"Thưa Thầy, xin cho tôi được
thấy" (Mc 10,50)
________________________________________
Bài đọc 1 Gr 31,7-9
Kẻ đui, người què, Ta sẽ an ủi
và dẫn đưa về.
Lời Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
Đức Chúa phán thế này : Reo vui lên mừng
Gia-cóp,hăy hoan hô dân đứng đầu chư dân !Nào loan
tin, ca ngợi và công bố :"Đức Chúa đă
cứu dân Người, số c̣n sót lại của Ít-ra-en
!"Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc
trở về,quy tụ chúng lại từ tận cùng cơi
đất.Trong chúng, có kẻ đui, người què,
kẻ mang thai, người ở cữ :tất cả cùng
nhau trở về, cả một đại hội đông
đảo.Chúng trở về, nước mắt tuôn
rơi,Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng,dẫn
đưa tới ḍng nước, qua con đường
thẳng băng,trên đó chúng không c̣n vấp ngă.V́
đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha,c̣n
đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng. Đó
là lời Chúa.
Đáp ca Tv 125,1-2ab.2cd-3.4-5.6 (Đ. c.3)
Đ. Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy ḿnh chan chứa một niềm vui.
Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,
ta tưởng ḿnh như giữa giấc mơ.
Vang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn ră trên môi khúc nhạc mừng. Đ.
Bấy giờ trong dân ngoại, người ta
bàn tán :
"Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại
thay !"
Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy ḿnh chan chứa một niềm vui.
Đ.
Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối
cạn miền Nam.
Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Đ.
Họ ra đi, đi mà nức nở,
mang hạt giống văi gieo;
lúc trở về, về reo hớn hở,
vai nặng gánh lúa vàng. Đ.
Bài đọc 2 Dt 5,1-6
Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo
phẩm trật Men-ki-xê-đê.
Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do-thái.
Thưa anh em, thượng tế nào cũng là
người được chọn trong số
người phàm, và được đặt lên làm
đại diện cho loài người, trong các mối
tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ
phẩm cũng như tế vật đền tội.
Vị ấy có khả năng cảm thông với những
kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi
v́ chính ḿnh cũng đầy yếu đuối; mà v́
yếu đuối, nên vị thượng tế phải
dâng lễ đền tội cho dân thế nào, th́ cũng
phải dâng lễ đền tội cho chính ḿnh như
vậy. Không ai tự gán cho ḿnh vinh dự ấy, nhưng
phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron
đă được gọi. Cũng vậy, không phải
Đức Ki-tô đă tự tôn ḿnh làm Thượng Tế,
nhưng là Đấng đă nói với Người : Con là
Con của Cha, ngày hôm nay Cha đă sinh ra Con, như lời
Đấng ấy đă nói ở một chỗ khác : Muôn
thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật
Men-ki-xê-đê. Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng x. 2 Tm 1,10
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ
chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đă tiêu diệt thần
chết, và đă dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc
trường sinh. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng Mc 10,46-52
Thưa Thầy, xin cho tôi nh́n thấy
được.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ
đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các
môn đệ và một đám người khá đông ra
khỏi thành Giê-ri-khô, th́ có một người mù đang
ngồi ăn xin bên vệ đường, anh ta tên là
Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su
Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng : "Lạy
ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi !"
Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi,
nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : "Lạy Con vua
Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi !" Đức
Giê-su đứng lại và nói : "Gọi anh ta lại
đây !" Người ta gọi anh mù và bảo :
"Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi
anh đấy !" Anh mù liền vất áo choàng lại,
đứng phắt dậy mà đến gần Đức
Giê-su. Người hỏi : "Anh muốn tôi làm ǵ cho anh
?" Anh mù đáp : "Thưa Thầy, xin cho tôi nh́n
thấy được." Người nói : "Anh hăy
đi, ḷng tin của anh đă cứu anh !" Tức
khắc, anh ta nh́n thấy được và đi theo
Người trên con đường Người đi.
Đó là lời Chúa.
Minh họa
- Mille images 106 C
- "Thưa Thầy, xin cho tôi được
thấy" (Mc 10,50)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Gr 31,7-9) : "Kẻ mù,
người què, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa
về"
- Tin Mừng (Mc 10,46-52) : Đức Giêsu làm cho anh
mù Bartimê được thấy.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện anh mù Bartimê
kêu xin Đức Giêsu "Lạy Thầy, xin cho con
được thấy". Và Đức Giêsu đă
cứu chữa anh. Chúng ta cũng có thể dùng lời
của Bartimê để cầu xin với Chúa, bởi v́
chúng ta cũng mù loà về rất nhiều điều.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Chúng ta mù ḷa không thấy những bằng
chứng của t́nh thương Chúa rất nhiều chung
quanh chúng ta và trong cuộc đời chúng ta.
- Chúng ta mù ḷa không thấy những cảnh
khổ của anh chị em chúng ta.
- Chúng ta mù ḷa không thấy lỗi lầm
khuyết điểm của chúng ta.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Gr 31,7-9)
Ngôn sứ Giêrêmia nói tiên tri về thời
giải phóng. Khi đó Thiên Chúa sẽ đưa dân từ
chốn lưu đày trở về quê hương ; tất
cả những người đau khổ, mà đại
biểu là những người mù, què, tàn tật sẽ
được cứu chữa.
2. Đáp ca (Tv 125)
Bài ca mừng cuộc giải phóng khỏi
kiếp lưu đày.
3. Tin Mừng (Mc 10,46-52)
Liền sau chuyện Giacôbê và Gioan xin địa
vị ưu tiên trong "nước" Đức Giêsu
sắp thành lập, Mc viết tiếp chuyện anh Bartimê
như để "sửa lưng" các môn đệ.
Bartimê là tấm gương cho tất cả những ai
muốn "thấy" Đức Giêsu thực sự là
ai và thực ḷng muốn "đi theo" Ngài.
- Mặc dù mù, nhưng anh tha thiết "xin cho
tôi được thấy", và cuối cùng anh đă
thấy. Khi thấy rồi, anh c̣n "đi theo"
Đức Giêsu lên Giêrusalem (ở đó Ngài sẽ chịu
nạn chịu chết và sống lại).
- Trước đó, khi được
Đức Giêsu gọi, anh đă từ bỏ
("liệng áo choàng"), thay đổi nếp sống
(từ "ngồi ở vệ đường"
đến "đứng dậy"), quy hướng
về Đức Giêsu ("nhảy đến với
Đức Giêsu").
4. Bài đọc II (Dt 5,1-6) (Chủ đề
phụ)
Tác giả thư Do thái tiếp tục suy tư
về vai tṛ của Vị Thượng Tế người
phàm : (1) Vị đó được chọn từ giữa
loài người, (2) để đại diện cho loài
người trong các tương quan với Thiên Chúa. (3) V́
cũng mang thân phận loài người tội lỗi, nên
chẳng những vị ấy dâng lễ đền
tội cho dân, mà c̣n phải dâng lễ đền tội cho
chính ḿnh.
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Sáng đôi mắt đức tin
Một nhóm sinh viên tổ chức tham quan mỏ
than Scottish ở Anh Quốc. Mỗi sinh viên được
phát một nón bảo hộ của thợ mỏ,
đằng trước nón có gắn bóng đèn nổi
với một b́nh điện đeo ở thắt lưng.
Người hướng dẫn đưa
họ vào buồng thang máy xuống tận đáy hầm
than. Tới nơi, ông đề nghị các sinh viên bật
đèn trên nón bảo hộ v́ con đường dẫn
đến khu khai thác tối đen như mực. Mái ṿm
chỉ cao một mét hai, nên mọi người phải cúi
rạp xuống khi di chuyển. Than được chở
trên băng tải và đổ vào các toa trên
đường ray.
Ngay trước khi nhóm sinh viên đến khu khai
thác, người hướng dẫn nói : "Các bạn hăy
tắt tất cả các đèn trên nón". Mọi
người đều làm theo. Trong tăm tối,
người thợ mỏ nói : "Hăy cố gắng nh́n
kỹ vào ngón tay của bạn". Chẳng ai thấy ǵ
cả. Một vài người bắt đầu sợ hăi.
Rồi người thợ mỏ nói một câu mà các sinh
viên không bao giờ quên được : "Đây là t́nh
trạng của những người mù". Tất cả
sinh viên đều hiểu ra. Bị mù th́ không bao giờ
thấy được ánh sáng hoặc bất cứ
thứ ǵ khác. Họ cũng hiểu tại sao những
người thợ mỏ lại thích bầu trời trong
xanh và ánh nắng rực rỡ của mặt trời.
*
"Có đau mắt mới biết thương
người mù". Các sinh viên trong câu chuyện trên đây
đă cảm nghiệm trong giây lát nỗi khổ của
người mù. Họ không chỉ khổ nơi thân xác mà
c̣n khổ trong tâm hồn. Quả thật, người mù
đă không được nh́n thấy ánh sáng mặt
trời, không được nh́n ngắm người thân
bạn bè, mà c̣n bị mặc cảm lệ thuộc kẻ
khác, sống bên lề xă hội.
Hôm nay Đức Giêsu chữa người hành
khất mù Báctimê. Anh mù loà, "ngồi bên vệ
đường" ăn xin, nghe biết Đức Giêsu
đi qua, anh thống thiết kêu van : "Hỡi ông Giêsu,
con vua Đavít, xin thương xót con" (Mc.10,47).
Người ta ngăn cấm anh, nhưng anh càng tin
tưởng kêu to hơn : "Hỡi con vua Đavít, xin
thương xót con". Người cho gọi anh, anh sung
sướng, liệng áo choàng, đứng phắt dậy,
đến cùng Người : "Lạy Thầy, xin cho con
được sáng" ( Mc.10,51). Tức th́ anh ta thấy
được.
Và khuôn mặt đầu tiên anh nh́n thấy chính
là Đức Giêsu, Đấng đă đến để
thắp sáng đời anh. Người phán :
"Đức tin của anh đă chữa anh" (Mc.10,52).
Đích thực, Báctimê đă mù đôi mắt
thể xác, nhưng lại sáng đôi mắt Đức tin,
v́ anh đă thấy Đức Giêsu là Đấng Cứu
Thế khi gọi Người là "con vua Đavít".
Báctimê đă mù đôi mắt thể xác, nhưng
lại sáng đôi mắt tâm hồn, v́ anh đă thấy
Đức Giêsu là người có quyền chữa anh
khỏi bệnh mù loà.
Với đôi mắt đức tin, anh đă
chẳng sợ người ta cấm cản. Càng đe
dọa, anh càng lớn tiếng kêu xin thống thiết
hơn.
Với đôi mắt đức tin, anh đă
liệng bỏ áo choàng là phương tiện để
nhận quà tặng, cởi bỏ đời sống ăn
xin, từ bỏ thân phận mù loà, rũ bỏ đời
sống tối tăm, đến miền ánh sáng t́nh yêu và
sự sống.
"Lạy Thầy, xin cho con được
thấy". Đó phải là lời cầu xin hằng ngày
của mỗi người chúng ta. V́ sẽ có những lúc
chúng ta không thấy, hoặc cố ư không muốn thấy.
Có những lúc chúng ta thấy mặt này mà chẳng thấy
mặt kia. Mù loà thể xác ai cũng biết, nhưng mù loà
tâm hồn th́ không dễ nhận ra. Nên chúng ta hăy xin Chúa xóa
cảnh mù loà cho ḿnh. V́ chỉ "trong ánh sáng của Chúa,
chúng ta mới nh́n thấy ánh sáng".
*
Lạy Chúa,
Xin cho mắt tâm hồn chúng con được
sáng, để chúng con thấy Chúa là tất cả, thấy
anh em thật dễ mến dễ thương, và thấy
ḿnh càng nhỏ bé đi, trong bàn tay yêu thương của
Chúa. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
* 2. Thị giác và thị lực
Cần phải phân biệt thị giác và thị
lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt
có thể thấy. Thị lực là mức độ
thấy của khả năng ấy : nhiều hay ít, xa hay
gần, rơ hay mờ v.v. Người cận thị chỉ
thấy được rất gần ; người
viễn thị th́ thấy xa hơn. Thí dụ này giúp ta
hiểu rằng chỉ có thị giác thôi th́ chưa
đủ, mà c̣n phải có thị lực tốt.
Hiểu rộng hơn một chút, thị
lực không phải chỉ là mức độ thấy
của đôi mắt, mà c̣n là của trí óc và của con tim.
Có người chỉ thấy được cái thế
giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân ḿnh ;
có người thấy được hoàn cảnh, tâm
tư và nguyện vọng của người khác.
Đức Giêsu là người có thị lực
rất tốt : Ngài thấy Natanael đang ngồi
dưới gốc cây vả trước khi ông t́m
đến với Ngài ; Ngài thấy tấm ḷng của
một bà goá dâng hai xu trong thùng tiền đền thờ ;
Ngài thấy cơi ḷng tan nát của người phụ nữ
ngoại t́nh bị lôi đến sân đền thờ
để chịu xét xử v.v.
Anh chàng Bartimê trong bài Tin Mừng hôm nay tuy mù
nhưng cũng có thị lực tốt v́ anh đă thấy
được Đức Giêsu là Đấng Messia "Con
Vua Đavít".
Không phải chúng ta có đôi mắt tốt th́
đương nhiên chúng ta có thị lực tốt đâu.
Vậy chúng ta hăy xin với Đức Giêsu : "Thưa
Thầy xin cho con được thấy".
3. Đứng trước một người
tàn tật
Đoạn Tin Mừng của Thánh Marcô kể
chuyện CG cứu chữa một người mù có thể
gợi lên vài suy nghĩ :
1. Ở đời chúng ta thấy có nhiều người tàn tật : có người th́ mù, có người th́ què, có người th́ câm, có người th́ rối loạn thần kinh... Trong số họ, có những kẻ bị tàn tật v́ do một tai nạn, nhưng cũng có rất nhiều người bị tàn tật như thế ngay từ lúc mới sinh.
Đứng trước những người tàn
tật ấy, người ta có thể có nhiều thái
độ khác nhau : trẻ con th́ vô tâm đến tàn
nhẫn và chọc ghẹo những người đó
"1,2,3 thằng cha bán kẹo què gị, c̣n một gị đi
kéo xe lôi" ; những kẻ có ḷng hơn th́ không nở
chọc ghẹo nhưng ngậm ngùi tội nghiệp thông
cảm ; người thân của kẻ tàn tật th́ đau
khổ xót thương : năm 1962, tại thành phố Liège
nước Bỉ có một bà mẹ sinh ra một
đứa con h́nh dáng không ra con người mà là giống
như một con vật. Bà đau đớn quá và giết
chết đứa con ấy đi. Người ta đem bà
ra toà v́ tội giết con. Nhưng toà án tha bổng v́ thông
cảm với nỗi đau khổ của bà và nỗi
đau khổ của đứa con ấy nếu nó
sống và phải gánh chịu.
Nhưng ngoài những thái độ chọc
ghẹo, tội nghiệp và thương xót đó,
người tín hữu chúng ta c̣n có thể có suy nghĩ nào
hơn nữa không ? Thưa có, đó là suy nghĩ về
cuộc đời và những bất công của cuộc
đời. Cuộc đời này quả thực có
nhiều bất công : có người sinh ra th́ mạnh
khoẻ xinh đẹp, có người sinh ra th́ tàn tật
xấu xí. Có kẻ sinh ra đă nằm sẵn trong một
gia đ́nh giàu có, địa vị ; c̣n có kẻ sinh ra
nhằm một gia đ́nh cơ cực túng thiếu.
Một người vừa mới sinh ra đă mạnh
khoẻ, thông minh và thuộc một gia đ́nh giàu có th́
hầu như sẽ rất dễ thành công trong đời
; c̣n một người sinh ra mà tàn tật, ngu đần
lại nghèo khổ nữa th́ rất khó mà ngóc đầu lên
được trong xă hội. Thử hỏi những
kẻ xấu số đó bản thân của họ có làm ǵ
nên tội mà phải gánh chịu những thiệt tḥi
như vậy ? Họ không có tội nhưng họ phải
chịu thiệt tḥi, đó là một sự bất công.
Mà bất công th́ đ̣i hỏi phải sửa
lại cho công bằng. Nhưng có những trường
hợp không thể sửa lại cho công bằng
được. Chẳng hạn trường hợp cái
quái thai do bà mẹ người Bỉ kia sinh ra, người
chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm. Bà
mẹ ấy đă giết nó chết đi, như thế
có phải là công bằng không ? chắc chắn là không. C̣n nếu
không giết chết nó th́ phải nuôi sống nó, nuôi
thật chu đáo, đầy đủ, cưng chiều nó
đủ thứ, nhưng như thế có phải là công
bằng chưa ? Cũng chưa v́ chăm sóc chiều
chuộng bao nhiêu đi nữa cũng chỉ là xoa dịu
phần nào những đau khổ của nó mà thôi, chứ
không thể nào bù đắp được những
thiệt tḥi cho nó bằng một người b́nh
thường không tàn tật. Bất công cũng vẫn c̣n
là bất công thôi.
Nhưng chính những cái bất công ở
đời này và sự bất lực không tạo
được sự công bằng ở đời này
đă giúp cho chúng ta tin rằng phải có một thế
giới công bằng ở đời sau. Bởi v́ nếu
tất cả đều kết thúc ở đời này th́
thật là chua xót quá đối với những kẻ
xấu số tàn tật, thà họ không được sinh
ra c̣n hơn. Thiên Chúa, Đấng đă tạo dựng nên
họ không thể nào tàn nhẫn quá đến nỗi
tạo ra họ chỉ là để cho họ chịu
khổ đau. V́ thế mà chắc chắn phải có
một cơi đời sau, khi đó mọi bất công sẽ
không c̣n, những thiệt tḥi sẽ được bù
đắp xứng đáng, và công b́nh sẽ được
thực hiện trọn vẹn.
Đó là ư nghĩa của những lời cầu
nguyện đầy tin tưởng mà những kẻ
xấu số đă kêu lên trong thánh vịnh 125 : "Lạy
Chúa, xin hăy đổi số phận cho con, như những
ḍng suối ở miền Nam. Ai gieo trong lệ sầu,
sẽ gặt trong hân hoan". Mà cũng là ư nghĩa lời
hứa hẹn ngầm của CG khi ra tay cứu chữa anh
Bartimê khỏi bị mù trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng là
điều mà tiên tri Giêrêmia tiên báo trong bài thánh thư hôm nay
"Ta sẽ lấy ḷng từ bi mà dân dẫn dắt
những kẻ đui mù què quặt..."
Tóm lại, những cảnh bất công ở
đời vừa làm cho ḷng ta thương cảm, mà
cũng vừa giúp chúng ta tin chắc rằng phải có
một cơi đời sau, công bằng hơn, hoàn hảo
hơn và hạnh phúc hơn. Ở đời này có một
số bất công mà con người không thể nào bù đắp
cho công bằng được, như tàn tật chẳng
hạn.
Nhưng chính các bất công không bù đắp
được mấy khiến loài người mơ
tối một cơi đời khác sẽ không c̣n bất công.
Và qua phép lạ cứu chữa một
người mù, CG cho thấy rằng quyền năng TC có
thể tạo ra một cơi đời như thế.
Như vậy phép lạ này là một bằng
chứng về cơi đời sau. Đó là niềm tin
của người Công giáo chúng ta.
* 4. Tâm sự của một người mù
Helen Keller bị mù và điếc từ lúc
mới 19 tháng tuổi. Cô tâm sự như sau :
Một hôm, một người bạn của tôi
vừa đi dạo trong rừng trở về. Tôi hỏi
xem cô ấy đă thấy những ǵ. Cô bạn đáp :
"Chẳng có ǵ đặc biệt cả".
Tôi rất ngạc nhiên và tự nhủ "Không
thể nào như thế được". Bản thân tôi
đây, vừa mù vừa điếc, thế mà chỉ
với đôi tay sờ soạng, tôi vẫn cảm nhận
được hàng trăm điều thích thú quanh tôi. Tôi
cảm thấy được h́nh dáng dễ thương
và sự mềm mại của chiếc lá. Chỉ cần
đặt bàn tay lên cành cây nhỏ đang rung rinh là tôi
cảm nhận được tiếng hót líu lo của con
chim nhỏ đang đậu trên đó.
Bất hạnh lớn nhất không phải là
bị mù, mà là có mắt nhưng không nh́n thấy.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến,
người mù ăn xin đă cảm nghiệm tất
cả mỗi khốn cùng của ḿnh, nên khi gặp
Đức Giêsu, anh đă van nài Chúa thương xót. Chúng ta
hăy van nài xin Chúa thương xót chúng ta :
1. Xin cho mọi người trong Hội thánh luôn
trở thành ánh sáng đem lại hy vọng / cho những
người đang sống trong bóng tối của lầm
lạc và thất vọng.
2. Xin cho các nhà cầm quyền trong xă hội /
biết lo lắng cho những người mù ḷa bệnh
tật / để giúp họ được chữa lành /
hoặc được sống trong niềm vui và hạnh
phúc.
3. Xin cho những người bị đui mù
cả phần xác lẫn phần hồn / được
có dịp gặp gỡ Đức Giêsu / và được
Đức Giêsu thương chữa lành.
4. Xin cho anh chị em giáo hữu trong xứ
đạo chúng ta luôn ư thức rằng / bệnh đui mù
phần hồn c̣n tai hại hơn đui mù phần xác /
để luôn nài xin Chúa ǵn giữ ḿnh thoát khỏi căn
bệnh tai hại ấy.
Chủ tế :
Lạy Chúa, đức tin của chúng con c̣n yếu kém và
nhiều khi c̣n mù quáng, chúng con nài xin Chúa thương ban thêm
đức tin, để chúng con trở nên đèn sáng
dẫn đường cho mọi người đến
với Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô...
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay khi
đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hăy đặc biệt xin
Chúa giúp chúng ta không c̣n mù ḷa nữa, nhưng thấy
được thánh ư Chúa Cha trong cuộc đời chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
Sau khi được Đức Giêsu chữa
khỏi mù, anh Bartimê đă nh́n thấy được và
đi theo Đức Giêsu trên con đường Ngài đi.
Chúng ta cũng được Chúa cho thấy con
đường mà chúng ta phải đi để theo Chúa.
Chúng ta hăy hăng hái tiến bước trên con
đường ấy.
Chúa Nhật 30B Thường Niên
Mc 10, 46 - 52
Lm. Nguyễn Khảm
Trong bài hát Kinh Hoà B́nh của thánh Phanxicô Assisi, chúng ta hát lên:
“Lạy Chúa, xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của
Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù,
đem thứ tha vào nơi lăng nhục...” Chúng ta
lại hát tiếp: “Để con dọi ánh sáng vào nơi
tối tăm, đem niềm vui đến chốn u
sầu”.
Lời kinh này không chỉ là một lời cầu
nguyện mà c̣n là một lời kinh diễn tả lối
sống đích thực của mỗi người Kitô
hữu. Như vậy bổn phận của ḿnh không
phải chỉ là đem yêu thương vào nơi oán thù mà
c̣n phải dọi ánh sáng vào nơi tối tăm.
Có một câu chuyện kể như thế này:
Một anh mù đi thăm một người bạn. Đă lâu
không gặp nên đôi bạn hàn huyên măi quên cả thời
gian. Khi trời tối mịt th́ anh mù mới cáo từ ra
về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh
cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là
bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh muốn đùa
hả? Tôi mù th́ ngày và đêm có khác ǵ nhau đâu”. Anh bạn
vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh,
ư tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta
sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe
nói có lư liền vui vẻ hiên ngang xách đèn ra về. Đi
được một đoạn th́ có một
người đi ngược chiều đụng
phải, làm anh mù ngă xuống vệ đường. Quá
tức giận, anh lồm cồm ngồi dậy chửi
đổng: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn
sáng như thế này mà không thấy hả?”. Người
kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui,
đèn tắt mẹ từ lúc nào mà c̣n chửi người
ta”.
Coi chừng chúng ta lại rơi vào t́nh trạng như
thế. Nếu ḿnh rơi vào t́nh trạng đấy th́
rất nguy hiểm. Làm sao có thể dọi ánh sáng vào nơi
tối tăm khi mà chúng ta không có ánh sáng, hoặc ánh sáng chúng
ta đă bị tắt ngấm từ lâu.
Đặt câu hỏi như thế th́ chúng ta thấy anh mù
Bactimê sẽ trở thành gần gũi với ḿnh hơn.
Anh ta không c̣n là khuôn mặt xa lạ của 20 thế kỷ
trước, mà giờ đọc lại ḿnh có cảm
tưởng như là đọc truyện cổ tích. Anh ta
giờ trở thành một khuôn mặt mời gọi ḿnh
suy nghĩ về vấn đề của chính cuộc
đời ḿnh.
Ngày nay người ta nói đến mù chữ, vài năm nay
lại thêm mù vi tính. Một thứ mù về mặt trí
tuệ. Phúc Âm kể cũng có lần Chúa Giêsu mắng các
môn đệ: “Các ngươi có mắt mà cũng như mù”.
Và đây là một thứ mù về mặt tâm linh.
Khi kể câu chuyện này tôi không nhắm đến mù thân
xác, v́ thời đó có rất nhiều người mù,
nhưng Chúa Giêsu không chữa cho tất cả. Ngài chỉ
chữa cho một số người mang tính biểu
tượng. Cũng không phải thánh Maccô nói đến mù
chữ, v́ chúng ta không nghe kể Chúa Giêsu mở lớp t́nh
thương để dạy học. Như vậy
chắc chắn là thánh Macco nhấn mạnh mù về
mặt tâm linh, mù về mặt tinh thần. Ta có thể
hiểu như thế nào về t́nh trạng mù này?
Có một câu chuyện kể về các người mù
rủ nhau đi xem voi. Xem xong th́ cùng nhau ngồi lại bàn
tán, mô tả xem con voi nó giống như cái ǵ?
Anh sờ được cái chân th́ dơng dạc tuyên bố:
con voi nó giống như cái cột nhà.
Anh khác th́ oang oang: con voi nó giống như cái quạt. V́ anh
này rờ được ngay cái tai của nó.
C̣n các anh sờ cái bụng, cái ṿi. Ta không biết họ
sẽ mô tả con voi giống như cái ǵ.
Suy nghĩ kỹ chuyện này th́ thấy cũng thấm
thía lắm. Tôi muốn chia sẻ với anh chị em là:
chúng ta có thể rơi vào t́nh trạng mù về mặt tinh
thần, có nghĩa là ta không nh́n thấy được chân
lư toàn diện về cuộc sống. Ta chỉ nh́n thấy
chân lư phiến diện như anh mù mô tả con voi “nó
giống như cái cột nhà”, như thế là rất
phiến diện.
Từ 30 năm về trước, một nhà xă hội
học Mỹ... đă lên tiếng về con người
thời đại. Ông gọi: “Con người một
chiều kích”. Tôi thấy nhận xét ấy vẫn đúng
cho đến ngày nay và chắc có lẽ càng ngày sẽ càng
đúng hơn.
Cuộc sống con người chúng ta được
đan kết bằng nhiều chiều kích. Có một
chiều kích hướng thượng, ḿnh gọi là
chiều dọc trong mối quan hệ với Thiên Chúa. Có
một chiều kích ngang nữa, trong quan hệ b́nh
đẳng yêu thương đối với mọi
người, và có một chiều quan hệ đối
với thế giới vật chất.
Càng ngày con người ta càng quên mất cái chiều
hướng thượng, quên mất mối quan hệ hàng
ngang với anh em trong t́nh yêu thương, mà chỉ quan tâm
đến quan hệ t́nh bạn với thế giới
vật chất.
“Con người một chiều kích”. Chúng ḿnh không khám phá,
không sống được cái chân lư toàn diện về
cuộc sống của con người. Nguyên nhân nào có thể
dẫn đến t́nh trạng đó.
Trở lại với hoàn cảnh của những anh em
khiếm thị. Hầu hết đều bị mù từ
lúc mới sinh. Có một số do tai nạn sau này. Nếu
hiểu mù là ḿnh không thấy sự vật th́ cũng có lúc
ḿnh cũng không nh́n thấy mặc dù mắt ḿnh vẫn
sáng. Chẳng hạn như có sự cố cúp điện
hay lúc ḿnh bị đau mắt phải lấy khăn che
mắt cho đỡ chói, đỡ nhức. Những h́nh
ảnh ấy khiến tôi nghĩ đến t́nh trạng mù
về mặt tinh thần. Nếu bảo về tinh
thần mù ḷa từ lúc mới sinh th́ không thể tin
được.
Tất cả mọi người đều là h́nh ảnh
của Thiên Chúa, v́ thế Thiên Chúa đều ban tặng cho
mọi người khả năng nhận biết chân lư.
Ta có thể rơi vào t́nh trạng mù tâm linh là do nguyên nhân
thứ 2, thứ 3. Nghĩa là ḿnh thiếu ánh sáng. Do
những hoàn cảnh và những môi trường sống.
Hiểu như vậy, ta thấy rằng hầu hết
chúng ta đều là những người mù đáng
thương về mặt tâm linh. V́ vậy, chúng ta hăy khiêm
tốn chạy đền với Chúa để
người chữa trị. Người sẽ giúp chúng ta
nh́n thấy chân lư toàn vẹn. Người sẽ giúp chúng ta
nhận ra TC là Cha của chúng ta và mọi người là anh
em của ta. Người sẽ giúp ta nhận ra con
đường tiến về nhà Cha trên Trời. Con
đường đó là con đường CGS đă đi
và đă tới đích. Và đó cũng là con
đường hẹp, con đường ngược
dốc, con đường thập giá nhưng là con
đường dẫn đến sự sống vinh quang
và vĩnh cửu. Amen.
Bài
đọc: Gr
31 ; 7-9 : Dt 5 ; 1-6 : Mc 10 : 46-52
MIKE VÀ
NGƯỜI HÀNH KHẤT (Mark Link S.J.)
“ĐỨC TIN
CỦA CON ĐĂ CỨU CON”(N. Quesson)
NH̀N CÁI TỐT
(Gm. Arthur Tonne)......
CON ĐƯỜNG
CỦA NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe
Vulliez
Chủ đề :
Nhiều người cố
gắng đi t́m gặp Chúa Giêsu, nhưng họ bị
cản trở nhiều hơn là được giúp
đỡ, nhất là những người trẻ.
Cách
đây nhiều năm có một đôi vợ chồng
đă gởi lá thứ ngỏ này đến các bậc cha
mẹ và sinh viên của một trường trung học
ở một thành phố phía Nam:
“Các
bạn sinh viên học sinh cùng quí phụ huynh thân mến,
thứ năm vừa qua, chúng tôi mới chôn cất
đứa con trai của chúng tôi. Câu chuyện xảy ra là
hôm thứ ba, nó vào pḥng ngủ của nó và tự sát
bằng cách tự bắn vào thái dương của ḿnh:
viên đạn xuyên thẳng qua óc nó, hầu như không phọt
ra một giọt máu nào nên chúng tôi cũng đỡ
phải đau đớn, Nó tên là Mike, một cậu bé sáng
sủa đẹp trai, thông minh,nhút nhát và học hành lanh
lợi. V́ thế, khi nghe tin nó chết, bạn bè nó đă
gọi điện thoại liên tục đến chia
buồn. người ra
kẻ vào trong nhà liên tục suốt cả ngày. Bản báo
cáo của Coroner cho thấy không hề có dấu hiệu ǵ
liên quan đến ma tuư.
“Thực
sự, Mike có rất nhiều bạn bè, nhưng mỗi
đứa đều có nhận thức riêng của ḿnh
về thực tại - thực tại của riêng ḿnh.
Tối chúa nhật, Mike say rượu và nó đă nói
chuyện lâu giờ với chúng tôi. Đây là lần
đầu tiên chúng tôi nhận ra rằng nhận thức
lạc quan của chúng tôi về t́nh trạng cuộc
đời nó không giống như nhận thức của
nó. Nó rất buồn v́ cảm thấy bạn bè nó chả
quan tâm ǵ đến nó, đang khi chúng tôi lại nghĩ
rằng bạn bè nó rất quan tâm đến nó.
“Chúng
tôi tin rằng tất cả quí bạn đều có thể
giúp Thiên Chúa làm cho thế giới này trở thành một
nơi hạnh phúc hơn. Trong khoảng giữa tuổi 20
và 35, người ta mới bắt đầu cảm
thấy đủ chắc chắn để nói với
bạn bè: “Tôi yêu bạn’ hoặc “Tôi sui sướng
được làm bạn với bạn” quí bạn hăy anh
dũng lên, bởi v́ vào lứa tuổi của các bạn,
quả thật thốt ra một câu nói như thế th́
quả là ngại ngùng và thấy hơi bất
thường, nhưng xin các bạn hăy vui ḷng nói ra cho
bạn bè của ḿnh biết rằng họ là bạn
của các bạn, và các bạn vẫn quan tâm đến
họ. Điều này hết sức quan trọng v́ có nhiều
người vẫn cảm thấy rất cô đơn ngay
cả khi có rất nhiều người đang vây quanh
người ấy. Cũng có thể có vài người trong
trường của các bạn thực sự không có
bạn bè ǵ cả. Chả ai gọi địên thoại
thăm hỏi họ và chẳng bạn bè nào bước
đến nhà chơi. Quí bạn hăy kết bạn với
những bạn ấy. Họ đang thực sự cô
đơn đấy. Nếu Mike đă cảm thấy
nỗi thất vọng ê chề như thế đang khi nó
c̣n có nhiều bạn bè th́ chúng ta hăy tưởng
tượng xem những người bạn này sẽ c̣n
cảm thấy và phải chịu đựng buồn
phiền và cô đơn biết chừng nào!
“Chúa
sinh ra mỗi người chúng ta trên trần gian là
để làm việc thiện và để đem lại
niềm vui. Xin quí bạn vui ḷng giúp đỡ làm cho cái
chết của Mike mang lại t́nh thương và niềm
vui cho thế giới một cách thiết thực cụ
thể. Để trưởng thành đ̣i hỏi phải
chịu đựng lắm gian khổ và mỗi
người chúng ta cần rút tỉa nhiều điều
hữu ích cho chính ḿnh. Gia đ́nh và cha mẹ các bạn là
quan trọng, nhưng bạn bè cùng trang lứa cũng quan
trọng không kém. V́ vậy, xin các bạn hăy vui ḷng, vui ḷng
mở rộng tâm hồn ra và bảo với bạn bè ḿnh
rằng các bạn yêu thương họ. Xin gởi t́nh yêu
đến tất cả quí bạn”. Lá thư trên do chính cha
mẹ Mike kư tên.
Cha
mẹ Mike đă viết lá thứ trên với biết bao
t́nh yêu thương và can đảm. Đó là nhưng cái
khiến lá thư đó thật tuyệt vời, thật là
hữu hiệu. Đó là những ǵ khiến nó trở thành
lá thư mà mỗi bạn trẻ và các bậc phụ huynh
nên đọc.
Tôi
nghĩ rằng chúng ta nên ịoc lá thư ấy,
đặc biệt trong ngày hôm nay, bởi v́ chàng hành
khất mù loà trong Phúc Âm hôm nay rất có thể trạc
tuổi Mike. Cũng như Mike, anh ta cố gắng tiếp
cận Chúa Giêsu theo cách thức tốt nhất anh biết
được. Cũng như Mike, anh đang t́m kiếm
sự giúp đỡ từ những người chung quanh.
Và cũng như Mike, thay v́ được những kẻ
chung quanh giúp đỡ, anh lại bị phản
đối; Quả thế, thay v́ được trợ giúp
từ đám đông, th́ anh bị chửi rủa và
khước từ thẳng thừng.
Bài
Phúc Âm kể rằng khi chàng hành khất nói với
Đức Giêsu: “Lạy Con vua Đavi! Xin hăy xót
thương tôi” th́ nhiều người quở mắng và
bảo anh câm miệng. Nói cách khác, thay v́ nắm tay
người hành khất dẫn đến với
Đức Giêsu th́ họ lại túm cổ lôi chàng ra xa Ngài.
Chỉ có một người tiến đến giúp
đỡ chàng hành khất. Người đó là ai?
Chẳng ai cả ngoài chính Đức Giêsu. Khi nghe dân chúng la
mắng người hành khất. Ngài đă dừng lại
và truyền dẫn anh đến với Ngài. Chỉ có lúc
đó dân chúng mới thay đổi thái độ. Chỉ
có lúc đó họ mới chịu giúp đỡ
người bạn bất hạnh kia.
Bài
Phúc Âm hôm nay thúc giục chúng ta tự vấn chính ḿnh. Có
biết bao chàng Mike và bao kẻ hành khất mù loà đang
cố gắng đến với Chúa Giêsu? Bao nhiêu
người như thế đang bị đối xử
như kẻ hành khất mù loà trong bài Phúc Âm hôm nay? Và
biết bao người trong chúng ta đang gây chán nản
thất vọng cho những chàng Mike và những kẻ hành
khát mù loà ấy một cách vô t́nh không ư thức?
Ngoài
ra, bài Phúc Âm hôm nay c̣n mời gọi chúng ta tự vấn xem
ai là những chàng Mike, là những kẻ hành khất mù loà
trong đời sống chúng ta? Chúng ta đang làm ǵ
để giúp đỡ những thanh thiếu niên này trong
khi họ nỗ lực một cách vụng về nhằm
tiến đến gặp Chúa Giêsu? Bài Phúc Âm mời gọi
chúng ta thi hành những ǵ mà hai phụ huynh đầy can
đảm của Mike đă yêu cầu các phụ huynh và sinh
viên của trường trung học miền Nam kia. Tôi xin
đọc lại đoạn thư đầy xúc
động ấy: “Chúa sinh ra mỗi người chúng ta
trên trần gian là để làm điều thiện và
đem lại niềm vui. Xin quí bạn vui ḷng giúp
đỡ làm cho cái chết của Mike mang lại t́nh
thương và niềm vui cho thế giới một cách
thiết thực cụ thể”.
Bài
Phúc Âm hôm nay mời gọi ta làm cho cái chết của Mike
mang lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới
một cách cụ thể, thiết thực.
Chúng
ta hăy kết thúc bằng lời cầu nguyện
thường được đọc trong một vài
dịp trước đây. Lời nguỵên này chỉ ra
cho chúng ta phương cách cụ thể để mang
lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới
chúng ta:
“Lạy
Chúa từ nhân, xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của
Chúa, để con: đem yêu thưong vào nơi oán thù,
đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào
nơi tranh chấp, đem chân lư vào chốn lỗi lầm,
để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông
cậy vào nơi thất vọng, để con dọi ánh
sáng vào nơi tối tăm, đem ủi an đến
chốn u sầu. Lạy Chúa xin hăy dạy con: T́m an ủi
người, hơn được người ủi an,
t́m hiểu biết người hơn được
người hiểu biết, t́m yêu mến người
hơn được người mến yêu. V́ chính khi
hiến thân là khi được nhận lănh, chính lúc quên ḿnh
là lúc gặp lại bản thân, v́ chính thứ tha là khi
được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui
sống muôn đời’.
Năm
1945, tại nhà ga Verona bên Ư, dân chúng đang náo nức
chờ các binh sĩ trở về từ các trại tập
trung của Đức Quốc Xă.
Một người lính trẻ hai mắt
đă bị hư, anh lần ṃ từng bước trên sân
ga tiến về chỗ một bà già. Anh la lên; Mẹ ! Và
hai mẹ con ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Bà
mẹ xót xa nói: “Làm sao một người mù loà như con mà
vẫn về được với mẹ?”. Người
lính đáp: “Con không nh́n thấy mẹ bằng mắt,
nhưng trái tim đă hướng dẫn con”.
Người mù thành Giêricô cũng đă
đến với Chúa Giêsu bằng trái tim. Anh không
được nh́n Chúa, nhưng niềm tin của anh đă
dẫn anh đến với Người. Anh
được nghe nhiều về Người, và ḷng trí
anh đă ghi nhớ được một số
điều căn bản. V́ thế, nghe xôn xao có Chúa
đến gần anh đă phát biểu niềm tin của
ḿnh bằng tiếng kêu lớn: “Lạy Đức Giêsu, con
Vua David, xin thương con”. Do thiện chí và do ơn trên soi
sáng, anh mù đă nhận ra Đấng Cứu Thế. Khi
người ta bảo: “Hăy vững tâm đứng dậy,
Thầy gọi anh đó”. Anh vội vă liệng áo choàng,
nhẩy lên và chạy tới Chúa. Chúa chữa lành anh
bằng một lời khen ngợi: “Đức tin của
con đă cứu con”. Anh được khỏi bệnh và
gia nhập vào đoàn ngũ những người theo Chúa.
Theo Thánh Marcô th́ đây là phép lạ sau cùng
Chúa thực hiện trước khi chịu thương
khó. Dứới ng̣i bút của Thánh Marcô, các môn đệ
Chúa cho tới giờ chót vẫn như những
người mù; sự kiện này làm Chúa rất bận tâm.
Chúa đă ba lần tiên báo về cuộc khổ nạn (Mc.
8,31;9,31;10,34). Và nhiều lần nói về số phận các
tín hữu muốn trung kiên với Chúa phải sẵn sàng hy
sinh mạng sống (8,35), phải chọn địa
vị rốt hèn (9, 35), phải sẵn sàng móc mắt,
chặt bỏ tay chân để khỏi phạm tội
(9,47), phải uống chén đắng và trở nên
đầy tớ mọi người (10,38-44)… Những
điều này cho tới giờ các tông đồ vẫn
chưa hiểu. Theo Chúa mà như vậy, Thầy đi
một đường, tṛ đi một lối như
vậy đâu có được! Đúng là không thể
được. Không thể thành môn đệ bằng
lối suy tư con người. Cần thiết phải có
ơn Chúa, phải được Chúa mở mắt, đem
ánh sáng cho. Có vậy mới nh́n ra giá trị ơn cứu
độ của Chúa và mới biết lựa chọn thái
độ người tín hữu, theo sự hướng
dẫn của Chúa. Có vậy mới thoát khỏi cảnh
tăm tối u mê như một căn bệnh mù loà
trầm trọng.
Người hành khất mù được sáng
mắt nhờ đức tin, “đức tin của con
đă cứu con” nghĩa là ǵ? Là chính đức tin mà Chúa
trao tặng cho anh để anh tuyên xưng trước
mặt mọi người. Anh đă can đảm tuyên
xưng đức tin ấy bằng cách lớn tiếng kêu
cầu, bằng cử chỉ vứt bỏ áo choàng (nhu
cầu tối cần của anh), bằng cách nhảy
chồm lên, vội vă chạy tới Chúa, bất chấp
mọi cấm cản của những người chung
quanh. Cặp mắt đức tin của anh đă
được bật sáng và anh đă nh́n thẳng vào
đối tượng duy nhất là Đức Giêsu
Nagiarét. Nhờ đức tin sống động ấy, anh
mù đă thấy điều mà những người sáng
không được thấy (“Con Vua Đavid”, nghĩa là
Đức Kitô, Đấng
được Chúa Cha xức dầu bằng Thánh
Thần): “Anh liền xem thấy, rồi đi theo
Người”.
Lạy
Chúa, xin bật sáng niềm tin chúng con để chúng con nh́n
ra Ngài đang hiện dịên với chúng con. Xin giúp chúng con
biết can đảm tuyên xưng Ngài trong mọi t́nh
huống của cuộc đời, để chúng con
tiếp tục bước theo Chúa trên đường phục
vụ hôm nay.
Nàng
là một phụ nữ không bao giờ có thể thấy
được một điều ǵ tốt đẹp
nơi người khác. Bất kể ai làm điều ǵ
tốt, nàng cũng t́m ra được một điều
ǵ sai. Một người nào đó làm một việc
tốt, nàng vẫn có thể t́m ra một nguyên do xấu xa.
Nàng ưa câu nói; “Nó phải có ẩn ư… Nó rút ra
được ǵ trong đó?” Nàng bắt lỗi mọi
người. Nhiều người chúng ta ít nhiều có
tật xấu như nàng. Nàng bất thường,
để lấy lại niềm tin, nàng ư thức rằng
cái tật “bới bèo ra bọ” làm nàng sợ hăi. Nàng
đến bác sĩ tâm thần, nhưng ông chẳng gíup nàng
được bao nhiêu.
Ngày kia, được nghe câu chuyện Chúa
Giêsu chữa người mù bẩm sinh. Câu chuyện chúng ta
vừa nghe thực sự thức tỉnh nàng; nàng bị mù
trước những cái tốt đẹp của
người khác. Nàng can đảm nh́n sự thật và thay
đổi nhăn quan với
người khác.
Chúa Giêsu chữa người đui mù
thể xác, để chứng tỏ rằng Người
cũng có thể chữa bệnh đui mù thiêng liêng.
Quả thật, bệnh đui mù t́nh thần và thiêng liêng
c̣n tai hại hơn đui mù thể xác.
Loại đui mù thiêng liêng này lây nhiễm
nhiều người trong chúng ta. Mỗi người chúng
ta phải tự hỏi; “tôi có mù trước cái tốt
của kẻ khác không?” Nếu có, chúng ta kêu cầu Chúa Kitô
chữa chúng ta như người đui mù trong bài Tin
Mừng.
Nơi tốt nhất để bắt
đầu sữa chữa là ngay trong gia đ́nh. Vợ
bạn quên đính nút áo sơ mi, thay v́ nghĩ đến
sự thiếu sót này; trước hết bạn hăy
nghĩ đến những việc tốt nàng đă làm
trong ngày đó cho bạn và cho gia đ́nh : Nấu ăn,
giặt giũ, lau chùi, săn sóc con cái… Chồng bạn quên
đổ thùng rác, không sao đâu, bạn hăy nghĩ
đến chàng làm việc cả ngày cho bạn và các con.
Thanh niên nam nữ, bạn cần nghĩ
đến những việc tốt cha mẹ đă làm cho
bạn, hơn là những lần các ngài không cho phép bạn
hoặc muốn bạn ở nhà.
Tập nghĩ đến cái tốt
người khác làm, thay v́ nghĩ đến lầm lỗi
của họ, như trong trường giữa thày và tṛ,
như cha sở và giáo dân, như các thành phần của
hiệp hội, công nhân trong công đoàn. Ông chủ của
bạn không thể hoàn toàn xấu, người công nhân không
thể hoàn toàn vô dụng. Mở mắt ra để
thấy cái tốt của người khác, nghĩ tới
nó và nói về nó.
Nh́n cái tốt nơi người khác là
một cách để yêu người. T́nh yêu không tiêu
cực. Tôi không thể yêu một ai bằng cách nói; “Tôi
sẽ không bao giờ nghĩ tàn nhẫn về bạn,
hoặc nói tàn nhẫn với bạn hay về bạn, hay:
“Tôi không bao giờ làm điều ǵ tàn nhẫn cho bạn”.
đó không phải là t́nh yêu. T́nh yêu phải tích cực: “Tôi
sẽ bỏ cách thức của tôi, tôi sẽ cố
gắng đặc biệt để nghĩ, nói và hành
động tử tế với bạn. “Hoa trái lớn
của việc t́m cái hay cái tốt trong người khác là
cảm giác hài ḷng và hân hoan. Và chúng ta c̣n giữ
được giới răn của Chúa Kitô bảo ta
đừng xét đoán.
Để nh́n thấy cái tốt cái hay của
người khác, chúng ta cần sức mạnh thiêng liêng,
một thứ phép lạ. Chúa Kitô sẽ làm phép lạ cho
bạn nếu bạn xin Người.
Xin Chúa chúc lành bạn.
Tôi là Bar Timê, con ông Timê. Tôi
ngồi bên vệ đường, con đường có
lắm người qua kẻ lại. Họ đi tới
đi lui. Nhưng phần đông họ đi tới,
tiến về phía trước mặt, nơi tương
lai đang chờ họ. Tôi mù ḷa không thấy
đường, nên chẳng thể nào lên đường
tiến về đâu hết. Đời tôi vô vọng. Nhưng
chẳng lẽ cứ ngồi măi như thế này, suốt
ngày, suốt đời? Tôi ngồi đây để
đợi Ngài đi qua. Mấy ngày nay tôi nghe tin có một
vị Ngôn sứ tới vùng này. Tôi không phân biệt
được tiếng chân Ngài bước đi, nhưng
tôi phân biệt được tiếng Ngài nói. H́nh như
Ngài đang tới. Trong muôn vàn tiếng người nói lao
xao, tôi nhận ra giọng nói nghiêm trang của Ngài.
Người ta thường bảo: Chim khôn hót tiếng
rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ
nghe. Giọng nói trầm ấm dịu dàng ấy đích
thực là tiếng vị Ngôn sứ thành Nagiarét. Tôi phải
kêu cầu Ngài cứu tôi thoát khỏi cảnh tối tăm
tù ngục này. Và thế là tôi la to lên. Có những giọng
quát nạt. Mặc kệ họ. Tôi càng la to hơn. Và ḱa,
h́nh như Ngài đă nghe tiếng tôi. Ngài đă dừng
lại. Có người cầm tay tôi, bảo: "Này anh,
Ngài gọi anh đấy". Tôi sung sướng quá. Tôi
quăng đại cái áo thường choàng để
khỏi vướng bận, để lao nhanh đến
gần Ngài. Tiếng Ngài dịu dàng quá. Và ḱa, Ngài hỏi ư
kiến tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời, có
người hỏi ư kiến, có người coi trọng
tôi. Tiếng Ngài êm như gió thoảng: "Này anh bạn,
anh muốn tôi làm ǵ cho anh?". Tôi không ngần ngại
thưa ngay: "Thưa Thầy, Thầy cho con
được thấy đường". Ngài nói:
"Anh hăy đi, ḷng tin của anh đă cứu anh". Và
tôi thấy đường đi. Thế giới bỗng
tràn ngập vào mắt tôi. Cây chuối, cây cọ, cây chà là
trên ốc đảo xanh tươi. Vách núi đá lởm
chởm màu đỏ màu vàng. Đám đông áo quần muôn
hồng ngh́n tía đua chen. Ồ, tôi thích quá. Tôi mải mê
nh́n ngắm. Đấng tiên tri c̣n đang bước đi
chầm chậm, vừa đi vừa đàm đạo
với đám đông. Ngài bảo tôi về nhà. Không, tôi không
thể về nhà. Tôi thích được đi theo Ngài,
hầu hạ bên Ngài suốt đời. Ngài đi tới
đâu, tôi cũng theo Ngài tới đó. Từ Giêrikhô lên
Giêrusalem. Con đường gập ghềnh gian khổ
dẫn vào Thành thánh, nơi Ngài sẽ bị bắt, bị
kết án, bị tử h́nh. Con đường của Bar
Timê này cũng sẽ là con đường gập ghềnh
gian khó. Lẽ nào tṛ lại hơn thầy được?
Tôi bước đi trong tin tưởng, dưới ánh sáng Ngài soi dẫn. Nhưng
cũng có thể con đường ḷng tin của tôi
bỗng dừng lại trong tăm tối. Bước theo
Thầy Giêsu là như vậy, là chấp nhận rủi ro,
là chấp nhận rằng ḿnh chưa được
thấy hết mọi chuyện và luôn ước ao được
thấy nhiều hơn nữa. Con đường của
người mù thành Giêrikhô, sau cùng, không c̣n là đi từ
bóng tối ra ánh sáng nữa, v́ Ngài đă cho tôi nh́n thấy
ánh sáng kỳ diệu. Con đường ḷng tin của tôi,
cuối cùng, là đi từ cái thấy được
đến cái không thể thấy, đi từ cơi hữu h́nh,
tới cơi vô h́nh, nơi ánh sáng không c̣n hữu hạn
nữa... Con đường của Bar Timê cũng là con
đường của mỗi Kitô hữu, con
đường của ḷng tin.
THUỐC bỔ hàng tUẦN
NỘI DUNG
I.Tia
sáng:
v Ư CHÍ – NGHỊ
LỰC - GƯƠNG MẪU
v HÁI HOA ĐÀO
II.Thư
giăn:
1.
HỮU HIỆU
2.
NGOẠI LỆ MAY MẮN
3.
THỰC HIỆN CẢ HAI
4.
ĐIỀU BẤT NGỜ
5.
CHƯA RƠ
6.
BỚT PHẦN CƠM
7.
ẢNH HƯỞNG
III.Chuyện
vui suy niệm của AVE JESU MARIA
JOSEPH:
v CON MI MI
IV.Chuyện
ngụ ngôn:
v LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG
V.Hẹn
bạn trên đỉnh thành công:
v VÀI LỜI
KHUYÊN ĐÁNG GIÁ CHO CÁC ĐÔI VỢ CHỒNG
VI.T́nh
yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:
v PHẠT
CON THẾ NÀO CHO ĐÚNG ?
VII.Chuyện
phiếm:
v PHẬN LÀM DÂU -
Phạm Khải
I.TIA SÁNG :
* Ư chí - nghị lực -
gương mẫu. Điều ǵ phải làm th́ làm, không do
dự, không quá đắn đo. Nếu không thế, Têrêsa
Avila đâu có thành Thánh Têrêsa, Inhaxiô cũng vậy……
* HÁI HOA ĐÀO, ÔI THẬT THƠ MỘNG. NHƯNG COI
CHỪNG CẢ VƯỜN HOA TÀN LỤI.
Hái
một vài bông hoa đâu có hại ǵ đến một
thửa vườn đầy bông: Thiên Chúa đă cho
mọc lên đủ thứ hoa để cho ta hái...
Nhưng chỗ nào chỉ có một vài bông hoa, hoặc
chỉ có một bông duy nhất mà hái đi, tức là phá
hoại huê lợi. Tôi chỉ có một cuộc đời,
chạy theo thú vui là làm hỏng cuộc đời, làm
hỏng tương lai. Lười biếng... Tán
tỉnh... đời sẽ hỏng. Tôi có c̣n trẻ,
để biết tôn trọng kết quả mai này không?
II.
THƯ GIĂN:
1. HỮU
HIỆU
Trong một khuôn viên nọ, có hai
người đang đi dạo, một người lên
tiếng hỏi:
- Sao bác cứ búng tay tanh tách thế?
- À, để đuổi cá sấu đi
đấy mà.
- Nhưng quanh đây hàng trăm dặm làm
ǵ có con cá sấu nào?
- Đây! Giờ th́ bác sẽ thấy đó là
một biện pháp hữu hiệu như thế nào! - Vừa
nói, bác vừa chỉ vào bụi rậm có hai anh chị trong
đó đang đi ra.
2. NGOẠI
LỆ MAY MẮN
Bác sĩ nhăn khoa nói với bệnh nhân:
- Anh phải bỏ rượu thôi.
Rượu làm giảm thị lực lắm đấy.
- Thế th́ tôi là một ngoại lệ may
mắn. Cứ uống hai, ba ly vào là tôi bắt đầu
nh́n thấy gấp đôi.
3. THỰC
HIỆN CẢ HAI
Một người béo bệu đến
than thở với bác sĩ:
- Tôi đă đi khám ở hai bác sĩ.
Một ông khuyên tôi hăy đi bộ nhiều hơn nữa.
C̣n ông kia khuyên tôi nên đi nằm điều trị
tại nhà an dưỡng. Vậy tôi phải làm ǵ bây
giờ?
- À, vậy ông hăy đi bộ đến
nhà an dưỡng!
4. ĐIỀU
BẤT NGỜ
Một nhà vi khuẩn học nói với
vợ:
- Em thân yêu, anh muốn dành cho em một
sự bất ngờ nhân mừng ngày sinh nhật của em.
- Anh thật chu đáo quá! Điều bất
ngờ ǵ thế anh?
- Anh đă đặt tên em cho một
loại vi khuẩn anh mới t́m ra.
5. CHƯA
RƠ
Một chàng trai trở về nhà sau
cuộc thi sát hạch lấy bằng lái xe, với vẻ
lo sợ cực độ:
- Con không đạt - Anh ta nói với ông
bố - Con đâu phải chiếc xe tải.
- Có nghĩa là con bị đánh
trượt.
- Điều đó chưa rơ. Cả ban giám
khảo có c̣n ai đâu ạ!
6. BỚT
PHẦN CƠM
Một ông leo lên sân thượng lầu ba
để sửa lại trục anten tivi, rủi chân
trợt té từ trên cao xuống.
Lúc rơi ngang cửa sổ nhà bếp
ở lầu hai, ông nói vọng vào:
- Ḿnh ơi! Bớt phần cơm của
anh đi! Trưa nay anh ăn cơm ở nhà thương
rồi!
7. ẢNH
HƯỞNG
Có một đứa bé rất mê xem tivi.
Mẹ nó bị viêm phổi, tắt tiếng. Có một
người bạn của mẹ nó đến hỏi
thăm:
- Mẹ cháu thế nào?
- H́nh ảnh th́ tốt, c̣n âm thanh không
được rơ lắm.
III. CHUYỆN VUI SUY
NIỆM :
CON MI MI
Ngày
nọ con chó Mi Mi chạy chơi trong cánh đồng
của chủ. Một con ngựa lên tiếng bảo nó:
-
Này chú chó nhỏ, chú thấy không, ông chủ quí tôi hơn
những con vật ở đây chứ, v́ tôi giúp ông chuyên
chở mọi thứ cần thiết. C̣n chú, tôi nghĩ chú
chả giúp được ǵ cho ông.
Mi
Mi gật đầu bỏ đi. Nó lại nghe tiếng ḅ
cái:
-
Này tôi chiếm địa vị đặc biệt ở
đây, v́ nhờ sữa của tôi, gia đ́nh bà chủ
mới có bơ và phô mát. C̣n chú, chắc chú chẳng cung
cấp được ǵ cho chủ.
Lúc
đó con cừu ở gần đấy lại nói:
-
Ḅ cái ơi, chị không hơn tôi đâu, v́ tôi cung cấp
len cho chủ dệt áo ấm mùa đông, không có tôi th́
chắc cả nhà chết v́ lạnh mất. Nhưng có
lẽ chị nói đúng. Chú chó con này không giúp
được ǵ cho chủ cả.
Lần
lượt các con vật đều khoe với Mi Mi về
sự nghiệp của chúng, từ con ngựa, con ḅ cho
tới con mèo, con vịt, con gà.
Nghe
những lời chê bai sự vô ích của ḿnh, Mi Mi buồn
quá, nó t́m một chỗ vắng vẻ để than khóc
thân phận. Chợt một con chó già tiến lại và
bảo nó:
-
Này con, đừng than khóc về những điều ḿnh
không làm được. Đành rằng con quá nhỏ không
thể kéo xe như ngựa, cũng không cung cấp
được trứng, sữa len, nhưng con hăy dùng
tới khả năng mà Thượng Đế đă ban
cho loài chó chúng ta, là mang đến cho con người nụ
cười và ḷng qúi mến.
Chiều
hôm ấy, khi chủ trở về nhà sau những giờ
lao động mệt nhọc, mi mi vui vẻ chạy ra
vẫy đuôi, liếm tay chủ và nhảy thót vào ḷng ông.
Cả hai lăn tṛn trên thảm cỏ xanh. Ông chủ ôm Mi
Mi vào ḷng và nói với nó:
-
Về đến nhà ta mệt biết bao, nhưng bây
giờ ta thấy đỡ mệt hẳn v́ Mi Mi đă làm
ta vui. Ta không thể sánh Mi Mi với bất cứ con
vật nào trong nông trại này được. V́ điều
quan trọng nhất là ḷng qúi mến, chỉ có Mi Mi mới
biết qúy mến ta.
Con
vật là loài vô tri mà xem ra c̣n biết cư xử khéo léo và
vô vi lợi. Con người có tri thức, có khôn ngoan,
lẽ nào lại không biết đối xử với nhau
cho xứng với danh nghĩa làm người.
Tiền
bạc, của cải, lợi lộc đâu sánh
được với ḷng con người, có
được phục vụ tối đa, có
được trao tặng những ǵ qúi báu nhất đi
nữa, th́ điều làm cho ta hài ḷng thỏa măn hơn
cả vẫn là một t́nh thương yêu, qúi mến chân
thành.
Ai
không khao khát được yêu mến, qúi trọng, nhưng
mấy ai biết thực tâm yêu qúi người?
Chúa
Giêsu đă yêu thương tới mức độ hiến
cả mạng sống ḿnh v́ những kẻ Ngài yêu. Và Ngài dạy chúng ta hăy yêu như
Ngài yêu.
Hạnh
phúc của loài chim là đôi cánh.
Hạnh
phúc của loài vật là làm cho loài người vui vẻ.
Magnificat anima mea Dominum
IV. TRUYỆN NGỤ NGÔN:
LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG
Có một con mèo già mắt mờ chân
chậm không c̣n bắt được chuột nữa. Nó
bèn nghĩ ra một kế lừa đàn chuột trong nhà.
Lũ chuột tự nhiên nh́n thấy mèo già
lần tràng hạt, gơ mơ, tụng kinh th́ lấy làm lạ.
Mèo già liền gọi lũ chuột đến gần và
nói :
-
Các bạn chuột ơi ! Từ nay ta không bao giờ ăn
thịt các bạn nữa đâu. V́ đă tu hành th́ không
được ăn thịt, không đuợc sát sinh.
Lúc đầu lũ chuột nửa tin
nửa ngờ. Nhưng mấy ngày sau vẫn thấy mèo già
ngồi niệm Phật và chỉ thích ăn rau, có con
thử mon men lại gần mèo xem sao th́ quả thật mèo
không vồ, nên chúng tin là mèo sám hối thật. V́ thế
đàn chuột thuờng nhởn nhơ đi lại bên
cạnh mèo già, không c̣n lo bị mèo ăn thịt nữa.
Một buổi tối, cả đàn
lại xếp hàng một đi qua chỗ mèo đang
ngồi niệm Phật để vào hang. Mèo ta biết
thế, liền chờ cho đàn chuột chui vào hang,
đến con cuối cùng th́ mèo mới vồ lấy
nuốt chửng. Hồi đầu thấy thiếu
mất một con, đàn chuột cho là nó bị lạc.
Nhưng hôm sau và các ngày sau cứ mỗi ngày lũ chuột
lại thấy mất một con, th́ chúng bắt
đầu hoang mang. Con đầu đàn nghĩ là mèo già
bắt. Hôm ấy, nó thử đi cuối cùng xem sự
thể ra sao. Khi mèo già nhe nanh giơ vuốt ra vồ,
chuột đầu đàn chỉ kịp kêu thét lên báo cho
cả đàn, rồi cũng bị mèo nuốt chửng.
Từ đó lũ chuột luôn nhắc nhau
: chớ có bao giờ tin vào lời mèo không ăn thịt
chuột !
V.
HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:
Theo bản tiếng Anh: See you at the top
của Zig Ziglar
Biên
soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU -
DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN VĂN DIỄM
VÀI LỜI KHUYÊN ĐÁNG GIÁ CHO CÁC ĐÔI VỢ
CHỒNG
Hăy xét kỹ từng bước cụ
thể để kiến tạo hoặc tái tạo một
cuộc hôn nhân hạnh phúc.
1/ Nhớ xem bạn đă làm ǵ
trước khi lấy nhau. Bạn đă chẳng giành làm
mọi việc, luôn tỏ ra dễ thương, luôn cư
xử đúng đắn, ân cần lịch sự, chu
đáo và tử tế đấy ư? Đây là phương
cách tuyệt hảo giúp cho đời sống hôn nhân của
bạn được luôn vững chắc, cho dù nó có
gặp trắc trở đi nữa th́ bạn vẫn có
thể khiến nó lại nở hoa.
2/ Khởi đầu và kết thúc mỗi
ngày bằng một lời t́nh tứ, trong ngày, nếu có
thể, hăy dành vài phút gọi điện cho vợ
để nói vài câu t́nh tứ. Sau hết, nhớ rằng
dịp biểu lộ t́nh yêu tốt nhất là trước
mặt người khác. Thỉnh thoảng nên gởi
một lá "thư t́nh" qua bưu điện. Những
món đầu tư này tuy nhỏ nhưng lăi suất
rất cao.
3/ Thỉnh thoảng, nên tặng quà
hoặc ảnh. Giá trị không phải ở món quà mà ở
t́nh yêu biểu lộ qua món quà. "Không có người tặng th́ quà chẳng là ǵ cả".
Một thi sĩ cũng đă viết: "Nhẫn và
ngọc không phải là quà mà chỉ là lời biện minh
cho món quà". Món quà đích thực chính là bản thân
người trao tặng.
4/ Cùng nhau sống những giây phút
đầy ư nghĩa. Hăy nhớ lại xem các bạn
từng khao khát tỏ t́nh với nhau ra sao và đă tốn
biết bao thời giờ để nói yêu nhau trước
khi kết hôn? Hăy lặp lại những tiến tŕnh trên.
Đi dạo hoặc tắt truyền h́nh cho người
bạn đời thấy như thể họ là
người trọng yếu nhất của đời bạn.
Mà thực sự là thế, dù bạn có thừa nhận hay
không cũng vậy.
5/ Biết lắng nghe. Một nhà thông thái
đă nói: "Nói là chia sẻ c̣n nghe là săn sóc". Hăy
lắng nghe muôn vàn t́nh tiết và câu chuyện vụn
vặt mỗi ngày của người bạn đời.
Hăy nhớ luôn rằng: bổn phận khiến ta làm
việc tốt nhưng t́nh yêu khiến ta làm việc hoàn
hảo. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa: "Điều ta bắt đầu
như một bổn phận sẽ kết thúc thành t́nh yêu".
6/ Đừng để người bạn
đời phải tranh giành với con cái sự quan tâm
của bạn. Hăy dành thời giờ riêng cho người
bạn đời.
7/ Mỗi khi xung khắc, hăy nhớ là có
thể xung khắc mà không gắt gỏng. Song, đừng
bao giờ đi ngủ mà chưa ḥa giải. Bạn sẽ
chẳng ngủ ngon nổi và những xung khắc ấy
sẽ in vào tiềm thức cả hai người
để rồi sẽ trở nên nguyên nhân cho những xung
khắc khác.
8/ Hăy nhớ rằng Tạo Hóa đă
đặt người nam làm chủ gia đ́nh. Có lẽ
đây chính là bước quan trọng nhất khi có đàn
ông nắm giữ những quyết định quan
trọng, người phụ nữ sẽ được
an tâm. Rất ít khi tôi gặp một cuộc hôn nhân thực
sự hạnh phúc khi người chồng không phải là
chủ gia đ́nh. Tuy nhiên, người chồng cũng
phải nhớ rằng ḿnh chỉ có thể chu toàn bổn
phận bằng t́nh yêu và thân ái cũng như với uy
quyền và sự cương quyết. Người xưa
dạy: “Chồng phải kính trọng và yêu thương
vợ như chính bản thân ḿnh”.
9/ Hăy nhớ ḿnh sẽ thường
phải "nhượng bộ" để làm vui ḷng hay
thông cảm với người bạn đời. T́nh
cảnh lúc ấy có lẽ hơi khó chịu đấy,
nhưng nó sẽ giúp bạn và cuộc hôn nhân của
bạn khỏi tan vỡ.
10/ Cố dùng công thức có bảo
chứng sau đây để pha chế món: "Hôn nhân
hạnh phúc".
- 1 chén t́nh yêu 5
muỗng hy vọng
- 2 chén chung thuỷ 2
muỗng dịu dàng
- 3 chén thứ tha 4
cân cậy tin
- 1 chén nghĩa t́nh 5
thùng nụ cười
Lấy t́nh yêu và chung thuỷ ḥa trộn
với cậy tin khuấy lên với dịu dàng, ân cần
và hiểu biết, bạn nên thêm nghĩa t́nh và hy vọng.
Pha màu cho tươi bằng nụ cười. Đem
nước dưới ánh mặt trời. Dùng thật
nhiều mỗi ngày.
11/ Lấy câu: "Hăy sống tử tế,
nhân hậu và tha thứ cho nhau" làm kim chỉ nam
hằng ngày.
12/ Khi gặp những xung khắc không
thể tránh th́ ai làm ḥa trước cũng được.
Song người làm ḥa chứng tỏ ḿnh chín chắn và
biết yêu thương hơn.
VI.
T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH:
(Thanh Niên, ngày 5/9/1997, trang 11)
PHẠT
CON THẾ NÀO CHO ĐÚNG?
Nói chung, có nên phạt con cái ? Khi
đứa trẻ bị phạt một cách đích đáng
và chịu phạt một cách thực sự, việc
phạt nó có thể giúp cho cả người lớn,
cả đứa trẻ giải thoát khỏi những
cảm xúc xấu.
Sau khi phạt con, tự các
bậc cha mẹ cũng lờ mờ cảm thấy ḿnh có
lỗi, bởi vậy trong những ngày tiếp đó,
họ đă không c̣n giấu giếm thái độ
thương yêu đối với đứa con họ
đứt ruột đẻ ra. Vả lại, họ có
cảm giác bản thân đứa trẻ không c̣n là một
"tội phạm" nữa. C̣n đứa
trẻ th́ ngược lại, nó được giải
phóng khỏi cảm giác có lỗi vốn là một cảm
giác quá sức đối với nó, v́ lỗi của nó
đă được "thanh toán" rồi, nó coi
như thế là xong.
Tuy nhiên, trong bất kỳ
trường hợp nào, đứa trẻ cũng phải
nhận thức được rằng bố mẹ
phạt nó là miễn cưỡng và họ không hề
muốn phạt nó. Các bậc cha mẹ không bao giờ
được phạt con cái trên "thế mạnh",
nếu có phạt, hoàn toàn chỉ v́ ư thức trách nhiệm.
H́nh phạt nhất thiết phải
được chấm dứt đúng lúc, kịp
thời. Ví dụ, đứa trẻ mắc lỗi bị
cấm xem TV trong một tuần lễ. Nhưng mới
được một hôm, nó đă không c̣n nhớ rơ lắm
là tại sao nó lại không được xem chương
tŕnh phim hoạt h́nh hấp dẫn thế kia, và nó bắt
đầu cảm thấy ḿnh không đáng bị phạt
như vậy.
Các bậc cha mẹ chỉ nên
đ̣i hỏi ở đứa trẻ cùng một
điều mà thôi. H́nh thức và phong cách dạy bảo
có thể khác nhau, nhưng ư nguyện của người
bố và của người mẹ phải được
nói lên rành mạch và càng giống nhau càng tốt. Nhiều
đứa trẻ sẵn sàng lợi dụng những
bất đồng của người lớn về
phương pháp giáo dục. Chúng mau chóng nhận ra rằng
có thể nũng nịu và nài xin bà ngoại để
được ăn kẹo, là thứ mà mẹ chúng kiên
quyết không cho ăn buổi tối. Đứa trẻ
chỉ cần "đánh hơi" thấy bố mẹ
luôn bất ḥa xích mích với nhau là nó liền phớt
lờ những lời đe dọa sẽ phạt nó.
Nếu cho tới năm 3
tuổi, đứa trẻ c̣n chưa lần nào
thử xem bố mẹ có "vững
chắc" không, nếu nó vâng lời trong bất
kỳ hoàn cảnh nào như một thiên thần th́
nghĩa là có điều ǵ đó không ổn. Hoặc
nó có những mặc cảm và tự nó yêu cầu cao quá
đáng đối với bản thân nó, hoặc bố
mẹ nó quá nghiêm khắc, hoặc nó quá sợ bị
phạt. Sự vâng lời tất nhiên là một đức
tính lớn lao, nhưng ở thời đại chúng ta,
chưa chắc đó đă là tiêu chí chứng tỏ
đứa trẻ khoẻ mạnh về thể chất
hoặc tinh thần. Đặc tính của trẻ con là
nhận thức thế giới thông qua sự nghịch
ngợm, nếu không, cái thế giới này đối
với nó sẽ có vẻ không "hiếu khách" lắm.
Hằng
Minh (theo Sveta).
VII.
CHUYỆN PHIẾM :
Trích trong tập truyện hài
hước trẻ “Bồ” non
Biên soạn : PHẠM KHẢI
PHẬN LÀM DÂU
Ở
làng Trại có câu ”làm ḅ, làm trâu, không sợ bằng làm dâu bà
Quản”. Thoạt nghe cứ tưởng người làng
độc mồm độc miệng. Ngay cô Miên, hồi
c̣n con gái không tin điều ấy. Khi đem ḷng yêu anh
cả Nhở, mọi người đă có ư gàn, nhưng
sức mạnh của t́nh yêu khiến người ta có
thể vào hang cọp, sá ǵ một bà Quản? Cô Miên
quyết về làm dâu bà ấy?
Những
ngày đầu cũng xuôi chèo mát mái lắm. Khi đă quen
quen, bà Quản “bắt đầu” ư tứ nhắc nhở
cô Miên hiểu rằng, bà mất tiền mua cô về,
cũng giống như một con mèo, con thỏ. Trái ư, bà có thể
đuổi ra chuồng lợn.
Chẳng
mấy chốc cô Miên cũng hiểu ra rằng, lời
đồn của thiên hạ không phải là vô cớ. Cô hăi
nhất không chỉ là bà Quản mà cả cô em chồng.
Các
cụ bảo ”giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”
cấm có sai ! Đă lười cô Liên c̣n có tính lẳng
lơ, tối đến là tót đi với bạn bè,
đàn đúm. Khi về, cô c̣n đá thúng đụng nia,
vừa lục chạn ṃ ăn, vừa rỉa róc bâng
quơ: -Chúng nó phần cơm người đi vắng
như phần cho chó. Khốn nạn!
Mặc
dù nằm bên sự ”che chở” của chồng cô, cô Miên
vẫn cứ nơm nớp lo sợ. Bởi v́ ”chúng nó”
ở đây đích thị là cô.
-Này
nhà vô phúc để chó leo lên bàn thờ. ”Chó” chẳng ai khác ngoài cô Miên.
Con
ơi “người ta” khát máu tanh ḷng.
“Người
ta” là người nào nếu không phải là Miên.
Cái
địêp khúc rỉa róc ấy mỗi ngày như
được bọc thêm ch́, buốt tận ruột,
ngấm vào tận xương để chĩa vào cô Miên.
Cũng từ
dạo có nàng dâu, bà quản cứ hay ốm lơ ốm
lửng. H́nh như chính cô Miên làm xương cốt bà
cứ lỏng lẻo dần ra. Từ chỗ ốm
vờ, có bận bà lăn ra ốm thật. Bà thường
tru lên một cách vô cớ: ”Giời thương tôi sao không
bắt tôi chết phứt đi cho “họ” thoát nợ.
Họ mong tôi ốm để họ làm mưa làm gió ở
cái nhà này đây. Con ơi, mẹ chết th́ chỉ mày là khổ
thôi”. Rồi bà giăy lên như ngộ gió, mắt trợn
trừng, miệng ngáp khí rất là nghiêm trọng. Vốn
đi guốc trong bụng mẹ chồng, cô Miên cứ
nhịn như nhịn cơm sống. Cô Liên vịn vào
cớ ấy, ra đá một câu, vào đá một câu:
”ở nhà này khôn nhất là ngậm miệng ăn tiền”.
Cuối
cùng cô Miên cũng phải mở miệng.
-Mẹ
mệt thế nào ạ?
Bà
Quản rên hừ hừ:
-Tôi
già rồi, có chết cũng là đoạn kiếp. Chả
dám phiền đến chị.
-Mẹ
cứ nghĩ, chúng con có dám nói ǵ đâu.
-Dễ
thường tôi không ăn mà yên đấy. Nhưng mà tôi
hỏi thật, ḷng tốt của chị chỉ thế
thôi à. Tôi thèm con gà tần hạt sen với lá ngải
cứu để cho nó tháo mồ hôi mà chị cũng
tiếc.
Cô
Miên vội vả tất tả vào chợ t́m mua bằng
được những thứ mà bà Quản yêu cầu.
Trở về cô làm đánh nhoáng một cái là xong. Bê một
bát ô tô gà hầm thơm
nức tới mức từ bé cô chưa được
nếm một lần, rón rén đến bên giường bà
Quản. Cô hy vọng mẹ chồng, dù cố chấp
mấy cũng phải biết đến tấm ḷng
thơm thảo của cô. Bà Quản ngồi dậy, búi tóc,
liếc nh́n bát thức ăn rồi lắc đầu
quầy quậy:
-Chả
chắc tôi c̣n ăn được.
Bà
khều một miếng ăn thử, sao mà nó bùi béo
đến thế. Cứ kể không v́ sĩ diện, bà
chỉ ”bơi” một lúc là hết vèo. Nhưng thấy cô
Miên nh́n, bà nhổ ph́ ph́:
-Chị
cho thốc độc hay sao mà đắng thế - rồi
nằm vật xuống, chùm chăn kín đầu, cô Miên ư
tứ bỏ đi. Đúng lúc ấy cô Liên đi chợ
về. Thấy bảo mẹ không ăn, cô mừng rơn
bê xuống bếp và chỉ một loáng đă hết
nhẵn.
Bà
Quản tiếc lắm nhưng đă trót, đành chỉ
hậm hực nói bóng nói gió những chuyện khác. Hôm sau, cô
Miên lại mua bầu dục về nấu canh bánh đa. Cô
lại lễ phép mời bà Quản dậy ăn. Vốn
đang tức v́ lỡ món gà hầm, vừa nếm một
th́a bà khóc rống lên :
-Gái
ơi là gái! Con định để người ta cho
mẹ mày ăn ḿ kho à.
Cô
Liên đang tấp tểnh đi chơi, sầm sầm
từ trong buồng chạy ra.
-Tôi
có khiến ai hầu mẹ tôi đâu mà họ “giận cá
chém thớt”.
Cô
Liên đùng đùng giật bát canh mang xuống bếp. Cô
tranh thủ “nếm” vài miếng bầu dục rồi
lại tiếp tục trang điểm. Lâu lâu sau, cô bưng
nguyên xi bát canh lên, giọng âu yếm:
-Mẹ
dậy xơi ạ.
Bà
Quản ngồi dậy, nâng bát canh húp thật êm mấy húp
rồi nói như than :
-Ôi
dà tỉnh cả người. Rồi mai mày đi lấy
chồng th́ mẹ biết nhờ cậy ai.
Bà
lại húp liền mấy húp. Lát sau đến cả
một vụn bầu dục cũng không c̣n.
Năm
sau, cô Liên đi lấy chồng. Gặp đúng bà mẹ
chồng tai ác như mẹ ḿnh, cô mới ngấm đ̣n.
Một lần trong bữa cơm khi cô từ nhà mẹ
chồng sang chơi, cô buột miệng rủa một câu:
-Con
chỉ ước các bà mẹ chồng tai ác cứ cấm
khẩu cả loạt cho đáng đời.
Lần
đầu tiên bà Quản câm như hến.
LĂO TẠ
FIRST READING
Jeremiah 31:7-9
Thus says the Lord:
Shout with joy for Jacob, exult at the head of the nations; proclaim your
praise and say: The Lord has delivered his people, the remnant of Israel.
Behold, I will bring them back from the land of the north; I will gather them
from the ends of the world, with the blind and the lame in their midst, the
mothers and those with child; they shall return as an immense throng. They
departed in tears, but I will console them and guide them; I will lead them to
brooks of water, on a level road, so that none shall stumble. For I am a father
to Israel, Ephraim is my first-born.
SECOND READING
Hebrews 5:1-6
Brothers and
sisters: Every high priest is taken from among men and made their
representative before God, to offer gifts and sacrifices for sins. He is able
to deal patiently with the ignorant and erring, for he himself is beset by
weakness and so, for this reason, must make sin offerings for himself as well
as for the people. No one takes this honor upon himself but only when called by
God, just as Aaron was. In the same way, it was not Christ who glorified
himself in becoming high priest, but rather the one who said to him: You are my
son: this day I have begotten you; just as he says in another place: You are a
priest forever according to the order of Melchizedek.
GOSPEL Cycle B
Mark 10:46-52
As Jesus was leaving
Jericho with his disciples and a sizable crowd, Bartimaeus, a blind man, the
son of Timaeus, sat by the roadside begging. On hearing that it was Jesus of
Nazareth, he began to cry out and say, "Jesus, son of David, have pity on
me." And many rebuked him, telling him to be silent. But he kept calling
out all the more, "Son of David, have pity on me." Jesus stopped and
said, "Call him." So they called the blind man, saying to him,
"Take courage; get up, Jesus is calling you." He threw aside his
cloak, sprang up, and came to Jesus. Jesus said to him in reply, "What do
you want me to do for you?" The blind man replied to him, "Master, I
want to see." Jesus told him, "Go your way; your faith has saved
you." Immediately he received his sight and followed him on the way.
--------------------------------------------------------------------------------
My sisters and
brothers in Christ,
The Lord has
delivered His people! That means that you are I are delivered—but from what? We
hear in the first reading, from the Prophet Jeremiah, that God brings back
Israel from exile. God brings home not only those who are full of life and
energy, but also the blind and the lame and the pregnant mothers—great symbols
of vulnerable people. God brings these people from their exile and takes such
good care of them. God promises to make sure they have water and do not stumble
and He Himself will guide them.
These words are
truly consoling. Yet our human hearts cry out with other questions: why did you
let the exile happen? Why did you allow that person to become blind or lame to
begin with? And we think of the thousands of other sad and difficult situations
that we know of today: who do you let people get divorced? Why do you let what
begins as a good marriage turn to disaster? Why do terrible accidents happen
and leave people maimed? Why do you let good friends become enemies? Why do you
allow young children to be in the armies of poor countries? Why do you allow
hearts to become deformed to the point of killing others? How can you let young
people become suicide bombers? Why do you let this or that person become
alcoholic or a drug addict?
These types of situations
are the exiles of our own day! We are not longer taken taken captive physically
as a community and deported by armies. Rather, we stay right where we are and
are destroyed as a people and as a community.
Is there any answer
to why these things happen and how God is involved? If there is, most of us do
not have it. We are left with a belief in God but a lack of understanding of
how God is at work in the world. And many people even cease to believe. One
thing that we can be sure of is this: no concept of God which makes God a
monster is worthy of our belief. Many people have been raised with guilt and
with a belief that God punishes them for their sins.
As we meditate on
today’s readings, each of us needs to look into his or her own heart and ask
what we think of God. Do we believe in a God who saves or do we believe in a
God who punishes? Our ancestors struggled with this same problem and Jesus,
true God of true God and unique Son of God, comes as the final answer: God
loves and pardons and comes to save the world from sin and its consequences.
Yet we must become
like Bartimaeus in the Gospel: Jesus, I want to see. It is only when we set out
on the journey and begin to ask Jesus to see that we can expect to be given
spiritual understanding and insight. We must ask with all the energy of our
hearts. We must wait on the Lord. The true meaning of this life is this
spiritual journey. We cannot expect a textbook to be given to us. We are given
a guide: the Church. And we are given a savior in Jesus Christ. Let us begin to
walk in the Spirit and follow Jesus on the way.