CHÚA NHỰT XXXI

CHỦ ĐỀ : ĐIỀU RĂN TRỌNG NHẤT

"Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào trọng nhất ?" (Mc 12,28)

----------------------------------------------------------------------------------------------------

LỜI CHÚA

 

 

 

 

 

Minh họa

 

- Mille images 115 C

- "Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào trọng nhất ? " (Mc 12,28)

 

Sợi chỉ đỏ :

 

- Bài đọc I (Đnl 6,2-6) : Ông Môsê dạy cho dân do thái rằng điều răn trọng nhất là Kính mến Chúa.

- Tin Mừng (Mc 12,28b-34) : Đức Giêsu dạy rộng hơn : Điều răn trọng nhất cũng là kính mến Chúa, nhưng nó gắn liền với điều răn yêu thương anh em.

 

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

 

Anh chị em thân mến

 

Từ hồi học giáo lý Rước Lễ Vỡ Lòng, chúng ta đã thuộc lòng câu "10 điều răn ấy tóm về hai điều này mà thôi, trước kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, sau là yêu người như mình ta vậy, Amen". Tuy nhiên chúng ta đã không thực hiện đúng như điều ta đã thuộc : một mặt, chúng ta không ý thức rằng yêu thương là điều quan trọng nhất trong cuộc sống ; mặt khác, chúng ta cố gắng mến Chúa nhưng chưa cố gắng yêu người cho đủ.

 

Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta thực hành hai điều răn quan trọng ấy một cách trọn vẹn hơn.

 

II. GỢI Ý SÁM HỐI

 

- Chúng con chưa thực sự kính mến Chúa trên hết mọi sự.

- Chúng con lỗi phạm rất nhiều về điều răn yêu thương anh em.

- Rất nhiều lần chúng con hành động vì bị thúc đẩy bởi lòng giận ghét.

 

III. LỜI CHÚA

 

1. Bài đọc I (Đnl 6,2-6)

 

Ông Môsê nhấn mạnh cho dân do thái thấy tầm quan trọng của điều răn kính mến Chúa bằng những chữ "hết" được lặp đi lặp lại nhiều lần : "Hãy yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em".

 

Trải qua bao thế hệ, người do thái đã cố gắng tuân giữ điều răn ấy. Tuy nhiên giáo huấn của Cựu Ước còn thiếu sót vì chỉ nhấn mạnh đến việc kính mến Chúa mà không quan tâm đủ đến việc yêu thương tha nhân.

 

Điều thiếu sót này sẽ được Đức Giêsu bổ túc.

 

2. Đáp ca (Tv 130)

 

Thánh vịnh này là bài ca bày tỏ một tấm lòng yêu mến Chúa thiết tha.

 

3. Tin Mừng (Mc 12,28b-34)

 

a. Các luật sĩ tấn công Đức Giêsu : "Trong các giới răn, giới răn nào trọng nhất ?". Đối với họ, đây là một câu hỏi hóc búa, vì Cựu Ước ghi lại rất nhiều giới luật nhưng không cho biết giới luật nào trọng hơn giới luật nào. Nguyên việc thuộc hết các giới luật đã là một chuyện rất khó, huống chi đánh giá và so sánh các luật đó.

 

b. Nhưng Đức Giêsu trả lời rất gọn gàng và rõ ràng : 2 giới luật trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như chính mình.

 

4. Bài đọc II (Dt 7,23-28) (Chủ đề phụ)

 

Tác giả thư do thái so sánh chức Thượng tế trong đạo do thái với chức Thượng tế của Đức Giêsu : (1) Chức thượng tế do thái chỉ có một đời người, khi chết rồi thì mất ; còn chức Thượng Tế của Đức Giêsu là chức Thượng tế đời đời, tồn tại mãi mãi ; (2) Các thượng tế do thái cũng là người phàm với những tội lỗi ; còn Đức Giêsu là vị Thượng tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội ; (3) Các thượng tế do thái phải dâng lễ đền tội nhiều lần ; còn Đức Giêsu chỉ dâng lễ đền tội một lần là đủ.

 

IV. GỢI Ý GIẢNG

 

* 1. Giới luật yêu thương, điểm độc đáo

 

Có một giáo lý viên kia đang dạy đạo cho một người dự tòng. Một hôm, người dự tòng hỏi "Điểm đặc biệt nhất của Đạo Công Giáo là gì ?". Giáo lý viên đáp : "là Yêu Thương". Người dự tòng là một thanh niên, nghĩa là đang ở tuổi yêu đương, nên gật gù tỏ ra rất thấm thía với câu trả lời của giáo lý viên. Nhưng sau một lúc suy nghĩ, anh lại đặt vấn đề : "Yêu thương thì tôi đã nghe nói rất nhiều, và rất nhiều người nói : Những cặp tình nhân luôn miệng nói yêu nhau ; những đạo khác, đạo nào cũng dạy người ta sống yêu thương ; và ngay cả những tổ chức không có đạo cũng dạy người ta yêu thương nhau". Rồi anh này đưa ra 2 kết luận hết sức bất ngờ : 1/ Đạo Công giáo chẳng có gì hơn những đạo khác, mà cũng không hơn không có đạo ; 2/ Chẳng cần vào đạo Công giáo mới biết yêu thương". Và giáo lý viên bí !

 

Chúng ta phải công nhận rằng người dự tòng trên đã nhận xét rất đúng. Yêu thương là tình cảm cao đẹp nhất trong con tim mọi người. Yêu thương là nhân đức cao trọng nhất trong mọi nhân đức. Vì thế không cần đạo công giáo dạy, không cần Đức Giêsu dạy, mọi người cũng đều biết trân trọng tình cảm và nhân đức yêu thương. Nhưng chẳng lẽ đạo Công giáo của chúng ta không có gì hơn các đạo khác, cũng không có gì hơn các nền luân lý không có đạo sao ? Chẳng lẽ Đức Giêsu từ trời xuống thế làm người mà chẳng dạy gì hay hơn điều mà mọi người đã biết hết rồi sao ? Chúng ta phải tìm hiểu kỹ lại bài Tin Mừng hôm nay mới được.

 

1. Đoạn Tin Mừng mà chúng ta nghe trong Thánh Lễ hôm nay là do thánh Marcô chép. Marcô thì quen chép ngắn gọn, nên đôi khi không đủ ý. Muốn đầy đủ hơn, chúng ta phải đọc thêm đoạn Tin Mừng của Thánh Mathêu, cũng chép về câu chuyện này, nhưng đầy đủ hơn. Theo bản chép của thánh Matthêu, để trả lời cho câu hỏi của một người luật sĩ xem điều luật nào trọng nhất, thì CG sau khi đưa ra luật mến Chúa, đã nói "Còn điều thứ hai cũng giống như điều trước" và CG đưa ra luật yêu người. Nghĩa là Đức Giêsu đã xếp luật Yêu thương người nặng với luật mến Chúa. Nói cách khác, CG đã nâng luật yêu người lên cao bằng luật mến Chúa.

 

Phía trên đã nói rằng mọi người, không phân biệt là có đạo hay không có đạo, đều trân trọng tình cảm yêu thương. Tuy nhiên tình thương của người ta có nhiều cấp bực khác nhau : thương một người bạn thì không bằng thương anh em ruột, thương anh em cũng không bằng thương cha mẹ, và thương ai cũng không thể nào bằng thương người tình của mình. Đối với một người có đạo, thì họ nghĩ phải thương yêu Chúa trên hết, kế đó mới là tình thương đối với những người khác. Còn CG thì dạy phải đặt tình thương người và tình thương Chúa ngang nhau. Nghĩa là ta thương Chúa bao nhiêu thì cũng phải thương người bấy nhiêu. Nói cách khác, ta phải coi người ta như Chúa vậy, và phải thương người ta như thương Chúa vậy. Đó chính là điểm độc đáo thứ nhất của Tình Thương Công Giáo.

 

2/ Nhưng thương người là thương ai ? Về điểm này, chúng ta lại đọc thêm đoạn Tin Mừng của Thánh Luca để bổ túc cho đoạn của thánh Marcô quá ngắn gọn. Thánh Luca chép thêm rằng người luật sĩ ấy sau khi nghe CG nói về luật thương người, thì hỏi một câu tương tự như câu hỏi tôi vừa đặt ra : Nhưng thương người là thương ai ? CG đưa ra dụ ngôn về người xứ Samaria tốt bụng đã tốn công tốn tiến cứu giúp một người Do thái, tức là một kẻ thù của dân Samaria. Ý nghĩa dụ ngôn ấy là : ta phải coi mọi người là người thân, do đó phải biết thương tất cả mọi người, cho dù đó là một người chưa hề quen biết, cho dù đó là một kẻ thù của chúng ta.

 

Thiết tưởng cũng cần giải thích về bối cảnh của đoạn Tin Mừng này. Người Do thái cũng có luật thương người, luật ghi rõ phải thương người thân cận. Theo lối hiểu của người Do thái, thì người thân cận tức là người cũng dân tộc, cùng tín ngưỡng với mình. Còn những kẻ thuộc dân khác, thuộc đạo khác thì không phải là người thân cận nên không buộc phải thương. Bấy giờ CG qua dụ ngôn về người Samaria đã thương yêu giúp đỡ một người Do thái khác dân tộc và khác tín ngưỡng, đã phá bỏ hàng rào ấy. Theo CG, tình yêu thương không có biên giới. Ta phải thương yêu mọi người, phải coi mọi người đều là kẻ thân cận. Nói cách khác đi, ta không chỉ thương người đồng bào, đồng đạo, đồng chí mà phải thương bất cứ ai ta gặp trên đường đời, bất cứ ai đứng bên cạnh ta trong cuộc đời, ta đều phải thương hết. Người ta thường vẽ ranh giới cho tình thương, người ta thường đặt hàng rào cho tình thương : ai ở trong ranh giới và trong hàng rào đó thì thương hết là thương, còn ai ở ngoài thì là người dưng, người lạ khỏi thèm thương. Đức Giêsu khi phá bỏ mọi hàng rào, mọi biên giới, tức là thêm một điểm độc đáo nữa cho Tình Yêu thương Công giáo.

 

3/ Và điểm độc đáo thứ ba, chúng ta thấy ngay trong đoạn văn của Thánh Marcô. "Yêu thương người thân cận như chính mình thì hơn là dâng mọi lễ toàn thiêu và hy lễ". Chúng ta hãy chú ý đến hai chữ Hơn Là. Cho người nghèo một lon gạo, và dâng cho Chúa một bó bông huệ. Việc nào quý hơn. Nếu chưa đọc câu Tin Mừng này, chắc hẳn ai cũng bảo dâng bông huệ cho Chúa là quý hơn. Nhưng câu Tin Mừng này đánh giá ngược lại : cho người nghèo một lon gạo quý hơn. Đó là điểm độc đáo thứ 3 của Tình thương Công giáo.

 

Xin trở lại với câu chuyện ban đầu. Người Giáo lý viên đã bí không trả lời được khi người dự tòng cho rằng Tình yêu Thương của Đạo Công giáo chẳng có gì khác hơn tình yêu thương của các đạo khác, kể cả của người không có đạo. Lý do có lẽ là vì Giáo lý viên ấy không thấy 3 điểm độc đáo của Tình yêu Tin Mừng, mà nhất là đã không thực hiện 3 điểm ấy. Chắc chúng ta cũng vậy thôi. Nếu chúng ta không thực hiện 3 điểm ấy thì danh nghĩa công giáo của chúng ta cũng là vô ích, dù là công giáo nhưng chúng ta chẳng hơn gì một người ngoại đạo. Xin nói rõ hơn để tóm lại và cũng là để kết thúc :

 

. Chúng ta yêu mến Chúa nhiều lắm. Nhưng nếu chúng ta không yêu thương người bằng Chúa thì chúng ta không hơn gì người ngoại đạo.

 

. Chúng ta cũng rất yêu thương những người thân của chúng ta, như vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, con cái... Nhưng nếu chúng ta không coi tất cả mọi người cũng là người thân và không yêu thương họ như yêu thương người thân, thì chúng ta cũng không hơn gì những người ngoại đạo.

 

. Chúng ta thường dâng lễ vật cho Chúa như dâng hoa, xin lễ, dâng việc hy sinh hãm mình, những việc lành phúc đức v.v... Nhưng có một thứ lễ vật mà Tin Mừng nói còn quý hơn những lễ vật kể trên, mà Chúa rất thích chúng ta dâng, đó là lễ vật tình thương mà ta đối xử với mọi người. Mỗi lần đến Nhà thờ dự lễ, chúng ta đừng quên mang theo những lễ vật tình thương ấy.

 

* 2. Hai giới răn đi đôi

 

Các tín đồ Hồi giáo rất coi trọng luật buộc hành hương thánh địa Mecca vì đây là nơi sinh của đức giáo chủ Mahomet.

 

Ngày xưa Vua các loài mèo cũng đi hành hương thánh địa Mecca. Khi ngài trở về, vị vua các loài chuột nghĩ rằng mình có bổn phận phải đến chúc mừng. Tuy nhiên các bề tôi chuột ái ngại cho tính mạng của vua mình. Họ tâu : "Mèo là kẻ thù của chúng ta. Không thể tin cậy được". Nhưng vua chuột đáp : "Ông ta đã đi hành hương thánh địa, cho nên chắc là tâm tính của ông đã thay đổi".

 

Thế là vua chuột tìm đến hoàng cung của vua mèo. Mới tới cửa thì vua chuột đã thấy vua mèo đang nằm mọp cầu kinh rất là sốt sắng. Vua mèo thấy an tâm, tiến vào gần hơn chút nữa. Đột nhiên vua mèo chồm lên định vồ lấy vua chuột. Rất may là nhờ nhanh hơn nên vua chuột kịp phóng ra ngoài thoát thân.

 

Khi vua chuột trở về nhà, các bề tôi hỏi : "Phải chăng là sau khi hành hương thánh địa trở về, vua mèo đã thay tâm đổi tính ?" Nhưng vua chuột đáp : "Các ngươi đã đoán đúng, còn ta thì sai".

 

Câu chuyện tưởng tượng trên muốn giúp ta thấy rằng thật là nguy hiểm nếu tách riêng hai giới răn mến Chúa và yêu người.

 

Thiên Chúa là tình yêu và là nguồn của mọi tình yêu. Vì thế nếu yêu Chúa thật thì cũng phải yêu người. Một tôn giáo chỉ lo yêu Chúa mà không biết yêu người là một tôn giáo không hợp ý Chúa và không phải là tôn giáo thật.

 

Nơi nào không có tình yêu, ta hãy gieo tình yêu và ta sẽ gặt được tình yêu

 

Nơi nào không có tình yêu, ta hãy đặt tình yêu vào đấy và ta sẽ tìm thấy tình yêu

 

Tôi đi tìm Chúa nhưng tôi không gặp được Ngài

 

Tôi đi tìm linh hồn tôi nhưng linh hồn trốn né tôi

 

Tôi đi tìm người láng giềng, và tôi gặp được cả ba. (Viết theo Flor McCarthy)

 

* 3. Mến Chúa yêu người

 

Trong báo Los Angeles ngày 13-13-1997 có đăng lá thư của một độc giả ở Sun City, California gởi cho nữ ký giả Ann Landers – người phụ trách mục "Giải đáp thắc mắc" như sau :

 

Bà Ann thân mến

 

…Ba tôi đi làm sáu ngày một tuần, còn mẹ tôi lúc nào cũng bận rộn với việc lau chùi nhà cửa, giặt giũ, nấu ăn. Cả hai người đều lớn lên trong những gia đình không bộc lộ tình cảm. Ông bà tôi không bao giờ bộc lộ tình cảm dành cho cha mẹ tôi và chẳng bao giờ nói với họ rằng họ được yêu thương. Vì vậy, cũng dễ hiểu là tại sao ba mẹ tôi đã không bộc lộ tình cảm hay nói những lời thương mến với chúng tôi.

 

Cuộc đời tôi đã thay đổi khi tôi lên chín tuổi. Hôm ấy có dịp ở lại qua đêm ở nhà một cô bạn. Mẹ cô hôn cả hai chúng tôi khi cho chúng tôi lên giường ngủ. Cử chỉ ấy đã biến đổi đời tôi. Tôi quá cảm động vì hành vi yêu thương ấy, đến nỗi tôi không thể ngủ được. Tôi nghĩ : "Đây mới thực là cách lẽ ra ba mẹ phải làm cho mình". Khi về nhà, tôi đã giận ba mẹ một thời gian. Nhưng vì không thể giận ba mẹ hoài vì tính tình sẵn có của họ.

 

Đây là điều tôi đã làm để thay đổi tình hình : Tôi bắt đầu hôn mẹ tôi thường xuyên đến nỗi mẹ tôi phải bật cười. Tôi đã kết hôn khi lên 17 tuổi và đã có hai con khi chưa đầy 20. Tôi thường hôn chúng đến khi má chúng ửng hồng. Khi nói chuyện với mẹ tôi trên điện thoại, tôi nói : "Mẹ ơi ! Con thương Mẹ !" Sau một thời gian, cuối cùng mẹ tôi cũng đã nói được với tôi : "Mẹ cũng rất thương con". Tôi chưa được nghe như thế bao giờ. Sau lần ấy vài tuần khi tôi đến thăm mẹ, bà hỏi tôi : "Những cái hôn của mẹ đâu ?" Khi tôi sắp về mẹ tôi bảo : "Mẹ thương con. Con biết mà phải không ?"

 

*

 

Đạo Do thái dựa trên 10 điều răn. Nhưng qua các thế hệ, họ chú giải thêm thành 613 luật. Trong đó có 248 luật khuyên làm và 365 luật cấm làm. Họ không đồng ý với nhau về điều luật nào trọng nhất, nên hôm nay một luật sĩ đã đến hỏi Đức Giêsu : "Trong các giới răn, điều nào trọng nhất ?" Người đáp : "Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn giới răn thứ hai : Hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi" (Mc.12,30-31). Giới răn thứ nhất trích trong sách Đệ Nhị luật đoạn 6, câu 5. Giới răn thứ hai rút trong sách Thứ luật đoạn 19, câu 18. Vậy Đức Giêsu đã nâng luật mến Chúa ngang với luật yêu người. Người đã kết hợp thành một luật duy nhất : "Mến Chúa yêu người". Nó như hai mặt của một đồng tiền, không thể tách rời nhau được. Thánh Gioan quả quyết : "Nếu ai nói : "Tôi yêu mến Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là một kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa, Đấng mà họ không thấy" (1Ga.4,20).

 

Vậy bắt đầu yêu thương từ đâu ? – Trước tiên, hãy yêu thương những người trong gia đình mình, những người gần gũi thân thiết nhất trong trái tim ta. Không yêu được các thành viên trong gia đình, chúng ta không thể yêu thương người khác. Không yêu thương người khác, chúng ta cũng không thể yêu mến Thiên Chúa.

 

Người đàn bà ở Sun City bằng những lời nói yêu thương, những cử chỉ âu yếm, những đón tiếp chân thành đã mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người thân yêu trong gia đình. Từ đó, như vết dấu loang tình yêu lan tỏa ra bên ngoài. Ngạn ngữ Trung Hoa có câu : "Hãy tử tế khi còn gần nhau để sau này khỏi hối hận khi đã xa nhau".

 

 Cũng thế với những lời nói yêu thương, những nghĩa cử chân thành, chúng ta sẽ làm tươi mát biết bao cuộc đời. Lúc đó, chúng ta sẽ ra khỏi sự hạn hẹp của tình yêu con người, để vươn cao tới tình yêu Thiên Chúa. Bởi vì, thước đo tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa là tình yêu của chúng ta đối với nhau. Thánh Augustinô mô tả : "Tình yêu có đôi chân đến với người nghèo. Tình yêu có đôi mắt để thấy nỗi bất hạnh và thiếu thốn. Tình yêu có đôi tai để nghe được tiếng than thở và nỗi buồn phiền của tha nhân". Thomas Merton nói : "Không yêu thương và nhân từ với kẻ khác, thì tình yêu chúng ta dành cho Đức Kitô chỉ là tưởng tượng". Rosalie còn khẳng định : "Nước Thiên đàng không dành cho những người cằn cỗi yêu thương".

 

*

 

Lạy Chúa, để gặp gỡ tha nhân chúng con phải mở to đôi mắt, để đón tiếp tha nhân chúng con phải dọn dẹp cho trống trải lòng mình, để yêu thương anh em chúng con phải biết quên mình.

 

Xin cho chúng con luôn xác tín : Chúng con chỉ kính mến Chúa khi thực sự yêu thương anh em. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

 

* 4. Thứ tội phạm nhiều nhất

 

Thứ tội mà chúng ta phạm nhiều nhất là tội không yêu thương. Tuy nhiên chúng ta lại không coi đó là tội, vì chúng ta vẫn nghĩ cái gì làm hại đến người khác mới là tội.

 

Một người kia bán một chiếc xe "dỏm" cho một người khách lạ. Một hôm anh vừa đi nhà thờ xưng tội ra thì gặp một người bạn. Người bạn nói : "Chắc là anh có kể cho Cha giải tội nghe chuyện anh bán chiếc xe dỏm ?" Anh đáp lại : "Tôi chỉ xưng các tội thôi. Còn chuyện buôn bán thì có ăn thua gì tới ông cha đó"

 

Một nguy hiểm lớn cho những tín hữu thường đi nhà thờ là không thấy sự liên hệ giữa điều họ làm ở nhà thờ ngày Chúa nhật với điều họ làm trong tương quan với người khác vào những ngày trong tuần.

 

Nhiều người xét mình theo đủ mọi điều răn nhưng không hề xét tới những tội thiếu sót ; thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ngay thẳng trong việc làm ăn, thiếu tôn trọng những người cùng sống chung với mình v.v. Đối với những người đó, đạo và đời hoàn toàn tách biệt nhau.

 

Đức Giêsu nói với người kinh sư "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu". Ông đã biết liên kết hai giới răn mến Chúa và yêu người thành một, đó là một bước. Ông chỉ cần bước thêm bước thứ hai nữa là vào được Nước Thiên Chúa, bước đó là thực hành điều ông biết. (Viết theo Flor McCarthy)

 

* 5. Các bậc thang yêu thương

 

Maimonides là một thầy giáo người do thái rất nổi tiếng ở Tây ban nha trong thế kỷ 20. Ông đã liệt kê 8 bậc thang yêu thương như sau :

 

. Bậc thứ nhất và cũng thấp nhất là cho, nhưng cho một cách miễn cưỡng.

 

. Bậc thứ hai là cho cách vui vẻ, nhưng không tương xứng với nhu cầu của người nhận.

 

. Bậc thứ ba là cho vui vẻ và tương xứng với nhu cầu người nhận, nhưng đợi người ta xin mới cho.

 

. Bậc thứ tư cho vui vẻ, tương xứng và không chờ người ta xin.

 

. Bậc thứ năm là cho một cách nào đó khiến người-nhận nhận được của cho đồng thời biết được người-cho, nhưng người-cho không biết người-nhận.

 

. Bậc thứ sáu là người-cho biết người-nhận nhưng người-nhận không biết người-cho.

 

. Bậc thứ bảy là cho, nhưng cả người-cho và người-nhận đều không biết nhau.

 

. Bậc thứ tám cao nhất, là thấy trước nhu cầu người-nhận nên cho để người-nhận khỏi rơi vào cảnh nghèo khổ.

 

6. Chuyện minh họa

 

Một người nghèo kia đi từ nhà này sang nhà khác để ăn xin. Nhưng chẳng ai cho ông một đồng hay một mụn bánh, trái lại ông còn nhận được rất nhiều lời xua đuổi, thậm chí chửi rửa.

 

Một ngày mùa đông, ông bị trượt té gãy chân. Có người đi ngang thấy thế đưa ông vào bệnh viện. Khi dân chúng hay tin có người nghèo bị té gãy chân và đang phải nằm bệnh viện, họ kéo đến rất đông, họ an ủi ông, họ đem thức ăn đến cho ông. Khi ông rời bệnh viện, họ còn cho ông những quấn áo ấm và cả một số tiền nữa.

 

Trở về nhà, người ấy nói với vợ : "Ngợi khen Chúa vì đã làm một phép lạ là cho tôi được gãy chân !"

 

Sớm giúp cho người ta khỏi té còn tốt hơn là khi người ta té rồi mới giúp.

 

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đã dạy rằng : Mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người như chính mình ; không có giới răn nào khác quan trọng hơn hai giới răn này. Chúa cùng cầu xin Chúa giúp chúng ta hiểu và sống đúng lời dạy của Chúa :

 

1. Xin cho mọi thành phần trong Hội thánh luôn thực thi đúng lời Chúa dạy / để chứng minh cho mọi người hiểu rằng : người công giáo mến Chúa là để yêu người / và yêu người là để chứng tỏ lòng mến Chúa.

 

2. Xin cho mọi nhà cầm quyền trong xã hội hiểu biết rằng / lòng mến Chúa của người Công giáo không gây thiệt hại gì cho tình yêu đồng loại / trái lại còn giúp họ yêu thương đồng bào trọn hảo hơn.

 

3. Xin cho mọi người đang thiếu tình thương, thiếu sức khỏe, không có công ăn việc làm / gặp được những người thật tình giúp đỡ vì lòng mến Chúa và vì lòng yêu thương họ.

 

4. Xin cho mọi người trong cộng đồng họ đạo chúng ta / biết bày tỏ lòng mến Chúa yêu người một cách thành thật và cụ thể / để loại trừ thói giữ đạo bề ngoài và giả hình.

 

Chủ tế  : Lạy Chúa, xin cho chúng con sau khi được bồi dưỡng lòng mến Chúa yêu người nhờ Thánh lễ, biết thực thi lòng mến Chúa yêu người đó với mọi người chung quanh trong cuộc sống hằng ngày. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô.

 

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay khi đọc kinh Lạy Cha đến câu "Và tha nợ chúng con", chúng ta hãy chú ý đến phần kế tiếp "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con".

 

VII. GIẢI TÁN

Hai điều răn quan trọng nhất và đi đôi với nhau là mến Chúa và yêu người. Trong Thánh lễ, chúng ta đã bày tỏ lòng yêu mến Chúa. Trở về với môi trường sống hằng ngày, chúng ta hãy thể hiện đức yêu người.

 

 

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

TUẦN XXXI

 

1ĐÔI SONG SINH DÍNH LIỀN NHAU (Mark Link S.J.) 1

“GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT”(N. Quesson)     4

VỚI CẢ TÂM TRÍ BẠN.(Gm. Arthur Tonne) 6

HAI GIỚI LUẬT, MỘT TÌNH YÊU.... 7

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez       7

 

 

ĐÔI SONG SINH DÍNH LIỀN NHAU

Mark Link S.J.

 

Bài đọc: Đnl 6 : 2-6 ; Dt 7 ; 23-28 ; Mc 12 : 28-34

Chủ đề;

Nếu anh em của ngươi là những người ngươi thấy được mà ngươi lại không yêu thương, thì làm sao ngươi có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng ngươi không thể thấy được?

 

Cha George Anderson là tuyên uý cho một nhà tù hết sức nghiêm khắc tại Riker’s Island thuộc tiểu bang New York. Cha thành lập một nhóm bàn việc cầu nguyện và chia sẻ Lời Chúa cho một số tù nhân. Nhóm này thường đọc đoạn Kinh Thánh nói về người Samaritanô nhân hậu dụ ngôn đứa con hoang đàng. Sau đó họ thường yên lặng suy gẫm đoạn Thánh Kinh đó rồi chia sẻ với nhau về cách thức áp dụng tinh thần của đoạn Kinh Thánh đó vào cuộc sống hằng ngày của họ.

Một buổi tối nọ, có một tù nhân tên Richard, thuộc khu những người rối loạn tâm thần, lần đầu tiên đến chia sẻ với nhóm. Cha Anderson mô tả câu chuyện xảy ra như sau:

“Đó là một buổi tối có gió vào tháng Ba. Trong phòng không đủ ấm. Người bạn ngồi đối diện với Richard chỉ mặc một chiếc áo mỏng và chiếc quần dài nên đang lạnh run. Trên vai Richard  thì khoác những hai chiếc mềm. Thế là trong lúc chúng tôi đang bàn luận về ý tưởng tương trợ lẫn nhau, đột nhiên Richard đứng lên, tiến đến người bạn tù kia, và choàng một chiếc mền lên người bạn ấy.

Cử chỉ không lời của Richard gây ấn tượng mãnh liệt cho cả nhóm hơn bất cứ mọi lời đang thốt ra. Nó cũng nêu ra được điểm quan trọng mà chính Chúa Giêsu đã đề cập trong bài Phúc Âm hôm nay.

Yêu Thiên Chúa và yêu tha nhân là hai tình yêu đi đôi với nhau như hai mặt của một đồng tiền không thể tách rời nhau được. Nói cách khác, chúng ta không thể cầu nguyện với Chúa bằng những lời thật dễ thương giống như những tù nhân đã cầu nguyện trong nhóm chia sẻ của họ, nếu chúng ta không đối xử với những người bên cạnh chúng ta bằng những hành động và cử chỉ đầy yêu thương.

Thánh Gioan tông đồ đã nhấn mạnh điểm này trong lá thư thứ nhất của Ngài. Ngài nói thẳng thừng: “Nếu ai nói rằng mình yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình, kẻ ấy là một tên nói dối. Bởi vì hắn ta không thể yêu mến Chúa là Đấng hắn không thấy, nếu hắn không yêu người anh em hắn là kẻ hắn thấy được. Chính Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta huấn lệnh này: “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng phải yêu mến anh em mình” ( 1 Gn 4 : 20)

Các tác giả tu đức nói rằng lệnh truyền của Đức Giêsu đòi buộc chúng ta yêu tha nhân và lệnh truyền của Ngài đòi buộc chúng ta yêu mến Thiên Chúa, hai lệnh truyền đó tương quan mật thiết với nhau đến nỗi chúng ta không yêu thương anh em mình thì chẳng bao lâu chúng ta cũng chẳng còn yêu mến Thiên Chúa nữa. Thực thế, chẳng bao lâu chúng ta sẽ không còn tiếp xúc được với Thiên Chúa và với linh hồn bất tử của mình nữa. Một câu châm ngôn rất phổ biến diễn tả chân lý ấy thật sống động như sau:

“Tôi tìm linh hồn tôi, nhưng hồn tôi nào thấy được. Tôi tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lại lẩn tránh tôi. Tôi tìm kiếm anh em tôi, thì tôi lại gặp được cả ba người tôi muốn tìm ấy”.

Bí quyết để gặp được Thiên Chúa và gặp được chính mình là tìm gặp và yêu thương người lân cận của mình.

Bi đát thay, việc yêu thương tha nhân của chúng ta thường lại gặp thất bại từ đầu ngay trong chính gia đình của chúng ta. Không yêu các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ không thể nào yêu thương những người khác được. Và ngược lại cũng thế. Khi yêu thương các thành viên trong gia đình mình, chắc chắn chúng ta sẽ yêu thương được những người khác nữa.

Yêu Chúa và yêu tha nhân, hai tình yêu ấy ví như hai anh em sinh đôi dính liền nhau. Khi  tìm được người này, chúng ta sẽ gặp được người kia. Và khi không tìm được người này chúng ta cũng sẽ chẳng gặp được người kia.

Bài Phúc Âm hôm nay bao hàm một trong những giáo huấn quan trọng nhất trong toàn bộ Phúc Âm. Nó mời gọi chúng ta tự đặt cho mình một trong những câu hỏi quan trọng nhất.

“Chúng ta đã dành tình thương cho những người trong gia đình mình thế nào?” Nếu chúng ta trả lời là “chưa mặn mà lắm” thì có lẽ tình yêu ta dành cho láng giềng cũng chẳng thể khá hơn. Và nếu chúng ta chẳng yêu tha nhân, chẳng yêu láng giềng mặn nồng thì chúng ta cũng không thể yêu mến Thiên Chúa nồng nàn được. Ngược lại, nếu chúng ta yêu quí mọi người trong gia đình mình, chúng ta mới có thể yêu quí người hàng xóm và một khi yêu được người hàng xóm, thì chúng ta cũng dễ dàng yêu mến Thiên Chúa.

Cách đây ít lâu, tờ Dallas Morning News (Dallas Tin Sáng) có đăng lá thư của một thiếu phụ nọ viết nhân cái chết của mẹ mình, trong đó có đoạn này:

“Mẹ tôi sống gần chỗ tôi, việc dành chút ít giờ pha cho mẹ một tách trà nóng, hay tỏ ra một cử chỉ yêu thương đối với mẹ lẽ ra đối với tôi phải là một việc rất dễ dàng… khi tôi gọi địên thoại cho mẹ, tôi lại nói quá vắn tắt và vội vàng. Tôi cảm thấy thật xấu hổ khi nghĩ lại những lần tôi cúp điện thoại cho lẹ khi nói chuyện với mẹ. Lúc đó tôi nói với mẹ: “Tiếc quá, con phải đi ngay, mẹ ạ !”. Thế giới đầy dẫy những người giống như tôi. Tôi hy vọng trong số những người con ấy, nhiều người sẽ nhận ra điều này… và biết rút ra bài học cho mình”.

Tôi chắc chắn nhiều người trong chúng ta cảm thấy những lời nhận xét của thiếu phụ này cũng đúng đối với mình. Chúng ta cũng đã từng cư xử với cha mẹ con cái chúng ta hoặc những ai cần đến tình thương và sự âu yếm của chúng ta, một cách tương tự, như người thiếu phụ trên.

Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta xem xét lại cuộc sống và tự vấn xem chúng ta có giống người thiếu phụ viết lá thư đăng trong tờ “Dallas Tin Sáng” kia không? nếu có thì bài Phúc Âm hôm nay là lời kêu gọi của chính Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta làm một điều gì đó để sửa đổi lại thái độ của chúng ta.

Để kết thúc, tôi xin lặp lại những lời trích từ Phúc Âm ngày hôm nay; “Một vị tiến sĩ luật tiến đến hỏi Chúa Giêsu: giới luật nào là quan trọng nhất? Chúa Giêsu trả lời; Giới luật quan trọng nhất là; Ngươi hãy yêu Chúa ngươi hết lòng, và giới luật thứ hai cũng quan trọng như thế: Ngươi hãy yêu láng giềng ngươi như chính ngươi. Không giới luật nào quan trọng hơn hai giới luật này”.

 

 

“GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT”

N. Quesson

Ngày đầu tiên Betty vào trường nội trú. Cô bé đọc bản nội quy của trường. Và chán ngán. Cô tự hỏi không biết làm sao mình giữ nỗi cả cuốn luật lệ đủ thứ đủ loại này. Nhưng đến chiều, Betty gặp bà hiệu trưởng, cô thấy bà thật hiền hậu, dễ mến, bà có nụ cười đầy thiện cảm. Cô thấy mến bà, và thấy việc giữ những luật lệ của trường cũng chả có gì khó lắm. Tình yêu đã làm cho những khó khăn mệt mỏi biến tan.

Trong Do Thái giáo có tất cả 613 điều luật. Học thuộc những điều luật này đã là khó, nói chi việc cắt nghĩa cho chính xác và tuân thủ vẹn toàn. Vì thế trong đầu óc một tín đồ Do Thái giáo luôn thấp thoáng câu hỏi; Luật nào là quan trọng nhất? nhưng khi câu hỏi đạo đạt lên Chúa Giêsu, Chúa chỉ trả lời một câu thật chính xác và đầy đủ: Giới răn trọng nhất là hãy yêu mến Thiên Chúa hêt lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức ngươi. Và giới răn thứ hai cũng giống giới răn thứ nhất là; ngươi hãy yêu người khác như chính mình ngươi. Như vậy Chúa Giêsu đã tóm gọn hơn sáu trăm khoảng luật vào một câu vắn tắt: Mến Chúa và yêu người. Hay đúng hơn, Chúa đã tóm gọn vào một chữ:Yêu.

Đối với Thượng Đế, các triết gia, các tôn giáo thường diễn tả như một nhân vật đòi buộc người ta tôn thờ, kính sợ và tuân phục, đối với người Do Thái thì vẫn cần giữ những tâm tình ấy đối với Thiên Chúa, nhưng trước hết phải yêu mến Thiên Chúa. Độc đáo của Cựu ước là hướng dẫn con người trung thành trong một giao ước tình yêu. Đặc biệt Chúa Giêsu đã đặt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa trong tình cha con. Chúng ta sống với Thiên Chúa trong bầu khí gia đình thân thương. Tình phụ tử đó Thiên Chúa đã biểu lộ ở mức độ cao nhất và hoàn hảo nhất: Chúa đã yêu ta đến nỗi đã ban Con của Người đến làm lễ vật đền tội chúng ta. Phần chúng ta, cũng phải biểu lộ tình yêu đối với Thiên Chúa bằng hết khả năng của mình, tinh thần cũng như thể xác và cả linh hồn nữa.

Còn đối với anh chị em đồng loại, chúng ta phải yêu thương mọi người. Điều quan trọng là tình yêu đó không xây dựng trên liên hệ máu thịt, không do cảm tính, nhưng do trên liên hệ tình yêu với Thiên Chúa. Chúng ta coi Thiên Chúa là cha, và mọi người là anh chị em ruột thịt.

Chúa Giêsu đã đẩy tình yêu anh em lên một trình độ tuyệt đỉnh. Phải yêu anh em như yêu Chúa; Ai giúp đỡ một người thấp hèn nhất là giúp đỡ chính Chúa. Và yêu với mức độ như Chúa đã yêu: Các con hãy yêu nhau như Thầy đã yêu các con, và không có tình yêu nào lớn hơn bằng hiến mạng sống vì bạn hữu.

Chúa bảo yêu mến Chúa và yêu người phải đi đôi với nhau. Thiên Chúa đòi ta yêu mến Thiên Chúa như một người cha, nhưng tình yêu đó phải biểu lộ trong tình yêu đối với anh em. Phải yêu anh em mới chứng tỏ mình mến Chúa. Vì yêu anh em là chứng minh là con Thiên Chúa, và chứng tỏ mình tuân giữ lời Chúa dạy.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhận ra tình thương bao la của Chúa đối với chúng con để chúng con có thể yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và sống tình huynh đệ với mọi người. Xin giúp chúng con chu toàn mọi giới răn Chúa vì yêu mến Người.

 

VỚI CẢ TÂM TRÍ BẠN.

Gm. Arthur Tonne

Một người mẹ nói với cô con gái nhỏ của bà về tình yêu Thiên Chúa. Cô bé bối rối: “Mẹ ơi, làm sao con có thể yêu Chúa? Con chưa bao giờ thấy Người.” Ít ngày sau cô bé nhận được một bưu kiện, trong đó có một cuốn sách hình rất đẹp, trên trang bìa cuốn sách đề hàng chữ: “Tặng Maria thân yêu, Dì Rosa” (Bé Maria chưa bao giờ gặp dì Rosa và họ sống xa nhau hàng ngàn cây số. Khi Maria nhìn những bức hình đẹp trong cuốn sách, em nói với mẹ: “Mẹ ơi, con yêu dì Rosa qúa! Dì cho con cuốn sách đẹp này!” Người mẹ phản đối: “Nhưng con chưa bao giờ thấy dì Rosa mà.” Maria trả lời: “Con biết, nhưng con yêu dì, vì dì gởi cho con cuốn sách đẹp này”.

Nhiều người trong chúng ta có thể thắc mắc: “Làm sao chúng ta có thể yêu Chúa nếu chưa bao giờ chúng ta thấy Người?” Tất cả chúng ta đã nhận quà của Chúa, những món quà này dẫn chúng ta yêu Đấng đã gởi tới.

Dĩ nhiên một cách nào đó, chúng ta có thể thấy được Thiên Chúa trong hình dạng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Thiên Chúa làm người.  Hôm nay nói lại cho chúng ta rằng: chúng ta phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa chúng ta hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn và hết sức lực. Sẽ giúp chúng ta hiểu và giữ luật này nếu hôm nay  chúng ta chỉ nhìn một góc cạnh của giới răn: “Yêu Chúa.. với tất cả tâm trí.

Để yêu ai, trước tiên chúng ta phải biết người ấy. Để biết ai, chúng ta phải dùng tâm trí. Làm sao chúng ta có thể biết Chúa?

Làm sao tôi biết một người trong các bạn? tôi phải nói với bạn là lắng nghe khi bạn nói. Đối với Chúa, chúng ta gọi là cầu nguyện. Bạn hãy gọi như thế nếu bạn muốn. Chúng ta không thể biết Chúa, trừ khi chúng ta nói với Người. Đó là lý do tại sao Giáo hội kêu gọi chúng ta cầu nguyện với Chúa, ít nhất là sớm mai và chiều tối. Đó là lý do bạn và tôi cầu nguyện với Chúa bất cứ lúc nào trong kinh nhật tụng, và nhất là trong thánh lễ.

Chúng ta biết một người do công việc họ làm hoặc họ là thợ mộc, là hoạ sĩ biếm hoạ hay một đầu bếp.

Chúng ta biết Chúa qua những việc Chúa đã làm cỏ cây, chim chóc, gió mây, sao trời… Nói với chúng ta về Chúa. Tất cả những cái đó đòi hỏi chúng ta phải sử dụng lý trí.

Muốn hiểu biết một người, chúng ta cố gắng gặp người đó càng nhiều càng hay. Chúng ta gặp Chúa trong mỗi ngày, trong mỗi cuộc sống chung quanh, nhất là chúng ta gặp Chúa trong Giáo hội, trong Thánh lễ, rước lễ và các Bí tích.

Chúng ta cũng biết một người do những điều một người khác biết về người đó nói với chúng ta. Linh mục của bạn, Ngài đã dùng nhiều thì giờ học hỏi về Chúa, nói về Chúa. Các ngài có thể nói nhiều về Cha trên trời, về Thiên Chúa làm người, về Chúa Thánh Thần cho bạn. Cha mẹ nói cho chúng ta về Chúa. Thực sự các ngài là thầy tốt nhất nói về Chúa. Giáo lý viên. Báo chí, tạp chí và sách vở công giáo nó với chúng ta nhiều sự thật về Chúa.

Sử dụng lý trí để tìm hiểu, mọi cái về Chúa. Như thế bạn yêu Chúa với tất cả lý trí của bạn.

Xin Chúa chúc lành bạn.

 

HAI GIỚI LUẬT, MỘT TÌNH YÊU

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez

 

Quí hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ

Thầy kinh sư hỏi về một giới răn trọng nhất, Ðức Giêsu trình bày với ông hai giới răn song song, tuy hai mà một. Hai giới răn đó, các tín hữu Công giáo Việt Nam thuộc nằm lòng từ thuở còn thơ bé: "Trước kính mến một Ðức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu người như mình ta vậy".

Hai giới luật, nhưng gồm tóm lại một tình yêu. Mến Chúa hết lòng, yêu người hết dạ, hai điều ấy chỉ là một. Yêu người  anh em, tức là mến Chúa rồi. Ðọc Tin Mừng theo thánh Matthêu chương 25 đoạn nói về ngày chung thẩm, chúng ta thấy Chúa nói rất rõ về chân lý này: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các người làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". Một vị thánh môn đệ của Chúa cũng nói rõ điều đó: "Anh không yêu người thân cận mà mắt anh nhìn thấy, thì làm sao anh có thể yêu mến Thiên Chúa, Ðấng anh không hề nhìn thấy?".

Thời Ðức Giêsu, người ta tranh luận về một số vấn đề thần học. Một trong những vấn đề đó đã được thầy kinh sư đem ra hỏi Chúa, với thiện chí, như hỏi ý kiến một vị tôn sư. Và ông đã được Ðức Giêsu trả lời thỏa đáng: mến Chúa, yêu người là điều răn quí trọng nhất, và cả hai là một. Vị kinh sư rất thỏa mãn trong bụng, tâm phục khẩu phục Chúa. Ông gọi Chúa là Thầy: "Thưa Thầy, hay lắm. Thầy nói rất đúng". Ông lại đưa lời sách ra bàn bạc, cho vấn đề thêm sáng tỏ: "Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quí hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ". Trước đây, người ta cứ cho rằng giết chiên giết bò làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa là đẹp lòng Ngài. Thực ra không của lễ nào quí trọng bằng tình yêu. Ðó là điều Ðức Giêsu hằng rao giảng. Nay thấy vị kinh sư này thấm thía được điều đó, Ðức Giêsu rất mừng và khen ngợi ông: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!".

Thật vậy, vương quốc Thiên Chúa chính là vương quốc của những yêu người thương nhau, vì họ là anh em của một Cha trên trời, điều mà "ngôn sứ" Khổng Tử đã tiên báo trong khái niệm "Tứ hải giai huynh đệ" (người trong bốn bề đều là anh em).

 

 

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

LỄ CÁC THÁNH

Mồng 1 tháng 11

 

Mục lục

THEO BƯỚC CHÂN CÁC NGÀI (Mark Link S.J).   1

HẠNH PHÚC THAY (N. Quesson)..... 4

NGƯỜI KHỔNG LỒ THIÊNG LIÊNG (Gm. Arthur Tonne )     6

1.11 Các thánh nam nữ : Mt 5,1-12a..... 8

Hạt giống nẩy mầm-lm.Carôlô Hồ Bạc Xái       8

2.11 Các tín hữu đã qua đời : Ga 6,51-59 12

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT (ĐC.G.B. Bùi Tuần )       14

ÐỜI SỐNG VÀ CẦU NGUYỆN (ĐC.G.B. Bùi Tuần)         18

 

 

THEO BƯỚC CHÂN CÁC NGÀI

Mark Link S.J.

 

Bài đọc: Kh 7 : 2-4, 9-14; 1 Ga 3 : 1-3; Mt 5; 1-12

Chủ đề:

Các thánh đã gìn giữ đức tin cho chúng ta. Các Ngài là những người hướng dẫn chúng ta trong hành trình đức tin của chúng ta.

 

Khoảng 60 năm sau khi Chúa Giêsu ra đời, một cơn hoả hoạn khổng lồ đã xảy ra ở thành Rôma. Đám cháy kéo dài hơn một tuần lễ. Người ta đồn rằng Hoàng đến Neron đã ra lệnh phóng hoả. Ông ta muốn tiêu huỷ thành phố Roma cổ xưa, xây dựng lại một thành mới và đặt bằng tên của chính ông ta.

Neron đã cố gắng hết sức để ngăn chận tiếng đồn ấy, nhưng nào có được. Cuối cùng trong cơn thất vọng, ông ta vội tìm một đối tượng để trút lên đó mọi lời nguyền rủa của dân chúng. Ông ta liền vu khống cho cộng đoàn Kitô hữu ở Roma là đã gây ra cơn hoả hoạn. Lời tố cáo của Neron khai mào cho cuộc bắt bớ tôn giáo kéo dài gần 300 năm. Một sử gia Rôma đã mô tả cuộc bắt bớ dưới thời Neron như sau: “Các Kitô hữu bị đối xử tàn bạo khác thường. Nhiều người phải khoác lên mình một tấm da thú để rồi bị đàn chó dữ cắn xé ra từng mảnh. Nhiều người khác bị treo lên thập tự giá và ban đêm bị dùng làm bó đuốc đốt sáng soi cho bóng đêm”.

Để tự vệ và củng cố có thể thi hành đời sống tôn giáo của mình, nhiều Kitô hũư đã thực sự chui xuống sinh hoạt dưới lòng đất. Họ đào được hệ thống đường hầm tỉ mỉ trong lòng đất ở vùng có núi lửa tại Roma. Một số trong những đường hầm nổi tiếng này dài đến nhiều dặm và được thiết kế như những mê lộ để gây khó khăn cho các nhà cầm quyền đương thời.

Hiện nay, một số những hang động này (được gọi là hang toại đạo), là những trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn du khách đi đến Rôma. Chính trong những đường hầm này, các Kitô hữu đã từng tổ chức Thánh lễ, rửa tội các cháu bé và chôn cất những người chết. Trong các tác phẩm của mình, thánh Jerôme cho biết: Khi còn là một chú bé, ngài và các bạn thường hay chơi trong các hang toại đạo. Sau thánh Jerôme nhiều thế kỷ, các chú bé Roma cũng vẫn thường vui chơi trong các hang toại đạo. Một ngày nọ, một nhóm các cậu bé đang đi lang thang qua các mê lộ, dưới đường hầm, đột nhiên chiếc đèn pin duy nhất của chúng bị hỏng. Các chú hoàn toàn lâm vào bóng tối, không biết lối ra, đang khi cả đám bị kinh hoàng cực độ, thì một chú bé cảm thấy như có một đường rãnh bằng phẳng nơi nền đá của đường hầm; đường này dẫn ra một lối đi đã được bào phẳng nhờ bước chân của hàng ngàn Kitô hữu trong thời kỳ bị bắt bớ ở Roma. Thế là các chú bé lần theo những dấu chân các vị thánh xưa và tìm được lối thoát khỏi hang sâu tối tăm và bình yên đến vùng có ánh mặt trời.

Chúng ta có hai lý do để suy nghĩ về câu chuyện trên:

Thứ nhất, nó cho ta thấy cái giá khủng khiếp mà tổ tiên những Kitô hữu chúng ta phải trả giá cho đức tin của họ. Nếu các ngài đã không trả giá đắt như thế, có lẽ nhiều người trong chúng ta sẽ không được làm Kitô hữu như ngày hôm nay.

Thứ hai, câu chuyện các cậu bé trong hang toại đạo giống như một loại dụ ngôn cho ta thấy các vị thánh ngày xưa vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời chúng ta như thế nào.

Nhiều người trong chúng ta giống những chú bé trong các hang toại đạo: chúng ta bị lạc lối, hoang mang vì những ý kiến xung đột nhau, chúng ta chả biết điều gì đúng điều gì sai, giống như chúng ta đang bị lâm vào bóng tối, không biết rõ đường đi nước bước. Câu chuyện các chú bé trong hầm mộ quả là một dụ ngôn cho chúng ta.

Các chú bé đã tìm ra con đường trên nền hầm được bước  chân các vị thánh bào phẳng hằng bao thế kỷ trước. Nhờ đi thoát khỏi bóng tối trong hang để tới được ánh sáng ban ngày. Một cách tương tự, chúng ta cũng có thể bước theo các vị thánh để tìm ra con đường dẫn chúng ta khỏi vùng tối tăm và hỗn độn của thời đại chúng ta hầu đến được ánh sáng ban ngày.

Và như thế, là mừng CÁC THÁNH đem lại hai mục đích cho chúng ta:

Trước hết, lễ này nhắc nhở chúng ta công ơn rất lớn lao của các thánh thời xưa là những người đã bảo tồn đức tin Công giáo cho chúng ta.

Thứ đến lễ này nhắc chúng ta nhớ nếu chúng ta biết bắt chước các thánh và noi theo gương các ngài chúng ta cũng sẽ tìm ra lối đi dẫn chúng ta từ vùng tăm tối của trần thế bước vào ánh sáng huy hoàng của Chúa.

Các thánh chẳng phải là những người khác thường gì, các ngài cũng bình thường như chúng ta, nhưng đã sống cuộc đời bình thường của các ngài một cách phi thường. Chúng ta hãy dùng đoạn thơ nhan đề The Way (Con đường) của John Oxenham để kết thúc; đoạn này tóm tắt lời mời gọi và sự thách đố mà ngày lễ các Thánh hôm nay đặt ra cho mỗi người chúng ta:

“Ở đó, có hai con đường mở ra trước mặt mỗi người; một con đường cao và một con đường thấp. Những linh hồn cao thượng thích leo lên con đường cao mà đi, còn những linh hồn thấp kém lần mò theo con đường thấp mà đi. Giữa hai con đường ấy là những linh hồn còn lại trôi vật vờ trên những vùng sương mờ vô định. Nhưng mỗi người phải quyết định xem trong hai con đường ấy linh hồn mình sẽ đi con đường nào”.

Lễ Các Thánh mời gọi chúng ta hãy can đảm bắt chước các thánh chọn con đường cao để một ngày kia chúng ta cũng sẽ được xum họp với các ngài trên trời để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời.

 

HẠNH PHÚC THAY

N. Quesson

Cách đây mười năm, một người Pháp tên là Pi-e Quốc (Alfred de Pierrecourt) để lại gia tài hai triệu đô la với lời di chúc phải dùng số tiền này gây giống những người khổng lồ. Người ta đã tìm và chuyển những người cao lớn ngoại khổ về một vùng gần tỉnh Ru-ăng (Rhuen), rồi khuyến khích họ lập gia đình với nhau, mong thành lập một dòng giống khổng lồ.

Chương trình này tiến hành được ít năm rồi thất bại. Còn Chúa Giêsu cũng muốn gây dựng một dòng giống vĩ nhân và đã thành công. Bí quyết thành vĩ nhân của Chúa đã tóm gọn trong Bài giảng trên núi, cũng gọi là là “Tám mối phúc thật”.

Chúa Giêsu công bố những bí quyết hạnh phúc này trên một ngọn núi. Khung cảnh làm tăng vẻ hùng vĩ long trọng, khiến ta nhớ tới núi Sinai của Cựu ước, nơi Thiên Chúa công bố mười giới luật. Những điều hạnh phúc này cũng gọi là Hiến Chương Nước Trời, đây là tóm lược toàn bộ giáo lý của Đức Kitô. Tuy đơn sơ giản dị nhưng là tinh hoa của Tin Mừng, Chúa muốn gửi gấm với tất cả nhân loại, nhất là những người đau khổ, ốm yếu, tật nguyền, nghèo túng, thất nghiệp, những người bị khinh chê, tuyệt vọng, giới thu thuế và người tội lỗi…

Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó…, phúc cho những người hiền lành… phúc cho những ai khóc lóc…. Phúc cho những ai đói khát công lý…, phúc cho ai có từ tâm…., phúc cho ai tinh sạch trong lòng…, phúc cho ai kiến tạo hoà bình…., phúc cho ai bị bắt bớ vì sự công chính…

Những người gặp khó khăn đau khổ sẽ được hạnh phúc trong giáo lý Đức Giêsu, đây là kiểu nói khác của Lời Chúa; “Ai vất vả mệt nhọc hãy đến với Ta và Ta sẽ cho nghỉ ngơi. Hãy nhận lấy gánh của Ta và hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng và các con sẽ được nghỉ ngơi lại sức vì ách của Ta thì êm ái, gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt.11,28-30). Chính vì đem hạnh phúc lại cho người đau khổ mà Chúa Giêsu mới đúng là “Đấng được trông chờ”, là “người được tiên báo’ là “người đem Tin Mừng Cứu độ’. Chúng ta đừng quên từ ngữ Tin Mừng Cứu Độ đã được chính Chúa nhắc lại: “Thần Linh Chúa xuống trên tôi, Người đã xức dầu tôi, sai tôi mang Tin Mừng cho người nghèo, băng bó cho ai có cõi lòng tan vỡ, công bố giải thoát cho các tù nhân an ủi những người bị áp bức…” (Is.61,1-6; Lc4,18).

Hạnh phúc cho ho… vì Nước Trời là của họ… Tám mối phúc thật đóng khung trong kết lụân đó. Nước Trời thuộc anh em, không phải chỉ là lời hứa hẹn mai sau, nhưng niềm hạnh phúc này còn lan toả ngay trong hiện tại. Khi hiến chương tám mối phúc thật được thực hiện thì những người đau khổ sẽ hạnh phúc, tình thế sẽ thay đổi. Chúa không ca tụng đói nghèo, đau khổ, nhưng muốn cải thiện cuộc sống dưới ánh sáng Tin Mừng. Nước Trời, Nước Thiên Chúa là tổ chức được xây dựng ngay trong cuộc sống thế trần, và đầu tiên nhằm xoá hết khổ đau, áp bức. Chúa Giêsu không phải chỉ là Vua mai sau, nhưng ngay bây giờ Nước Chúa đã hình thành, và Chúa đã là Vua luôn đem hạnh phúc cho dân của Người.

Phúc cho người có tâm hồn nghèo, vì Nước Trời thuộc về họ. phúc cho người hiền lành, họ sẽ được đất. Trong từ ngữ Hy Lạp, hai ý đó chỉ có một từ. Đó không phải là thái độ chịu đựng tiêu cực, nhưng là một cố gắng đạt tới, để cho nhân quyền được tôn trọng.

Phúc cho ai than khóc, họ sẽ được ủi an, Phúc cho ai đói khát công chính, họ sẽ no thoả. Phúc cho ai có từ tâm, họ sẽ được thương xót. Phúc cho ai tinh sạch trong lòng, họ sẽ thấy Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã khóc với Matta và Maria, Chúa đã sống công chính rập mẫu Chúa Cha. Chúa đã thương xót các tội nhân, Người luôn tha thứ. Các tín hữu phải noi gương Chúa ban phát lòng thương xót và tha thứ. Khi đó họ được gọi là con Thiên Chúa, vì họ đã kiến tạo hoà bình.

Lạy chúa, xin giúp chúng con noi gương các bậc thánh thiện mà Giáo hội mừng kính hôm nay, biết thực hành những lời Chúa dạy trong Tám mối phúc thật, để chúng con được lãnh nhận hạnh phúc Chúa hứa ban.

 

NGƯỜI KHỔNG LỒ THIÊNG LIÊNG

Gm. Arthur Tonne

Ít năm trước đây, một triệu phú người Pháp là công tước Alffred de Pierre-Cout, đã để lại trọn gia tài 2 triệu đôla để nuôi lớn những người khổng lồ. Toà án thực hiện đi chúc, cho trích một phần tư số tiền của gia tài là 500,000 đôla để dùng vào việc thử nghiệm này.

Các viên chức thành phố Rouen nước Pháp đã tìm kiếm trên thế giới những người đàn ông, đàn bà lớn con. Cho họ sống từng đôi trong những ngôi nhà gần Rouen. Thử nghiệm này chấm dứt ít năm sau.

2000 trước đây, một nhân vật vĩ đại nhất đã đến trên mặt đất này và để lại một di sản để làm phát sinh không phải người khổng lồ, nhưng là người phi thường thiêng liêng, không phải những người có thân thể to lớn, nhưng là những người có tâm hồn siêu việt. Chúng ta vừa đọc chúc thơ của Người trong bài Tin Mừng hôm nay. Bài giảng thời danh trên núi cho chúng ta phương cách để trở thành siêu việt. Chúng ta thường gọi là Tám mối phúc thật – Tám con đường hạnh phúc.

Trong ngày lễ các thánh, chúng ta tôn kính tất cả mọi người nam, nữ, già trẻ trong mọi thời đại, thuộc mọi quốc gia, mọi nghề nghiệp. Họ đã sống theo đường lối này và đã trở thành siêu nhân. Tên tuổi và việc làm của hơn 40.000 siêu nhân này được ghi trong sổ bộ của Hội Thánh Chúa Kitô.

Nhưng còn một số đông vô kể không có tên trong sổ bộ. Các ngài cũng là những siêu nhân, chúng ta tôn kính các Ngài trong ngày hôm nay… trong số đó có nhiều vị gần gũi và thân thương  với chúng ta.

Điều gì làm cho các ngài thành vĩ nhân? Chúa Giêsu nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay; Các Ngài nghèo khó trong tinh thần; tiền bạc, của cải không phải là cái các Ngài quan tâm.

Các Ngài hiền lành, hoà nhã, ân cần, khoan dung. Các Ngài đã chịu đói, chịu khát, các Ngài nhân từ, dung thứ những thiếu sót của con người.

Các Ngài có tâm hồn trong sạch, không phải chỉ trong giới răn thứ sáu, nhưng còn trong mục đích làm đẹp lòng Chúa và ích lợi cho tha nhân. Các Ngài là người kiến tạo hoà bình; với chính các Ngài, với tha nhân và với Chúa.

Lòng tốt của các ngài đưa các Ngài đến tù tội, ngược đãi và ngay cả sự chết. Các Ngài bị xỉ nhục, bị nhạo cười vì niềm tin, vì hành động như những người theo Chúa Kitô.

Mỗi lần chúng ta thực hành một trong 3 mối phúc thật này, chúng ta lớn lên trên đường thiêng liêng, chúng ta trở nên cao lớn trước mặt Chúa.

Để khuyến khích chúng ta lớn lên, Mẹ Giáo hội nhắc nhở chúng ta suốt một năm tên của các vị Thánh. Hôm nay, ngày lễ các Thánh nam, nữ, gia đình Chúa xum họp quanh bàn Thánh Chúa để tôn kính tất cả, trong đó có bà con láng giềng đã trở nên siêu nhân, mặc dù chưa được ghi tên trong sổ bộ.

Sức mạnh để trở nên siêu nhân Chúa Kitô cho chúng ta trong của ăn, chúng ta lãnh nhận nơi bàn tiệc Thánh lễ. Ước gì tất cả chúng ta sẽ được trong số những người sẽ được tôn kính trong ngày lễ các Thánh mai sau.

Xin Chúa chúc lành bạn.

 

1.11 Các thánh nam nữ :

Mt 5,1-12a

Hạt giống nẩy mầm-lm.Carôlô Hồ Bạc Xái

* lịch sử

Lễ các thánh nam nữ đã có từ thế kỷ thứ IV. Thánh Ephraim người Syrie và thánh Gioan Kim Khẩu đều biết đến một ngày lễ mừng các thánh tử đạo vào ngày 13.5 hằng năm. Hay rõ hơn là Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lễ này vẫn còn trong lịch sử phụng vụ của Giáo Hội Hy Lạp và được gọi là Chúa nhật chư thánh.

Trong Giáo Hội Tây Phương cũng có một thánh lễ từ thế kỷ thứ VII, lễ toàn thể các thánh tử đạo mừng vào ngày 13.5. Ðó là ngày lễ thánh hiến đền Panthéon của Rôma, để Kính Ðức Trinh Nữ Maria và toàn thể các thánh tử đạo vào ngày 13.5.609.

Lễ chư thánh (toàn thể các thánh, chứ không dành riêng cho các thánh tử đạo) được mừng vào ngày 1.11 hằng năm, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ VIII do các thầy Dòng Irland, và Anh Quốc, khi sang truyền giáo ở Âu Châu đã đem theo và trong thời gian ngắn đã phổ biến rộng khắp Âu Châu. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)

A.  Hạt giống...

1. Trong Tin Mừng Mt, đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu lên tiếng giảng trước đám đông dân chúng. Lần đầu tiên ngỏ lời với dân chúng, Chúa Giêsu loan báo ngay một Tin Mừng hạnh phúc.

2. Những người hạnh phúc ấy là ai ?

1/ "những người nghèo trong tâm hồn" : không nô lệ tiền của.

2/ "hiền lành" : Hiền lành nghĩa là vừa nhân từ vừa khiêm nhượng (xem Mt 11,29-30 : Ðức Giêsu tự xưng là "hiền lành" và "khiêm nhượng" trong lòng).

3/ "sầu khổ" : Mt 9,15 nói về việc các môn đệ sẽ "sầu khổ" khi phải xa cách "Tân lang" là Ðức Giêsu.  Như vậy người sầu khổ là người biết mình tội lỗi và do đó phải xa cách Chúa. Như vậy phần phúc Chúa hứa cho họ là họ sẽ được Thiên Chúa "an ủi" bằng cách tha tội cho.

4/ "khao khát nên người công chính" : Trong Tin Mừng Mt, "công chính" là biết làm theo ý của Thiên Chúa.

5/ "xót thương người" : Hôsê đã viết "Ta muốn lòng thương xót chứ không muốn lễ vật" (Hs 6,6). Mt đã trích dẫn câu này 2 lần (9,13  12,7)., và cả 2 lần Mt đều hiểu thương xót nghĩa là thứ tha để cứu vớt kẻ lầm lỡ.

6/ "tâm hồn trong sạch" : nghĩa là có lương tâm ngay thẳng, không gian dối, không mập mờ nửa trắng nửa đen, không một dạ hai lòng.

7/ "xây dựng hòa bình" : Hòa bình ở đây là hòa thuận (không xung khắc, không thù hận). Nên lưu ý rằng các mối phúc khác đều nhắm đến một thái độ nội tâm, còn mối phúc nầy nhắm đến hoạt động bên ngoài mà đối tượng là những mối liên hệ giữa người với người, và mục đích là làm cho người ta hòa thuận với nhau.

8/ "bị bách hại vì sự công chính" : Ta cũng phải hiểu chữ "công chính" ở đây theo nghĩa của c.6, nghĩa là "sống theo ý Chúa". Vì sống theo ý Chúa mà bị người ta bách hại.

B. ... nẩy mầm.

1. Có thể quy tất cả 8 đức tính ấy vào một đức tính căn bản là "Tâm hồn nghèo". Người có tâm hồn nghèo là người :

   . Mặt tiêu cực : không màng đến và không cậy dựa vào tiền bạc của cải, danh lợi lạc thú trần gian, ăn thua hơn thiệt đời này... (nói cách khác : không màng đến nước trần gian)

   . Mặt tích cực : chỉ ước ao sống tốt theo ý Thiên Chúa và được hưởng những ơn lành của Thiên Chúa (nói cách khác : được sống trong Nước Trời)

Vì căn bản hạnh phúc là có tâm hồn nghèo, nên có thể nói : hạnh phúc đích thực của kitô hữu là vứt hết những gì mình có, để được lấp đầy bằng chính Chúa.

2. Hạnh phúc là gì ? Xét cho cùng, hạnh phúc là được sống đúng bản chất của mình. Con chim ở trong lồng son không hạnh phúc, nó chỉ hạnh phúc khi được bay nhảy thoải mái như chim. Con cá chỉ hạnh phúc khi được bơi lội như cá. Bản chất con người là được Thiên Chúa tạo dựng và được trở về với Thiên Chúa. Bởi đó, Chúa Giêsu dạy rằng hạnh phúc của con người là được ở trong Nước Thiên Chúa.

3. Một hôm khi cầu nguyện, một Linh mục xin Chúa cho tra vấn một tên quỷ :

- Nhân danh Chúa, ta hỏi mi : đâu là nơi hạnh phúc nhất ?

- Dĩ nhiên là thiên đàng. Ôi, được nhìn thấy Chúa là tất cả niềm hoan lạc. Nếu có lấy mọi vẻ đẹp của muôn vàn châu báu thế gian và mọi tinh tú trong vũ trụ, rồi đem so sánh với vẻ đẹp của Chúa, thì tất cả cũng chỉ là một con số không.

- Ngươi đã được hưởng tất cả những thứ đó, tại sao ngươi đánh mất hạnh phúc thiên đàng ?

- Chỉ vì chúng tôi kiêu ngạo phản loạn. Khổ nỗi là bây giờ đã quá muộn để hối hận. Lúc này dù phải chịu tất cả mọi cực hình hỏa ngục gom lại cho riêng tôi, tôi cũng sẵn sàng đón nhận, miễn là sau đó tôi được hưởng thiên đàng trong giây lát. Nhưng đã quá muộn rồi !

Thì ra ngay cả quỷ dữ cũng khao khát hạnh phúc. (Chờ đợi Chúa)

4. "Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa" (Mt 5,11)

Ngày 19-6-1988, cả Giáo hội Việt Nam hân hoan vui sướng vì 117 vị tử đạo đã được phong hiển thánh. Những nỗi đớn đau tủi nhục vì Chúa Kitô của các ngài đã được chúc phúc.

Hôm nay, chúng ta cũng không thoát khỏi những khó khăn, đớn đau và tủi nhục trong cuộc chiến cam go loại bỏ tật xấu, dứt khoát với tội lỗi, hay những suy nghĩ tiêu cực nơi chính bản thân. Cuộc chiến ấy đòi hỏi chúng ta phải can đảm.

Xin các thánh tử đao Việt Nam thông truyền cho chúng con dòng máu bất khuất của các ngài và giúp chúng con biết chiếu toả tôn nhan Thiên Chúa nơi chính con người và cuộc sống chúng con.

5. Các thánh đều là những công dân Nước Trời, đều đang hưởng hạnh phúc Nước Trời. Mỗi một vị Thánh đều là một tấm gương cho chúng ta về một trong 8 mối phúc.

6. Có nhiều thứ người đời cho là nguồn hạnh phúc nhưng thực chất là nguồn đau khổ, và ngược lại...

7. Bất cứ thứ gì không đưa ta vào Nước Trời đều không phải là hạnh phúc thật.

8. Bác sĩ Tom Dooley thường cứu giúp những người khổ sở. Ông có một cách hiểu đặc biệt câu Tin Mừng Mt 5,5 "Phúc cho những ai sầu khổ". Ông nói : "Sầu khổ không hẳn là bất hạnh, mà còn có nghĩa là quan tâm đến cảnh khổ ở đời hơn là cảnh sung sướng... Nếu bạn nhạy cảm với những cảnh khổ và cố gắng làm một điều gì đó để cho đời tươi sáng hơn, bạn sẽ thấy hạnh phúc" (Trích dẫn bởi Mark Link, Sunday homilies, Year C).

9. Ðoàn cứu trợ đến căn nhà lụp xụp của một bà già. Họ hỏi thử bà :

- Nếu chính phủ cho bà 200 đôla. Bà sẽ làm gì ?

- Tôi sẽ đem cho những người nghèo.

Bà cụ này chính là một trong những người mà Chúa Giêsu nghĩ tới khi nói "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó" ; Từ những người có tâm hồn như bà cụ này đã xuất hiện những vị Thánh mà chúng ta tôn kính hôm nay ; Và tấm gương của bà cụ này khuyến khích chúng ta trở nên những kitô hữu tốt hơn (Mark Link, Sunday homilies, Year C).

10. "Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng danh cho anh em trên Trời thật lớn lao" (Mt 5,12)

Phêrô từng chối Chúa

Rồi thống hối ăn năn

Chúa thương thưởng thành thánh

Cuối cùng cũng theo Ngài

Ngài thương ban thành thánh.

Một người từng ăn trộm

Phút cuối biết quay về

Chúa cho được làm thánh

Têrêxa Hài đồng

Người yêu Chúa tử bé

Sống phục vụ yêu thương

Trong Tình yêu của Ngài

Thành thánh ngay trần gian

Thánh Augustinô

(Và còn nhiều thánh nữa)

Từng ăn chơi sa đọa

Theo ơn gọi quay về

Tích cực thành thánh ngay

…………………………

Chúa luôn mời gọi con

Hãy là thánh nghe con

Vì Ta là Ðấng Thánh.

Lạy Cha xin giúp con

Trong từng giây phút sống

Biết yêu thương trung thành

Ðể được nên giống Cha. (Hosanna)

 

2.11 Các tín hữu đã qua đời : Ga 6,51-59

* lịch sử

Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời được cử hành vào ngày 2 tháng 11 hằng năm, được thánh đan viện phụ Odilô của tu viện Cluny (994-1048) khai sáng.

Trong ngày đó, ngài ra lệnh các linh mục thuộc dòng Cluny phải dâng thánh lễ để cầu nguyện cho tất cả những người trong dòng và các ân nhân của dòng đã qua đời. Ngài ra lệnh cho các đan viện trực thuộc Cluny cũng thực hành như thế. Chúng ta còn giữ được văn kiện của thánh Odilô ghi vào năm 998.

Sau đó, lễ cầu cho các linh hồn phát triển rất nhanh và bung ra khỏi dòng tu. Từ thế kỷ XIV chúng ta đã gặp thánh lễ này trong phụng vụ Rôma. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)

A. Hạt giống...

1. Cựu Ước mô tả sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người bằng hình ảnh bữa tiệc (Cn 9,1-5). Trong đoạn Tin Mừng này Chúa Giêsu cũng dùng ngôn ngữ của bữa tiệc như  "ăn" và "uống". Tuy nhiên bữa tiệc này rất đặc biệt vì thức ăn thức uống không phải là thực phẩm thông thường cho dù là cao lương mỹ vị đi nữa, mà là chính thịt máu Chúa Giêsu. Bởi đó hiệu quả của bữa tiệc này không phải chỉ là bồi dưỡng sức khoẻ tạm thời cho thể xác mà là cho con người được sống thật, sống muôn đời.

2. Các ngôn sứ Cựu Ước diễn tả ơn gọi của họ bằng hình ảnh "nuốt" lấy Lời Chúa (x. Gr 15,15-21 ; Êd 3). Nghĩa là các vị ấy rất thèm khát Lời Chúa, muốn tiêu hóa Lời Chúa, cho Lời ấy thấm nhập vào thân thể mình. Hiểu theo bối cảnh ấy, "Ăn" thịt Chúa Giêsu và "uống" máu Ngài nghĩa là khao khát được kết hợp rất thân thiết với Chúa đến nỗi có thể nói là đã trở nên một thịt một máu với Ngài.

3. Khi ghi lại những dòng này, thánh Gioan cũng nghĩ đến Bí tích Thánh Thể. Ðó chính là bữa tiệc thịnh soạn mà Thiên Chúa dọn cho loài người, và đó cũng chính là nguồn sức sống cho loài người.

B. ... nẩy mầm.

1. Hôm qua lễ Các Thánh, chúng ta nhớ đến những tín hữu ở thiên đàng. Hôm nay lễ các linh hồn, chúng ta nhớ đến các tín hữu trong luyện ngục. Còn chúng ta là những tín hữu hiện còn tại thế. Bài Tin Mừng Gioan về bữa tiệc sum họp cho chúng ta biết hạnh phúc tuyệt vời và tối hậu sau một đời sống ở trần gian là được kết hợp thân thiết với Chúa trong bữa tiệc vĩnh cửu trên thiên đàng. Ngoài thứ hạnh phúc đó ra, không có gì là hạnh phúc thật cả.

2. Thánh Lễ là dịp chúng ta nếm trước hạnh phúc sum họp ấy. Trong thánh lễ chúng ta kết hợp với Chúa, chúng ta kết hợp với các thánh trên trời và những tín hữu trong luyện ngục, chúng ta cầu nguyện để cuối cùng chúng ta và tất cả những người thân của chúng ta đều được sum họp với Chúa và các thánh trong bàn tiệc vĩnh cửu.

3. Hãy hỏi các linh hồn. Họ sẽ cho chúng ta biết đâu là những giá trị thật của cuộc đời mà ta cần theo đuổi.

4. Khi Mẹ Têrêxa Calcutta sang Liên Xô xin lập một chi nhánh của Dòng bà, bà đã kiên trì xin cho bằng được có một Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh lễ cho các nữ tu. Bà giải thích lý do : sở dĩ các nữ tu có đủ tinh thần và nghị lực để mỗi ngày đem đến cho những người nghèo khổ sự an ủi, phục vụ và yêu thương, đó là nhờ Mình Thánh Chúa mà họ rước mỗi ngày. "Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống".

5. "Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống".

Hằng đêm, mỗi khi thành phố lên đèn, mọi người hối hả trở về công sở, trường học...

Những bước chân hối hả qua lại...

Bên vệ đường, một bà lão khô quắt, nằm cong queo như cố thu mình trốn cái không khí se lạnh. Bà kiệt sức vì đói. Những bước chân vẫn đi qua, đi qua...

Và rồi, đôi chân con bước tới, ngập ngừng... rồi lại bước đi

Trên ti vi, người ta nói đến lũ lụt. Cảm động, con dự định... rồi lại thôi !

Con là thế ! Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay lại.

Lạy Chúa, trên thánh giá Ngài đã giang rộng đôi tay và khi phục sinh, Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại được sống.

Xin cho con luôn biết cho đi, cho đi mãi

không chỉ vật chất, nhưng cho cả bản thân. (Epphata)

6. Ðoạn kết của câu truyện người phú hộ giàu có và kẻ ăn xin nghèo khổ Ladarô khiến tôi phải suy nghĩ. Hai con người, hai cách sống, hai kết cuộc khác nhau : người được ân thưởng, kẻ bị luận phạt. Thiên Chúa đã tách biệt họ ra như tách biệt người lành khỏi kẻ dữ, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Là chiên hay dê, tôi có quyền chọn lựa. Hôm nay tôi sống thế nào thì ngày đó tôi sẽ bị xét xử như vậy. Thiên Chúa là vị thẩm phán uy quyền nhưng cũng đầy tình thương. Ngài cho tôi thời gian để sống, để chọn lựa, để thực hiện vận mệnh đời mình. Ðể khỏi bị kết án như người phú hộ, tôi phải sống cho Chúa và cho anh em tôi.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống mỗi ngày như là ngày cuối đời con, để con luôn biết yêu thương giúp đỡ mọi người với những gì con có thể. (Hosanna)

 

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

G.B. BÙI TUẦN

 

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.

Chắc chắn tôi phải chết. Ðó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Ðâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?

Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Ðã tới lúc vĩnh biệt. Ðã tới lúc ra đi. Ðã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Ðã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.

Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.

Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

1/ Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng đường phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.

Ðể đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Ðón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ðiều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

2/ Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Ðấng sai mình.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Ðức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?

3/ Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Ðấng đã trao cho mình điều răn mới.

Ðiều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: "Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,34).

Ðể hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

 "Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Ðức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa" (1Ga 3,14-19).

"Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Ðây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4,19-21)

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.

Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.

Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.

 

ÐỜI SỐNG VÀ CẦU NGUYỆN

G.B. BÙI TUẦN

Ðời sống của tôi là một chuyến đi. Tôi vẫn mong chuyến đi này sẽ gặp nhiều niềm vui, nhiều bình an, nhiều hạnh phúc. Nhất là tôi mong: Sống sao cho có ý nghĩa, phục vụ tối đa Lời Chúa, đề cao lý tưởng tình Chúa xót thương, tới được Nước Trời, được về với Cha.

Nhưng chuyến đi này không dễ chút nào. Ðã có nhiều điều xảy ra ngoài ý muốn. Ðã có nhiều trở ngại cản trở những ước mơ chính đáng. Ðã có nhiều nguy cơ cố ý đẩy tôi xuống vực thẳm thất bại.

Những kinh nghiệm như thế thúc giục tôi phải hết sức coi chừng. Một trong những việc coi chừng tôi quan tâm nhất, chính là việc cầu nguyện. Cầu nguyện trong mọi nơi, trong mọi việc. Cầu nguyện liên lỉ.

Càng trung thành với việc cầu nguyện, tôi càng thấy ứng nghiệm trong đời tôi những lời Chúa Giêsu đã phán xưa. Chỉ xin nêu lên vài trường hợp.

Có lần các môn đệ Chúa cố gắng trừ quỉ cho một người nó ám, nhưng quỉ nhất định không chịu ra. Ðược tin đó, Chúa Giêsu phán: "Thứ quỉ này không chịu ra khỏi người ta, nếu anh em không đuổi nó bằng ăn chay và cầu nguyện" (Mt 17,21). Ðúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã gặp nhiều tình hình sự ác tung hoành, như dưới quyền thống trị của quỉ dữ Satan. Nhưng nhờ việc cầu nguyện và ăn chay của những người  thiện chí, tình hình đã được sáng sủa trong tình thương của Chúa.

Có lần cảnh báo về những tai hoạ có thể xảy ra bất ngờ, Chúa Giêsu phán: "Anh em phải đề phòng, chớ để mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em... Vậy anh em hãy cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21,34-36). Ðúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã gặp nhiều bất ngờ ác độc khủng khiếp. Nhưng chính nhờ lời cầu nguyện của cộng đoàn đức tin, mà giữa những thử thách đó, cộng đoàn và tôi vẫn trung thành bước đi dưới sự che chở của Chúa.

Ðêm cuối cùng, ở vườn Cây Dầu, khi sắp bước vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã nhắc bảo ba môn đệ: "Sao anh em lại ngủ. Hãy thức dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ" (Lc 22, 46). Ðúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã phải đối đầu với biết bao cơn cám dỗ. Nhiều lúc quá mệt mỏi, muốn trao mình vào giấc ngủ. Nhưng chính nhờ lời Chúa đánh thức lương tâm, tôi chỗi dậy cầu nguyện cùng với Hội Thánh, nên cơn cám dỗ đã trở thành dịp đưa tôi và cộng đoàn tiến lại gần Chúa hơn.

Các ơn tôi nhận được nhờ cầu nguyện không phải chỉ có thế. Thành thực mà nói: Ðối với tôi, cuộc sống là một chuỗi dài những ơn Chúa ban. Ðang khi đó, cầu nguyện được coi là một vấn đề sống còn của cuộc sống. Cuộc sống gắn liền với cầu nguyện. Cầu nguyện đi theo mọi tình huống cuộc sống. Lúc nào cũng cầu nguyện. Sống là cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở của cuộc sống.

Thực vậy, nếu hiện tại của tôi là một chuỗi dài những việc bình thường, tôi sẽ cầu nguyện theo lời thánh Phaolô khuyên dạy: "Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa" (1Cor 10,31). Nghĩa là để tôn vinh Thiên Chúa, tôi cầu nguyện, để ngay trong đời thường và với các việc bình thường, tôi biết sống có chất lượng hơn,  luôn biết có những lựa chọn đem lại nhiều ích lợi hơn cho Hội Thánh và đồng bào, gây được nhiều kết quả hơn cho cánh đồng truyền giáo.

Nếu hiện tại của tôi là những giờ phút nặng nề, những ngày tháng đau đớn, tôi sẽ cầu nguyện như Ðức Kitô xưa: "Bây giờ, tâm hồn con xao xuyến. Con biết nói gì đây. Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này. Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến" (Ga 12,27). "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén đắng này xa con. Tuy vậy, con xin đừng làm theo ý con, nhưng xin làm theo ý Cha" (Lc 22,42). Nghĩa là tôi sẽ rất thành thực nói với Chúa về những yếu đuối của tôi, những nguyện vọng tự nhiên của tôi. Nhưng tôi vẫn xin Chúa cho tôi được ơn vâng theo thánh ý Chúa.

Nếu hiện tại của tôi là tâm trạng chứa đầy tội lỗi, tính mê nết xấu, tôi sẽ cầu nguyện theo gợi ý của lời Chúa xưa: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần. Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,31-32). Nghĩa là tôi sẽ cầu nguyện với lòng tin tưởng vào lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa yêu thương tôi, chính vì tôi là kẻ tội lỗi. Tôi tin Ngài yêu tôi, trước khi tôi trở lại với Ngài. Ơn trở lại chính là ơn biết đón nhận tình yêu của Ngài và ở lại trong tình yêu ấy.

Nếu hiện tại của tôi là tiếp cận với những người nghèo khổ, tôi sẽ cầu nguyện theo tinh thần lời Chúa về ngày phán xét chung: "Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã dọn sẵn cho chúng con từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn. Ta khát, các con đã cho uống. Ta là khách lạ, các con đã tiếp rước. Ta trần truồng, các con đã cho mặc. Ta đau yếu, các con đã viếng thăm... Ta bảo thật các con, mỗi lần các con làm ơn cho những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, thì Ta kể như các con làm ơn cho chính Ta" (Mt 25,34-40).

Nghĩa là, tôi sẽ nhìn những người nghèo khổ như một thứ bí tích, một dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa. Tôi sẽ cầu nguyện với Chúa, để biết mang lại cho những người nghèo khổ sự kính trọng và yêu thương cần thiết.

Trên đây là  một vài chi tiết của cuộc sống cầu nguyện. Thiết tưởng cũng đã đủ để cho thấy: Tình huống nào của cuộc sống cũng nên cầu nguyện và cần cầu nguyện.

Kinh nghiệm đời sống cầu nguyện cho tôi thấy hai điều sau đây:

1/ Nếu chúng ta cầu nguyện thực khiêm nhường, chân thành, sốt sắng, Chúa sẽ làm cho những gì người ta coi như xấu nhất trở thành những vật liệu rất tốt có khả năng góp phần vào việc xây dựng con đường đạo đức, thánh thiện dẫn về Nước Trời.

2/ Nếu chúng ta đừng mất thời giờ theo đuổi những chương trình làm sáng danh Chúa kiểu phô trương chiến thắng, thống kê thành tích, áp đặt đức tin, mà chỉ hết sức quan tâm cầu nguyện để tình yêu cứu độ của Chúa toả sáng qua cuộc sống của ta, cho dù cách kín đáo, âm thầm, khiêm tốn, thì sự cộng tác của chúng ta vào kế hoạch cứu độ  của Chúa sẽ dẫn được nhiều đồng bào Việt Nam hôm nay đi vào con đường đưa tới Nước Trời.

Ai không tin những gì tôi chia sẻ trên đây, xin hãy hỏi những người đã chết. Hãy nghe tiếng các linh hồn người chết. Họ đang kêu gọi chúng ta hãy cầu nguyện. Họ đang nhắc nhủ chúng ta hãy cầu nguyện thực nhiều. Với tinh thần  cầu nguyện, con người sẽ biết nghĩ đúng, chọn đúng, làm đúng, để tới được Nước Trời, gặp được Thiên Chúa là Cha giàu tình thương xót và được ở lại bên Cha muôn kiếp muôn đời.

 

 

THUỐC BỔ HÀNG TUẦN

I.Tia sáng:

v HÃY KHIÊM TỐN, CHÚA KITÔ SẼ NHÓM LẠI LỬA TÌNH YÊU TRONG BẠN

v MỘT LÝ TƯỞNG CAO ÐẸP     

II.Thư giãn:

 

1.                 MIỄN PHÍ

2.                 CÒN XANH

3.                 DỞ TỆ

4.                 MẪU RAO VẶT

5.                 CHIẾN CÔNG

6.                 TÓC CHUNG TÌNH

7.                 TƯỞNG TƯỢNG

III.Chuyện vui suy niệm của AVE JESU MARIA JOSEPH:

v MẶT TRỜI BỊ TRÓI 

IV.Chuyện ngụ ngôn:

v MÈO VÀ CỪU     

V.Hẹn bạn trên đỉnh thành công:

v CHỒNG HÃY "GA LĂNG" VỚI VỢ.  

VI.Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình:

v CÓ NÊN CHO TRẺ ÐI HỌC TRƯỚC TUỔI?

VII.Chuyện phiếm của Phạm Khải:

v TÌNH GIÀ

   

I.     TIA SÁNG :

* Bọn hững hờ không có quyền ngồi với chúng ta. Hãy khiêm tốn, Chúa Kitô sẽ nhóm lại lửa tình yêu trong bạn.

* PHÚC CHO NGƯỜI GIỮ TRONG MÌNH MỘT LÝ TƯỞNG CAO ÐẸP VÀ TUÂN THEO NÓ.

Pasteur. 

Bao giờ ta cũng có một chương trình hành động, một dự phóng cho tương lai. Ðâu là
dự phóng của tôi? Kiếm cho được nhiều tiền ư? Sắm cho được một chiếc tivi mà ai cũng trầm trồ cả sao? Tìm được một cái nghề không phải hao tốn sức lực mấy chăng? Chinh phục cho được một
trái tim để thỏa mãn tính ích kỷ của tôi hay sao? Còn thứ gì nữa? Phải chăng tôi có thể bảo
chương trình của tôi, dự phóng của tôi là một lý tưởng cao đẹp? Phải chăng là cái đẹp đạo đức,
nghĩa là tôi muốn sống hữu ích cho đồng loại hơn là tôi được phục vụ, hiện diện nhiều hơn là sở hữu, yêu mến để nâng cao người thân thương lên, chứ không phải biến họ thành một đối tượng cho
đam mê của tôi, và qua đó Thiên Chúa sẽ tin tưởng tôi nhiều hơn? Tuân theo một lý tưởng đâu có phải là mơ tưởng đến nó không mà thôi, nhưng nó đòi hỏi một công việc nặng nhọc: phải chăng tôi chỉ là một người mơ lý tưởng?

Lạy Chúa, xin ban cho con can đảm tìm hạnh phúc bằng cách thực hiện một lý tưởng cao đẹp.

II.  THƯ GIÃN:

1. MIỄN PHÍ

Trong một phiên xử, quan tòa hỏi bị cáo:

- Anh lấy trộm một triệu để làm gì?

- Ðể trả tiền thuê nhà ạ.

- Thế thì từ nay anh khỏi phải trả tiền nhà trong một năm.

2. CÒN XANH

Hai người điên đi dạo trong vườn hoa dưỡng trí viện. Thấy hai con két một màu đỏ, còn một con màu xanh đậu trên cành cây. Bỗng một anh điên đề nghị:

- Chúng mình leo lên bắt nó đi, đem về nấu ăn.

- Bắt con màu đỏ thì được nhưng để con màu xanh kia lại...

- Sao vậy?

- Nó còn xanh chưa ăn được.

3. DỞ TỆ

Người bố hỏi đứa con nhỏ mới đi xem xiếc về:

- Sao? Hôm nay con xem xiếc thấy thế nào? Thích chứ?

- Vâng. Con rất thích bố ạ! Chỉ trừ có màn ném dao là dở. Chẳng có lần nào ném trúng cô gái cả!

4. MẪU RAO VẶT

Viên chủ bút bảo cô thư ký:

- Cô đánh máy ngay cho tôi mẫu rao vặt này: "Tòa soạn chúng tôi cần gấp một nam phóng viên..."

Cô thư ký vừa đánh máy vừa lẩm bẩm lập lại:

- "Tòa soạn chúng tôi cần gấp một nam phóng viên đẹp trai, khỏe mạnh để..."

Viên chủ bút nhún vai nhắc:

- "Ðể giúp việc cho cô thư ký!".

5. CHIẾN CÔNG

Một ông lão từng là cua-rơ chạy đua khoe với các cua-rơ cháu chắt về thời vàng son oanh liệt của mình:

- Ta còn nhớ hồi còn trẻ, ta đã chạy bộ 50 cây số để cho cái thằng cướp người tình ta một cái bợp tai.

 

- Thế sau đó, ông cũng lại chạy bộ về à?

- Không! Ta về bằng... xe cứu thương.

6. TÓC CHUNG TÌNH

Một chàng sắp cưới vợ đến hỏi một nhà báo phụ trách mục "gỡ rối tơ lòng".

- Thưa ông, theo ông thì phụ nữ tóc màu gì chung tình nhất? Tóc đen, tóc vàng hay tóc nâu...?

- Ồ! Cái đó... theo tôi thì chỉ có phụ nữ tóc bạc là chung tình nhất.

7. TƯỞNG TƯỢNG

Chuẩn bị khai mạc phòng tranh, họa sĩ phấn khởi nói với vợ:

- Bà xem, cái bức màu đen tuyền này sẽ gây kinh ngạc cho tất cả khách mời của chúng ta! Khi đứng trước nó, chắc chắn họ sẽ liên tưởng ngay đến... cảnh tình tứ muôn đời của con người trong những đêm... không trăng sao! Còn bức màu trắng toát kia, nó giúp cho trí tưởng tượng
mọi người bay bổng tới các miền địa cực băng giá. Nơi chỉ có... tuyết trắng, gió và sự tịch mịch...
Bà ... hiểu tôi chớ?

- Hiểu! Bà vợ thở hắt ra vẻ mệt mỏi, tiếp - Và tôi giờ đây cũng đang... tưởng tượng đến cái cảnh vắng vẻ, tịch liêu và... tăm tối của phòng tranh mình trong những ngày sắp tới!!

III.                       CHUYỆN VUI SUY NIỆM :

MẶT TRỜI BỊ TRÓI

Theo một câu chuyện Ấn Độ, tại Trichinapoli có một tiểu vương tính khí nóng nảy,
bất thường và độc tài đến độ không ai có thể tới gần để bàn bạc góp ý.

Ngày nọ, từ sân thượng của hoàng cung nhìn xuống, mắt ông bỗng dừng lại trên
dòng sông Tavori đang chảy lững lờ. Ông nói với quan đại thần như sau:

-Khanh hãy nhìn dòng sông của chúng ta. Tiếc quá, Nước của nó phải chảy đi hết mà không dừng lại trong vương quốc của ta. Khanh hãy nói cho ta biết sau khi chảy qua
vương quốc của ta, dòng sông này sẽ chảy vào nước nào?

Quan đại thần trả lời:

- Tâu bệ hạ, dòng sông của chúng ta sẽ chảy qua nước Tangio.

Nghe thế, nhà vua liền phán:

Trẫm không muốn cho nước của dòng sông này chảy qua cái nước khốn kiếp ấy. Trẫm ra lệnh hãy xây đập ngăn nước lại, nếu khanh không làm được việc này, trẫm sẽ ra lệnh lấy đầu khanh.

Biết đây là một hành động ngu xuẩn và thất đức nhưng quan đại thần cũng đành
huy động toàn dân xây đập giữ nước lại. Nhưng khi vừa xây xong đập thì cả vương quốc lại chìm đắm trong một họa. Nước dâng lên làm hư hại mùa màng và gây ra đủ mọi tật bệnh.

Trước tiếng kêu ca than khóc của thần dân, nhà độc tài vẫn làm ngơ giả điếc. Sau nhiều đêm suy nghĩ cuối cùng quan đại thần mới nghĩ ra một giải pháp. Ông cho tập trung binh sĩ cầm canh lại và ra lệnh thổi loa báo hiệu giờ sớm hơn mọi khi. Thế là mới hai giờ khuya mà binh sĩ đã báo hiệu sáu giờ sáng.

Thức giấc mà vẫn còn ngái ngủ, nhưng nhà độc tài đinh ninh là đã sáu giờ sáng. Ông được quan đại thần cho biết mặc dù đã sáu giờ sáng nhưng mặt trời không thể mọc lên được vì bị vương quốc Tangio ở phía đông giữ lại.

Nghe thế, nhà vua muốn xua quân sang tấn công nước Tangio. Nhưng nhìn xuống
chỉ thấy toàn là nước ông đành thở dài và bỏ ý định. Bấy giờ, quan đại thần liền đề nghị:

- Chỉ có một giải pháp là chúng ta phải phá đập nước chảy xuống Tangio và họ cũng sẽ cởi trói để mặt trời mọc lên cho chúng ta.

Nhà độc tài không còn chọn lựa nào khác, ông ra lệnh mở đập nước trở lại bình thường, bao nhiêu sự đều được cuốn đi. Toàn dân hớn hở vui mừng và mặt trời cũng vừa ló dạng.

Trái đất có vận chuyển, trái đất mới mang lại sự sống. Nước có chảy, nước mới nên tinh tuyền. Máu có chảy lưu, máu mới làm cho con người được sống. Vận hành, trao đổi là định luật cơ bản của cuộc sống trên mọi qui mô.

Trong quan hệ quốc tế giữa các nước, những chế độ độc tài thường tự cô lập và do đó cũng đưa đất nước đến chỗ dịêt vong.

Trong quan hệ giữa người với người, sự khép kín và thái độ ích kỷ là nhà mồ chôn chặt con người trong cô đơn.

Hơn ai hết, người tín hữu Kitô hẳn phải thấy được giá trị của định luật trao ban trong cuộc sống. Qua những lời giảng dạy qua cuộc sống và cuối cùng là bằng cái chết trên thập giá. Chúa Giêsu đã muốn chứng minh cho con người thấy rằng sống đích thực là sống trao ban. Càng trao ban càng nhận lãnh, càng mất mát thì càng tìm lại được bản thân.

Giá trị đích thực của con người không hệ tại ở những gì con người có hay đạt được bằng tài trí nhưng chính là ở tình yêu mà con người trao ban. Cho thì có phúc hơn là nhận. Đó là niềm hạnh phúc mà chúng ta phải không ngừng cầu xin để cảm nhận được qua những san sẻ, trao ban của chúng ta.

IV.   TRUYỆN NGỤ NGÔN:

MÈO VÀ CỪU 

 

Có một bác nông dân nuôi một con cừu và một con mèo. Khi bác đi làm về, mèo chạy ra đón, liếm tay, liếm chân nhảy lên lưng cọ người vào bác. Bác vuốt ve mèo cho ăn bánh. Cừu cũng muốn được người ta âu yếm vuốt ve và cho ăn bánh. Thấy bác nông dân từ ngoài ruộng trở về, cừu cũng vội chạy ra đón bác, liếm tay cọ vào chân bác. Bác nông dân thấy nực cười, và bác xem còn chuyện gì tiếp theo nữa. Cừu đi quanh ra phía sau, rướn mình nhảy lên lưng bác, nó xô bác ngã dúi, ngã dụi. Con trai bác thấy cừu xô bố ngã, liền chộp lấy cái roi quất cho cừu một trận nên thân.

V.  HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:

Theo bản tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar

Biên soạn: ÐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU - DƯƠNG ÐÌNH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN –
NGUYỄN VĂN DIỄM

CHỒNG HÃY "GA LĂNG" VỚI VỢ

1/ Hãy chiều vợ bằng những cử chỉ nho nhỏ nhưng đầy ý nghĩa với phụ nữ như mở cửa xe, giữ chỗ, nắm tay đi phía ngoài lúc dạo phố.

2/ Kể cho vợ nghe những tin tức sốt dẻo hoặc những điều hứng thú trong việc làm ăn của mình.

3/ Khi đi dự bất cứ buổi lễ nào, hãy luôn ở bên vợ. Nhớ lại xem trước khi kết hôn bạn đã hãnh diện tới đâu mỗi khi được ở bên nàng?

4/ Chớ bao giờ, phải, chớ bao giờ mang vợ ra đùa cợt. Ðó là điều tệ hại nhất. Sau khi người nghe đã cười thỏa thích, niềm vui của bạn cũng qua, thì vợ bạn bị thương tổn nặng nề. Nếu chịu khó suy nghĩ một chút, tất bạn đã chẳng phải trả giá cho trò đùa có hại này. Trái lại, bạn nên làm ngược lại, nghĩa là hãy khen ngợi vợ bạn như chính bạn thích được khen vậy.

5/ Phụ nữ cần được an tâm nhiều hơn đàn ông. Hãy luôn nhắc với vợ rằng nàng không chỉ là người đáng ước mơ mà còn cần thiết và quí giá nữa. Ðời sống tình cảm và sự an tâm của vợ bạn sẽ tăng triển mạnh khi từ "yêu dấu" được lặp đi lặp lại (vợ bạn cần và muốn nghe điều đó hơn bạn muốn nói nhiều).

6/ Gánh đỡ việc nhà cho vợ. Không kể đến phong trào đòi nữ quyền, tôi tin rằng bản chất con người đòi ta phải chia sẻ trách nhiệm với nhau. Chẳng hạn, mỗi khi vợ đi chợ sắm sửa, nếu có nhà, bạn hãy ôm đồ tiếp vợ. Người đàn ông nên làm những việc nặng nhọc trong nhà như đổ rác, cắt cỏ... Hãy nhớ rằng ngôi nhà là tòa lâu đài của bạn. Lâu đài tất phải có vua, mà có vua thì phải có hoàng hậu. Vợ bạn sẽ rất sung sướng được làm hoàng hậu nếu bạn cư xử với nàng như vậy.

VI.TÌNH YÊU – HÔN NHÂN – GIA ĐÌNH: 

(Khoa Học Phổ Thông số 745, trang 2)

 

CÓ NÊN CHO TRẺ ÐI HỌC TRƯỚC TUỔI?

Ðây là vấn đề không mới. Năm nào cũng vậy, khi mùa khai trường sắp tới phụ huynh của một số trẻ chưa đủ tuổi vào lớp 1, nhưng đã biết đọc, biết viết, biết làm tính, thuộc làu bản "cửu chương", lại "chạy đôn", "chạy đáo" để cho con được nhập học. Ðã có không ít những ý kiến cho rằng, ngành giáo dục cứng nhắc giữ nguyên tắc đúng tuổi mới được nhập học. Những năm gần đây, trẻ đi học trước tuổi phải qua trắc nghiệm tâm lý, trí tuệ và phải đạt yêu cầu trẻ có chỉ số thông minh cao, tâm lý ổn định... Nói chung là đứa trẻ ấy phải vượt trội các bạn cùng trang lứa về chỉ số thông minh, óc quan sát, phân tích và khả năng tập trung , tư duy...

Vậy, như thế nào là trẻ thông minh?

Nhà Tâm lý - Giáo dục học Quang Dương cho biết, mỗi đứa trẻ đều tiềm ẩn ít nhiều tư chất trí thông minh cơ bản. Tư chất đó được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Có trẻ nhạy bén với các kỹ năng thao tác, thực hành. Nhưng lại có trẻ biểu hiện sự lanh lợi trong tư duy trừu tượng, giàu trí tưởng tượng, biết phân tích, tổng hợp sâu sắc và biểu đạt những tư duy ấy bằng cách nói gãy gọn, khúc chiết... Cũng có những trẻ thể hiện trí thông minh của mình trong nghệ thuật, sáng tạo hình tượng...

Nhưng, trí thông minh lại bị giới hạn ở từng con người cụ thể, không có cá nhân nào đạt tuyệt đối ở mọi lĩnh vực, mà chỉ là tương đối. Vấn đề là phát triển trí thông minh đó như thế nào?

Thực tế, không thể trông cậy, phó mặc cho "thông minh vốn sẵn tính trời", mà nó cần được chăm sóc, rèn luyện, phát triển đúng cách. Nếu không như thế, "cái thông minh trời cho" ấy sẽ bị mai một hoặc lạc hướng.

Thật vậy, cảm xúc trí tuệ rất cần cho trí thông minh. Thiếu nó, trí thông minh sẽ bị biến dạng theo hướng thiếu nhân bản, trở nên ranh mãnh, láu cá... trí thông minh nhân bản được hiểu một cách giản dị là có trí tuệ, có cảm xúc nhân văn. Nó mang lại lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Có thể chia trí thông minh ra 2 loại chính:

Trí thông minh vị kỷ (đặt quyền lợi cá nhân lên trên hết) và vị tha (biết hy sinh cho xã hội, nghĩ tới lợi ích của người khác).

Hiện nay, thế giới coi trọng chỉ số thông minh IQ bằng chỉ số tình cảm, quan trọng đến cái nhân, cái nghĩa của con người. Ðiều này phù hợp với triết lý phương Ðông: người có trí tuệ trước hết phải có nhân nghĩa. Vì vậy, muốn là người thông minh phải biết trau dồi, mài sắc trí tuệ theo hướng vị tha. Còn trí thông minh vị kỷ có hại nhiều hơn là ích lợi.

Trẻ sớm biết đọc, biết viết có tư chất thông minh?

Ông Quang Dương là người trực tiếp thực hiện trắc nghiệm hàng trăm trường hợp ở cả 2 cơ sở: Viện Khoa học giáo dục phía Nam và phòng trắc nghiệm chẩn đoán tâm lý và tư vấn giáo dục thuộc Hội Tâm lý - Giáo dục học Tp. Hồ Chí Minh. Theo ông Dương, trẻ lên 3 biết đọc có thật nhưng chưa đủ dữ kiện để kết luận là trẻ thông minh. Bởi vì, tuy biết đọc, nhưng trẻ không hiểu được
cấu trúc từ ngữ, chỉ nhớ một cách máy móc. Khi đảo từ, đảo vần không đọc được và cũng không hiểu được nghĩa. Mặt khác, vốn từ ngữ của trẻ còn nghèo, vốn hiểu biết chưa tích lũy được nhiều.

Ở đây, không khẳng định trẻ sớm biết đọc là không thông minh. Trí nhớ tốt là một trong những đặc điểm của trí thông minh. Phụ huynh nên cho trẻ đi trắc nghiệm để xác định hướng phát triển trí thông minh đúng đắn, tránh ngộ nhận mà ép con học sớm, học nhiều. Ðiều đó sẽ gây mệt Trí và "lụt" đi "sức bật" của trẻ.

Nếu như trắc nghiệm chỉ số IQ cao hơn 120, nên cho trẻ đi học sớm. Còn IQ dưới 120 thì không nên, vì có hại nhiều hơn lợi ở mọi mặt. Bắt trẻ đi học sớm không phù hợp tâm sinh lý của trẻ (tuổi chơi nhiều hơn, thời gian tập trung không dài) việc giờ chơi bị giảm đi, sẽ làm trẻ thấy việc học là hết sức nặng nề, chán chường, không thích thú, tạo tâm lý sợ bất lợi cho trí tuệ lâu dài. Ðến một lúc nào đó, trẻ không thể tiếp thu kiến thức nhanh, ảnh hưởng tới học vấn.

Cha mẹ thấy con không tiến bộ hoặc ít tiến thì chê bai, gây tâm lý mặc cảm, trì trệ rồi dẫn đến mức lỳ không thiết tha với học hành. Lâu dài, kiến thức bị hổng, thiếu tự tin. Lúc này, giáo dục uốn nắn có nghiêm khắc bao nhiêu cũng trở nên rất khó khăn. Ðây cũng là điều phải trả giá khá nặng nề trong giáo dục gia đình.

Tóm lại, việc cho con đi học trước tuổi là sự nhận thức không thấy cơ sở khoa học của vấn đề. Các bậc cha mẹ không nên ép trẻ đi học sớm, khi không ép được thì mắng mỏ, xúc phạm rồi áp đặt bắt buộc trẻ phải học. Các nhà Tâm lý - Giáo dục học cho rằng giáo dục gia đình như thế là không khoa học. Ðó là chưa tính đến khía cạnh kinh tế, xã hội, khi mà ngành giáo dục còn đang thiếu kinh phí, phòng ốc và giáo viên.

Diệu Hương.

VII.                                            CHUYỆN PHIẾM :

Trích trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ” non

Biên soạn : PHẠM KHẢI

 

TÌNH GIÀ

Cả thị xã biết lão Kình có tiền rừng bạc bể. Từ ngày vợ lão mất, lão có cảm giác không biết dùng tiền vào việc gì. Có hai đứa con gái lão đã lo đủ hai cơ dinh và đủ vốn để làm ăn. Lão Kình chỉ có mỗi việc uống rượu. Càng uống lão càng buồn. Nhưng có nổi buồn khổ chỉ mình lão biết, ấy là bảy mươi tuổi rồi lão vẫn thấy tráng kiện mọi mặt. Mẹ kiếp! Sao mà thằng đàn ông trong lão nó bền bỉ đến thế. Buồn, cô đơn khiến lão Kình nghĩ đến chuyện bồ bịch. Nhưng bảy mươi tuổi như lão thì bất cứ người phụ nữ nào cũng chỉ như con gái, sao khỏi chướng mắt.

Lão kình quyết dằn lòng xuống để giữ tiếng nốt những năm còn lại.

Nhưng nếu lão kình mới chỉ nghĩ trong đầu về một mối tình già, thì có một người đã hoàn chỉnh thành kế hoạch cặp bồ với Lão. Người ấy chính là mụ Phưởng. Biệt danh là Phưởng ”tám hướng mười phường”. Tiếng xấu này do mụ tự tạo ra. Nhưng vì thế mà mụ chỉ “bồ bịch” chứ chưa bao giờ làm vợ ai một cách đàng hoàng.

Mụ Phưởng ở tuổi bốn mươi, nhan sắc còn khá lắm. Mụ lại biết ăn chơi nên nhác trông, thấy ngon nhức mắt. Đố thằng đàn ông nào không nghĩ bậy trong đầu. Biết lão kình hay đi bộ qua vườn hoa để vào quán thịt chó của Hải Phệ, mụ Phưởng chiều nào cũng như có một việc phải cắt qua mặt lão. Thoạt đầu lảo Kình không để ý. Nhưng chiều nào trước mắt lão thân hình mụ Phưởng trong bộ áo chẽn đường nét lồ lộ cũng diễu qua, thì vô tình mấy lão cũng phải để mắt tới.

Một hôm lão Kình suýt đâm sầm vào mụ Phưởng. Mặc dù đã kịp dừng lại nhưng mụ Phưởng vẫn cứ loạng quạng để cuối cùng ôm chầm lấy lão. Thật khéo khi cặp vú thây lây của mụ Phưởng cứ như được trời bưng đặt vào mặt lão Kình khiến máu chảy qua thái dương lão rần rật.

-Em bắt đền anh đấy! - Mụ Phưởng nhìn xuống ngực theo kiểu ”Lạy ông con ở bụi này”.

Cơn sóng tình, dù vớt vét cũng đủ ấm áp trong lòng lão Kình. Quên cả tuổi tác, lão Kình lơi lả:

-Đền gì thì anh cũng đền.

-Đền tình - mụ Phưởng õng ẹo.

-Thật nhá!

-Lấy gì làm cứ.

-Lấy bụi cây kia…hê hê…

-Tưởng… về hưu rồi mà lẳng thế…

Lão Kình như người bị bùa, không nhìn thấy mụ Phưởng là bỏ ăn bỏ ngủ. Biết tin, cả hai cô con gái lão cũng đến quỳ xuống lạy lão:

-Chúng con van bố, sắp trót kiếp rồi đừng lú lẫn thế.

-Sư các chị - lão mắng - cứ một điều thương bố, hai điều thương bố mà chẳng biết bố sống chết thế nào. Tao cô đơn, chúng mày đã biết chưa?

-Mụ Phưởng là con phù thuỷ, bố biết chưa?

-Phù thuỷ chỉ nạt được trẻ con. Bố già rồi, bố cần có người sớm hôm trò chuyện, cơm nước. Chúng mày chờ đấy để mà dạy dì.

Ai ngờ hai cô con gái không phải loại vừa. Cả  hai đều bảo mụ Phưởng muốn về với lão Kình phải bước qua xác hai cô. Vì thế lão Kình chỉ biết vụng trộm. Ở bên ”dì Phưởng”, lão cứ gật đầu tràn như một cái máy, không còn nghĩ được cái gì.

-Cưới em chứ?

Lão gật.

-Em chết có theo không?

Lão gật. Mụ Phưởng áp mặt vào ngực  gã nhân tình già, lòng lạnh như băng nhưng đầu thì sôi lên đủ loại mưu kế. Trước hết, hẵng ”xin” chàng con ”Rim hai”. Thấy lão Kình gói 5 thỏi vào vỏ bao thuốc. Mắt mụ Phưởng còn lóe sáng hơn vàng, cơn mơ này sộp hơn mụ tưởng.

Con ”Rim” còn đang chạy rô đa thì tự dưng mụ Phưởng dắt đến trả lão Kình.

Mắt mụ mọng nước:

-Em cần anh chứ cái cục sắt này, đây thèm vào.

Lão Kình như điên dại bảo mụ Phưởng muốn sao được vậy. Lão càng có chứng cứ để chửi vào mặt hai cô con gái quen thói từ bụng ta suy bụng người. Mặc dù mụ Phưởng chưa bước vào nhà lão nhưng ở một căn phòng ngoại vi thì lão và mụ sống như vợ chồng. Tuy sức tàn lực kiệt nhưng có hơi đàn bà, lão thấy đời có ý nghĩa hẳn lên. Bao nhiêu năm tẩm  đủ thứ thuốc bổ, hẳn là trời có ý từ trước để tặng cho lão người đàn bà phốp pháp này. Nhưng mụ Phưởng cứ đưa lão đến ranh giới lại quay mặt khóc hu hu. Đến lần thứ mười thì lão Kình phát khùng:

-Dì nó giỡn tôi à?

-Ai giỡn ai? Tôi mà buông thả thì mai kia ông quăng tôi ra đường như quăng miếng giẻ, có con chó nào nó nhặt.

-Vậy thì phải thế nào?

-Có chính quyền, có luật pháp. Ông thì vợ chết. Tôi là gái chưa chồng, sợ gì mà không danh chính ngôn thuận ?

-Thì tùy dì. Dì cứ lo liệu theo ý mình.

Mụ Phưởng im lặng rồi móc túi lấy ra tờ giấy:

-Tôi đã chuẩn bị. Nếu ông thiện ý thì ký một chữ vào bản cam đoan này. Từ nay về sau là vợ chồng.

Lão Kình thấy loà nhoà dòng chữ tên lão và dòng dưới là mấy chữ ”vợ tên là
Hoàng Ngọc Phưởng…
” chẳng kịp nghĩ ngợi gì, ký toẹt một chữ, ghi tên. Cả Lão và mụ Phưởng đều được mãn nguyện! Đêm hôm ấy, khi lão Kình đã ngủ như chết trong một ngôi nhà ba tầng, thì mụ Phưởng đang nắn nót viết to chữ di chúc lên đầu tờ giấy. Mụ viết vào chỗ bỏ trống: ”Người thừa kế ngôi nhà ba tầng tại… và tài sản trong đó là bà Hoàng Thị Phưởng người thừa kế duy nhất”. Cất kỹ vào hòm, mụ sung sướng nghĩ: ”Lão già đã kiệt khí huyết, toi đến nơi rồi”.

                                                                                                                                   LÃO TẠ