CHÚA NHỰT XXX

CHỦ ĐỀ : CHÚA CHO NGƯỜI MÙ ĐƯỢC THẤY

"Thưa Thầy, xin cho tôi được thấy"  (Mc 10,50)

________________________________________

 

LỜI CHÚA

 

Bài đọc 1 Gr 31,7-9

Kẻ đui, người què, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa về.

 

Lời Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.

 

Đức Chúa phán thế này : Reo vui lên mừng Gia-cóp,hăy hoan hô dân đứng đầu chư dân !Nào loan tin, ca ngợi và công bố :"Đức Chúa đă cứu dân Người, số c̣n sót lại của Ít-ra-en !"Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về,quy tụ chúng lại từ tận cùng cơi đất.Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ :tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo.Chúng trở về, nước mắt tuôn rơi,Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng,dẫn đưa tới ḍng nước, qua con đường thẳng băng,trên đó chúng không c̣n vấp ngă.V́ đối với Ít-ra-en, Ta là một người Cha,c̣n đối với Ta, Ép-ra-im chính là con trưởng. Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca Tv 125,1-2ab.2cd-3.4-5.6 (Đ. c.3)

Đ. Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại ! Ta thấy ḿnh chan chứa một niềm vui.

 

Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,

ta tưởng ḿnh như giữa giấc mơ.

Vang vang ngoài miệng câu cười nói,

rộn ră trên môi khúc nhạc mừng. Đ.

 

Bấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán :

"Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !"

Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !

Ta thấy ḿnh chan chứa một niềm vui. Đ.

 

Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,

như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.

Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,

mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Đ.

 

Họ ra đi, đi mà nức nở,

mang hạt giống văi gieo;

lúc trở về, về reo hớn hở,

vai nặng gánh lúa vàng. Đ.

 

Bài đọc 2 Dt 5,1-6

Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.

 

Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Do-thái.

Thưa anh em, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi v́ chính ḿnh cũng đầy yếu đuối; mà v́ yếu đuối, nên vị thượng tế phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, th́ cũng phải dâng lễ đền tội cho chính ḿnh như vậy. Không ai tự gán cho ḿnh vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đă được gọi. Cũng vậy, không phải Đức Ki-tô đă tự tôn ḿnh làm Thượng Tế, nhưng là Đấng đă nói với Người : Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đă sinh ra Con, như lời Đấng ấy đă nói ở một chỗ khác : Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê. Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng x. 2 Tm 1,10

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đă tiêu diệt thần chết, và đă dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng Mc 10,46-52

Thưa Thầy, xin cho tôi nh́n thấy được.

 

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Giê-ri-khô. Khi Đức Giê-su cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Giê-ri-khô, th́ có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, anh ta tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Vừa nghe nói đó là Đức Giê-su Na-da-rét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng : "Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi !" Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng : "Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ ḷng thương tôi !" Đức Giê-su đứng lại và nói : "Gọi anh ta lại đây !" Người ta gọi anh mù và bảo : "Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy !" Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Đức Giê-su. Người hỏi : "Anh muốn tôi làm ǵ cho anh ?" Anh mù đáp : "Thưa Thầy, xin cho tôi nh́n thấy được." Người nói : "Anh hăy đi, ḷng tin của anh đă cứu anh !" Tức khắc, anh ta nh́n thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Đó là lời Chúa.

 

 

Minh họa

- Mille images 106 C

- "Thưa Thầy, xin cho tôi được thấy" (Mc 10,50)

 

Sợi chỉ đỏ :

 

- Bài đọc I (Gr 31,7-9) : "Kẻ mù, người què, Ta sẽ an ủi và dẫn đưa về"

- Tin Mừng (Mc 10,46-52) : Đức Giêsu làm cho anh mù Bartimê được thấy.

 

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

 

Anh chị em thân mến

 

Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện anh mù Bartimê kêu xin Đức Giêsu "Lạy Thầy, xin cho con được thấy". Và Đức Giêsu đă cứu chữa anh. Chúng ta cũng có thể dùng lời của Bartimê để cầu xin với Chúa, bởi v́ chúng ta cũng mù loà về rất nhiều điều.

 

II. GỢI Ư SÁM HỐI

 

- Chúng ta mù ḷa không thấy những bằng chứng của t́nh thương Chúa rất nhiều chung quanh chúng ta và trong cuộc đời chúng ta.

- Chúng ta mù ḷa không thấy những cảnh khổ của anh chị em chúng ta.

- Chúng ta mù ḷa không thấy lỗi lầm khuyết điểm của chúng ta.

 

III. LỜI CHÚA

 

1. Bài đọc I (Gr 31,7-9)

 

Ngôn sứ Giêrêmia nói tiên tri về thời giải phóng. Khi đó Thiên Chúa sẽ đưa dân từ chốn lưu đày trở về quê hương ; tất cả những người đau khổ, mà đại biểu là những người mù, què, tàn tật sẽ được cứu chữa.

 

2. Đáp ca (Tv 125)

 

Bài ca mừng cuộc giải phóng khỏi kiếp lưu đày.

 

3. Tin Mừng (Mc 10,46-52)

 

Liền sau chuyện Giacôbê và Gioan xin địa vị ưu tiên trong "nước" Đức Giêsu sắp thành lập, Mc viết tiếp chuyện anh Bartimê như để "sửa lưng" các môn đệ. Bartimê là tấm gương cho tất cả những ai muốn "thấy" Đức Giêsu thực sự là ai và thực ḷng muốn "đi theo" Ngài.

- Mặc dù mù, nhưng anh tha thiết "xin cho tôi được thấy", và cuối cùng anh đă thấy. Khi thấy rồi, anh c̣n "đi theo" Đức Giêsu lên Giêrusalem (ở đó Ngài sẽ chịu nạn chịu chết và sống lại).

- Trước đó, khi được Đức Giêsu gọi, anh đă từ bỏ ("liệng áo choàng"), thay đổi nếp sống (từ "ngồi ở vệ đường" đến "đứng dậy"), quy hướng về Đức Giêsu ("nhảy đến với Đức Giêsu").

 

4. Bài đọc II (Dt 5,1-6) (Chủ đề phụ)

 

Tác giả thư Do thái tiếp tục suy tư về vai tṛ của Vị Thượng Tế người phàm : (1) Vị đó được chọn từ giữa loài người, (2) để đại diện cho loài người trong các tương quan với Thiên Chúa. (3) V́ cũng mang thân phận loài người tội lỗi, nên chẳng những vị ấy dâng lễ đền tội cho dân, mà c̣n phải dâng lễ đền tội cho chính ḿnh.

 

IV. GỢI Ư GIẢNG

 

* 1. Sáng đôi mắt đức tin

 

Một nhóm sinh viên tổ chức tham quan mỏ than Scottish ở Anh Quốc. Mỗi sinh viên được phát một nón bảo hộ của thợ mỏ, đằng trước nón có gắn bóng đèn nổi với một b́nh điện đeo ở thắt lưng.

 

Người hướng dẫn đưa họ vào buồng thang máy xuống tận đáy hầm than. Tới nơi, ông đề nghị các sinh viên bật đèn trên nón bảo hộ v́ con đường dẫn đến khu khai thác tối đen như mực. Mái ṿm chỉ cao một mét hai, nên mọi người phải cúi rạp xuống khi di chuyển. Than được chở trên băng tải và đổ vào các toa trên đường ray.

 

Ngay trước khi nhóm sinh viên đến khu khai thác, người hướng dẫn nói : "Các bạn hăy tắt tất cả các đèn trên nón". Mọi người đều làm theo. Trong tăm tối, người thợ mỏ nói : "Hăy cố gắng nh́n kỹ vào ngón tay của bạn". Chẳng ai thấy ǵ cả. Một vài người bắt đầu sợ hăi. Rồi người thợ mỏ nói một câu mà các sinh viên không bao giờ quên được : "Đây là t́nh trạng của những người mù". Tất cả sinh viên đều hiểu ra. Bị mù th́ không bao giờ thấy được ánh sáng hoặc bất cứ thứ ǵ khác. Họ cũng hiểu tại sao những người thợ mỏ lại thích bầu trời trong xanh và ánh nắng rực rỡ của mặt trời.

 

*

 

"Có đau mắt mới biết thương người mù". Các sinh viên trong câu chuyện trên đây đă cảm nghiệm trong giây lát nỗi khổ của người mù. Họ không chỉ khổ nơi thân xác mà c̣n khổ trong tâm hồn. Quả thật, người mù đă không được nh́n thấy ánh sáng mặt trời, không được nh́n ngắm người thân bạn bè, mà c̣n bị mặc cảm lệ thuộc kẻ khác, sống bên lề xă hội.

 

Hôm nay Đức Giêsu chữa người hành khất mù Báctimê. Anh mù loà, "ngồi bên vệ đường" ăn xin, nghe biết Đức Giêsu đi qua, anh thống thiết kêu van : "Hỡi ông Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót con" (Mc.10,47). Người ta ngăn cấm anh, nhưng anh càng tin tưởng kêu to hơn : "Hỡi con vua Đavít, xin thương xót con". Người cho gọi anh, anh sung sướng, liệng áo choàng, đứng phắt dậy, đến cùng Người : "Lạy Thầy, xin cho con được sáng" ( Mc.10,51). Tức th́ anh ta thấy được.

 

Và khuôn mặt đầu tiên anh nh́n thấy chính là Đức Giêsu, Đấng đă đến để thắp sáng đời anh. Người phán : "Đức tin của anh đă chữa anh" (Mc.10,52).

 

Đích thực, Báctimê đă mù đôi mắt thể xác, nhưng lại sáng đôi mắt Đức tin, v́ anh đă thấy Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế khi gọi Người là "con vua Đavít".

 

Báctimê đă mù đôi mắt thể xác, nhưng lại sáng đôi mắt tâm hồn, v́ anh đă thấy Đức Giêsu là người có quyền chữa anh khỏi bệnh mù loà.

 

Với đôi mắt đức tin, anh đă chẳng sợ người ta cấm cản. Càng đe dọa, anh càng lớn tiếng kêu xin thống thiết hơn.

 

Với đôi mắt đức tin, anh đă liệng bỏ áo choàng là phương tiện để nhận quà tặng, cởi bỏ đời sống ăn xin, từ bỏ thân phận mù loà, rũ bỏ đời sống tối tăm, đến miền ánh sáng t́nh yêu và sự sống.

 

"Lạy Thầy, xin cho con được thấy". Đó phải là lời cầu xin hằng ngày của mỗi người chúng ta. V́ sẽ có những lúc chúng ta không thấy, hoặc cố ư không muốn thấy. Có những lúc chúng ta thấy mặt này mà chẳng thấy mặt kia. Mù loà thể xác ai cũng biết, nhưng mù loà tâm hồn th́ không dễ nhận ra. Nên chúng ta hăy xin Chúa xóa cảnh mù loà cho ḿnh. V́ chỉ "trong ánh sáng của Chúa, chúng ta mới nh́n thấy ánh sáng".

 

*

 

Lạy Chúa,

Xin cho mắt tâm hồn chúng con được sáng, để chúng con thấy Chúa là tất cả, thấy anh em thật dễ mến dễ thương, và thấy ḿnh càng nhỏ bé đi, trong bàn tay yêu thương của Chúa. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

 

* 2. Thị giác và thị lực

 

Cần phải phân biệt thị giác và thị lực. Thị giác là khả năng của đôi mắt có thể thấy. Thị lực là mức độ thấy của khả năng ấy : nhiều hay ít, xa hay gần, rơ hay mờ v.v. Người cận thị chỉ thấy được rất gần ; người viễn thị th́ thấy xa hơn. Thí dụ này giúp ta hiểu rằng chỉ có thị giác thôi th́ chưa đủ, mà c̣n phải có thị lực tốt.

 

Hiểu rộng hơn một chút, thị lực không phải chỉ là mức độ thấy của đôi mắt, mà c̣n là của trí óc và của con tim. Có người chỉ thấy được cái thế giới chật hẹp và ích kỷ của bản thân ḿnh ; có người thấy được hoàn cảnh, tâm tư và nguyện vọng của người khác.

 

Đức Giêsu là người có thị lực rất tốt : Ngài thấy Natanael đang ngồi dưới gốc cây vả trước khi ông t́m đến với Ngài ; Ngài thấy tấm ḷng của một bà goá dâng hai xu trong thùng tiền đền thờ ; Ngài thấy cơi ḷng tan nát của người phụ nữ ngoại t́nh bị lôi đến sân đền thờ để chịu xét xử v.v.

 

Anh chàng Bartimê trong bài Tin Mừng hôm nay tuy mù nhưng cũng có thị lực tốt v́ anh đă thấy được Đức Giêsu là Đấng Messia "Con Vua Đavít".

 

Không phải chúng ta có đôi mắt tốt th́ đương nhiên chúng ta có thị lực tốt đâu. Vậy chúng ta hăy xin với Đức Giêsu : "Thưa Thầy xin cho con được thấy".

 

3. Đứng trước một người tàn tật

 

Đoạn Tin Mừng của Thánh Marcô kể chuyện CG cứu chữa một người mù có thể gợi lên vài suy nghĩ :

 

1. Ở đời chúng ta thấy có nhiều người tàn tật : có người th́ mù, có người th́ què, có người th́ câm, có người th́ rối loạn thần kinh... Trong số họ, có những kẻ bị tàn tật v́ do một tai nạn, nhưng cũng có rất nhiều người bị tàn tật như thế ngay từ lúc mới sinh.

 

Đứng trước những người tàn tật ấy, người ta có thể có nhiều thái độ khác nhau : trẻ con th́ vô tâm đến tàn nhẫn và chọc ghẹo những người đó "1,2,3 thằng cha bán kẹo què gị, c̣n một gị đi kéo xe lôi" ; những kẻ có ḷng hơn th́ không nở chọc ghẹo nhưng ngậm ngùi tội nghiệp thông cảm ; người thân của kẻ tàn tật th́ đau khổ xót thương : năm 1962, tại thành phố Liège nước Bỉ có một bà mẹ sinh ra một đứa con h́nh dáng không ra con người mà là giống như một con vật. Bà đau đớn quá và giết chết đứa con ấy đi. Người ta đem bà ra toà v́ tội giết con. Nhưng toà án tha bổng v́ thông cảm với nỗi đau khổ của bà và nỗi đau khổ của đứa con ấy nếu nó sống và phải gánh chịu.

 

Nhưng ngoài những thái độ chọc ghẹo, tội nghiệp và thương xót đó, người tín hữu chúng ta c̣n có thể có suy nghĩ nào hơn nữa không ? Thưa có, đó là suy nghĩ về cuộc đời và những bất công của cuộc đời. Cuộc đời này quả thực có nhiều bất công : có người sinh ra th́ mạnh khoẻ xinh đẹp, có người sinh ra th́ tàn tật xấu xí. Có kẻ sinh ra đă nằm sẵn trong một gia đ́nh giàu có, địa vị ; c̣n có kẻ sinh ra nhằm một gia đ́nh cơ cực túng thiếu. Một người vừa mới sinh ra đă mạnh khoẻ, thông minh và thuộc một gia đ́nh giàu có th́ hầu như sẽ rất dễ thành công trong đời ; c̣n một người sinh ra mà tàn tật, ngu đần lại nghèo khổ nữa th́ rất khó mà ngóc đầu lên được trong xă hội. Thử hỏi những kẻ xấu số đó bản thân của họ có làm ǵ nên tội mà phải gánh chịu những thiệt tḥi như vậy ? Họ không có tội nhưng họ phải chịu thiệt tḥi, đó là một sự bất công.

 

Mà bất công th́ đ̣i hỏi phải sửa lại cho công bằng. Nhưng có những trường hợp không thể sửa lại cho công bằng được. Chẳng hạn trường hợp cái quái thai do bà mẹ người Bỉ kia sinh ra, người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm. Bà mẹ ấy đă giết nó chết đi, như thế có phải là công bằng không ? chắc chắn là không. C̣n nếu không giết chết nó th́ phải nuôi sống nó, nuôi thật chu đáo, đầy đủ, cưng chiều nó đủ thứ, nhưng như thế có phải là công bằng chưa ? Cũng chưa v́ chăm sóc chiều chuộng bao nhiêu đi nữa cũng chỉ là xoa dịu phần nào những đau khổ của nó mà thôi, chứ không thể nào bù đắp được những thiệt tḥi cho nó bằng một người b́nh thường không tàn tật. Bất công cũng vẫn c̣n là bất công thôi.

 

Nhưng chính những cái bất công ở đời này và sự bất lực không tạo được sự công bằng ở đời này đă giúp cho chúng ta tin rằng phải có một thế giới công bằng ở đời sau. Bởi v́ nếu tất cả đều kết thúc ở đời này th́ thật là chua xót quá đối với những kẻ xấu số tàn tật, thà họ không được sinh ra c̣n hơn. Thiên Chúa, Đấng đă tạo dựng nên họ không thể nào tàn nhẫn quá đến nỗi tạo ra họ chỉ là để cho họ chịu khổ đau. V́ thế mà chắc chắn phải có một cơi đời sau, khi đó mọi bất công sẽ không c̣n, những thiệt tḥi sẽ được bù đắp xứng đáng, và công b́nh sẽ được thực hiện trọn vẹn.

 

Đó là ư nghĩa của những lời cầu nguyện đầy tin tưởng mà những kẻ xấu số đă kêu lên trong thánh vịnh 125 : "Lạy Chúa, xin hăy đổi số phận cho con, như những ḍng suối ở miền Nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan". Mà cũng là ư nghĩa lời hứa hẹn ngầm của CG khi ra tay cứu chữa anh Bartimê khỏi bị mù trong bài Tin Mừng hôm nay, cũng là điều mà tiên tri Giêrêmia tiên báo trong bài thánh thư hôm nay "Ta sẽ lấy ḷng từ bi mà dân dẫn dắt những kẻ đui mù què quặt..."

 

Tóm lại, những cảnh bất công ở đời vừa làm cho ḷng ta thương cảm, mà cũng vừa giúp chúng ta tin chắc rằng phải có một cơi đời sau, công bằng hơn, hoàn hảo hơn và hạnh phúc hơn. Ở đời này có một số bất công mà con người không thể nào bù đắp cho công bằng được, như tàn tật chẳng hạn.

 

Nhưng chính các bất công không bù đắp được mấy khiến loài người mơ tối một cơi đời khác sẽ không c̣n bất công.

 

Và qua phép lạ cứu chữa một người mù, CG cho thấy rằng quyền năng TC có thể tạo ra một cơi đời như thế.

 

Như vậy phép lạ này là một bằng chứng về cơi đời sau. Đó là niềm tin của người Công giáo chúng ta.

 

* 4. Tâm sự của một người mù

 

Helen Keller bị mù và điếc từ lúc mới 19 tháng tuổi. Cô tâm sự như sau :

 

Một hôm, một người bạn của tôi vừa đi dạo trong rừng trở về. Tôi hỏi xem cô ấy đă thấy những ǵ. Cô bạn đáp : "Chẳng có ǵ đặc biệt cả".

 

Tôi rất ngạc nhiên và tự nhủ "Không thể nào như thế được". Bản thân tôi đây, vừa mù vừa điếc, thế mà chỉ với đôi tay sờ soạng, tôi vẫn cảm nhận được hàng trăm điều thích thú quanh tôi. Tôi cảm thấy được h́nh dáng dễ thương và sự mềm mại của chiếc lá. Chỉ cần đặt bàn tay lên cành cây nhỏ đang rung rinh là tôi cảm nhận được tiếng hót líu lo của con chim nhỏ đang đậu trên đó.

 

Bất hạnh lớn nhất không phải là bị mù, mà là có mắt nhưng không nh́n thấy.

 

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, người mù ăn xin đă cảm nghiệm tất cả mỗi khốn cùng của ḿnh, nên khi gặp Đức Giêsu, anh đă van nài Chúa thương xót. Chúng ta hăy van nài xin Chúa thương xót chúng ta :

 

1. Xin cho mọi người trong Hội thánh luôn trở thành ánh sáng đem lại hy vọng / cho những người đang sống trong bóng tối của lầm lạc và thất vọng.

 

2. Xin cho các nhà cầm quyền trong xă hội / biết lo lắng cho những người mù ḷa bệnh tật / để giúp họ được chữa lành / hoặc được sống trong niềm vui và hạnh phúc.

 

3. Xin cho những người bị đui mù cả phần xác lẫn phần hồn / được có dịp gặp gỡ Đức Giêsu / và được Đức Giêsu thương chữa lành.

 

4. Xin cho anh chị em giáo hữu trong xứ đạo chúng ta luôn ư thức rằng / bệnh đui mù phần hồn c̣n tai hại hơn đui mù phần xác / để luôn nài xin Chúa ǵn giữ ḿnh thoát khỏi căn bệnh tai hại ấy.

 

Chủ tế  : Lạy Chúa, đức tin của chúng con c̣n yếu kém và nhiều khi c̣n mù quáng, chúng con nài xin Chúa thương ban thêm đức tin, để chúng con trở nên đèn sáng dẫn đường cho mọi người đến với Chúa. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô...

 

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Hôm nay khi đọc kinh Lạy Cha, chúng ta hăy đặc biệt xin Chúa giúp chúng ta không c̣n mù ḷa nữa, nhưng thấy được thánh ư Chúa Cha trong cuộc đời chúng ta.

 

VII. GIẢI TÁN

Sau khi được Đức Giêsu chữa khỏi mù, anh Bartimê đă nh́n thấy được và đi theo Đức Giêsu trên con đường Ngài đi. Chúng ta cũng được Chúa cho thấy con đường mà chúng ta phải đi để theo Chúa. Chúng ta hăy hăng hái tiến bước trên con đường ấy.

 

 

 

Chúa Nhật 30B Thường Niên
Mc 10, 46 - 52
Lm. Nguyễn Khảm


Trong bài hát Kinh Hoà B́nh của thánh Phanxicô Assisi, chúng ta hát lên: “Lạy Chúa, xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục...” Chúng ta lại hát tiếp: “Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.

Lời kinh này không chỉ là một lời cầu nguyện mà c̣n là một lời kinh diễn tả lối sống đích thực của mỗi người Kitô hữu. Như vậy bổn phận của ḿnh không phải chỉ là đem yêu thương vào nơi oán thù mà c̣n phải dọi ánh sáng vào nơi tối tăm.

Có một câu chuyện kể như thế này:

Một anh mù đi thăm một người bạn. Đă lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên măi quên cả thời gian. Khi trời tối mịt th́ anh mù mới cáo từ ra về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh muốn đùa hả? Tôi mù th́ ngày và đêm có khác ǵ nhau đâu”. Anh bạn vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám đùa với anh, ư tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lư liền vui vẻ hiên ngang xách đèn ra về. Đi được một đoạn th́ có một người đi ngược chiều đụng phải, làm anh mù ngă xuống vệ đường. Quá tức giận, anh lồm cồm ngồi dậy chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn sáng như thế này mà không thấy hả?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt mẹ từ lúc nào mà c̣n chửi người ta”.

Coi chừng chúng ta lại rơi vào t́nh trạng như thế. Nếu ḿnh rơi vào t́nh trạng đấy th́ rất nguy hiểm. Làm sao có thể dọi ánh sáng vào nơi tối tăm khi mà chúng ta không có ánh sáng, hoặc ánh sáng chúng ta đă bị tắt ngấm từ lâu.

Đặt câu hỏi như thế th́ chúng ta thấy anh mù Bactimê sẽ trở thành gần gũi với ḿnh hơn. Anh ta không c̣n là khuôn mặt xa lạ của 20 thế kỷ trước, mà giờ đọc lại ḿnh có cảm tưởng như là đọc truyện cổ tích. Anh ta giờ trở thành một khuôn mặt mời gọi ḿnh suy nghĩ về vấn đề của chính cuộc đời ḿnh.

Ngày nay người ta nói đến mù chữ, vài năm nay lại thêm mù vi tính. Một thứ mù về mặt trí tuệ. Phúc Âm kể cũng có lần Chúa Giêsu mắng các môn đệ: “Các ngươi có mắt mà cũng như mù”. Và đây là một thứ mù về mặt tâm linh.

Khi kể câu chuyện này tôi không nhắm đến mù thân xác, v́ thời đó có rất nhiều người mù, nhưng Chúa Giêsu không chữa cho tất cả. Ngài chỉ chữa cho một số người mang tính biểu tượng. Cũng không phải thánh Maccô nói đến mù chữ, v́ chúng ta không nghe kể Chúa Giêsu mở lớp t́nh thương để dạy học. Như vậy chắc chắn là thánh Macco nhấn mạnh mù về mặt tâm linh, mù về mặt tinh thần. Ta có thể hiểu như thế nào về t́nh trạng mù này?

Có một câu chuyện kể về các người mù rủ nhau đi xem voi. Xem xong th́ cùng nhau ngồi lại bàn tán, mô tả xem con voi nó giống như cái ǵ?

Anh sờ được cái chân th́ dơng dạc tuyên bố: con voi nó giống như cái cột nhà.

Anh khác th́ oang oang: con voi nó giống như cái quạt. V́ anh này rờ được ngay cái tai của nó.

C̣n các anh sờ cái bụng, cái ṿi. Ta không biết họ sẽ mô tả con voi giống như cái ǵ.

Suy nghĩ kỹ chuyện này th́ thấy cũng thấm thía lắm. Tôi muốn chia sẻ với anh chị em là: chúng ta có thể rơi vào t́nh trạng mù về mặt tinh thần, có nghĩa là ta không nh́n thấy được chân lư toàn diện về cuộc sống. Ta chỉ nh́n thấy chân lư phiến diện như anh mù mô tả con voi “nó giống như cái cột nhà”, như thế là rất phiến diện.

Từ 30 năm về trước, một nhà xă hội học Mỹ... đă lên tiếng về con người thời đại. Ông gọi: “Con người một chiều kích”. Tôi thấy nhận xét ấy vẫn đúng cho đến ngày nay và chắc có lẽ càng ngày sẽ càng đúng hơn.

Cuộc sống con người chúng ta được đan kết bằng nhiều chiều kích. Có một chiều kích hướng thượng, ḿnh gọi là chiều dọc trong mối quan hệ với Thiên Chúa. Có một chiều kích ngang nữa, trong quan hệ b́nh đẳng yêu thương đối với mọi người, và có một chiều quan hệ đối với thế giới vật chất.

Càng ngày con người ta càng quên mất cái chiều hướng thượng, quên mất mối quan hệ hàng ngang với anh em trong t́nh yêu thương, mà chỉ quan tâm đến quan hệ t́nh bạn với thế giới vật chất.

“Con người một chiều kích”. Chúng ḿnh không khám phá, không sống được cái chân lư toàn diện về cuộc sống của con người. Nguyên nhân nào có thể dẫn đến t́nh trạng đó.

Trở lại với hoàn cảnh của những anh em khiếm thị. Hầu hết đều bị mù từ lúc mới sinh. Có một số do tai nạn sau này. Nếu hiểu mù là ḿnh không thấy sự vật th́ cũng có lúc ḿnh cũng không nh́n thấy mặc dù mắt ḿnh vẫn sáng. Chẳng hạn như có sự cố cúp điện hay lúc ḿnh bị đau mắt phải lấy khăn che mắt cho đỡ chói, đỡ nhức. Những h́nh ảnh ấy khiến tôi nghĩ đến t́nh trạng mù về mặt tinh thần. Nếu bảo về tinh thần mù ḷa từ lúc mới sinh th́ không thể tin được.

Tất cả mọi người đều là h́nh ảnh của Thiên Chúa, v́ thế Thiên Chúa đều ban tặng cho mọi người khả năng nhận biết chân lư.

Ta có thể rơi vào t́nh trạng mù tâm linh là do nguyên nhân thứ 2, thứ 3. Nghĩa là ḿnh thiếu ánh sáng. Do những hoàn cảnh và những môi trường sống.

Hiểu như vậy, ta thấy rằng hầu hết chúng ta đều là những người mù đáng thương về mặt tâm linh. V́ vậy, chúng ta hăy khiêm tốn chạy đền với Chúa để người chữa trị. Người sẽ giúp chúng ta nh́n thấy chân lư toàn vẹn. Người sẽ giúp chúng ta nhận ra TC là Cha của chúng ta và mọi người là anh em của ta. Người sẽ giúp ta nhận ra con đường tiến về nhà Cha trên Trời. Con đường đó là con đường CGS đă đi và đă tới đích. Và đó cũng là con đường hẹp, con đường ngược dốc, con đường thập giá nhưng là con đường dẫn đến sự sống vinh quang và vĩnh cửu. Amen.

 

 

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

Chúa nhật 30 tn-B

Bài đọc: Gr 31 ; 7-9 : Dt 5 ; 1-6 : Mc 10 : 46-52

 

Mục lục

MIKE VÀ NGƯỜI HÀNH KHẤT (Mark Link S.J.)   

“ĐỨC TIN CỦA CON ĐĂ CỨU CON”(N. Quesson)

NH̀N CÁI TỐT (Gm. Arthur Tonne)......

CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez     

 

MIKE VÀ NGƯỜI HÀNH KHẤT

Mark Link S.J.

Chủ đề :

Nhiều người cố gắng đi t́m gặp Chúa Giêsu, nhưng họ bị cản trở nhiều hơn là được giúp đỡ, nhất là những người trẻ.

 

Cách đây nhiều năm có một đôi vợ chồng đă gởi lá thứ ngỏ này đến các bậc cha mẹ và sinh viên của một trường trung học ở một thành phố phía Nam:

“Các bạn sinh viên học sinh cùng quí phụ huynh thân mến, thứ năm vừa qua, chúng tôi mới chôn cất đứa con trai của chúng tôi. Câu chuyện xảy ra là hôm thứ ba, nó vào pḥng ngủ của nó và tự sát bằng cách tự bắn vào thái dương của ḿnh: viên đạn xuyên thẳng qua óc nó, hầu như không phọt ra một giọt máu nào nên chúng tôi cũng đỡ phải đau đớn, Nó tên là Mike, một cậu bé sáng sủa đẹp trai, thông minh,nhút nhát và học hành lanh lợi. V́ thế, khi nghe tin nó chết, bạn bè nó đă gọi điện thoại liên tục đến chia buồn.  người ra kẻ vào trong nhà liên tục suốt cả ngày. Bản báo cáo của Coroner cho thấy không hề có dấu hiệu ǵ liên quan đến ma tuư.

“Thực sự, Mike có rất nhiều bạn bè, nhưng mỗi đứa đều có nhận thức riêng của ḿnh về thực tại - thực tại của riêng ḿnh. Tối chúa nhật, Mike say rượu và nó đă nói chuyện lâu giờ với chúng tôi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận ra rằng nhận thức lạc quan của chúng tôi về t́nh trạng cuộc đời nó không giống như nhận thức của nó. Nó rất buồn v́ cảm thấy bạn bè nó chả quan tâm ǵ đến nó, đang khi chúng tôi lại nghĩ rằng bạn bè nó rất quan tâm đến nó.

“Chúng tôi tin rằng tất cả quí bạn đều có thể giúp Thiên Chúa làm cho thế giới này trở thành một nơi hạnh phúc hơn. Trong khoảng giữa tuổi 20 và 35, người ta mới bắt đầu cảm thấy đủ chắc chắn để nói với bạn bè: “Tôi yêu bạn’ hoặc “Tôi sui sướng được làm bạn với bạn” quí bạn hăy anh dũng lên, bởi v́ vào lứa tuổi của các bạn, quả thật thốt ra một câu nói như thế th́ quả là ngại ngùng và thấy hơi bất thường, nhưng xin các bạn hăy vui ḷng nói ra cho bạn bè của ḿnh biết rằng họ là bạn của các bạn, và các bạn vẫn quan tâm đến họ. Điều này hết sức quan trọng v́ có nhiều người vẫn cảm thấy rất cô đơn ngay cả khi có rất nhiều người đang vây quanh người ấy. Cũng có thể có vài người trong trường của các bạn thực sự không có bạn bè ǵ cả. Chả ai gọi địên thoại thăm hỏi họ và chẳng bạn bè nào bước đến nhà chơi. Quí bạn hăy kết bạn với những bạn ấy. Họ đang thực sự cô đơn đấy. Nếu Mike đă cảm thấy nỗi thất vọng ê chề như thế đang khi nó c̣n có nhiều bạn bè th́ chúng ta hăy tưởng tượng xem những người bạn này sẽ c̣n cảm thấy và phải chịu đựng buồn phiền và cô đơn biết chừng nào!

“Chúa sinh ra mỗi người chúng ta trên trần gian là để làm việc thiện và để đem lại niềm vui. Xin quí bạn vui ḷng giúp đỡ làm cho cái chết của Mike mang lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới một cách thiết thực cụ thể. Để trưởng thành đ̣i hỏi phải chịu đựng lắm gian khổ và mỗi người chúng ta cần rút tỉa nhiều điều hữu ích cho chính ḿnh. Gia đ́nh và cha mẹ các bạn là quan trọng, nhưng bạn bè cùng trang lứa cũng quan trọng không kém. V́ vậy, xin các bạn hăy vui ḷng, vui ḷng mở rộng tâm hồn ra và bảo với bạn bè ḿnh rằng các bạn yêu thương họ. Xin gởi t́nh yêu đến tất cả quí bạn”. Lá thư trên do chính cha mẹ Mike kư tên.

Cha mẹ Mike đă viết lá thứ trên với biết bao t́nh yêu thương và can đảm. Đó là nhưng cái khiến lá thư đó thật tuyệt vời, thật là hữu hiệu. Đó là những ǵ khiến nó trở thành lá thư mà mỗi bạn trẻ và các bậc phụ huynh nên đọc.

Tôi nghĩ rằng chúng ta nên ịoc lá thư ấy, đặc biệt trong ngày hôm nay, bởi v́ chàng hành khất mù loà trong Phúc Âm hôm nay rất có thể trạc tuổi Mike. Cũng như Mike, anh ta cố gắng tiếp cận Chúa Giêsu theo cách thức tốt nhất anh biết được. Cũng như Mike, anh đang t́m kiếm sự giúp đỡ từ những người chung quanh. Và cũng như Mike, thay v́ được những kẻ chung quanh giúp đỡ, anh lại bị phản đối; Quả thế, thay v́ được trợ giúp từ đám đông, th́ anh bị chửi rủa và khước từ thẳng thừng.

Bài Phúc Âm kể rằng khi chàng hành khất nói với Đức Giêsu: “Lạy Con vua Đavi! Xin hăy xót thương tôi” th́ nhiều người quở mắng và bảo anh câm miệng. Nói cách khác, thay v́ nắm tay người hành khất dẫn đến với Đức Giêsu th́ họ lại túm cổ lôi chàng ra xa Ngài. Chỉ có một người tiến đến giúp đỡ chàng hành khất. Người đó là ai? Chẳng ai cả ngoài chính Đức Giêsu. Khi nghe dân chúng la mắng người hành khất. Ngài đă dừng lại và truyền dẫn anh đến với Ngài. Chỉ có lúc đó dân chúng mới thay đổi thái độ. Chỉ có lúc đó họ mới chịu giúp đỡ người bạn bất hạnh kia.

Bài Phúc Âm hôm nay thúc giục chúng ta tự vấn chính ḿnh. Có biết bao chàng Mike và bao kẻ hành khất mù loà đang cố gắng đến với Chúa Giêsu? Bao nhiêu người như thế đang bị đối xử như kẻ hành khất mù loà trong bài Phúc Âm hôm nay? Và biết bao người trong chúng ta đang gây chán nản thất vọng cho những chàng Mike và những kẻ hành khát mù loà ấy một cách vô t́nh không ư thức?

Ngoài ra, bài Phúc Âm hôm nay c̣n mời gọi chúng ta tự vấn xem ai là những chàng Mike, là những kẻ hành khất mù loà trong đời sống chúng ta? Chúng ta đang làm ǵ để giúp đỡ những thanh thiếu niên này trong khi họ nỗ lực một cách vụng về nhằm tiến đến gặp Chúa Giêsu? Bài Phúc Âm mời gọi chúng ta thi hành những ǵ mà hai phụ huynh đầy can đảm của Mike đă yêu cầu các phụ huynh và sinh viên của trường trung học miền Nam kia. Tôi xin đọc lại đoạn thư đầy xúc động ấy: “Chúa sinh ra mỗi người chúng ta trên trần gian là để làm điều thiện và đem lại niềm vui. Xin quí bạn vui ḷng giúp đỡ làm cho cái chết của Mike mang lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới một cách thiết thực cụ thể”.

Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi ta làm cho cái chết của Mike mang lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới một cách cụ thể, thiết thực.

Chúng ta hăy kết thúc bằng lời cầu nguyện thường được đọc trong một vài dịp trước đây. Lời nguỵên này chỉ ra cho chúng ta phương cách cụ thể để mang lại t́nh thương và niềm vui cho thế giới chúng ta:

“Lạy Chúa từ nhân, xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của Chúa, để con: đem yêu thưong vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lư vào chốn lỗi lầm, để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem ủi an đến chốn u sầu. Lạy Chúa xin hăy dạy con: T́m an ủi người, hơn được người ủi an, t́m hiểu biết người hơn được người hiểu biết, t́m yêu mến người hơn được người mến yêu. V́ chính khi hiến thân là khi được nhận lănh, chính lúc quên ḿnh là lúc gặp lại bản thân, v́ chính thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời’.

 

“ĐỨC TIN CỦA CON ĐĂ CỨU CON”

N. Quesson

Năm 1945, tại nhà ga Verona bên Ư, dân chúng đang náo nức chờ các binh sĩ trở về từ các trại tập trung của Đức Quốc Xă.

Một người lính trẻ hai mắt đă bị hư, anh lần ṃ từng bước trên sân ga tiến về chỗ một bà già. Anh la lên; Mẹ ! Và hai mẹ con ôm chầm lấy nhau khóc nức nở. Bà mẹ xót xa nói: “Làm sao một người mù loà như con mà vẫn về được với mẹ?”. Người lính đáp: “Con không nh́n thấy mẹ bằng mắt, nhưng trái tim đă hướng dẫn con”.

Người mù thành Giêricô cũng đă đến với Chúa Giêsu bằng trái tim. Anh không được nh́n Chúa, nhưng niềm tin của anh đă dẫn anh đến với Người. Anh được nghe nhiều về Người, và ḷng trí anh đă ghi nhớ được một số điều căn bản. V́ thế, nghe xôn xao có Chúa đến gần anh đă phát biểu niềm tin của ḿnh bằng tiếng kêu lớn: “Lạy Đức Giêsu, con Vua David, xin thương con”. Do thiện chí và do ơn trên soi sáng, anh mù đă nhận ra Đấng Cứu Thế. Khi người ta bảo: “Hăy vững tâm đứng dậy, Thầy gọi anh đó”. Anh vội vă liệng áo choàng, nhẩy lên và chạy tới Chúa. Chúa chữa lành anh bằng một lời khen ngợi: “Đức tin của con đă cứu con”. Anh được khỏi bệnh và gia nhập vào đoàn ngũ những người theo Chúa.

Theo Thánh Marcô th́ đây là phép lạ sau cùng Chúa thực hiện trước khi chịu thương khó. Dứới ng̣i bút của Thánh Marcô, các môn đệ Chúa cho tới giờ chót vẫn như những người mù; sự kiện này làm Chúa rất bận tâm. Chúa đă ba lần tiên báo về cuộc khổ nạn (Mc. 8,31;9,31;10,34). Và nhiều lần nói về số phận các tín hữu muốn trung kiên với Chúa phải sẵn sàng hy sinh mạng sống (8,35), phải chọn địa vị rốt hèn (9, 35), phải sẵn sàng móc mắt, chặt bỏ tay chân để khỏi phạm tội (9,47), phải uống chén đắng và trở nên đầy tớ mọi người (10,38-44)… Những điều này cho tới giờ các tông đồ vẫn chưa hiểu. Theo Chúa mà như vậy, Thầy đi một đường, tṛ đi một lối như vậy đâu có được! Đúng là không thể được. Không thể thành môn đệ bằng lối suy tư con người. Cần thiết phải có ơn Chúa, phải được Chúa mở mắt, đem ánh sáng cho. Có vậy mới nh́n ra giá trị ơn cứu độ của Chúa và mới biết lựa chọn thái độ người tín hữu, theo sự hướng dẫn của Chúa. Có vậy mới thoát khỏi cảnh tăm tối u mê như một căn bệnh mù loà trầm trọng.

Người hành khất mù được sáng mắt nhờ đức tin, “đức tin của con đă cứu con” nghĩa là ǵ? Là chính đức tin mà Chúa trao tặng cho anh để anh tuyên xưng trước mặt mọi người. Anh đă can đảm tuyên xưng đức tin ấy bằng cách lớn tiếng kêu cầu, bằng cử chỉ vứt bỏ áo choàng (nhu cầu tối cần của anh), bằng cách nhảy chồm lên, vội vă chạy tới Chúa, bất chấp mọi cấm cản của những người chung quanh. Cặp mắt đức tin của anh đă được bật sáng và anh đă nh́n thẳng vào đối tượng duy nhất là Đức Giêsu Nagiarét. Nhờ đức tin sống động ấy, anh mù đă thấy điều mà những người sáng không được thấy (“Con Vua Đavid”, nghĩa là Đức Kitô, Đấng  được Chúa Cha xức dầu bằng Thánh Thần): “Anh liền xem thấy, rồi đi theo Người”.

Lạy Chúa, xin bật sáng niềm tin chúng con để chúng con nh́n ra Ngài đang hiện dịên với chúng con. Xin giúp chúng con biết can đảm tuyên xưng Ngài trong mọi t́nh huống của cuộc đời, để chúng con tiếp tục bước theo Chúa trên đường phục vụ hôm nay.

 

NH̀N CÁI TỐT

Gm. Arthut Tonne

Nàng là một phụ nữ không bao giờ có thể thấy được một điều ǵ tốt đẹp nơi người khác. Bất kể ai làm điều ǵ tốt, nàng cũng t́m ra được một điều ǵ sai. Một người nào đó làm một việc tốt, nàng vẫn có thể t́m ra một nguyên do xấu xa. Nàng ưa câu nói; “Nó phải có ẩn ư… Nó rút ra được ǵ trong đó?” Nàng bắt lỗi mọi người. Nhiều người chúng ta ít nhiều có tật xấu như nàng. Nàng bất thường, để lấy lại niềm tin, nàng ư thức rằng cái tật “bới bèo ra bọ” làm nàng sợ hăi. Nàng đến bác sĩ tâm thần, nhưng ông chẳng gíup nàng được bao nhiêu.

Ngày kia, được nghe câu chuyện Chúa Giêsu chữa người mù bẩm sinh. Câu chuyện chúng ta vừa nghe thực sự thức tỉnh nàng; nàng bị mù trước những cái tốt đẹp của người khác. Nàng can đảm nh́n sự thật và thay đổi  nhăn quan với người khác.

Chúa Giêsu chữa người đui mù thể xác, để chứng tỏ rằng Người cũng có thể chữa bệnh đui mù thiêng liêng. Quả thật, bệnh đui mù t́nh thần và thiêng liêng c̣n tai hại hơn đui mù thể xác.

Loại đui mù thiêng liêng này lây nhiễm nhiều người trong chúng ta. Mỗi người chúng ta phải tự hỏi; “tôi có mù trước cái tốt của kẻ khác không?” Nếu có, chúng ta kêu cầu Chúa Kitô chữa chúng ta như người đui mù trong bài Tin Mừng.

Nơi tốt nhất để bắt đầu sữa chữa là ngay trong gia đ́nh. Vợ bạn quên đính nút áo sơ mi, thay v́ nghĩ đến sự thiếu sót này; trước hết bạn hăy nghĩ đến những việc tốt nàng đă làm trong ngày đó cho bạn và cho gia đ́nh : Nấu ăn, giặt giũ, lau chùi, săn sóc con cái… Chồng bạn quên đổ thùng rác, không sao đâu, bạn hăy nghĩ đến chàng làm việc cả ngày cho bạn và các con.

Thanh niên nam nữ, bạn cần nghĩ đến những việc tốt cha mẹ đă làm cho bạn, hơn là những lần các ngài không cho phép bạn hoặc muốn bạn ở nhà.

Tập nghĩ đến cái tốt người khác làm, thay v́ nghĩ đến lầm lỗi của họ, như trong trường giữa thày và tṛ, như cha sở và giáo dân, như các thành phần của hiệp hội, công nhân trong công đoàn. Ông chủ của bạn không thể hoàn toàn xấu, người công nhân không thể hoàn toàn vô dụng. Mở mắt ra để thấy cái tốt của người khác, nghĩ tới nó và nói về nó.

Nh́n cái tốt nơi người khác là một cách để yêu người. T́nh yêu không tiêu cực. Tôi không thể yêu một ai bằng cách nói; “Tôi sẽ không bao giờ nghĩ tàn nhẫn về bạn, hoặc nói tàn nhẫn với bạn hay về bạn, hay: “Tôi không bao giờ làm điều ǵ tàn nhẫn cho bạn”. đó không phải là t́nh yêu. T́nh yêu phải tích cực: “Tôi sẽ bỏ cách thức của tôi, tôi sẽ cố gắng đặc biệt để nghĩ, nói và hành động tử tế với bạn. “Hoa trái lớn của việc t́m cái hay cái tốt trong người khác là cảm giác hài ḷng và hân hoan. Và chúng ta c̣n giữ được giới răn của Chúa Kitô bảo ta đừng xét đoán.

Để nh́n thấy cái tốt cái hay của người khác, chúng ta cần sức mạnh thiêng liêng, một thứ phép lạ. Chúa Kitô sẽ làm phép lạ cho bạn nếu bạn xin Người.

Xin Chúa chúc lành bạn.

 

CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI MÙ THÀNH GIÊRICÔ

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez

 

Hăy đi, ḷng tin của anh đă cứu anh

Tôi là Bar Timê, con ông Timê. Tôi ngồi bên vệ đường, con đường có lắm người qua kẻ lại. Họ đi tới đi lui. Nhưng phần đông họ đi tới, tiến về phía trước mặt, nơi tương lai đang chờ họ. Tôi mù ḷa không thấy đường, nên chẳng thể nào lên đường tiến về đâu hết. Đời tôi vô vọng. Nhưng chẳng lẽ cứ ngồi măi như thế này, suốt ngày, suốt đời? Tôi ngồi đây để đợi Ngài đi qua. Mấy ngày nay tôi nghe tin có một vị Ngôn sứ tới vùng này. Tôi không phân biệt được tiếng chân Ngài bước đi, nhưng tôi phân biệt được tiếng Ngài nói. H́nh như Ngài đang tới. Trong muôn vàn tiếng người nói lao xao, tôi nhận ra giọng nói nghiêm trang của Ngài. Người ta thường bảo: Chim khôn hót tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. Giọng nói trầm ấm dịu dàng ấy đích thực là tiếng vị Ngôn sứ thành Nagiarét. Tôi phải kêu cầu Ngài cứu tôi thoát khỏi cảnh tối tăm tù ngục này. Và thế là tôi la to lên. Có những giọng quát nạt. Mặc kệ họ. Tôi càng la to hơn. Và ḱa, h́nh như Ngài đă nghe tiếng tôi. Ngài đă dừng lại. Có người cầm tay tôi, bảo: "Này anh, Ngài gọi anh đấy". Tôi sung sướng quá. Tôi quăng đại cái áo thường choàng để khỏi vướng bận, để lao nhanh đến gần Ngài. Tiếng Ngài dịu dàng quá. Và ḱa, Ngài hỏi ư kiến tôi. Đây là lần đầu tiên trong đời, có người hỏi ư kiến, có người coi trọng tôi. Tiếng Ngài êm như gió thoảng: "Này anh bạn, anh muốn tôi làm ǵ cho anh?". Tôi không ngần ngại thưa ngay: "Thưa Thầy, Thầy cho con được thấy đường". Ngài nói: "Anh hăy đi, ḷng tin của anh đă cứu anh". Và tôi thấy đường đi. Thế giới bỗng tràn ngập vào mắt tôi. Cây chuối, cây cọ, cây chà là trên ốc đảo xanh tươi. Vách núi đá lởm chởm màu đỏ màu vàng. Đám đông áo quần muôn hồng ngh́n tía đua chen. Ồ, tôi thích quá. Tôi mải mê nh́n ngắm. Đấng tiên tri c̣n đang bước đi chầm chậm, vừa đi vừa đàm đạo với đám đông. Ngài bảo tôi về nhà. Không, tôi không thể về nhà. Tôi thích được đi theo Ngài, hầu hạ bên Ngài suốt đời. Ngài đi tới đâu, tôi cũng theo Ngài tới đó. Từ Giêrikhô lên Giêrusalem. Con đường gập ghềnh gian khổ dẫn vào Thành thánh, nơi Ngài sẽ bị bắt, bị kết án, bị tử h́nh. Con đường của Bar Timê này cũng sẽ là con đường gập ghềnh gian khó. Lẽ nào tṛ lại hơn thầy được? Tôi bước đi trong tin tưởng, dưới  ánh sáng Ngài soi dẫn. Nhưng cũng có thể con đường ḷng tin của tôi bỗng dừng lại trong tăm tối. Bước theo Thầy Giêsu là như vậy, là chấp nhận rủi ro, là chấp nhận rằng ḿnh chưa được thấy hết mọi chuyện và luôn ước ao được thấy nhiều hơn nữa. Con đường của người mù thành Giêrikhô, sau cùng, không c̣n là đi từ bóng tối ra ánh sáng nữa, v́ Ngài đă cho tôi nh́n thấy ánh sáng kỳ diệu. Con đường ḷng tin của tôi, cuối cùng, là đi từ cái thấy được đến cái không thể thấy, đi từ cơi hữu h́nh, tới cơi vô h́nh, nơi ánh sáng không c̣n hữu hạn nữa... Con đường của Bar Timê cũng là con đường của mỗi Kitô hữu, con đường của ḷng tin.

 

 

THUỐC bỔ hàng tUẦN

 

NỘI DUNG

I.Tia sáng:

v Ư CHÍ – NGHỊ LỰC - GƯƠNG MẪU

v HÁI HOA ĐÀO  

II.Thư giăn:

 

1.                      HỮU HIỆU

2.                      NGOẠI LỆ MAY MẮN

3.                      THỰC HIỆN CẢ HAI

4.                      ĐIỀU BẤT NGỜ

5.                      CHƯA RƠ

6.                      BỚT PHẦN CƠM

7.                      ẢNH HƯỞNG

III.Chuyện vui suy niệm của AVE JESU MARIA JOSEPH:

v CON MI MI

IV.Chuyện ngụ ngôn:

v  LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG 

V.Hẹn bạn trên đỉnh thành công:

v VÀI LỜI KHUYÊN ĐÁNG GIÁ CHO CÁC ĐÔI VỢ CHỒNG 

VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:

v PHẠT CON THẾ NÀO CHO ĐÚNG ?

VII.Chuyện phiếm: 

 v PHẬN LÀM DÂU - Phạm Khải

 

   

I.TIA SÁNG :

* Ư chí - nghị lực - gương mẫu. Điều ǵ phải làm th́ làm, không do dự, không quá đắn đo. Nếu không thế, Têrêsa Avila đâu có thành Thánh Têrêsa, Inhaxiô cũng vậy……

* HÁI HOA ĐÀO, ÔI THẬT THƠ MỘNG. NHƯNG COI CHỪNG CẢ VƯỜN HOA TÀN LỤI.

Hái một vài bông hoa đâu có hại ǵ đến một thửa vườn đầy bông: Thiên Chúa đă cho mọc lên đủ thứ hoa để cho ta hái... Nhưng chỗ nào chỉ có một vài bông hoa, hoặc chỉ có một bông duy nhất mà hái đi, tức là phá hoại huê lợi. Tôi chỉ có một cuộc đời, chạy theo thú vui là làm hỏng cuộc đời, làm hỏng tương lai. Lười biếng... Tán tỉnh... đời sẽ hỏng. Tôi có c̣n trẻ, để biết tôn trọng kết quả mai này không?

II.      THƯ GIĂN:

1. HỮU HIỆU

Trong một khuôn viên nọ, có hai người đang đi dạo, một người lên tiếng hỏi:

- Sao bác cứ búng tay tanh tách thế?

- À, để đuổi cá sấu đi đấy mà.

- Nhưng quanh đây hàng trăm dặm làm ǵ có con cá sấu nào?

- Đây! Giờ th́ bác sẽ thấy đó là một biện pháp hữu hiệu như thế nào! - Vừa nói, bác vừa chỉ vào bụi rậm có hai anh chị trong đó đang đi ra.

2. NGOẠI LỆ MAY MẮN

Bác sĩ nhăn khoa nói với bệnh nhân:

- Anh phải bỏ rượu thôi. Rượu làm giảm thị lực lắm đấy.

- Thế th́ tôi là một ngoại lệ may mắn. Cứ uống hai, ba ly vào là tôi bắt đầu nh́n thấy gấp đôi.

3. THỰC HIỆN CẢ HAI

Một người béo bệu đến than thở với bác sĩ:

- Tôi đă đi khám ở hai bác sĩ. Một ông khuyên tôi hăy đi bộ nhiều hơn nữa. C̣n ông kia khuyên tôi nên đi nằm điều trị tại nhà an dưỡng. Vậy tôi phải làm ǵ bây giờ?

- À, vậy ông hăy đi bộ đến nhà an dưỡng!

4. ĐIỀU BẤT NGỜ

Một nhà vi khuẩn học nói với vợ:

- Em thân yêu, anh muốn dành cho em một sự bất ngờ nhân mừng ngày sinh nhật của em.

- Anh thật chu đáo quá! Điều bất ngờ ǵ thế anh?

- Anh đă đặt tên em cho một loại vi khuẩn anh mới t́m ra.

5. CHƯA RƠ

Một chàng trai trở về nhà sau cuộc thi sát hạch lấy bằng lái xe, với vẻ lo sợ cực độ:

- Con không đạt - Anh ta nói với ông bố - Con đâu phải chiếc xe tải.

- Có nghĩa là con bị đánh trượt.

- Điều đó chưa rơ. Cả ban giám khảo có c̣n ai đâu ạ!

6. BỚT PHẦN CƠM

Một ông leo lên sân thượng lầu ba để sửa lại trục anten tivi, rủi chân trợt té từ trên cao xuống.

Lúc rơi ngang cửa sổ nhà bếp ở lầu hai, ông nói vọng vào:

- Ḿnh ơi! Bớt phần cơm của anh đi! Trưa nay anh ăn cơm ở nhà thương rồi!

7. ẢNH HƯỞNG

Có một đứa bé rất mê xem tivi. Mẹ nó bị viêm phổi, tắt tiếng. Có một người bạn của mẹ nó đến hỏi thăm:

- Mẹ cháu thế nào?

- H́nh ảnh th́ tốt, c̣n âm thanh không được rơ lắm.

III.    CHUYỆN VUI SUY NIỆM :

CON MI MI

 

Ngày nọ con chó Mi Mi chạy chơi trong cánh đồng của chủ. Một con ngựa lên tiếng bảo nó:

- Này chú chó nhỏ, chú thấy không, ông chủ quí tôi hơn những con vật ở đây chứ, v́ tôi giúp ông chuyên chở mọi thứ cần thiết. C̣n chú, tôi nghĩ chú chả giúp được ǵ cho ông.

Mi Mi gật đầu bỏ đi. Nó lại nghe tiếng ḅ cái:

- Này tôi chiếm địa vị đặc biệt ở đây, v́ nhờ sữa của tôi, gia đ́nh bà chủ mới có bơ và phô mát. C̣n chú, chắc chú chẳng cung cấp được ǵ cho chủ.

Lúc đó con cừu ở gần đấy lại nói:

- Ḅ cái ơi, chị không hơn tôi đâu, v́ tôi cung cấp len cho chủ dệt áo ấm mùa đông, không có tôi th́ chắc cả nhà chết v́ lạnh mất. Nhưng có lẽ chị nói đúng. Chú chó con này không giúp được ǵ cho chủ cả.

Lần lượt các con vật đều khoe với Mi Mi về sự nghiệp của chúng, từ con ngựa, con ḅ cho tới con mèo, con vịt, con gà.

Nghe những lời chê bai sự vô ích của ḿnh, Mi Mi buồn quá, nó t́m một chỗ vắng vẻ để than khóc thân phận. Chợt một con chó già tiến lại và bảo nó:

- Này con, đừng than khóc về những điều ḿnh không làm được. Đành rằng con quá nhỏ không thể kéo xe như ngựa, cũng không cung cấp được trứng, sữa len, nhưng con hăy dùng tới khả năng mà Thượng Đế đă ban cho loài chó chúng ta, là mang đến cho con người nụ cười và ḷng qúi mến.

Chiều hôm ấy, khi chủ trở về nhà sau những giờ lao động mệt nhọc, mi mi vui vẻ chạy ra vẫy đuôi, liếm tay chủ và nhảy thót vào ḷng ông. Cả hai lăn tṛn trên thảm cỏ xanh. Ông chủ ôm Mi Mi vào ḷng và nói với nó:

- Về đến nhà ta mệt biết bao, nhưng bây giờ ta thấy đỡ mệt hẳn v́ Mi Mi đă làm ta vui. Ta không thể sánh Mi Mi với bất cứ con vật nào trong nông trại này được. V́ điều quan trọng nhất là ḷng qúi mến, chỉ có Mi Mi mới biết qúy mến ta.

Con vật là loài vô tri mà xem ra c̣n biết cư xử khéo léo và vô vi lợi. Con người có tri thức, có khôn ngoan, lẽ nào lại không biết đối xử với nhau cho xứng với danh nghĩa làm người.

Tiền bạc, của cải, lợi lộc đâu sánh được với ḷng con người, có được phục vụ tối đa, có được trao tặng những ǵ qúi báu nhất đi nữa, th́ điều làm cho ta hài ḷng thỏa măn hơn cả vẫn là một t́nh thương yêu, qúi mến chân thành.

Ai không khao khát được yêu mến, qúi trọng, nhưng mấy ai biết thực tâm yêu qúi người?

Chúa Giêsu đă yêu thương tới mức độ hiến cả mạng sống ḿnh v́ những kẻ Ngài yêu. Và Ngài dạy chúng ta hăy yêu như Ngài yêu.

Hạnh phúc của loài chim là đôi cánh.

Hạnh phúc của loài vật là làm cho loài người vui vẻ.

Magnificat anima mea Dominum

IV.   TRUYỆN NGỤ NGÔN:

 LỜI NÓI VÀ HÀNH ĐỘNG 

 

Có một con mèo già mắt mờ chân chậm không c̣n bắt được chuột nữa. Nó bèn nghĩ ra một kế lừa đàn chuột trong nhà.

Lũ chuột tự nhiên nh́n thấy mèo già lần tràng hạt, gơ mơ, tụng kinh th́ lấy làm lạ. Mèo già liền gọi lũ chuột đến gần và nói :

- Các bạn chuột ơi ! Từ nay ta không bao giờ ăn thịt các bạn nữa đâu. V́ đă tu hành th́ không được ăn thịt, không đuợc sát sinh.

Lúc đầu lũ chuột nửa tin nửa ngờ. Nhưng mấy ngày sau vẫn thấy mèo già ngồi niệm Phật và chỉ thích ăn rau, có con thử mon men lại gần mèo xem sao th́ quả thật mèo không vồ, nên chúng tin là mèo sám hối thật. V́ thế đàn chuột thuờng nhởn nhơ đi lại bên cạnh mèo già, không c̣n lo bị mèo ăn thịt nữa.

Một buổi tối, cả đàn lại xếp hàng một đi qua chỗ mèo đang ngồi niệm Phật để vào hang. Mèo ta biết thế, liền chờ cho đàn chuột chui vào hang, đến con cuối cùng th́ mèo mới vồ lấy nuốt chửng. Hồi đầu thấy thiếu mất một con, đàn chuột cho là nó bị lạc. Nhưng hôm sau và các ngày sau cứ mỗi ngày lũ chuột lại thấy mất một con, th́ chúng bắt đầu hoang mang. Con đầu đàn nghĩ là mèo già bắt. Hôm ấy, nó thử đi cuối cùng xem sự thể ra sao. Khi mèo già nhe nanh giơ vuốt ra vồ, chuột đầu đàn chỉ kịp kêu thét lên báo cho cả đàn, rồi cũng bị mèo nuốt chửng.

Từ đó lũ chuột luôn nhắc nhau : chớ có bao giờ tin vào lời mèo không ăn thịt chuột !

V.      HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:

Theo bản tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar

Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU - DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN –
NGUYỄN VĂN DIỄM

VÀI LỜI KHUYÊN ĐÁNG GIÁ CHO CÁC ĐÔI VỢ CHỒNG

Hăy xét kỹ từng bước cụ thể để kiến tạo hoặc tái tạo một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

1/ Nhớ xem bạn đă làm ǵ trước khi lấy nhau. Bạn đă chẳng giành làm mọi việc, luôn tỏ ra dễ thương, luôn cư xử đúng đắn, ân cần lịch sự, chu đáo và tử tế đấy ư? Đây là phương cách tuyệt hảo giúp cho đời sống hôn nhân của bạn được luôn vững chắc, cho dù nó có gặp trắc trở đi nữa th́ bạn vẫn có thể khiến nó lại nở hoa.

2/ Khởi đầu và kết thúc mỗi ngày bằng một lời t́nh tứ, trong ngày, nếu có thể, hăy dành vài phút gọi điện cho vợ để nói vài câu t́nh tứ. Sau hết, nhớ rằng dịp biểu lộ t́nh yêu tốt nhất là trước mặt người khác. Thỉnh thoảng nên gởi một lá "thư t́nh" qua bưu điện. Những món đầu tư này tuy nhỏ nhưng lăi suất rất cao.

3/ Thỉnh thoảng, nên tặng quà hoặc ảnh. Giá trị không phải ở món quà mà ở t́nh yêu biểu lộ qua món quà. "Không có người tặng th́ quà chẳng là ǵ cả". Một thi sĩ cũng đă viết: "Nhẫn và ngọc không phải là quà mà chỉ là lời biện minh cho món quà". Món quà đích thực chính là bản thân người trao tặng.

4/ Cùng nhau sống những giây phút đầy ư nghĩa. Hăy nhớ lại xem các bạn từng khao khát tỏ t́nh với nhau ra sao và đă tốn biết bao thời giờ để nói yêu nhau trước khi kết hôn? Hăy lặp lại những tiến tŕnh trên. Đi dạo hoặc tắt truyền h́nh cho người bạn đời thấy như thể họ là người trọng yếu nhất của đời bạn. Mà thực sự là thế, dù bạn có thừa nhận hay không cũng vậy.

5/ Biết lắng nghe. Một nhà thông thái đă nói: "Nói là chia sẻ c̣n nghe là săn sóc". Hăy lắng nghe muôn vàn t́nh tiết và câu chuyện vụn vặt mỗi ngày của người bạn đời. Hăy nhớ luôn rằng: bổn phận khiến ta làm việc tốt nhưng t́nh yêu khiến ta làm việc hoàn hảo. Tôi xin nhấn mạnh một lần nữa: "Điều ta bắt đầu như một bổn phận sẽ kết thúc thành t́nh yêu".

6/ Đừng để người bạn đời phải tranh giành với con cái sự quan tâm của bạn. Hăy dành thời giờ riêng cho người bạn đời.

7/ Mỗi khi xung khắc, hăy nhớ là có thể xung khắc mà không gắt gỏng. Song, đừng bao giờ đi ngủ mà chưa ḥa giải. Bạn sẽ chẳng ngủ ngon nổi và những xung khắc ấy sẽ in vào tiềm thức cả hai người để rồi sẽ trở nên nguyên nhân cho những xung khắc khác.

8/ Hăy nhớ rằng Tạo Hóa đă đặt người nam làm chủ gia đ́nh. Có lẽ đây chính là bước quan trọng nhất khi có đàn ông nắm giữ những quyết định quan trọng, người phụ nữ sẽ được an tâm. Rất ít khi tôi gặp một cuộc hôn nhân thực sự hạnh phúc khi người chồng không phải là chủ gia đ́nh. Tuy nhiên, người chồng cũng phải nhớ rằng ḿnh chỉ có thể chu toàn bổn phận bằng t́nh yêu và thân ái cũng như với uy quyền và sự cương quyết. Người xưa dạy: “Chồng phải kính trọng và yêu thương vợ như chính bản thân ḿnh”.

9/ Hăy nhớ ḿnh sẽ thường phải "nhượng bộ" để làm vui ḷng hay thông cảm với người bạn đời. T́nh cảnh lúc ấy có lẽ hơi khó chịu đấy, nhưng nó sẽ giúp bạn và cuộc hôn nhân của bạn khỏi tan vỡ.

10/ Cố dùng công thức có bảo chứng sau đây để pha chế món: "Hôn nhân hạnh phúc".

- 1 chén t́nh yêu         5 muỗng hy vọng

- 2 chén chung thuỷ    2 muỗng dịu dàng

- 3 chén thứ tha           4 cân cậy tin

- 1 chén nghĩa t́nh      5 thùng nụ cười

Lấy t́nh yêu và chung thuỷ ḥa trộn với cậy tin khuấy lên với dịu dàng, ân cần và hiểu biết, bạn nên thêm nghĩa t́nh và hy vọng. Pha màu cho tươi bằng nụ cười. Đem nước dưới ánh mặt trời. Dùng thật nhiều mỗi ngày.

11/ Lấy câu: "Hăy sống tử tế, nhân hậu và tha thứ cho nhau" làm kim chỉ nam hằng ngày.

12/ Khi gặp những xung khắc không thể tránh th́ ai làm ḥa trước cũng được. Song người làm ḥa chứng tỏ ḿnh chín chắn và biết yêu thương hơn.

VI.          T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH: 

(Thanh Niên, ngày 5/9/1997, trang 11)

PHẠT CON THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

Nói chung, có nên phạt con cái ? Khi đứa trẻ bị phạt một cách đích đáng và chịu phạt một cách thực sự, việc phạt nó có thể giúp cho cả người lớn, cả đứa trẻ giải thoát khỏi những cảm xúc xấu.

Sau khi phạt con, tự các bậc cha mẹ cũng lờ mờ cảm thấy ḿnh có lỗi, bởi vậy trong những ngày tiếp đó, họ đă không c̣n giấu giếm thái độ thương yêu đối với đứa con họ đứt ruột đẻ ra. Vả lại, họ có cảm giác bản thân đứa trẻ không c̣n là một "tội phạm" nữa. C̣n đứa trẻ th́ ngược lại, nó được giải phóng khỏi cảm giác có lỗi vốn là một cảm giác quá sức đối với nó, v́ lỗi của nó đă được "thanh toán" rồi, nó coi như thế là xong.

Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp nào, đứa trẻ cũng phải nhận thức được rằng bố mẹ phạt nó là miễn cưỡng và họ không hề muốn phạt nó. Các bậc cha mẹ không bao giờ được phạt con cái trên "thế mạnh", nếu có phạt, hoàn toàn chỉ v́ ư thức trách nhiệm.

H́nh phạt nhất thiết phải được chấm dứt đúng lúc, kịp thời. Ví dụ, đứa trẻ mắc lỗi bị cấm xem TV trong một tuần lễ. Nhưng mới được một hôm, nó đă không c̣n nhớ rơ lắm là tại sao nó lại không được xem chương tŕnh phim hoạt h́nh hấp dẫn thế kia, và nó bắt đầu cảm thấy ḿnh không đáng bị phạt như vậy.

Các bậc cha mẹ chỉ nên đ̣i hỏi ở đứa trẻ cùng một điều mà thôi. H́nh thức và phong cách dạy bảo có thể khác nhau, nhưng ư nguyện của người bố và của người mẹ phải được nói lên rành mạch và càng giống nhau càng tốt. Nhiều đứa trẻ sẵn sàng lợi dụng những bất đồng của người lớn về phương pháp giáo dục. Chúng mau chóng nhận ra rằng có thể nũng nịu và nài xin bà ngoại để được ăn kẹo, là thứ mà mẹ chúng kiên quyết không cho ăn buổi tối. Đứa trẻ chỉ cần "đánh hơi" thấy bố mẹ luôn bất ḥa xích mích với nhau là nó liền phớt lờ những lời đe dọa sẽ phạt nó.

Nếu cho tới năm 3 tuổi, đứa trẻ c̣n chưa lần nào thử xem bố mẹ có "vững chắc" không, nếu nó vâng lời trong bất kỳ hoàn cảnh nào như một thiên thần th́ nghĩa là có điều ǵ đó không ổn. Hoặc nó có những mặc cảm và tự nó yêu cầu cao quá đáng đối với bản thân nó, hoặc bố mẹ nó quá nghiêm khắc, hoặc nó quá sợ bị phạt. Sự vâng lời tất nhiên là một đức tính lớn lao, nhưng ở thời đại chúng ta, chưa chắc đó đă là tiêu chí chứng tỏ đứa trẻ khoẻ mạnh về thể chất hoặc tinh thần. Đặc tính của trẻ con là nhận thức thế giới thông qua sự nghịch ngợm, nếu không, cái thế giới này đối với nó sẽ có vẻ không "hiếu khách" lắm.

Hằng Minh (theo Sveta).

VII.     CHUYỆN PHIẾM :

Trích trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ” non

Biên soạn : PHẠM KHẢI

 

PHẬN LÀM DÂU

Ở làng Trại có câu ”làm ḅ, làm trâu, không sợ bằng làm dâu bà Quản”. Thoạt nghe cứ tưởng người làng độc mồm độc miệng. Ngay cô Miên, hồi c̣n con gái không tin điều ấy. Khi đem ḷng yêu anh cả Nhở, mọi người đă có ư gàn, nhưng sức mạnh của t́nh yêu khiến người ta có thể vào hang cọp, sá ǵ một bà Quản? Cô Miên quyết về làm dâu bà ấy?

Những ngày đầu cũng xuôi chèo mát mái lắm. Khi đă quen quen, bà Quản “bắt đầu” ư tứ nhắc nhở cô Miên hiểu rằng, bà mất tiền mua cô về, cũng giống như một con mèo, con thỏ. Trái ư, bà có thể đuổi ra chuồng lợn.

Chẳng mấy chốc cô Miên cũng hiểu ra rằng, lời đồn của thiên hạ không phải là vô cớ. Cô hăi nhất không chỉ là bà Quản mà cả cô em chồng.

Các cụ bảo ”giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng” cấm có sai ! Đă lười cô Liên c̣n có tính lẳng lơ, tối đến là tót đi với bạn bè, đàn đúm. Khi về, cô c̣n đá thúng đụng nia, vừa lục chạn ṃ ăn, vừa rỉa róc bâng quơ: -Chúng nó phần cơm người đi vắng như phần cho chó. Khốn nạn!

Mặc dù nằm bên sự ”che chở” của chồng cô, cô Miên vẫn cứ nơm nớp lo sợ. Bởi v́ ”chúng nó” ở đây đích thị là cô.

-Này nhà vô phúc để chó leo lên bàn thờ. ”Chó” chẳng ai khác ngoài cô Miên.

Con ơi “người ta” khát máu tanh ḷng.

“Người ta” là người nào nếu không phải là Miên.

Cái địêp khúc rỉa róc ấy mỗi ngày như được bọc thêm ch́, buốt tận ruột, ngấm vào tận xương để chĩa vào cô Miên.

Cũng từ dạo có nàng dâu, bà quản cứ hay ốm lơ ốm lửng. H́nh như chính cô Miên làm xương cốt bà cứ lỏng lẻo dần ra. Từ chỗ ốm vờ, có bận bà lăn ra ốm thật. Bà thường tru lên một cách vô cớ: ”Giời thương tôi sao không bắt tôi chết phứt đi cho “họ” thoát nợ. Họ mong tôi ốm để họ làm mưa làm gió ở cái nhà này đây. Con ơi, mẹ chết th́ chỉ mày là khổ thôi”. Rồi bà giăy lên như ngộ gió, mắt trợn trừng, miệng ngáp khí rất là nghiêm trọng. Vốn đi guốc trong bụng mẹ chồng, cô Miên cứ nhịn như nhịn cơm sống. Cô Liên vịn vào cớ ấy, ra đá một câu, vào đá một câu: ”ở nhà này khôn nhất là ngậm miệng ăn tiền”.

Cuối cùng cô Miên cũng phải mở miệng.

-Mẹ mệt thế nào ạ?

Bà Quản rên hừ hừ:

-Tôi già rồi, có chết cũng là đoạn kiếp. Chả dám phiền đến chị.

-Mẹ cứ nghĩ, chúng con có dám nói ǵ đâu.

-Dễ thường tôi không ăn mà yên đấy. Nhưng mà tôi hỏi thật, ḷng tốt của chị chỉ thế thôi à. Tôi thèm con gà tần hạt sen với lá ngải cứu để cho nó tháo mồ hôi mà chị cũng tiếc.

Cô Miên vội vả tất tả vào chợ t́m mua bằng được những thứ mà bà Quản yêu cầu. Trở về cô làm đánh nhoáng một cái là xong. Bê một bát ô tô  gà hầm thơm nức tới mức từ bé cô chưa được nếm một lần, rón rén đến bên giường bà Quản. Cô hy vọng mẹ chồng, dù cố chấp mấy cũng phải biết đến tấm ḷng thơm thảo của cô. Bà Quản ngồi dậy, búi tóc, liếc nh́n bát thức ăn rồi lắc đầu quầy quậy:

-Chả chắc tôi c̣n ăn được.

Bà khều một miếng ăn thử, sao mà nó bùi béo đến thế. Cứ kể không v́ sĩ diện, bà chỉ ”bơi” một lúc là hết vèo. Nhưng thấy cô Miên nh́n, bà nhổ ph́ ph́:

-Chị cho thốc độc hay sao mà đắng thế - rồi nằm vật xuống, chùm chăn kín đầu, cô Miên ư tứ bỏ đi. Đúng lúc ấy cô Liên đi chợ về. Thấy bảo mẹ không ăn, cô mừng rơn bê xuống bếp và chỉ một loáng đă hết nhẵn.

Bà Quản tiếc lắm nhưng đă trót, đành chỉ hậm hực nói bóng nói gió những chuyện khác. Hôm sau, cô Miên lại mua bầu dục về nấu canh bánh đa. Cô lại lễ phép mời bà Quản dậy ăn. Vốn đang tức v́ lỡ món gà hầm, vừa nếm một th́a bà khóc rống lên :

-Gái ơi là gái! Con định để người ta cho mẹ mày ăn ḿ kho à.

Cô Liên đang tấp tểnh đi chơi, sầm sầm từ trong buồng chạy ra.

-Tôi có khiến ai hầu mẹ tôi đâu mà họ “giận cá chém thớt”.

Cô Liên đùng đùng giật bát canh mang xuống bếp. Cô tranh thủ “nếm” vài miếng bầu dục rồi lại tiếp tục trang điểm. Lâu lâu sau, cô bưng nguyên xi bát canh lên, giọng âu yếm:

-Mẹ dậy xơi ạ.

Bà Quản ngồi dậy, nâng bát canh húp thật êm mấy húp rồi nói như than :

-Ôi dà tỉnh cả người. Rồi mai mày đi lấy chồng th́ mẹ biết nhờ cậy ai.

Bà lại húp liền mấy húp. Lát sau đến cả một vụn bầu dục cũng không c̣n.

Năm sau, cô Liên đi lấy chồng. Gặp đúng bà mẹ chồng tai ác như mẹ ḿnh, cô mới ngấm đ̣n. Một lần trong bữa cơm khi cô từ nhà mẹ chồng sang chơi, cô buột miệng rủa một câu:

-Con chỉ ước các bà mẹ chồng tai ác cứ cấm khẩu cả loạt cho đáng đời.

Lần đầu tiên bà Quản câm như hến.

LĂO TẠ

 

FIRST READING

Jeremiah 31:7-9

 

Thus says the Lord: Shout with joy for Jacob, exult at the head of the nations; proclaim your praise and say: The Lord has delivered his people, the remnant of Israel. Behold, I will bring them back from the land of the north; I will gather them from the ends of the world, with the blind and the lame in their midst, the mothers and those with child; they shall return as an immense throng. They departed in tears, but I will console them and guide them; I will lead them to brooks of water, on a level road, so that none shall stumble. For I am a father to Israel, Ephraim is my first-born.

 

SECOND READING

Hebrews 5:1-6

 

Brothers and sisters: Every high priest is taken from among men and made their representative before God, to offer gifts and sacrifices for sins. He is able to deal patiently with the ignorant and erring, for he himself is beset by weakness and so, for this reason, must make sin offerings for himself as well as for the people. No one takes this honor upon himself but only when called by God, just as Aaron was. In the same way, it was not Christ who glorified himself in becoming high priest, but rather the one who said to him: You are my son: this day I have begotten you; just as he says in another place: You are a priest forever according to the order of Melchizedek.

 

GOSPEL Cycle B

Mark 10:46-52

 

As Jesus was leaving Jericho with his disciples and a sizable crowd, Bartimaeus, a blind man, the son of Timaeus, sat by the roadside begging. On hearing that it was Jesus of Nazareth, he began to cry out and say, "Jesus, son of David, have pity on me." And many rebuked him, telling him to be silent. But he kept calling out all the more, "Son of David, have pity on me." Jesus stopped and said, "Call him." So they called the blind man, saying to him, "Take courage; get up, Jesus is calling you." He threw aside his cloak, sprang up, and came to Jesus. Jesus said to him in reply, "What do you want me to do for you?" The blind man replied to him, "Master, I want to see." Jesus told him, "Go your way; your faith has saved you." Immediately he received his sight and followed him on the way.

 

--------------------------------------------------------------------------------

 

My sisters and brothers in Christ,

The Lord has delivered His people! That means that you are I are delivered—but from what? We hear in the first reading, from the Prophet Jeremiah, that God brings back Israel from exile. God brings home not only those who are full of life and energy, but also the blind and the lame and the pregnant mothers—great symbols of vulnerable people. God brings these people from their exile and takes such good care of them. God promises to make sure they have water and do not stumble and He Himself will guide them.

 

These words are truly consoling. Yet our human hearts cry out with other questions: why did you let the exile happen? Why did you allow that person to become blind or lame to begin with? And we think of the thousands of other sad and difficult situations that we know of today: who do you let people get divorced? Why do you let what begins as a good marriage turn to disaster? Why do terrible accidents happen and leave people maimed? Why do you let good friends become enemies? Why do you allow young children to be in the armies of poor countries? Why do you allow hearts to become deformed to the point of killing others? How can you let young people become suicide bombers? Why do you let this or that person become alcoholic or a drug addict?

 

These types of situations are the exiles of our own day! We are not longer taken taken captive physically as a community and deported by armies. Rather, we stay right where we are and are destroyed as a people and as a community.

 

Is there any answer to why these things happen and how God is involved? If there is, most of us do not have it. We are left with a belief in God but a lack of understanding of how God is at work in the world. And many people even cease to believe. One thing that we can be sure of is this: no concept of God which makes God a monster is worthy of our belief. Many people have been raised with guilt and with a belief that God punishes them for their sins.

 

As we meditate on today’s readings, each of us needs to look into his or her own heart and ask what we think of God. Do we believe in a God who saves or do we believe in a God who punishes? Our ancestors struggled with this same problem and Jesus, true God of true God and unique Son of God, comes as the final answer: God loves and pardons and comes to save the world from sin and its consequences.

 

Yet we must become like Bartimaeus in the Gospel: Jesus, I want to see. It is only when we set out on the journey and begin to ask Jesus to see that we can expect to be given spiritual understanding and insight. We must ask with all the energy of our hearts. We must wait on the Lord. The true meaning of this life is this spiritual journey. We cannot expect a textbook to be given to us. We are given a guide: the Church. And we are given a savior in Jesus Christ. Let us begin to walk in the Spirit and follow Jesus on the way.