đó chỉ có một từ. Đó không
phải là thái độ chịu đựng tiêu cực,
nhưng là một cố gắng đạt tới,
để cho nhân quyền được tôn trọng.
Phúc
cho ai than khóc, họ sẽ được ủi an, Phúc cho
ai đói khát công chính, họ sẽ no thoả. Phúc cho ai có
từ tâm, họ sẽ được thương xót. Phúc
cho ai tinh sạch trong lòng, họ sẽ thấy Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đã khóc với Matta và Maria, Chúa đã sống công
chính rập mẫu Chúa Cha. Chúa đã thương xót các
tội nhân, Người luôn tha thứ. Các tín hữu
phải noi gương Chúa ban phát lòng thương xót và tha
thứ. Khi đó họ được gọi là con Thiên
Chúa, vì họ đã kiến tạo hoà bình.
Lạy chúa, xin
giúp chúng con noi gương các bậc thánh thiện mà Giáo
hội mừng kính hôm nay, biết thực hành những
lời Chúa dạy trong Tám mối phúc thật, để
chúng con được lãnh nhận hạnh phúc Chúa hứa
ban.
Ít
năm trước đây, một triệu phú người
Pháp là công tước Alffred de Pierre-Cout, đã để
lại trọn gia tài 2 triệu đôla để nuôi
lớn những người khổng lồ. Toà án thực
hiện đi chúc, cho trích một phần tư số
tiền của gia tài là 500,000 đôla để dùng vào
việc thử nghiệm này.
Các viên chức thành phố Rouen nước
Pháp đã tìm kiếm trên thế giới những
người đàn ông, đàn bà lớn con. Cho họ
sống từng đôi trong những ngôi nhà gần Rouen.
Thử nghiệm này chấm dứt ít năm sau.
2000 trước đây, một nhân vật
vĩ đại nhất đã đến trên mặt
đất này và để lại một di sản
để làm phát sinh không phải người khổng
lồ, nhưng là người phi thường thiêng liêng,
không phải những người có thân thể to lớn,
nhưng là những người có tâm hồn siêu việt.
Chúng ta vừa đọc chúc thơ của Người
trong bài Tin Mừng hôm nay. Bài giảng thời danh trên núi cho
chúng ta phương cách để trở thành siêu việt.
Chúng ta thường gọi là Tám mối phúc thật – Tám con
đường hạnh phúc.
Trong ngày lễ các thánh, chúng ta tôn kính tất
cả mọi người nam, nữ, già trẻ trong
mọi thời đại, thuộc mọi quốc gia,
mọi nghề nghiệp. Họ đã sống theo đường
lối này và đã trở thành siêu nhân. Tên tuổi và
việc làm của hơn 40.000 siêu nhân này được ghi
trong sổ bộ của Hội Thánh Chúa Kitô.
Nhưng còn một số đông vô kể
không có tên trong sổ bộ. Các ngài cũng là những siêu
nhân, chúng ta tôn kính các Ngài trong ngày hôm nay… trong số đó có
nhiều vị gần gũi và thân thương với chúng ta.
Điều gì làm cho các ngài thành vĩ nhân?
Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay; Các Ngài
nghèo khó trong tinh thần; tiền bạc, của cải
không phải là cái các Ngài quan tâm.
Các Ngài hiền lành, hoà nhã, ân cần, khoan
dung. Các Ngài đã chịu đói, chịu khát, các Ngài nhân
từ, dung thứ những thiếu sót của con
người.
Các Ngài có tâm hồn trong sạch, không
phải chỉ trong giới răn thứ sáu, nhưng còn
trong mục đích làm đẹp lòng Chúa và ích lợi cho tha
nhân. Các Ngài là người kiến tạo hoà bình; với
chính các Ngài, với tha nhân và với Chúa.
Lòng tốt của các ngài đưa các Ngài
đến tù tội, ngược đãi và ngay cả
sự chết. Các Ngài bị xỉ nhục, bị nhạo
cười vì niềm tin, vì hành động như những
người theo Chúa Kitô.
Mỗi lần chúng ta thực hành một
trong 3 mối phúc thật này, chúng ta lớn lên trên
đường thiêng liêng, chúng ta trở nên cao lớn
trước mặt Chúa.
Để khuyến khích chúng ta lớn lên,
Mẹ Giáo hội nhắc nhở chúng ta suốt một
năm tên của các vị Thánh. Hôm nay, ngày lễ các Thánh
nam, nữ, gia đình Chúa xum họp quanh bàn Thánh Chúa
để tôn kính tất cả, trong đó có bà con láng
giềng đã trở nên siêu nhân, mặc dù chưa
được ghi tên trong sổ bộ.
Sức mạnh để trở nên siêu nhân
Chúa Kitô cho chúng ta trong của ăn, chúng ta lãnh nhận
nơi bàn tiệc Thánh lễ. Ước gì tất cả
chúng ta sẽ được trong số những
người sẽ được tôn kính trong ngày lễ các
Thánh mai sau.
1.11
Các thánh nam nữ :
Hạt
giống nẩy mầm-lm.Carôlô Hồ Bạc Xái
*
lịch sử
Lễ các thánh nam nữ đã
có từ thế kỷ thứ IV. Thánh Ephraim người
Syrie và thánh Gioan Kim Khẩu đều biết đến
một ngày lễ mừng các thánh tử đạo vào ngày
13.5 hằng năm. Hay rõ hơn là Chúa Nhật thứ
nhất sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lễ
này vẫn còn trong lịch sử phụng vụ của Giáo
Hội Hy Lạp và được gọi là Chúa nhật
chư thánh.
Trong Giáo Hội
Tây Phương cũng có một thánh lễ từ thế
kỷ thứ VII, lễ toàn thể các thánh tử
đạo mừng vào ngày 13.5. Ðó là ngày lễ thánh hiến
đền Panthéon của Rôma, để Kính Ðức Trinh Nữ
Maria và toàn thể các thánh tử đạo vào ngày 13.5.609.
Lễ chư
thánh (toàn thể các thánh, chứ không dành riêng cho các thánh
tử đạo) được mừng vào ngày 1.11
hằng năm, chỉ xuất hiện từ thế
kỷ thứ VIII do các thầy Dòng Irland, và Anh Quốc, khi
sang truyền giáo ở Âu Châu đã đem theo và trong
thời gian ngắn đã phổ biến rộng khắp
Âu Châu. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
A. Hạt
giống...
1. Trong Tin
Mừng Mt, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu lên
tiếng giảng trước đám đông dân chúng.
Lần đầu tiên ngỏ lời với dân chúng, Chúa
Giêsu loan báo ngay một Tin Mừng hạnh phúc.
2. Những người
hạnh phúc ấy là ai ?
1/ "những
người nghèo trong tâm hồn" : không nô lệ tiền
của.
2/ "hiền
lành" : Hiền lành nghĩa là vừa nhân từ vừa
khiêm nhượng (xem Mt 11,29-30 : Ðức Giêsu tự xưng
là "hiền lành" và "khiêm nhượng" trong lòng).
3/ "sầu
khổ" : Mt 9,15 nói về việc các môn đệ
sẽ "sầu khổ" khi phải xa cách "Tân
lang" là Ðức Giêsu. Như
vậy người sầu khổ là người biết
mình tội lỗi và do đó phải xa cách Chúa. Như vậy
phần phúc Chúa hứa cho họ là họ sẽ
được Thiên Chúa "an ủi" bằng cách tha
tội cho.
4/ "khao khát
nên người công chính" : Trong Tin Mừng Mt, "công
chính" là biết làm theo ý của Thiên Chúa.
5/ "xót
thương người" : Hôsê đã viết "Ta
muốn lòng thương xót chứ không muốn lễ
vật" (Hs 6,6). Mt đã trích dẫn câu này 2 lần (9,13 12,7)., và cả 2 lần Mt
đều hiểu thương xót nghĩa là thứ tha
để cứu vớt kẻ lầm lỡ.
6/ "tâm
hồn trong sạch" : nghĩa là có lương tâm ngay
thẳng, không gian dối, không mập mờ nửa
trắng nửa đen, không một dạ hai lòng.
7/ "xây
dựng hòa bình" : Hòa bình ở đây là hòa thuận (không
xung khắc, không thù hận). Nên lưu ý rằng các mối
phúc khác đều nhắm đến một thái độ
nội tâm, còn mối phúc nầy nhắm đến
hoạt động bên ngoài mà đối tượng là
những mối liên hệ giữa người với
người, và mục đích là làm cho người ta hòa
thuận với nhau.
8/ "bị
bách hại vì sự công chính" : Ta cũng phải
hiểu chữ "công chính" ở đây theo nghĩa
của c.6, nghĩa là "sống theo ý Chúa". Vì sống
theo ý Chúa mà bị người ta bách hại.
B. ... nẩy
mầm.
1. Có thể quy
tất cả 8 đức tính ấy vào một đức
tính căn bản là "Tâm hồn nghèo". Người có
tâm hồn nghèo là người :
.
Mặt tiêu cực : không màng đến và không cậy
dựa vào tiền bạc của cải, danh lợi
lạc thú trần gian, ăn thua hơn thiệt đời
này... (nói cách khác : không màng đến nước trần
gian)
.
Mặt tích cực : chỉ ước ao sống tốt
theo ý Thiên Chúa và được hưởng những ơn
lành của Thiên Chúa (nói cách khác : được sống
trong Nước Trời)
Vì căn
bản hạnh phúc là có tâm hồn nghèo, nên có thể nói :
hạnh phúc đích thực của kitô hữu là vứt
hết những gì mình có, để được lấp
đầy bằng chính Chúa.
2. Hạnh phúc
là gì ? Xét cho cùng, hạnh phúc là được sống
đúng bản chất của mình. Con chim ở trong
lồng son không hạnh phúc, nó chỉ hạnh phúc khi
được bay nhảy thoải mái như chim. Con cá
chỉ hạnh phúc khi được bơi lội như
cá. Bản chất con người là được Thiên
Chúa tạo dựng và được trở về với
Thiên Chúa. Bởi đó, Chúa Giêsu dạy rằng hạnh phúc
của con người là được ở trong
Nước Thiên Chúa.
3. Một hôm khi
cầu nguyện, một Linh mục xin Chúa cho tra vấn
một tên quỷ :
- Nhân danh Chúa, ta
hỏi mi : đâu là nơi hạnh phúc nhất ?
- Dĩ nhiên là
thiên đàng. Ôi, được nhìn thấy Chúa là tất
cả niềm hoan lạc. Nếu có lấy mọi vẻ
đẹp của muôn vàn châu báu thế gian và mọi tinh tú
trong vũ trụ, rồi đem so sánh với vẻ
đẹp của Chúa, thì tất cả cũng chỉ là
một con số không.
- Ngươi
đã được hưởng tất cả những
thứ đó, tại sao ngươi đánh mất hạnh
phúc thiên đàng ?
- Chỉ vì chúng
tôi kiêu ngạo phản loạn. Khổ nỗi là bây giờ
đã quá muộn để hối hận. Lúc này dù phải
chịu tất cả mọi cực hình hỏa ngục gom
lại cho riêng tôi, tôi cũng sẵn sàng đón nhận,
miễn là sau đó tôi được hưởng thiên
đàng trong giây lát. Nhưng đã quá muộn rồi !
Thì ra ngay cả
quỷ dữ cũng khao khát hạnh phúc. (Chờ
đợi Chúa)
4. "Phúc cho
anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả,
bách hại và vu khống đủ điều xấu
xa" (Mt 5,11)
Ngày 19-6-1988,
cả Giáo hội Việt Nam hân hoan vui sướng vì 117
vị tử đạo đã được phong hiển
thánh. Những nỗi đớn đau tủi nhục vì
Chúa Kitô của các ngài đã được chúc phúc.
Hôm nay, chúng ta
cũng không thoát khỏi những khó khăn, đớn
đau và tủi nhục trong cuộc chiến cam go loại
bỏ tật xấu, dứt khoát với tội lỗi,
hay những suy nghĩ tiêu cực nơi chính bản thân.
Cuộc chiến ấy đòi hỏi chúng ta phải can
đảm.
Xin các thánh
tử đao Việt Nam thông truyền cho chúng con dòng máu
bất khuất của các ngài và giúp chúng con biết
chiếu toả tôn nhan Thiên Chúa nơi chính con người và
cuộc sống chúng con.
5. Các thánh
đều là những công dân Nước Trời,
đều đang hưởng hạnh phúc Nước
Trời. Mỗi một vị Thánh đều là một
tấm gương cho chúng ta về một trong 8 mối
phúc.
6. Có nhiều
thứ người đời cho là nguồn hạnh phúc
nhưng thực chất là nguồn đau khổ, và
ngược lại...
7. Bất
cứ thứ gì không đưa ta vào Nước Trời
đều không phải là hạnh phúc thật.
8. Bác sĩ Tom
Dooley thường cứu giúp những người khổ
sở. Ông có một cách hiểu đặc biệt câu Tin
Mừng Mt 5,5 "Phúc cho những ai sầu khổ". Ông nói
: "Sầu khổ không hẳn là bất hạnh, mà còn có
nghĩa là quan tâm đến cảnh khổ ở
đời hơn là cảnh sung sướng... Nếu
bạn nhạy cảm với những cảnh khổ và
cố gắng làm một điều gì đó để cho
đời tươi sáng hơn, bạn sẽ thấy
hạnh phúc" (Trích dẫn bởi Mark Link, Sunday homilies,
Year C).
9. Ðoàn cứu
trợ đến căn nhà lụp xụp của một
bà già. Họ hỏi thử bà :
- Nếu chính
phủ cho bà 200 đôla. Bà sẽ làm gì ?
- Tôi sẽ
đem cho những người nghèo.
Bà cụ này
chính là một trong những người mà Chúa Giêsu nghĩ
tới khi nói "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo
khó" ; Từ những người có tâm hồn như bà
cụ này đã xuất hiện những vị Thánh mà chúng
ta tôn kính hôm nay ; Và tấm gương của bà cụ này
khuyến khích chúng ta trở nên những kitô hữu tốt
hơn (Mark Link, Sunday homilies, Year C).
10. "Anh em hãy
vui mừng hớn hở, vì phần thưởng danh cho anh
em trên Trời thật lớn lao" (Mt 5,12)
Phêrô từng
chối Chúa
Rồi
thống hối ăn năn
Chúa
thương thưởng thành thánh
Cuối cùng
cũng theo Ngài
Ngài
thương ban thành thánh.
Một
người từng ăn trộm
Phút cuối
biết quay về
Chúa cho
được làm thánh
Têrêxa Hài
đồng
Người yêu
Chúa tử bé
Sống
phục vụ yêu thương
Trong Tình yêu
của Ngài
Thành thánh ngay
trần gian
Thánh Augustinô
(Và còn nhiều
thánh nữa)
Từng ăn
chơi sa đọa
Theo ơn
gọi quay về
Tích cực thành
thánh ngay
…………………………
Chúa luôn mời
gọi con
Hãy là thánh nghe
con
Vì Ta là Ðấng
Thánh.
Lạy Cha xin
giúp con
Trong từng
giây phút sống
Biết yêu
thương trung thành
Ðể
được nên giống Cha. (Hosanna)
2.11
Các tín hữu đã qua đời : Ga 6,51-59
* lịch
sử
Lễ cầu
cho các tín hữu đã qua đời được cử
hành vào ngày 2 tháng 11 hằng năm, được thánh
đan viện phụ Odilô của tu viện Cluny (994-1048)
khai sáng.
Trong ngày đó,
ngài ra lệnh các linh mục thuộc dòng Cluny phải dâng
thánh lễ để cầu nguyện cho tất cả
những người trong dòng và các ân nhân của dòng đã
qua đời. Ngài ra lệnh cho các đan viện trực
thuộc Cluny cũng thực hành như thế. Chúng ta còn
giữ được văn kiện của thánh Odilô ghi
vào năm 998.
Sau đó,
lễ cầu cho các linh hồn phát triển rất nhanh và
bung ra khỏi dòng tu. Từ thế kỷ XIV chúng ta đã
gặp thánh lễ này trong phụng vụ Rôma. (Lm Nguyễn
văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
A. Hạt
giống...
1. Cựu
Ước mô tả sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa
với con người bằng hình ảnh bữa tiệc
(Cn 9,1-5). Trong đoạn Tin Mừng này Chúa Giêsu cũng dùng
ngôn ngữ của bữa tiệc như "ăn" và
"uống". Tuy nhiên bữa tiệc này rất
đặc biệt vì thức ăn thức uống không
phải là thực phẩm thông thường cho dù là cao
lương mỹ vị đi nữa, mà là chính thịt máu
Chúa Giêsu. Bởi đó hiệu quả của bữa
tiệc này không phải chỉ là bồi dưỡng
sức khoẻ tạm thời cho thể xác mà là cho con
người được sống thật, sống muôn
đời.
2. Các ngôn sứ
Cựu Ước diễn tả ơn gọi của
họ bằng hình ảnh "nuốt" lấy Lời
Chúa (x. Gr 15,15-21 ; Êd 3). Nghĩa là các vị ấy rất
thèm khát Lời Chúa, muốn tiêu hóa Lời Chúa, cho Lời
ấy thấm nhập vào thân thể mình. Hiểu theo
bối cảnh ấy, "Ăn" thịt Chúa Giêsu và
"uống" máu Ngài nghĩa là khao khát được
kết hợp rất thân thiết với Chúa đến
nỗi có thể nói là đã trở nên một thịt
một máu với Ngài.
3. Khi ghi lại
những dòng này, thánh Gioan cũng nghĩ đến Bí tích
Thánh Thể. Ðó chính là bữa tiệc thịnh soạn mà
Thiên Chúa dọn cho loài người, và đó cũng chính là
nguồn sức sống cho loài người.
B. ... nẩy
mầm.
1. Hôm qua lễ
Các Thánh, chúng ta nhớ đến những tín hữu ở
thiên đàng. Hôm nay lễ các linh hồn, chúng ta nhớ
đến các tín hữu trong luyện ngục. Còn chúng ta là
những tín hữu hiện còn tại thế. Bài Tin
Mừng Gioan về bữa tiệc sum họp cho chúng ta
biết hạnh phúc tuyệt vời và tối hậu sau
một đời sống ở trần gian là
được kết hợp thân thiết với Chúa trong
bữa tiệc vĩnh cửu trên thiên đàng. Ngoài thứ
hạnh phúc đó ra, không có gì là hạnh phúc thật cả.
2. Thánh Lễ là
dịp chúng ta nếm trước hạnh phúc sum họp
ấy. Trong thánh lễ chúng ta kết hợp với Chúa,
chúng ta kết hợp với các thánh trên trời và những
tín hữu trong luyện ngục, chúng ta cầu nguyện
để cuối cùng chúng ta và tất cả những
người thân của chúng ta đều được
sum họp với Chúa và các thánh trong bàn tiệc vĩnh
cửu.
3. Hãy hỏi các
linh hồn. Họ sẽ cho chúng ta biết đâu là
những giá trị thật của cuộc đời mà ta
cần theo đuổi.
4. Khi Mẹ
Têrêxa Calcutta sang Liên Xô xin lập một chi nhánh của Dòng
bà, bà đã kiên trì xin cho bằng được có một
Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh lễ cho các
nữ tu. Bà giải thích lý do : sở dĩ các nữ tu có
đủ tinh thần và nghị lực để mỗi
ngày đem đến cho những người nghèo khổ
sự an ủi, phục vụ và yêu thương, đó là
nhờ Mình Thánh Chúa mà họ rước mỗi ngày.
"Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là
của uống".
5. "Thịt
ta thật là của ăn và máu ta thật là của
uống".
Hằng đêm,
mỗi khi thành phố lên đèn, mọi người
hối hả trở về công sở, trường
học...
Những
bước chân hối hả qua lại...
Bên vệ
đường, một bà lão khô quắt, nằm cong queo
như cố thu mình trốn cái không khí se lạnh. Bà
kiệt sức vì đói. Những bước chân vẫn
đi qua, đi qua...
Và rồi,
đôi chân con bước tới, ngập ngừng...
rồi lại bước đi
Trên ti vi,
người ta nói đến lũ lụt. Cảm
động, con dự định... rồi lại thôi !
Con là thế !
Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay
lại.
Lạy Chúa, trên
thánh giá Ngài đã giang rộng đôi tay và khi phục sinh,
Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại
được sống.
Xin cho con luôn
biết cho đi, cho đi mãi
không chỉ
vật chất, nhưng cho cả bản thân. (Epphata)
6. Ðoạn
kết của câu truyện người phú hộ giàu có và
kẻ ăn xin nghèo khổ Ladarô khiến tôi phải suy
nghĩ. Hai con người, hai cách sống, hai kết
cuộc khác nhau : người được ân
thưởng, kẻ bị luận phạt. Thiên Chúa đã
tách biệt họ ra như tách biệt người lành khỏi
kẻ dữ, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Là
chiên hay dê, tôi có quyền chọn lựa. Hôm nay tôi sống
thế nào thì ngày đó tôi sẽ bị xét xử như
vậy. Thiên Chúa là vị thẩm phán uy quyền nhưng
cũng đầy tình thương. Ngài cho tôi thời gian
để sống, để chọn lựa, để
thực hiện vận mệnh đời mình. Ðể
khỏi bị kết án như người phú hộ, tôi
phải sống cho Chúa và cho anh em tôi.
Lạy Chúa, xin
cho con biết sống mỗi ngày như là ngày cuối
đời con, để con luôn biết yêu thương giúp
đỡ mọi người với những gì con có
thể. (Hosanna)
Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết.
Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ
nào, nơi nào, cách nào.
Chắc chắn tôi phải chết. Ðó là
một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý
này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con
người của tôi.
Cái chết cũng là một biến cố
đụng tới mọi người. Nó là một vấn
đề chung. Vấn đề này được coi là
hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu
hỏi: Ðâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời
đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?
Câu trả lời theo lý thuyết có thể
tìm được trong nhiều sách, nhất là sách
đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm
sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống
động, khi ta ở bên cạnh những người
sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập
tử nhất sinh.
Những lúc đó, câu trả lời sẽ
không phải là một kết luận lạnh lùng của
triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh
thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình,
cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi
hiện tượng sự chết rập rình sát tới.
Những hiện tượng khác
thường nơi người sắp chết rất
đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những
khắc khoải đợi chờ, những nắm
bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những
cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình
tức giận, những chán nản phiền muộn,
những buông xuôi tiếc nuối, những phấn
đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là
những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang
dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và
một tin tưởng đến từ cõi đời
đời.
Tất cả những hiện tượng
như thế phản ánh những trực cảm nội
tâm: Ðã tới lúc vĩnh biệt. Ðã tới lúc ra đi. Ðã
tới lúc phải bỏ lại tất cả. Ðã tới
lúc phải trực diện với lương tâm.
Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm
người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.
Trước đây, có nhiều điều
về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm.
Nhưng lúc con người sắp chết, những
điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình
diện rất nghiêm túc.
Tôi có cảm tưởng là người
sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của
mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi
được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa
trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con
Chúa, để mình phát triển mình và những người
xung quanh trong những chặng đường lịch
sử nhất định. Sự phát triển sẽ
tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào
sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi
người.
Thực tế cho thấy là đã có
những phát triển đạo đức, và trái lại
cũng có những phát triển tội lỗi. Với
những phát triển tốt, người sắp chết
cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm
vụ được trao đã phần nào hoàn thành.
Trái lại nếu thấy những phát
triển của mình là xấu, nhiệm vụ
được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không
thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ
vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi
đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục.
Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.
Vì thế, nói cho đúng, vấn đề
đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là
sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau
đó không được lên thiên đàng, nhưng phải
xuống hoả ngục.
Những tư tưởng trên đây thường
nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:
1/ Hãy tiến về sự chết của
mình như tiến tới một quãng đường
phải vượt qua, để về với Cha trên
trời.
Một khi nhìn sự chết của mình
như thế, thì cuộc sống của mình cũng
được hiểu theo hướng đó.
Ðể đi đúng hướng về Cha
trên trời, tôi chỉ có một đường phải
chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là
đường, là sự thực và là sự sống (Ga
14,6). Ðón nhận Người, lắng nghe Người,
đi theo Người, bắt chước Người.
Người là gương mẫu cho ơn gọi làm
người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ðiều quan
trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo
Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn
đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn
quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để
được trở thành tạo vật mới. Nếp
sống kiêu căng cần phải bị loại tận
gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường
cần được thường xuyên phát huy.
2/ Hãy tiến về sự chết của
mình như người được sai đi truyền
giáo, mong trở về với Ðấng sai mình.
Sống như người truyền giáo và
chết như người truyền giáo. Truyền giáo
một cách cụ thể ở địa phương này,
ở thời điểm này. Nghĩa là một địa
phương và thời điểm có nhiều khác biệt.
Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe
hướng dẫn của Thánh Thần Ðức Kitô. Ngài
đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu.
Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng
nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà
truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng.
Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để
trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?
3/ Hãy tiến về sự chết của
mình như người khắc khoải trở về
với Ðấng đã trao cho mình điều răn mới.
Ðiều răn mới này, tôi nhận
được từ Lời Chúa: "Thầy ban cho chúng
con một điều răn mới là chúng con hãy yêu
thương nhau như Thầy đã yêu thương các
con" (Ga 13,34).
Ðể hiểu thấm thía hành trình tình yêu,
tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây
của thư thánh Gioan:
"Chúng ta
biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước
vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu
thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét
anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không
kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời
ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta
biết được tình yêu là gì: đó là Ðức Ki-tô
đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta
nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai
có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh
túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm
sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy
được? Hỡi anh em là những người con bé
nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi
đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu
thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn
cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng
chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta
sẽ được an lòng trước mặt Thiên
Chúa" (1Ga 3,14-19).
"Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu
thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta
trước. Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà
lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói
dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ
trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ
không trông thấy. Ðây là điều răn mà chúng ta đã
nhận được từ Người: ai yêu mến
Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4,19-21)
Khi tôi sống với những hướng
kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một
điểm chấm dứt nhiệm vụ.
Nhiệm vụ được chấm
dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành
hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều
quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó.
Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết
tôi đã lỗi phạm nhiều.
Biết lo là điều tốt. Không
phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây
giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình,
đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt
đầu lại.
Khởi sự từ quyết tâm tận
dụng ngày giờ còn lại và những phương
tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ
được trao một cách tốt đẹp nhất.
Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận
Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và
tin mến khiêm cung.
Những nỗi lo như thế là chính
đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi
lo đó sẽ đem lại những tiến triển và
hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình
yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự
chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang
sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn
trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần
chết là phải chết thôi.
Ðời sống của tôi là một
chuyến đi. Tôi vẫn mong chuyến đi này sẽ
gặp nhiều niềm vui, nhiều bình an, nhiều
hạnh phúc. Nhất là tôi mong: Sống sao cho có ý nghĩa,
phục vụ tối đa Lời Chúa, đề cao lý
tưởng tình Chúa xót thương, tới được
Nước Trời, được về với Cha.
Nhưng chuyến đi này không dễ chút
nào. Ðã có nhiều điều xảy ra ngoài ý muốn. Ðã có
nhiều trở ngại cản trở những ước
mơ chính đáng. Ðã có nhiều nguy cơ cố ý
đẩy tôi xuống vực thẳm thất bại.
Những kinh nghiệm như thế thúc
giục tôi phải hết sức coi chừng. Một trong
những việc coi chừng tôi quan tâm nhất, chính là
việc cầu nguyện. Cầu nguyện trong mọi
nơi, trong mọi việc. Cầu nguyện liên lỉ.
Càng trung thành với việc cầu
nguyện, tôi càng thấy ứng nghiệm trong đời
tôi những lời Chúa Giêsu đã phán xưa. Chỉ xin nêu
lên vài trường hợp.
Có lần các môn đệ Chúa cố
gắng trừ quỉ cho một người nó ám, nhưng
quỉ nhất định không chịu ra. Ðược tin
đó, Chúa Giêsu phán: "Thứ quỉ này không chịu ra
khỏi người ta, nếu anh em không đuổi nó
bằng ăn chay và cầu nguyện" (Mt 17,21). Ðúng
như vậy, trong cuộc sống, tôi đã gặp
nhiều tình hình sự ác tung hoành, như dưới
quyền thống trị của quỉ dữ Satan.
Nhưng nhờ việc cầu nguyện và ăn chay
của những người
thiện chí, tình hình đã được sáng sủa
trong tình thương của Chúa.
Có lần cảnh báo về những tai
hoạ có thể xảy ra bất ngờ, Chúa Giêsu phán:
"Anh em phải đề phòng, chớ để mình ra
nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự
đời, kẻo ngày ấy như một chiếc
lưới bất thần chụp xuống đầu anh
em... Vậy anh em hãy cầu nguyện luôn, hầu đủ
sức thoát khỏi mọi điều xảy đến
và đứng vững trước mặt Con
Người" (Lc 21,34-36). Ðúng như vậy, trong cuộc
sống, tôi đã gặp nhiều bất ngờ ác
độc khủng khiếp. Nhưng chính nhờ lời
cầu nguyện của cộng đoàn đức tin, mà
giữa những thử thách đó, cộng đoàn và tôi
vẫn trung thành bước đi dưới sự che
chở của Chúa.
Ðêm cuối cùng, ở vườn Cây
Dầu, khi sắp bước vào cuộc tử nạn,
Chúa Giêsu đã nhắc bảo ba môn đệ: "Sao anh em
lại ngủ. Hãy thức dậy mà cầu nguyện,
kẻo sa chước cám dỗ" (Lc 22, 46). Ðúng như
vậy, trong cuộc sống, tôi đã phải đối
đầu với biết bao cơn cám dỗ. Nhiều lúc
quá mệt mỏi, muốn trao mình vào giấc ngủ.
Nhưng chính nhờ lời Chúa đánh thức lương
tâm, tôi chỗi dậy cầu nguyện cùng với Hội
Thánh, nên cơn cám dỗ đã trở thành dịp
đưa tôi và cộng đoàn tiến lại gần Chúa
hơn.
Các ơn tôi nhận được nhờ
cầu nguyện không phải chỉ có thế. Thành
thực mà nói: Ðối với tôi, cuộc sống là một
chuỗi dài những ơn Chúa ban. Ðang khi đó, cầu
nguyện được coi là một vấn đề
sống còn của cuộc sống. Cuộc sống gắn
liền với cầu nguyện. Cầu nguyện đi
theo mọi tình huống cuộc sống. Lúc nào cũng
cầu nguyện. Sống là cầu nguyện. Cầu
nguyện là hơi thở của cuộc sống.
Thực vậy, nếu hiện tại
của tôi là một chuỗi dài những việc bình
thường, tôi sẽ cầu nguyện theo lời thánh
Phaolô khuyên dạy: "Dù ăn, dù uống, dù làm bất
cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn
vinh Thiên Chúa" (1Cor 10,31). Nghĩa là để tôn vinh Thiên
Chúa, tôi cầu nguyện, để ngay trong đời
thường và với các việc bình thường, tôi
biết sống có chất lượng hơn, luôn biết có những lựa
chọn đem lại nhiều ích lợi hơn cho Hội
Thánh và đồng bào, gây được nhiều kết
quả hơn cho cánh đồng truyền giáo.
Nếu hiện tại của tôi là
những giờ phút nặng nề, những ngày tháng đau
đớn, tôi sẽ cầu nguyện như Ðức Kitô
xưa: "Bây giờ, tâm hồn con xao xuyến. Con
biết nói gì đây. Lạy Cha, xin cứu con khỏi
giờ này. Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến"
(Ga 12,27). "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén
đắng này xa con. Tuy vậy, con xin đừng làm theo ý
con, nhưng xin làm theo ý Cha" (Lc 22,42). Nghĩa là tôi sẽ
rất thành thực nói với Chúa về những yếu
đuối của tôi, những nguyện vọng tự
nhiên của tôi. Nhưng tôi vẫn xin Chúa cho tôi
được ơn vâng theo thánh ý Chúa.
Nếu hiện tại của tôi là tâm
trạng chứa đầy tội lỗi, tính mê nết
xấu, tôi sẽ cầu nguyện theo gợi ý của
lời Chúa xưa: "Người khoẻ mạnh không
cần thầy thuốc, người đau yếu mới
cần. Ta không đến để kêu gọi người
công chính, nhưng để kêu gọi người tội
lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,31-32). Nghĩa là tôi
sẽ cầu nguyện với lòng tin tưởng vào lòng
thương xót Chúa. Tôi tin Chúa yêu thương tôi, chính vì tôi
là kẻ tội lỗi. Tôi tin Ngài yêu tôi, trước khi tôi
trở lại với Ngài. Ơn trở lại chính là
ơn biết đón nhận tình yêu của Ngài và ở
lại trong tình yêu ấy.
Nếu hiện tại của tôi là tiếp
cận với những người nghèo khổ, tôi sẽ
cầu nguyện theo tinh thần lời Chúa về ngày phán
xét chung: "Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy
đến thừa hưởng vương quốc đã
dọn sẵn cho chúng con từ thuở tạo thiên lập
địa. Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn. Ta khát,
các con đã cho uống. Ta là khách lạ, các con đã
tiếp rước. Ta trần truồng, các con đã cho
mặc. Ta đau yếu, các con đã viếng thăm... Ta
bảo thật các con, mỗi lần các con làm ơn cho
những người anh em bé nhỏ nhất của Ta
đây, thì Ta kể như các con làm ơn cho chính Ta" (Mt
25,34-40).
Nghĩa là, tôi sẽ nhìn những
người nghèo khổ như một thứ bí tích,
một dấu chỉ về sự hiện diện của
Chúa. Tôi sẽ cầu nguyện với Chúa, để
biết mang lại cho những người nghèo khổ
sự kính trọng và yêu thương cần thiết.
Trên đây là
một vài chi tiết của cuộc sống cầu
nguyện. Thiết tưởng cũng đã đủ
để cho thấy: Tình huống nào của cuộc
sống cũng nên cầu nguyện và cần cầu
nguyện.
Kinh nghiệm đời sống cầu
nguyện cho tôi thấy hai điều sau đây:
1/ Nếu chúng ta cầu nguyện thực
khiêm nhường, chân thành, sốt sắng, Chúa sẽ làm
cho những gì người ta coi như xấu nhất
trở thành những vật liệu rất tốt có
khả năng góp phần vào việc xây dựng con
đường đạo đức, thánh thiện
dẫn về Nước Trời.
2/ Nếu chúng ta đừng mất thời
giờ theo đuổi những chương trình làm sáng danh
Chúa kiểu phô trương chiến thắng, thống kê
thành tích, áp đặt đức tin, mà chỉ hết
sức quan tâm cầu nguyện để tình yêu cứu độ
của Chúa toả sáng qua cuộc sống của ta, cho dù
cách kín đáo, âm thầm, khiêm tốn, thì sự cộng tác
của chúng ta vào kế hoạch cứu độ của Chúa sẽ dẫn
được nhiều đồng bào Việt Nam hôm nay
đi vào con đường đưa tới Nước
Trời.
Ai không tin những gì tôi chia sẻ trên
đây, xin hãy hỏi những người đã chết.
Hãy nghe tiếng các linh hồn người chết. Họ
đang kêu gọi chúng ta hãy cầu nguyện. Họ đang
nhắc nhủ chúng ta hãy cầu nguyện thực
nhiều. Với tinh thần
cầu nguyện, con người sẽ biết
nghĩ đúng, chọn đúng, làm đúng, để
tới được Nước Trời, gặp
được Thiên Chúa là Cha giàu tình thương xót và
được ở lại bên Cha muôn kiếp muôn
đời.
THUỐC BỔ
HÀNG TUẦN
I.Tia
sáng:
v HÃY KHIÊM TỐN, CHÚA
KITÔ SẼ NHÓM LẠI LỬA TÌNH YÊU TRONG BẠN
v MỘT LÝ
TƯỞNG CAO ÐẸP
II.Thư
giãn:
1.
MIỄN PHÍ
2.
CÒN XANH
3.
DỞ TỆ
4.
MẪU RAO VẶT
5.
CHIẾN CÔNG
6.
TÓC CHUNG TÌNH
7.
TƯỞNG TƯỢNG
III.Chuyện
vui suy niệm của AVE JESU
MARIA JOSEPH:
v MẶT TRỜI BỊ
TRÓI
IV.Chuyện
ngụ ngôn:
v MÈO VÀ CỪU
V.Hẹn
bạn trên đỉnh thành công:
v CHỒNG
HÃY "GA LĂNG"
VỚI VỢ.
VI.Tình yêu – Hôn nhân – Gia
đình:
VII.Chuyện phiếm
của Phạm Khải:
v TÌNH GIÀ
I.
TIA SÁNG :
* Bọn hững hờ không có
quyền ngồi với chúng ta. Hãy khiêm tốn, Chúa Kitô
sẽ nhóm lại lửa tình yêu trong bạn.
* PHÚC CHO NGƯỜI GIỮ TRONG
MÌNH MỘT LÝ TƯỞNG CAO ÐẸP VÀ TUÂN THEO NÓ.
Pasteur.
Bao giờ ta cũng có một chương
trình hành động, một dự phóng cho tương lai.
Ðâu là
dự phóng của tôi? Kiếm cho được nhiều
tiền ư? Sắm cho được một chiếc
tivi mà ai cũng trầm trồ cả sao? Tìm
được một cái nghề không phải hao tốn
sức lực mấy chăng? Chinh phục cho
được một
trái tim để thỏa mãn tính ích kỷ của tôi hay sao?
Còn thứ gì nữa? Phải chăng tôi có thể bảo
chương trình của tôi, dự phóng của tôi là một
lý tưởng cao đẹp? Phải chăng là cái
đẹp đạo đức,
nghĩa là tôi muốn sống hữu ích cho đồng
loại hơn là tôi được phục vụ, hiện
diện nhiều hơn là sở hữu, yêu mến
để nâng cao người thân thương lên, chứ
không phải biến họ thành một đối
tượng cho
đam mê của tôi, và qua đó Thiên Chúa sẽ tin
tưởng tôi nhiều hơn? Tuân theo một lý
tưởng đâu có phải là mơ tưởng
đến nó không mà thôi, nhưng nó đòi hỏi một
công việc nặng nhọc: phải chăng tôi chỉ là
một người mơ lý tưởng?
Lạy Chúa, xin ban cho con can đảm tìm
hạnh phúc bằng cách thực hiện một lý
tưởng cao đẹp.
II. THƯ GIÃN:
1. MIỄN PHÍ
Trong một phiên xử, quan tòa hỏi
bị cáo:
- Anh lấy trộm một triệu
để làm gì?
- Ðể trả tiền thuê nhà ạ.
- Thế thì từ nay anh khỏi phải
trả tiền nhà trong một năm.
2. CÒN XANH
Hai người điên đi dạo trong
vườn hoa dưỡng trí viện. Thấy hai con két
một màu đỏ, còn một con màu xanh đậu trên
cành cây. Bỗng một anh điên đề nghị:
- Chúng mình leo lên bắt nó đi, đem
về nấu ăn.
- Bắt con màu đỏ thì
được nhưng để con màu xanh kia lại...
- Sao vậy?
- Nó còn xanh chưa ăn được.
3. DỞ TỆ
Người bố hỏi đứa con
nhỏ mới đi xem xiếc về:
- Sao? Hôm nay con xem xiếc thấy thế
nào? Thích chứ?
-
Vâng. Con rất thích bố ạ! Chỉ trừ có màn ném dao
là dở. Chẳng có lần nào ném trúng cô gái cả!
4. MẪU RAO VẶT
Viên chủ bút bảo cô thư ký:
- Cô đánh máy ngay cho tôi mẫu rao vặt
này: "Tòa soạn chúng tôi cần gấp một nam phóng
viên..."
Cô thư ký vừa đánh máy vừa
lẩm bẩm lập lại:
- "Tòa soạn chúng tôi cần gấp
một nam phóng viên đẹp trai, khỏe mạnh
để..."
Viên chủ bút nhún vai nhắc:
- "Ðể giúp việc cho cô thư
ký!".
5. CHIẾN CÔNG
Một ông lão từng là cua-rơ chạy
đua khoe với các cua-rơ cháu chắt về thời
vàng son oanh liệt của mình:
- Ta còn nhớ hồi còn trẻ, ta đã
chạy bộ 50 cây số để cho cái thằng
cướp người tình ta một cái bợp tai.
- Thế sau đó, ông cũng lại
chạy bộ về à?
- Không! Ta về bằng... xe cứu
thương.
6. TÓC CHUNG TÌNH
Một chàng sắp cưới vợ
đến hỏi một nhà báo phụ trách mục "gỡ rối tơ lòng".
- Thưa ông, theo ông thì phụ nữ tóc màu
gì chung tình nhất? Tóc đen, tóc vàng hay tóc nâu...?
- Ồ! Cái đó... theo tôi thì chỉ có
phụ nữ tóc bạc là chung tình nhất.
7. TƯỞNG TƯỢNG
Chuẩn bị khai mạc phòng tranh,
họa sĩ phấn khởi nói với vợ:
- Bà xem, cái bức màu đen tuyền này
sẽ gây kinh ngạc cho tất cả khách mời của
chúng ta! Khi đứng trước nó, chắc chắn
họ sẽ liên tưởng ngay đến... cảnh tình
tứ muôn đời của con người trong những
đêm... không trăng sao! Còn bức màu trắng toát kia, nó
giúp cho trí tưởng tượng
mọi người bay bổng tới các miền
địa cực băng giá. Nơi chỉ có... tuyết
trắng, gió và sự tịch mịch...
Bà ... hiểu tôi chớ?
- Hiểu! Bà vợ thở hắt ra vẻ
mệt mỏi, tiếp - Và tôi giờ đây cũng
đang... tưởng tượng đến cái cảnh
vắng vẻ, tịch liêu và... tăm tối của phòng
tranh mình trong những ngày sắp tới!!
III.
CHUYỆN VUI SUY NIỆM :
MẶT TRỜI
BỊ TRÓI
Theo
một câu chuyện Ấn Độ, tại Trichinapoli có
một tiểu vương tính khí nóng nảy,
bất thường và độc tài đến độ
không ai có thể tới gần để bàn bạc góp ý.
Ngày
nọ, từ sân thượng của hoàng cung nhìn xuống,
mắt ông bỗng dừng lại trên
dòng sông Tavori đang chảy lững lờ. Ông nói với
quan đại thần như sau:
-Khanh
hãy nhìn dòng sông của chúng ta. Tiếc quá, Nước
của nó phải chảy đi hết mà không dừng
lại trong vương quốc của ta. Khanh hãy nói cho ta
biết sau khi chảy qua
vương quốc của ta, dòng sông này sẽ chảy vào
nước nào?
Quan
đại thần trả lời:
-
Tâu bệ hạ, dòng sông của chúng ta sẽ chảy qua
nước Tangio.
Nghe
thế, nhà vua liền phán:
Trẫm
không muốn cho nước của dòng sông này chảy qua cái
nước khốn kiếp ấy. Trẫm ra lệnh hãy
xây đập ngăn nước lại, nếu khanh không
làm được việc này, trẫm sẽ ra lệnh
lấy đầu khanh.
Biết
đây là một hành động ngu xuẩn và thất
đức nhưng quan đại thần cũng đành
huy động toàn dân xây đập giữ nước
lại. Nhưng khi vừa xây xong đập thì cả
vương quốc lại chìm đắm trong một
họa. Nước dâng lên làm hư hại mùa màng và gây ra
đủ mọi tật bệnh.
Trước
tiếng kêu ca than khóc của thần dân, nhà độc tài
vẫn làm ngơ giả điếc. Sau nhiều đêm suy
nghĩ cuối cùng quan đại thần mới nghĩ ra
một giải pháp. Ông cho tập trung binh sĩ cầm canh
lại và ra lệnh thổi loa báo hiệu giờ sớm
hơn mọi khi. Thế là mới hai giờ khuya mà binh
sĩ đã báo hiệu sáu giờ sáng.
Thức
giấc mà vẫn còn ngái ngủ, nhưng nhà độc tài
đinh ninh là đã sáu giờ sáng. Ông được quan
đại thần cho biết mặc dù đã sáu giờ
sáng nhưng mặt trời không thể mọc lên
được vì bị vương quốc Tangio ở phía
đông giữ lại.
Nghe
thế, nhà vua muốn xua quân sang tấn công nước
Tangio. Nhưng nhìn xuống
chỉ thấy toàn là nước ông đành thở dài và
bỏ ý định. Bấy giờ, quan đại thần
liền đề nghị:
-
Chỉ có một giải pháp là chúng ta phải phá
đập nước chảy xuống Tangio và họ
cũng sẽ cởi trói để mặt trời mọc
lên cho chúng ta.
Nhà
độc tài không còn chọn lựa nào khác, ông ra lệnh
mở đập nước trở lại bình
thường, bao nhiêu sự đều được
cuốn đi. Toàn dân hớn hở vui mừng và mặt
trời cũng vừa ló dạng.
Trái
đất có vận chuyển, trái đất mới mang
lại sự sống. Nước có chảy, nước
mới nên tinh tuyền. Máu có chảy lưu, máu mới làm
cho con người được sống. Vận hành, trao
đổi là định luật cơ bản của
cuộc sống trên mọi qui mô.
Trong
quan hệ quốc tế giữa các nước, những
chế độ độc tài thường tự cô
lập và do đó cũng đưa đất nước
đến chỗ dịêt vong.
Trong
quan hệ giữa người với người, sự
khép kín và thái độ ích kỷ là nhà mồ chôn chặt con
người trong cô đơn.
Hơn
ai hết, người tín hữu Kitô hẳn phải
thấy được giá trị của định
luật trao ban trong cuộc sống. Qua những lời
giảng dạy qua cuộc sống và cuối cùng là
bằng cái chết trên thập giá. Chúa Giêsu đã muốn
chứng minh cho con người thấy rằng sống
đích thực là sống trao ban. Càng trao ban càng nhận
lãnh, càng mất mát thì càng tìm lại được bản
thân.
Giá
trị đích thực của con người không hệ
tại ở những gì con người có hay đạt
được bằng tài trí nhưng chính là ở tình yêu mà
con người trao ban. Cho thì có phúc hơn là nhận. Đó
là niềm hạnh phúc mà chúng ta phải không ngừng
cầu xin để cảm nhận được qua
những san sẻ, trao ban của chúng ta.
IV. TRUYỆN NGỤ NGÔN:
MÈO VÀ CỪU
Có một bác nông dân nuôi một con cừu và
một con mèo. Khi bác đi làm về, mèo chạy ra đón,
liếm tay, liếm chân nhảy lên lưng cọ
người vào bác. Bác vuốt ve mèo cho ăn bánh. Cừu
cũng muốn được người ta âu yếm
vuốt ve và cho ăn bánh. Thấy bác nông dân từ ngoài
ruộng trở về, cừu cũng vội chạy ra
đón bác, liếm tay cọ vào chân bác. Bác nông dân thấy
nực cười, và bác xem còn chuyện gì tiếp theo
nữa. Cừu đi quanh ra phía sau, rướn mình nhảy
lên lưng bác, nó xô bác ngã dúi, ngã dụi. Con trai bác thấy
cừu xô bố ngã, liền chộp lấy cái roi quất
cho cừu một trận nên thân.
V. HẸN BẠN TRÊN
ĐỈNH THÀNH CÔNG:
Theo bản tiếng Anh: See you at the top
của Zig Ziglar
Biên
soạn: ÐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU -
DƯƠNG ÐÌNH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN VĂN DIỄM
CHỒNG HÃY "GA LĂNG"
VỚI VỢ
1/ Hãy chiều vợ bằng những
cử chỉ nho nhỏ nhưng đầy ý nghĩa
với phụ nữ như mở cửa xe, giữ
chỗ, nắm tay đi phía ngoài lúc dạo phố.
2/
Kể cho vợ nghe những tin tức sốt dẻo
hoặc những điều hứng thú trong việc làm
ăn của mình.
3/ Khi đi dự bất cứ buổi
lễ nào, hãy luôn ở bên vợ. Nhớ lại xem
trước khi kết hôn bạn đã hãnh diện tới
đâu mỗi khi được ở bên nàng?
4/ Chớ bao giờ, phải, chớ bao
giờ mang vợ ra đùa cợt. Ðó là điều
tệ hại nhất. Sau khi người nghe đã
cười thỏa thích, niềm vui của bạn cũng
qua, thì vợ bạn bị thương tổn nặng nề.
Nếu chịu khó suy nghĩ một chút, tất bạn
đã chẳng phải trả giá cho trò đùa có hại này.
Trái lại, bạn nên làm ngược lại, nghĩa là hãy
khen ngợi vợ bạn như chính bạn thích
được khen vậy.
5/ Phụ nữ cần được an
tâm nhiều hơn đàn ông. Hãy luôn nhắc với vợ
rằng nàng không chỉ là người đáng ước
mơ mà còn cần thiết và quí giá nữa. Ðời
sống tình cảm và sự an tâm của vợ bạn
sẽ tăng triển mạnh khi từ "yêu
dấu" được lặp đi lặp
lại (vợ bạn cần và muốn nghe điều
đó hơn bạn muốn nói nhiều).
6/ Gánh đỡ việc nhà cho vợ. Không
kể đến phong trào đòi nữ quyền, tôi tin
rằng bản chất con người đòi ta phải chia
sẻ trách nhiệm với nhau. Chẳng hạn, mỗi
khi vợ đi chợ sắm sửa, nếu có nhà, bạn
hãy ôm đồ tiếp vợ. Người đàn ông nên làm
những việc nặng nhọc trong nhà như đổ
rác, cắt cỏ... Hãy nhớ rằng ngôi nhà là tòa lâu
đài của bạn. Lâu đài tất phải có vua, mà có
vua thì phải có hoàng hậu. Vợ bạn sẽ rất
sung sướng được làm hoàng hậu nếu
bạn cư xử với nàng như vậy.
VI.TÌNH YÊU – HÔN NHÂN – GIA
ĐÌNH:
(Khoa Học Phổ Thông số 745, trang 2)
CÓ NÊN
CHO TRẺ ÐI HỌC TRƯỚC TUỔI?
Ðây là vấn đề không mới. Năm
nào cũng vậy, khi mùa khai trường sắp tới
phụ huynh của một số trẻ chưa đủ
tuổi vào lớp 1, nhưng đã biết đọc,
biết viết, biết làm tính, thuộc làu bản "cửu
chương", lại "chạy
đôn", "chạy
đáo" để cho con được nhập
học. Ðã có không ít những ý kiến cho rằng, ngành giáo
dục cứng nhắc giữ nguyên tắc đúng tuổi
mới được nhập học. Những năm
gần đây, trẻ đi học trước tuổi
phải qua trắc nghiệm tâm lý, trí tuệ và phải
đạt yêu cầu trẻ có chỉ số thông minh cao,
tâm lý ổn định... Nói chung là đứa trẻ
ấy phải vượt trội các bạn cùng trang
lứa về chỉ số thông minh, óc quan sát, phân tích và
khả năng tập trung , tư duy...
Vậy, như thế nào là trẻ thông
minh?
Nhà Tâm lý - Giáo dục học Quang
Dương cho biết, mỗi đứa trẻ
đều tiềm ẩn ít nhiều tư chất trí thông minh
cơ bản. Tư chất đó được thể
hiện theo nhiều cách khác nhau. Có trẻ nhạy bén
với các kỹ năng thao tác, thực hành. Nhưng
lại có trẻ biểu hiện sự lanh lợi trong
tư duy trừu tượng, giàu trí tưởng
tượng, biết phân tích, tổng hợp sâu sắc và
biểu đạt những tư duy ấy bằng cách nói
gãy gọn, khúc chiết... Cũng có những trẻ thể
hiện trí thông minh của mình trong nghệ thuật, sáng
tạo hình tượng...
Nhưng, trí thông minh lại bị giới
hạn ở từng con người cụ thể, không có
cá nhân nào đạt tuyệt đối ở mọi
lĩnh vực, mà chỉ là tương đối. Vấn
đề là phát triển trí thông minh đó như thế
nào?
Thực tế, không thể trông cậy, phó
mặc cho "thông minh vốn
sẵn tính trời", mà nó cần được
chăm sóc, rèn luyện, phát triển đúng cách. Nếu
không như thế, "cái thông
minh trời cho" ấy sẽ bị mai một
hoặc lạc hướng.
Thật vậy, cảm xúc trí tuệ
rất cần cho trí thông minh. Thiếu nó, trí thông minh sẽ
bị biến dạng theo hướng thiếu nhân
bản, trở nên ranh mãnh, láu cá... trí thông minh nhân bản
được hiểu một cách giản dị là có trí
tuệ, có cảm xúc nhân văn. Nó mang lại lợi ích cho
cộng đồng, cho xã hội. Có thể chia trí thông minh
ra 2 loại chính:
Trí thông minh vị kỷ (đặt
quyền lợi cá nhân lên trên hết) và vị tha (biết
hy sinh cho xã hội, nghĩ tới lợi ích của
người khác).
Hiện nay, thế giới coi trọng
chỉ số thông minh IQ bằng chỉ số tình cảm,
quan trọng đến cái nhân, cái nghĩa của con
người. Ðiều này phù hợp với triết lý
phương Ðông: người có trí tuệ trước
hết phải có nhân nghĩa. Vì vậy, muốn là
người thông minh phải biết trau dồi, mài sắc
trí tuệ theo hướng vị tha. Còn trí thông minh vị
kỷ có hại nhiều hơn là ích lợi.
Trẻ sớm biết đọc, biết
viết có tư chất thông minh?
Ông Quang Dương là người trực
tiếp thực hiện trắc nghiệm hàng trăm
trường hợp ở cả 2 cơ sở: Viện
Khoa học giáo dục phía Nam và phòng trắc nghiệm
chẩn đoán tâm lý và tư vấn giáo dục thuộc
Hội Tâm lý - Giáo dục học Tp. Hồ Chí Minh. Theo ông
Dương, trẻ lên 3 biết đọc có thật
nhưng chưa đủ dữ kiện để kết
luận là trẻ thông minh. Bởi vì, tuy biết
đọc, nhưng trẻ không hiểu được
cấu trúc từ ngữ, chỉ nhớ một cách máy móc.
Khi đảo từ, đảo vần không đọc
được và cũng không hiểu được
nghĩa. Mặt khác, vốn từ ngữ của trẻ
còn nghèo, vốn hiểu biết chưa tích lũy
được nhiều.
Ở đây, không khẳng định
trẻ sớm biết đọc là không thông minh. Trí
nhớ tốt là một trong những đặc
điểm của trí thông minh. Phụ huynh nên cho trẻ
đi trắc nghiệm để xác định
hướng phát triển trí thông minh đúng đắn,
tránh ngộ nhận mà ép con học sớm, học
nhiều. Ðiều đó sẽ gây mệt Trí và "lụt"
đi "sức bật" của trẻ.
Nếu như trắc nghiệm chỉ
số IQ cao hơn 120, nên cho trẻ đi học sớm.
Còn IQ dưới 120 thì không nên, vì có hại nhiều hơn
lợi ở mọi mặt. Bắt trẻ đi học
sớm không phù hợp tâm sinh lý của trẻ (tuổi
chơi nhiều hơn, thời gian tập trung không dài)
việc giờ chơi bị giảm đi, sẽ làm
trẻ thấy việc học là hết sức nặng
nề, chán chường, không thích thú, tạo tâm lý sợ
bất lợi cho trí tuệ lâu dài. Ðến một lúc nào
đó, trẻ không thể tiếp thu kiến thức nhanh,
ảnh hưởng tới học vấn.
Cha mẹ thấy con không tiến bộ
hoặc ít tiến thì chê bai, gây tâm lý mặc cảm, trì
trệ rồi dẫn đến mức lỳ không
thiết tha với học hành. Lâu dài, kiến thức
bị hổng, thiếu tự tin. Lúc này, giáo dục
uốn nắn có nghiêm khắc bao nhiêu cũng trở nên
rất khó khăn. Ðây cũng là điều phải trả
giá khá nặng nề trong giáo dục gia đình.
Tóm lại, việc cho con đi học
trước tuổi là sự nhận thức không thấy
cơ sở khoa học của vấn đề. Các
bậc cha mẹ không nên ép trẻ đi học sớm, khi
không ép được thì mắng mỏ, xúc phạm rồi
áp đặt bắt buộc trẻ phải học. Các nhà
Tâm lý - Giáo dục học cho rằng giáo dục gia đình như
thế là không khoa học. Ðó là chưa tính đến khía
cạnh kinh tế, xã hội, khi mà ngành giáo dục còn
đang thiếu kinh phí, phòng ốc và giáo viên.
Diệu
Hương.
VII.
CHUYỆN PHIẾM :
Trích trong tập truyện hài
hước trẻ “Bồ” non
Biên soạn : PHẠM KHẢI
TÌNH GIÀ
Cả thị
xã biết lão Kình có tiền rừng bạc bể. Từ
ngày vợ lão mất, lão có cảm giác không biết dùng
tiền vào việc gì. Có hai đứa con gái lão đã lo
đủ hai cơ dinh và đủ vốn để làm
ăn. Lão Kình chỉ có mỗi việc uống rượu.
Càng uống lão càng buồn. Nhưng có nổi buồn khổ
chỉ mình lão biết, ấy là bảy mươi tuổi
rồi lão vẫn thấy tráng kiện mọi mặt.
Mẹ kiếp! Sao mà thằng đàn ông trong lão nó bền
bỉ đến thế. Buồn, cô đơn khiến lão
Kình nghĩ đến chuyện bồ bịch. Nhưng
bảy mươi tuổi như lão thì bất cứ
người phụ nữ nào cũng chỉ như con gái,
sao khỏi chướng mắt.
Lão kình
quyết dằn lòng xuống để giữ tiếng
nốt những năm còn lại.
Nhưng
nếu lão kình mới chỉ nghĩ trong đầu về
một mối tình già, thì có một người đã hoàn
chỉnh thành kế hoạch cặp bồ với Lão.
Người ấy chính là mụ Phưởng. Biệt danh
là Phưởng ”tám
hướng mười phường”. Tiếng xấu
này do mụ tự tạo ra. Nhưng vì thế mà mụ
chỉ “bồ bịch”
chứ chưa bao giờ làm vợ ai một cách đàng
hoàng.
Mụ
Phưởng ở tuổi bốn mươi, nhan sắc
còn khá lắm. Mụ lại biết ăn chơi nên nhác
trông, thấy ngon nhức mắt. Đố thằng đàn
ông nào không nghĩ bậy trong đầu. Biết lão kình hay
đi bộ qua vườn hoa để vào quán thịt chó
của Hải Phệ, mụ Phưởng chiều nào
cũng như có một việc phải cắt qua mặt
lão. Thoạt đầu lảo Kình không để ý.
Nhưng chiều nào trước mắt lão thân hình mụ
Phưởng trong bộ áo chẽn đường nét
lồ lộ cũng diễu qua, thì vô tình mấy lão cũng
phải để mắt tới.
Một hôm
lão Kình suýt đâm sầm vào mụ Phưởng. Mặc dù
đã kịp dừng lại nhưng mụ Phưởng
vẫn cứ loạng quạng để cuối cùng ôm
chầm lấy lão. Thật khéo khi cặp vú thây lây của
mụ Phưởng cứ như được trời
bưng đặt vào mặt lão Kình khiến máu chảy qua
thái dương lão rần rật.
-Em bắt
đền anh đấy! - Mụ Phưởng nhìn
xuống ngực theo kiểu ”Lạy
ông con ở bụi này”.
Cơn sóng
tình, dù vớt vét cũng đủ ấm áp trong lòng lão Kình.
Quên cả tuổi tác, lão Kình lơi lả:
-Đền
gì thì anh cũng đền.
-Đền
tình - mụ Phưởng õng ẹo.
-Thật
nhá!
-Lấy gì
làm cứ.
-Lấy
bụi cây kia…hê hê…
-Tưởng…
về hưu rồi mà lẳng thế…
Lão Kình
như người bị bùa, không nhìn thấy mụ
Phưởng là bỏ ăn bỏ ngủ. Biết tin,
cả hai cô con gái lão cũng đến quỳ xuống
lạy lão:
-Chúng con
van bố, sắp trót kiếp rồi đừng lú lẫn
thế.
-Sư các
chị - lão mắng - cứ một điều
thương bố, hai điều thương bố mà
chẳng biết bố sống chết thế nào. Tao cô
đơn, chúng mày đã biết chưa?
-Mụ
Phưởng là con phù thuỷ, bố biết chưa?
-Phù
thuỷ chỉ nạt được trẻ con. Bố già
rồi, bố cần có người sớm hôm trò
chuyện, cơm nước. Chúng mày chờ đấy
để mà dạy dì.
Ai ngờ
hai cô con gái không phải loại vừa. Cả hai đều bảo mụ
Phưởng muốn về với lão Kình phải
bước qua xác hai cô. Vì thế lão Kình chỉ biết
vụng trộm. Ở bên ”dì
Phưởng”, lão cứ gật đầu tràn như
một cái máy, không còn nghĩ được cái gì.
-Cưới
em chứ?
Lão
gật.
-Em
chết có theo không?
Lão
gật. Mụ Phưởng áp mặt vào ngực gã nhân tình già, lòng lạnh như
băng nhưng đầu thì sôi lên đủ loại
mưu kế. Trước hết, hẵng ”xin” chàng con ”Rim hai”.
Thấy lão Kình gói 5 thỏi vào vỏ bao thuốc. Mắt
mụ Phưởng còn lóe sáng hơn vàng, cơn mơ này
sộp hơn mụ tưởng.
Con ”Rim” còn đang chạy rô đa
thì tự dưng mụ Phưởng dắt đến
trả lão Kình.
Mắt
mụ mọng nước:
-Em cần
anh chứ cái cục sắt này, đây thèm vào.
Lão Kình như
điên dại bảo mụ Phưởng muốn sao
được vậy. Lão càng có chứng cứ để
chửi vào mặt hai cô con gái quen thói từ bụng ta suy
bụng người. Mặc dù mụ Phưởng chưa
bước vào nhà lão nhưng ở một căn phòng
ngoại vi thì lão và mụ sống như vợ chồng.
Tuy sức tàn lực kiệt nhưng có hơi đàn bà, lão
thấy đời có ý nghĩa hẳn lên. Bao nhiêu năm tẩm đủ thứ thuốc
bổ, hẳn là trời có ý từ trước để
tặng cho lão người đàn bà phốp pháp này. Nhưng
mụ Phưởng cứ đưa lão đến ranh
giới lại quay mặt khóc hu hu. Đến lần
thứ mười thì lão Kình phát khùng:
-Dì nó
giỡn tôi à?
-Ai
giỡn ai? Tôi mà buông thả thì mai kia ông quăng tôi ra
đường như quăng miếng giẻ, có con chó nào
nó nhặt.
-Vậy
thì phải thế nào?
-Có chính
quyền, có luật pháp. Ông thì vợ chết. Tôi là gái
chưa chồng, sợ gì mà không danh chính ngôn thuận ?
-Thì tùy dì.
Dì cứ lo liệu theo ý mình.
Mụ
Phưởng im lặng rồi móc túi lấy ra tờ
giấy:
-Tôi đã
chuẩn bị. Nếu ông thiện ý thì ký một chữ
vào bản cam đoan này. Từ nay về sau là vợ
chồng.
Lão Kình
thấy loà nhoà dòng chữ tên lão và dòng dưới là mấy
chữ ”vợ tên là
Hoàng Ngọc Phưởng…” chẳng kịp nghĩ
ngợi gì, ký toẹt một chữ, ghi tên. Cả Lão và
mụ Phưởng đều được mãn
nguyện! Đêm hôm ấy, khi lão Kình đã ngủ như chết
trong một ngôi nhà ba tầng, thì mụ Phưởng
đang nắn nót viết to chữ di chúc lên đầu
tờ giấy. Mụ viết vào chỗ bỏ trống: ”Người thừa kế ngôi
nhà ba tầng tại… và tài sản trong đó là bà Hoàng
Thị Phưởng người thừa kế duy nhất”.
Cất kỹ vào hòm, mụ sung sướng nghĩ: ”Lão già đã kiệt khí huyết,
toi đến nơi rồi”.
LÃO
TẠ