"Ai muốn làm lớn giữa anh em th́
phải làm người phục vụ anh em" (Mc 10,43)
LỜI CHÚA
BÀI ĐỌC I - Is 53: 10-11
Bài trích sách Tiên
tri Isaia.
Chúa đă
muốn hành hạ người trong đau khổ. Nếu
người hiến thân làm lễ vật đền
tội, người sẽ thấy một ḍng dơi
trường tồn, và nhờ người, ư định
Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của
người, người sẽ thấy và sẽ
được thỏa măn. Nhờ sự thông biết, tôi
tớ công chính của Ta sẽ công chính hóa nhiều
người, sẽ gánh lấy những tội ác của
họ.
Đó là Lời
Chúa.
ĐÁP CA
Đáp: Lạy Chúa, xin
đổ ḷng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng
con tin cậy ở nơi Chúa.
1. V́
lời Chúa là lời chân chính,
bao việc Ngài làm đều đáng cậy tin.
Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực,
địa cầu đầy ân sủng của Chúa.
2. Ḱa
Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài,
nh́n xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài,
để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết
và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
3. Linh
hồn chúng con mong đợi Chúa,
chính Ngài là Đấng phù trợ và che chở chúng con.
Lạy Chúa, xin đổ ḷng từ bi xuống trên chúng con,
theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.
BÀI ĐỌC
II
Bài trích thơ
gởi tín hữu Do Thái.
Anh em thân
mến, chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm
đă băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con
Thiên Chúa. Vậy chúng ta hăy giữ vững lời tuyên
xưng đức tin. Vị Thượng Tế của
chúng ta không phải là Đấng không biết cảm
thương những nỗi yếu hèn của ta, v́
Người đă chịu thử thách về mọi
phương diện cũng như ta, nhưng không phạm
tội. Bởi thế, ta hăy mạnh dạn tiến
lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để
được xót thương và lănh ơn trợ giúp
mỗi khi cần.
Đó là Lời
Chúa.
ALLELUIA - Sam 3: 9
Alleluia, alleluia.
- Lạy Chúa, xin hăy nói, v́ tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có
lời ban sự sống đời đời. - Alleluia
PHÚC ÂM - Mc 10: 35-45
Bài trích Phúc Âm
theo Thánh Marcô.
Khi ấy, hai
người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến
gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con
muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng
con sắp xin đây." Người hỏi: "Các anh
muốn Thầy thực hiện cho các anh điều
ǵ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một
người được ngồi bên hữu, một
người được ngồi bên tả Thầy, khi
Thầy được vinh quang." Đức Giê-su
bảo: "Các anh không biết các anh xin ǵ! Các anh có uống
nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu
được phép rửa Thầy sắp chịu
không?" Các ông đáp: "Thưa được."
Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy uống, anh em
cũng sẽ uống; phép rửa Thầy chịu, anh em
cũng sẽ chịu. C̣n việc ngồi bên hữu hay bên
tả Thầy, th́ Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên
Chúa đă dọn sẵn cho ai th́ kẻ ấy được."
Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức
tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. Đức Giê-su
gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những
người được coi là thủ lănh các dân th́ áp
đặt trên họ quyền bá chủ, những
người làm lớn th́ áp đặt trên họ quyền
hành của ḿnh. Nhưng giữa anh em th́ không phải như
vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm
người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu
anh em th́ phải làm đầy tớ mọi người.
V́ Con Người đến không phải để
được người ta phục vụ, nhưng là
để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá
chuộc muôn người."
Đó là Lời
Chúa.
---------------------------------------
Minh họa
- Mille images 129 F
- "Ai muốn làm lớn giữa anh em th́
phải làm người phục vụ anh em" (Mc 10,43)
Sợi chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Is 53,10-11) : Người Tôi
Tớ Giavê sẵn sàng gánh chịu mọi đau khổ
để nhờ đó làm cho muôn người nên công chính.
- Tin Mừng (Mc 10,35-45) : Con Người
đến không phải để được phục
vụ, mà để phục vụ và hiến mạng
sống làm giá chuộc muôn người.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Đức Giêsu dạy chúng ta nhiều
điều rất ngược đời : đối
với người đời, làm lớn th́ có quyền sai
khiến và được cung phụng, c̣n làm nhỏ th́
phải hầu hạ người lớn. Đức Giêsu
dạy khác hẳn : "Ai muốn làm lớn th́ phải làm
người phục vụ, ai muốn làm đầu th́
phải làm đầy tớ".
Thực ra giáo huấn của Đức Giêsu
rất khôn ngoan. Nếu những người làm lớn
đều biết phục vụ những kẻ
dưới quyền ḿnh th́ xă hội sẽ rất b́nh an,
và mọi người đều hạnh phúc.
Xin Chúa giúp chúng ta thấm nhuần bài học quư
báu này.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Khi được làm lớn, chúng con không lo
phục vụ những kẻ dưới quyền ḿnh, trái
lại thường hống hách bắt họ phục
vụ chúng con.
- Chúng con hay đ̣i hỏi người khác
phục vụ chúng con mà không nhiệt t́nh phục vụ
người khác.
- Chúng con coi thường những công việc
nhỏ nhặt ít người để ư tới.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Is 53,10-11)
Người Tôi Tớ Giavê bị nghiền nát v́
đau khổ để hiến thân làm lễ vật
đền tội và làm cho muôn người nên công chính.
2. Đáp ca (Tv 32)
Thiên Chúa cũng phục vụ loài người :
Ngài để mắt trông nom người kính sợ Chúa,
cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống
họ trong buổi cơ hàn.
3. Tin Mừng (Mc 10,35-45)
Chuyện xảy ra ngay sau khi Đức Giêsu loan
báo (đây đă là lần thứ ba) rằng Ngài sắp
chịu nạn, chịu chết và sống lại.
- Hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai
địa vị ưu tiên trong "nước" mà
họ nghĩ Đức Giêsu sắp thành lập. 10 môn
đệ kia bực tức. Không phải v́ cho rằng hai
môn đệ này sai mà v́ nghĩ họ đă muốn
"chơi trội" hơn ḿnh trong cuộc chạy
đua tranh dành địa vị.
Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu
dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần
gian, về cách cư xử của những người
lớn trong hai nước đó :
- Trong nước trần gian, kẻ làm lớn
th́ lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ
ḿnh.
- Trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm
đầy tớ, càng làm lớn th́ càng phải phục
vụ.
4. Bài đọc II (Dt 4,14-16) (Chủ đề
phụ)
Đức Giêsu là Vị Thượng Tế siêu
phàm : (1) Ngài chính là Con Thiên Chúa ; (2) Ngài cảm thông những
nỗi yếu hèn của loài người v́ chính bản thân
Ngài cũng từng trải qua đau khổ. Bởi
vậy chúng ta hăy mạnh dạn tiến đến gần
Ngài để được xót thương và lănh ơn
trợ giúp.
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Quyền bính để phục vụ
a. Một nhà tu đức tên là Jean Vanier,
người sáng lập ḍng Arche, phân biệt hai loại
quyền bính :
- Một loại quyền bính từ trên áp
xuống. Người nắm loại quyền bính này
tự coi ḿnh là kẻ ở trên và những kẻ thuộc
quyền ḿnh là những người ở dưới.
Người này bắt những kẻ dưới phải
làm theo ư ḿnh, nếu không theo th́ phạt. Loại quyền
bính này được dùng để cai trị, hay nói chính
xác hơn là thống trị.
- Loại quyền bính thứ hai không từ trên
áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp
đỡ. Người nắm quyền bính này không coi ḿnh
là ở trên cũng không coi kẻ thuộc quyền ḿnh là
ở dưới. Người này không nhắm cho ư ḿnh
được người ta thực hiện, nhưng nhắm
đến ích lợi chung và ích lợi của kẻ ḿnh
muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này
được dùng để phục vụ.
b. Khi hai người con ông Dêbêđê, tức là
Gioan và Giacôbê đến xin Đức Giêsu cho ḿnh
được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là
họ muốn loại quyền bính nào ? Thưa là quyền
thống trị.
Nhưng Đức Giêsu đă từ chối. Lư
do thứ nhất là Ngài thấy trong các tổ chức chính
trị, hành chánh và xă hội, những người lănh
đạo đều thích loại quyền thống
trị đó. Nhưng các tổ chức mà họ lănh
đạo người ta không được hạnh phúc
ǵ cả, trái lại c̣n phải đau khổ. Lư do thứ
hai là trong tổ chức mà Ngài thành lập, tức Giáo
Hội, không có người trên kẻ dưới, không có
người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả
đều b́nh đẳng với nhau v́ tất cả
đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên
trời. Cho nên không có chuyện người này bắt
người kia làm theo ư ḿnh, nhưng mọi người
đều giúp nhau để làm theo ư Cha trên trời.
Bởi vậy trong Giáo Hội, quyền bính được
trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm t́m nó, mà trao
cho những người nào có thiện chí và khả năng
phục vụ.
c. Khi 10 môn đệ kia bực tức với hai
người con ông Dêbêđê, th́ họ cũng có quan niệm
giống như hai ông này về quyền bính. V́ cùng ham
quyền thống trị như nhau cho nên họ ganh tị
nhau, bực tức nhau và tranh dành nhau.
Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau :
một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm
đi dạo ở công trường trước một nhà
thờ. Nó nh́n lên tháp nhà thờ thấy một chiếc
đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói : Anh
tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt
anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay th́ dài
thượt coi chẳng đẹp ǵ cả. Giọng nói
th́ khàn khàn. Chiếc đồng hồ lớn chỉ
mỉm cười và nói "Hăy lên đây". Chiếc
đồng hồ nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc
đồng hồ lớn nh́n xuống th́ nó mới
hoảng sợ. Th́ ra ở trên cao này nguy hiểm quá té
xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị
bao nhiêu cắp mắt nh́n lên, và lại c̣n cô đơn
nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn
khều nó nói "Ở dưới có người muốn
biết giờ ḱa. Em đưa mặt ra cho họ xem
đi". Chiếc đồng hồ nhỏ đáp :
"Không được, từ đây xuống dưới
xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không
thấy đâu". "Vậy th́ em nói giờ cho họ
nghe đi". "Cũng không được, v́ tiếng
em nhỏ quá". Khi đó chiếc đồng hồ
lớn mới ôn tồn giải thích : "Đó em thấy
chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh
cũng không thể làm việc của em. Mỗi
người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để
phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau
ḿnh đừng chỉ trích nhau nữa nhé".
Câu chuyện rất ư nhị : mỗi
người có một nhiệm vụ để phục
vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao
th́ phải phục vụ nhiều hơn. Và ở
địa vị cao th́ càng gặp khó khăn nhiều
hơn, có khi c̣n cô đơn hơn nữa.
d. Bởi vậy, khi hai người con ông
Dêbêđê xin địa vị, Đức Giêsu đă hỏi
: "Chúng con có uống nổi chén đắng không ?"
Địa vị và quyền bính trong Giáo Hội luôn đi
kèm với chén đắng, tức là những hy sinh, đau
khổ.
* 2. "Các anh không biết các anh xin ǵ"
Chuyện hai người con nhà Dêbêđê xin
được hai địa vị trong Nước
Đức Giêsu không có ǵ lạ. Có lạ chăng là họ
đă xin điều đó liền ngay sau khi Đức
Giêsu loan báo Ngài sẽ chịu nạn chịu chết.
Ai mà không thích địa vị. Nhiều
người cũng giống hai môn đệ kia thôi,
chỉ khác là không dám nói ra như họ.
Vả lại Đức Giêsu cũng không
muốn lập một Giáo Hội không có phẩm trật.
Giáo Hội, như bất cứ tổ chức nào khác,
cũng cần có phẩm trật, kẻ trên người
dưới chứ.
Cái đáng nói là hai môn đệ ấy đă xin
một điều mà họ không hiểu :
- Họ không hiểu rằng trong Nước
Chúa, địa vị rất khác với nước
trần gian, v́ địa vị là để phục
vụ chứ không phải để được
người ta phục vụ ḿnh.
- Họ không hiểu rằng có địa vị
trong Nước Chúa th́ họ sẽ phải uống chén
đắng chứ không phải sẽ ngồi đó mà
hưởng thụ.
Tóm lại, họ không đáng trách v́ đă ham
muốn địa vị, nhưng đáng trách v́ chưa
hiểu mục đích và điều kiện của
địa vị trong Nước Chúa, thế mà đă nhanh
nhẫu xin cho bằng được.
* 3. Phục vụ
Một lần Đức Hồng Y Roncalli
vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi
xa về. Phái đoàn ṭa Giám mục ra đón. Mọi người
ngạc nhiên trên vai áo Hồng Y có vương mấy
cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng
cười xoà vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá
trên xe đều hiểu chuyện. Chiếc xe của
Đức hồng Y đang từ hướng Bắc
xuống miền Nam qua ṿng đồng ruộng. Giữa
đường một chiếc xe ḅ chở rơm sa
hố. Người đánh xe gắng sức đẩy
phụ nhưng xe không nhúc nhích. Đức Hồng Y cho xe
dừng lại, xắn tay áo ḥ dô ta đẩy phụ, và chiếc
xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên
đường.
Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y
đối với ngài chỉ cười xoà cho qua. Nhưng
thực sự tỏ rơ cho chúng ta một Hồng Y không
quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo ḍng
sang trọng.
Sau này lên ngôi Giáo hoàng, Đức Gioan 23 vẫn
tiếp tục sống nếp sống b́nh dị phục
vụ.
Lần khác, cả giáo triều Rôma báo
động : "Đức Giáo hoàng mất tích". Nhân
viên an ninh đổ xô đi t́m. Cuối cùng người ta
gặp ngài đang chuyện tṛ thân mật với các tù nhân
trong khám đường Rôma.
*
"Con người đến không phải
để được phục vụ, nhưng là
để phục vụ và ban mạng sống ḿnh làm giá
cứu chuộc cho nhiều người" (Mc.10,45).
Đó là Hiến chương Nước
Trời, là Hiếp Pháp Đức Kitô đă tuyên bố cho
Giáo hội. Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là
đầy tớ của mọi người.
Người lănh đạo trong Giáo hội chính
là "Đầy tớ của các đầy tớ"
(Sevrus Servorum). Chữ Latin "Minister" có nghĩa là
đầy tớ. V́ thế, trong Giáo hội chỉ có
kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ t́, tôi tá,
hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.
Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho
hai con bà được làm tể tướng trong
nước của Người. Nhưng họ đă không
hiểu rằng Đức Giêsu không bước lên ngai vàng
để thống trị, mà Người chỉ leo lên
thập giá để hiến dâng mạng sống,
để yêu thương và "yêu cho đến cùng".
(Ga.13,1).
Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu
Kitô hăy noi gương Người : Phục vụ và
hiến dâng mạng sống cho tha nhân. Trước nhất
là yêu thương phục vụ những người trong
gia đ́nh : "Charity begin at home" (Bác ái bắt
đầu từ gia đ́nh), sau đó mới lan tỏa
sang những người chung quanh, nhất là những
người nghèo hèn, yếu đuối.
Nếu chúng ta chưa nên giống được
như Cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như
thánh Martino Porres bán ḿnh làm nô lệ, hoặc như cha Damien
tông đồ người hủi, th́ ít là mỗi ngày chúng
ta hăy âm thầm phục vụ hết ḿnh những
người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia
đ́nh ḿnh, trong cộng đoàn ḿnh.
Báo chí Pháp đăng h́nh của Cha Damien sau
mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép
cạnh h́nh cha hồi c̣n tẻ. Tấm h́nh gây xúc
động cho biết bao con người. Khi nh́n vào tấm
h́nh, mẹ Ngài không thể tin được con ḿnh đă
thay h́nh đổi dạng đến thế. Chính thái
độ tận tụy phục vụ đă tiêu hao
sức lực và tàn phá h́nh hài con người. V́ thế,
chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn
một tấm ḷng dấn thân quảng đại.
Người thành công nhất là người
phục vụ cho đồng loại nhiều nhất.
Albett Shweitzer đă nói : "Người hạnh phúc
thật là người biết t́m cách sống thiện ích
cho người khác". Martin Luther King nói : "Chúng ta
học bay như chim trên trời, học bơi như cá
dưới nước, nhưng lại chưa học
sống với nhau như anh em". Ở giây phút
định mệnh của mỗi con người chỉ có
cường độ t́nh yêu và tinh thần phục vụ
là có giá trị.
*
Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút
ham mê địa vị, chức quyền. Nếu Chúa
xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào
đó, xin cũng ban chúng con một ơn này, là chức
vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục
vụ anh em nhiều hơn. Amen. (Thiên Phúc, "Như
Thầy đă yêu")
* 4. Hiến thân phục vụ
Thiên Chúa đă gọi Cha Kỷ bước ra
khỏi vực thẳm của nghèo khó
Một cậu bé
nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đă phải
đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Giuse Lê
Đ́nh Kỷ (Joseph Wresinski) học được nghề
làm bánh ngọt để sống tới tuổi 19. Qua trung
gian phong trào Thanh Sinh Công, cậu được
hướng dẫn theo ơn gọi linh mục.
Năm 1937 cậu nhập ngũ theo tuổi quân dịch. Hai năm sau, chiến tranh bùng nổ ở Pháp, cậu bị bắt làm tù binh nhưng trốn được và về học ở chủng viện Sinh Đông (Soissons), nơi Thầy Giuse thụ phong linh mục năm 1946. Kế đó là 4 năm làm cha phó và 6 năm làm cha sở.
Năm 1956 Cha
Kỷ được giao nhiệm vụ mở ra một
giai đoạn hoàn toàn mới không riêng cho cha. Cha ghi lại
như sau :
Đức Giám
Mục đă phái tôi đến trại tiếp cư
khẩn cấp vùng ngoại ô Noisy-le-Grand của Thủ
đô Paris. Ngày đầu tôi tới đó là 14 tháng 7, 1956.
Tôi được gặp những gia đ́nh gợi
nhớ t́nh cảnh túng quẫn của mẹ tôi. Trẻ con
tới tấp tới quấy phá tôi, tôi kể đó là
những người em trong gia đ́nh tôi.
Đó là h́nh ảnh
của chính tôi, bốn mươi năm trước
đây trên đường Gia-cô-bê của thành phố Aùnh
Dương (Angers). Từ ngày tôi đặt chân tới
trại, chính những gia đ́nh ấy đă khởi hứng
cho tôi về tất cả những ǵ tôi thực hiện
nhằm giải phóng họ. Họ ôm chầm lấy tôi, ám
ảnh tôi, thúc bách tôi, đưa đẩy tôi cùng với
họ thiết lập một phong trào. Chính họ rèn
luyện nên căn tính riêng và tự xưng là "Thế
giới thứ Bốn".
Để cha
hiến thân phục vụ người nghèo
Tại sao gọi
là "Thế giới thứ Bốn" ? Cha Kỷ
muốn người ta nh́n nhận phẩm giá của
những gia đ́nh đó. Ngài muốn nói lên thái độ
của họ muốn từ khước túng quẫn. Chính
v́ muốn chấm dứt cảnh túng quẫn của
họ nên Cha Kỷ đă khởi xướng kế
hoạch phát triển cộng đồng cùng với
họ. Cùng với những gia đ́nh đó, cha Kỷ
đă thiết lập phong trào Trợ Giúp người lâm
bất cứ cảnh túng quẫn nào (Aide à Toute Détress (ATD),
tức International Movement ATD Fourth World).
Nhật kư của
Cha Kỷ ghi tiếp :
"Ngày đó, tôi
nguyền làm cho thế giới biết đến những
gia đ́nh đó. Tôi đoan thề sẽ t́m cho họ
nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm,
người trẻ được dạy nghề, trẻ
con có trường để học hành. Hôm đó tôi
chọn cho tôi con đường nhắm tới mục
tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng và
chỗ đứng ấy được thế giới
nh́n nhận và tôn trọng. Tôi sẽ phải làm thế nào
để họ có cơ hội trèo lên những bậc
thang của Liên Hiệp Quốc, của cơ quan Giáo
Dục UNESCO, của Tổ Chức Lao Động thế
giới (ILO), của Hội Đồng các nước Âu
Châu và của Vatican, để tiếng nói của họ
được nghe thấy.
Năm 1961 Cha
Kỷ thiết lập Viện nghiên cứu đầu tiên
để nghiên cứu về cảnh cùng cực (Research
Institute on extreme poverty), lôi cuốn các chuyên gia đến
từ các nước và các ngành khoa học. Qua những
chuyến công du và những bài thuyết tŕnh, nhiều
dự án nghiên cứu của phong trào lan rộng đến
nhiều nước Âu Châu và Hoa Kỳ.
Được thúc
đẩy do thâm tín rằng túng quẫn phải
được chấm dứt khỏi đời sống
con người, những người thiện nguyện
đầu tiên đến cộng tác với cha Kỷ
từ năm 1960. Họ đến từ nước,
thuộc nhiều quốc tịch, nhiều tín
ngưỡng và nghề nghiệp. Một số có gia
đ́nh, một số độc thân. Con số những
thành viên chí nguyện này hiện là 350 tại 20 quốc gia,
trong số đó 200 người đă phụcvụ trên 5
năm và 35 người đă phục vụ trên 20 năm.
Họ sống trong những cộng đoàn nơi họ
phục vụ bằng cách cổ vơ giao lưu giữa
những gia đ́nh nghèo và dân chúng nói chung.
Cuộc viếng
Ấn Độ năm 1965 khiến Cha Kỷ có thêm phong
trào Tapori, trong đó các em thiếu nhi từ nhiều
tầng lớp khác nhau trong xă hội trở nên bạn thân
với nhau. Song song nữa là phong trào thanh niên cũng
nhằm mục tiêu là gây t́nh bạn vượt mọi rào
cản.
Hai biến cố
đánh dấu năm 1987 là năm chót đời cha Kỷ.
Năm ấy cha đệ lên Hội Đồng Kinh Tế
và Xă Hội của Pháp Quốc một đề nghị
tổng hợp nhằm diệt tận căn bệnh nghèo
trường kỳ. Tài liệu của cha Kỷ nhan
đề là "nghèo cùng cực và sự bấp bênh Kinh
Tế và Xă Hội" khiến chó nước Pháp đă làm
luật để bảo đảm đồng
lương tối thiểu. Điều này đă gây
hứng khởi cho những nước khác của Âu Châu và
lôi kéo sự chú ư trên toàn cầu.
Cũng năm
ấy, vào ngày 17 tháng 10, trước sự có mặt
của trên 100,000 người từ khắp nơi trên
thế giới, cha Kỷ đă đặt viên đá kỷ
niệm nhằm tán dương những khổ đau và
ḷng can đảm của người nghèo. Viên đá kỷ
niệm được đặt tại Công Trường
Các Quyền Con Người tại Paris, đối diện
tháp Eiffel. Bảng viết ghi rơ : "Bất cứ khi nào
người nam hay nữ phải sống trong nghèo khổ
th́ quyền làm người của họ bị chà
đạp (condemned). Ta có bổn phận cùng nhau bảo
đảm cho những quyền đó được tôn
trọng."
Trong lễ an táng
cha Kỷ tại nhà thờ chính toà Paris, Đức Hồng
Y Lustiger nói : "Thiên Chúa đă gọi cha Giuse Kỷ
bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó
để cha hiến thân trở nên sức hút nhằm
loại bỏ tận căn tệ nạn người
loại bỏ người. Điều dễ phát sinh ra
căm hờn đă trở nên dấu chỉ của t́nh
thương. Điều dễ phát sinh ra tàn phá đă
mở lối vào để con người được
triển nở, được nhận ra ḿnh và khám phá ra
phẩm giá của ḿnh.
Lư tưởng cao
đẹp nhất của người môn đệ
Đức Giêsu
Câu chuyện Cha
Kỷ hiến thân phục vụ người nghèo
được kể để giúp lănh hội ư nghĩa
bài Tin Mừng hôm nay. Ư nghĩa ấy quả thật
ngược lại với xu hướng tự nhiên
của Nhóm Mười Hai. Khởi sự là hai anh em trong
nhóm, tức Giacôbê và Gioan, đă xin để
được ngồi bên hữu bên tả Đức Giêsu
khi người thiết lập Vương quốc,
nhưng Người đă giao cho hai ông vác thập giá theo
Người. Lời hai anh em này yêu cầu cũng dễ
hiểu v́ cả nhóm đă từng : "căi nhau xem ai là
người lớn hơn cả" (Mc 9,34). Tin Mừng
Mátthêu c̣n cho thấy chính bà mẹ của hai ông nói lên
lời thỉnh cầu của gia đ́nh (Mt 20,20). Nhưng
Đức Giêsu đă phản ứng với lời thách
đố : "các anh có uống nổi chén Thầy sắp
uống, hay chịu được phép rửa Thầy
sắp chịu không ?" (Mc 10,38). Đức Giêsu có ư nói
tới cơn hấp hối và cái chết mà Người
sẽ chịu. Hai anh em được thách đố
để theo Đức Giêsu đến cùng. Đức
Giêsu kết thúc đối thoại bằng cách đặt
hai anh em trước một câu trả lời đ̣i họ
phải được hoán cải để theo ư muốn
của Thiên Chúa. Người nói : "Có thể Chúa Cha
sẽ dành địa vị cho các anh, nhưng các anh phải
sẵn sàng vác thập giá tôi vác, uống chén đắng tôi
uống và chịu phép rửa tôi chịu." Nghĩa là hai
anh em phải bước theo Đức Giêsu cho tới cái
chết trên thập tự.
Không riêng hai anh em là
Giacôbê và Gioan, mười người c̣n lại trong nhóm
Mười Hai, đều bị chỉnh khi họ tỏ
ra tức tối với hai anh em liên quan tới việc
tranh giành ảnh hưởng giữa nhau. Để
bước theo Đức Giêsu cần phải dứt khoát
loại bỏ thái độ "hống hách đối
với người khác" (c.42). Là Kitô hữu có nghĩa
là trở nên kẻ phục vụ tha nhân như Đức
Giêsu đă phục vụ (c.45). Ai ở địa vị
cao nhất và uy thế nhất, người đó nhận
lấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của
mọi người theo gương Đức Giêsu (c.44).
Đó là con đường đưa người môn
đệ vào vinh quang của Đức Giêsu.
Bài Tin Mừng hôm
nay liên quan trước hết tới hai môn đệ thân
cận nhất của Đức Giêsu là ông Giacôbê và Gioan
(cùng với Simon-Phêrô, hai ông này được Đức
Giêsu chọn để tháp tùng Ngài lên núi biến h́nh (9,2-9)
và có mặt trong cơn hấp hối tại Vườn
Dầu (14,32-42)). Sứ điệp mà Tin Mừng Máccô có ư
truyền đạt liên quan tới địa vị lănh
đạo trong Giáo Hội, họ phải là người
đầu tiên "uống chén đắng" bằng cách
phục vụ nhu cầu của anh chị em, bất
cứ là nhu cầu nào họ nhận thấy và bất
cứ trong hoàn cảnh nào họ nhận ra. Đó quả là
một đ̣i hỏi tận căn, hầu như không bao
giờ người được giao trách nhiệm
cảm thấy ḿnh đă chu toàn được nhiệm
vụ.
Nơi Cha Kỷ, ư
nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay được sáng
tỏ. Thiên Chúa đă an bài để Cha sinh ra trong khó nghèo
hầu cả đời hiến thân phục vụ
người nghèo. Cha không căm hờn người giàu
nhưng đ̣i họ bằng mọi giá phải hoán cải
bản thân. Bằng mọi giá họ phải trả
lại cho người nghèo quyền lợi và phẩm giá
thuộc về họ. Lư tưởng cao đẹp
nhất được nêu cho người môn đệ
Đức Giêsu là họ phải cúi ḿnh phục vụ
người nghèo theo gương chính Đức Giêsu. (Lm
Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến,
Đức Giêsu đă tuyên bố : "Con Người
đến để được người ta
hầu, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng
mạng sống làm giá chuộc muôn người". Chúng ta
hăy cảm tạ Chúa thương chúng ta và dâng lời
cầu xin :
1. Đức Giêsu đă nói với các tông
đồ rằng : đối với anh em, ai muốn làm
lớn th́ phải làm bé hầu hạ / ai muốn làm
đầu th́ phải làm đầy tớ mọi
người / Xin Chúa cho các người lănh đạo trong
Hội thánh biết ứng xử đúng theo lời
dạy của Chúa / để luôn sẵn sàng phục
vụ mọi người.
2. Đức Giêsu cũng cho biết rằng /
những người được coi là thủ lănh các
nước th́ cai trị dân như những bạo chúa / và
những người làm lớn th́ lấy quyền mà áp
chế dân / Xin Chúa cho các nhà cầm quyền ngày nay biết
từ bỏ cách cai trị độc tài chuyên chế /
để tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của
mọi người.
3. Khắp nơi trên thế giới vẫn c̣n
rất nhiều người đang cần được
giúp đỡ và phục vụ / Xin Chúa cho họ
được nhiều người trong Hội thánh và
trong xă hội / biết quan tâm và lo lắng cho họ.
4. Đức Giêsu đến trần gian để cứu độ bằng phục vụ, và Chúa phục vụ để cứu độ / Xin Chúa cho mọi người trong xứ đạo chúng ta biết noi gương Chúa / luôn sẵn sàng phục vụ để truyền giáo cho những người chung quanh.
Chủ tế :
Lạy Đức Giêsu, khi bắt đầu theo Chúa, các
tông đồ c̣n mơ ước một cuộc sống
giàu sang và quyền lực, nhưng sau các ngài đă hiểu
và tự nguyện bước theo đường Chúa
đă đi ; Xin giúp mỗi người chúng con biết noi
gương các ngài, chấp nhận hy sinh thiệt tḥi,
để phục vụ cho việc truyền giáo. Chúa là
Đấng hằng sống và hiển trị muôn
đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước khi rước lễ : Đức
Giêsu đă hiến thân làm của ăn nuôi sống linh
hồn chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta sau khi rước Chúa vào ḷng
cũng biết hiến thân phục vụ anh chị em chúng
ta.
VII. GIẢI TÁN
Hôm nay chúng ta đă học được bài
học phục vụ : người lớn phải
phục vụ người nhỏ, càng làm lớn th́ càng
phải phục vụ. Chúng ta hăy ra về và cố gắng
thực hành bài học này.
-----------------------------------------------------------------------
Hăy đi
khắp thế giới
KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO
Chúa Nhật 29 Thường niên -năm B.
Mc.10,35-45 hay Mc. 10,42 -45
Lm. Nguyễn Khảm
Hôm nay là ngày lễ Khánh nhật truyền giáo. Mục
đích Giáo Hội mừng lễ này là để nhắc
nhở và thúc đẩy mọi người Kitô hữu
chúng ta góp phần vào công cuộc truyền giáo.
Ngày Khánh nhật truyền giáo năm này tại Rôma Đức
Giáo Hoàng Gioan Phalô II long trọng tuyên bố thánh nữ Têrêsa
Hài Đồng Giêsu làm tiến sĩ Hội Thánh. Sở dĩ
Đức Giáo Hoàng chọn ngày hôm nay là v́ thánh nữ Têrêsa là
bổn mạng của các xứ truyền giáo.
Khi tuyên bố thánh Têrêsa là tiến sĩ Hội Thánh, là
bậc thầy trong đời sống đức tin,
điều đó cũng có nghĩa Đức Giáo Hoàng muốn
nói với các tín hữu toàn cầu rằng: Têrêsa là bậc
thầy trong nghệ thuật truyền giáo. Vậy hôm nay
chúng ta hăy dành ra ít phút để chiêm ngắm thánh nữ xem
nghệ thuật truyền giáo của Ngài như thế nào?
Khi chiêm ngắm thánh nữ Têrêsa như là bậc thầy
nghệ thuật truyền giáo, th́ tôi chắc chắn là
chúng ta sẽ thấy xuất hiện một nghịch lư.
Nghịch lư ở chỗ tại sao một nữ tu nhà kín
suốt đời ở trong bốn bức tường mà
lại được chọn làm bổn mạng cho các
xứ truyền giáo, công cuộc truyền giáo.
Nói đến truyền giáo th́ chúng ta cũng nhớ
đến hai động từ Đi và Nói.
Chính Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Anh em hăy
đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân". Sách Ngôn sứ
Isaia viết: "Vinh quang thay, những bước chân
đi truyền rao Tin Mừng ơn cứu độ".
Phải đi, nhưng Têrêsa không đi đâu một
bước nào cả, 15 tuổi đă vào ḍng kín. Phải
nói, chính thánh Phaolô bảo: "Làm sao người ta tin
nếu không nghe nói. Làm sao người ta nghe nói nếu không
có người đi rao giảng. Làm sao có người rao
giảng nếu không có ai được sai đi".
Nhưng Têrêsa lại không nói ǵ với ai. Đời sống
của các nữ tu ḍng kín th́ rất nghiêm ngặt, rất
nghịch lư. Một nữ tu ḍng kín chẳng đi đâu,
chẳng nói với ai mà lại được làm bổn
mạng của các xứ truyền giáo. Chính cái nghịch lư
ấy bắt tôi suy nghĩ và khám phá ra điều này: Giáo
Hội mời gọi chúng ta hăy thay thế câu hỏi
truyền giáo làm ǵ? bằng câu hỏi là ǵ? Nếu nói làm ǵ
với Têrêsa th́ không đúng, v́ thánh nữ Têrêsa chả làm ǵ
cả. Nếu ta đặt câu hỏi Têrêsa là ai th́ lập
tức ta sẽ khám phá ra chiều sâu trong đời
sống của thánh nữ.
Tôi nhắc lại một câu có thể tóm tắt tâm t́nh
của thánh nữ Têrêsa. Khi đọc Kinh Thánh, thư thánh
Phaolô, Ngài thấy trong Giáo Hội có rất nhiều ơn
gọi nhưng h́nh như Ngài không thấy Ngài có trong
đấy. Ngài suy nghĩ. Cuối cùng Ngài khám phá ra
điều này: Giữa ḷng Giáo Hội có một trái tim
rực cháy t́nh yêu. Nếu không có t́nh yêu các tông đồ
sẽ không ra đi loan báo Tin Mừng. Nếu không có t́nh yêu
các vị tử đạo đă chối từ đổ
máu. Cho nên t́nh yêu là tất cả. Và Ngài nói thêm: Giữa ḷng
Hội Thánh tôi sẽ là t́nh yêu. V́ thế tôi sẽ là
tất cả.
Câu nói ấy giúp cho chúng ta khám phá ra được nghệ
thuật truyền giáo của Têrêsa. Không đi đến
đâu, không nói với ai, nhưng chỉ yêu thôi. Chính Têrêsa
đă sống một t́nh yêu mănh liệt đối với
Thiên Chúa, đối với tất cả mọi
người. Bởi v́ Têrêsa cầu nguyện như thế
này: "Lạy Chúa Giêsu, con mong ước
được yêu mến Chúa như chưa từng bao
giờ Chúa được yêu mến như thế. Và Ngài
nói thêm: Con ước mong làm cho mọi người cũng
yêu mến Chúa như thế ". Khi Têrêsa chọn
một lối sống như thế th́ chính t́nh yêu đó
đă chấp cánh cho Têrêsa đi khắp nơi và nói
chuyện với mọi người. T́nh yêu làm nên như thế,
không đi bằng bước chân nhưng đi bằng
trái tim. Không nói bằng lời nhưng nói bằng lời
cầu nguyện. Thiên Chúa đă ban cho Têrêsa một huyền
nhiệm về t́nh yêu. Têrêsa đă đến với mọi
người, đến với mọi trái tim. Têrêsa đă
sống nghệ thuật truyền giáo theo nghĩa như
thế.
Khi chiêm ngắm thánh nữ Têrêsa để khám phá ra cái
điều quan trọng không phải làm ǵ mà là ǵ. Tôi
tưởng là về mặt t́nh yêu đối với Chúa,
với các linh hồn, đối với chúng ta c̣n xa
vời lắm. Nó thiêng liêng quá. Nhưng có một
điều mà chúng ta giống thánh nữ đó là: là Kitô
hữu, là người công giáo. Trước khi làm nữ tu
thánh nữ đă sống trọn vẹn là một
người Kitô hữu.
Chúng ta cũng được mời gọi sống danh
nghĩa là một Kitô hữu cho xứng đáng và chúng ta
cố gắng sống đời Kitô hữu cho đúng
nghĩa,th́ từ lời chứng ấy nó trở thành
một lời chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Ngược lại nếu ḿnh không sống đời
sống Kitô hữu cho xứng đáng, th́ dẫu ḿnh có làm
đủ thứ chuyện, th́ tâm hồn vẫn có thể
rơi vào t́nh trạng rỗng tuếch và Chúa Giêsu sẽ
kết án ta như đă kết án những người
Pharisêu ngày xưa: "Các anh đi khắp nơi để
t́m một người ṭng giáo và khi người ta đă
ṭng giáo rồi, các anh làm cho người ta trở thành ma
quỉ gấp 10 lần các anh". Thật nguy hiểm.
Tôi thấy phần lớn anh chị em dự ṭng đi t́m
hiểu đạo, là bởi v́ các bạn ấy đă
cảm kích trước vẻ đẹp của một
đời sống Kitô hữu nào đó, nên họ đă t́m
hiểu giáo lư, t́m kiếm Chúa. Ngược lại thỉnh
thoảng chúng ta gặp một trường hợp theo
đạo v́ một đối tượng mà họ yêu
mến. Như thế chỉ một thời gian là họ
sẽ chán ngay, sẽ rời bỏ Chúa ngay. Khi ấy chúng ta
sẽ dễ dàng kết án họ ngay.
Có bao giờ chúng ta xét lại chính ḿnh, chính cuộc sống
người công giáo của chính ḿnh có khá không hay là v́ chính
cuộc sống bê bối của chúng ta làm cho họ
thất vọng, họ không c̣n tiếp tục tin vào Chúa
nữa.
Chính v́ vậy hôm nay khi cùng với Hội Thánh cầu
nguyện cho việc Phúc Âm hóa các dân tộc. Tôi nghĩ chính
chúng ta phải Phúc Âm hóa chính bản thân ḿnh. Chính chúng ta
phải sống lại đời sống Kitô hữu
của ḿnh cho đúng nghĩa. Đó là khởi điểm,
đó là một cách góp phần thiết thực nhất cho
công cuộc truyền giáo, công cuộc Phúc Âm hóa mà Giáo
Hội mời gọi chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu t́nh yêu của con, nếu Hội Thánh
được ví như một thân thể gồm nhiều
chi thểû khác nhau. Hội Thánh không thể thiếu một
chi thể cần thiết nhất đó là trái tim, một
trái tim bừng cháy t́nh yêu. Chính t́nh yêu làm cho Hội Thánh
hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng
t́nh yêu th́ các tông đồ sẽ ngừng rao giảng. Các
vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ
máu ḿnh. Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đă t́m thấy
ơn gọi của con chính là t́nh yêu. Con đă t́m thấy
chỗ đứng của con trong Hội Thánh, nơi trái
tim Hội Thánh con sẽ là t́nh yêu và như thế con sẽ
là tất cả. V́ t́nh yêu bao trùm ơn gọi trong Hội
Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con
mọi ước mơ của con được thực
hiện. Amen.
----------------------------------------------------------------------------------
Bồi Dưỡng
Tinh Thần
I.Tia
sáng:
v CHÍ TRAI
v SỐNG KHIÊM
TỐN
II.Thư
giăn:
1.
NHANH TRí
2.
TIẾNG VANG
3.
VẬT HY SINH
4.
T̀M CHỦ NGỮ
5.
Ư ĐỒ
6.
NHƯ NGƯỜI THẬT
7.
KHÔNG ĐỀ
III.Chuyện
vui suy niệm:
AVE JESU MARIA JOSEPH
v MẶT NƯỚC TRONG
THÙNG
IV.Chuyện ngụ ngôn:
v SUỐT RUỘT
V.Hẹn
bạn trên đỉnh thành công:
v ĐIỀU TÔI
TIN
VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia
đ́nh:
VII.Chuyện phiếm
của Phạm Khải:
v QUÀ SINH
NHẬT CHO CHỒNG
----------------------------------------------------
I.
TIA SÁNG :
*Bạn dừng nói
: đó là bản tính tôi, đó là mặt ngoài của tính tôi,
v́ thực ra đó là bộ mặt của một
người thiếu đức tính : Bạn phải
nhớ luôn đến "Chí trai" !
*NHỮNG NGƯỜI QUẢNG ĐẠI NHẤT
THƯỜNG QUEN SỐNG KHIÊM TỐN HƠN CẢ.
Descartes.
Người
trẻ nghĩ rằng: khiêm nhường là một
đức tính do yếu đuối, mà thật ra nó là
sự thật và từ tốn.. C̣n tôi, tôi có hay thổi
phồng những việc nghĩa của tôi không? Trong
cuộc đời tôi, có ǵ là quảng đại không?
II. THƯ GIĂN:
1.NHANH TRí
Một trọc phú mời nhà danh họa vào
pḥng khách có treo bức tranh.
Trọc phú: "Nét bút của ngài thật
tuyệt vời".
Nhà danh họa kêu lên: "Nhưng sao ông
lại treo ngược tranh?"
"Tôi biết chứ?" Trọc phú
nhanh miệng: "Tôi tập Yoga ở pḥng này v́ thế
phải treo ngược".
2.TIếNG
VANG
Cả hai người cùng đua nhau khoe
ngọn núi quê ḿnh.
Một người nói: "Nếu anh
đến quê tôi hét trước hang núi, ba phút sau mới
nghe tiếng vọng".
"Có ǵ ghê! Người kia bảo:
"Hang núi quê tôi th́ tối nay anh hét, sáng mai tiếng vang
mới đến đánh thức anh dậy!".
3. VậT
HY SINH
Chồng bảo vợ: "Ngày mai là
kỷ niệm 20 năm ngày cưới chúng ḿnh, ta nên
giết một con gà làm tiệc".
Bà vợ hà tiện mau mắn nói ngay:
"Sao lại phải giết con gà? Chẳng lẽ nó có
lỗi trong những cuộc căi nhau suốt 20 năm qua
của chúng ta sao?"
4.T́M
CHủ NGữ
Thầy giáo viết lên bảng câu:
"Người đàn ông lang thang đă chết
đói!". Rồi quay lại hỏi học sinh: "Này
Pitơ, em cho thầy biết chủ ngữ ở
đâu?"
"Ơ .. Có lẽ dưới mồ
ạ!" Pitơ không chắc lắm.
5.Ư Đồ
Người vợ nói với chồng:
"Anh X ở lầu trên h́nh như không thích con trai ḿnh
đánh trống".
"Sao thế?" Người chồng
hỏi.
"Thế này" Người vợ
giải thích: "Trưa hôm nay anh ấy cho con trai ḿnh
một con dao nhỏ và hỏi nó có biết trong ruột
trống có ǵ không?"
6.NHƯ
NGƯờI THậT
"Tôi đă phát minh ra loại
người máy y như người thật". Một
nhà khoa học tuyên bố với đồng nghiệp.
"Nó không phạm sai lầm bao giờ
à?" Một vị khác chất vấn.
"Không đâu, nhưng nếu có phạm
sai lầm, nó sẽ đổ trách nhiệm lên đầu các
người máy khác ngay"".
7. KHÔNG
Đề
Hai vợ chồng đi xem triển lăm
mỹ thuật. Họ đến trước bức tranh
có thiếu nữ khỏa thân được che đậy
bởi vài chiếc lá, ông chồng cứ trố mắt ra
mà ngắm không chịu rời. Bà vợ tức giận kéo
tay ông ta lôi đi: "Này, ông định chờ đến
mùa thu lá rụng hết mới vừa ḷng hay sao".
III.
CHUYỆN VUI SUY NIỆM :
MẶT NƯỚC TRONG THÙNG
(Thinh lặng, chiêm ngắm, hành
động)
Trong
truyện các thánh tu rừng có kể rằng hai tu sĩ
trẻ kia rất muốn nên trọn lành nhưng lại có
tật thích nói chuyện. Ngày nọ, để dạy cho
hai tu sĩ một bài học, cha bề trên khuấy một
thùng nước ở ng̣ai trời rồi gọi hai
thầy tới và bảo: “Các thầy hăy xem gương
mặt của ḿnh trong thùng nước”.;
Dù
mở to đôi mắt hai thầy vẫn không thể nào nh́n ra gương mặt ḿnh
v́ nước bị khuấy động.
Cha
bề trên nói tiếp: “Các thầy hăy trở lại đây
chừng mười lăm phút nữa”.
Một
khắc sau, hai thầy trở lại khi nước trong
thùng đă yên lặng. Và lần này hai thầy nh́n rơ mặt
ḿnh phản chiếu trong thùng nước.
Trong
mỗi người chúng ta có một khao khát nên tốt
hơn. Tâm hồn chúng ta cũng giống như thùng
nước, nếu cứ khuấy động th́ nó
chẳng thể phản chiếu h́nh ảnh nào. Trái
lại, trong yên lặng nó phản chiếu được
mọi vật, nó sẽ gíup ta nhận ra chính ḿnh. Thinh
lặng là quê hương của những vĩ nhân. Không có
ǵ làm cho con người trở nên xấu xa bằng đánh
mất sự chiêm ngắm. Và không có ǵ hữu ích làm tăng
vẻ cao siêu cho tâm hồn bằng sự thinh lặng.
Nếu lời nói tạo nên cá tính của con người,
th́ thinh lặng làm nên đức hạnh cho con
người.
Trong
nhân vị con người có ba lúc khác nhau: chiêm ngắm,
quyết định và hành
động. Chiêm ngắm trong thinh lặng là nền
tảng cho mọi công việc được tốt.
Như đàn ong chăm chỉ làm việc trong bóng tối,
cũng thế, tư tưởng trở nên có hiệu
lực trong thinh lặng.
Hơn
nữa, thinh lặng cần thiết cho việc gặp
gỡ Thiên Chúa. Nếu lời nói giúp ta giao tiếp
được với người khác, th́ thinh lặng cho
ta khả năng nắm
bắt được sự hiện diện vô h́nh của
Chúa. Thánh Gioan Thánh giá quả quyết: “Sự hiểu bíêt
về Thiên Chúa có được trong thinh lặng. Có ba cái
nằm trong thinh lặng, đó là vẻ đẹp, t́nh yêu
thương thân mật và cảm nhận sự hiện
diện của Chúa trong tâm hồn ḿnh”.
Người
ta kể một hôm chị Cecilia hỏi em ḿnh là Têrêsa Hài
Đồng Giêsu đang qú ngây ngất trước Nhà
Tạm.
-
Têrêsa, em nói ǵ với Chúa mà lâu như vậy?
Têrêsa
trả lời:
-
Em chẳng nói ǵ hết, em chỉ yêu mến Ngài mà thôi.
Ngôn
ngữ của trái tim là thinh lặng, và tột đỉnh
của mối hiệp thông với Chúa cũng không có ǵ khác
hơn là thinh lặng gấp đôi. Như thế, thinh
lặng không phải là câm nín, là vô cảm, nhưng là
một độ rung linh thiêng mănh liệt, đó là sự
tập trung sức lực, lời nói, đó là nguồn
suối của hoạt động, là lắng nghe lời
Chúa, là đắm ch́m trong
sự thờ lạy Thiên
Chúa.
IV.
TRUYỆN NGỤ NGÔN:
SUỐT RUỘT
Nô lệ xưa phải làm lao động
rất nặng nhọc quá súc vật, càng khoẻ mạnh
càng phải làm nhiều cho chủ nô đến kiệt
sức, có lúc tới bỏ mạng. Để khỏi
bỏ mạng v́ lao động cực h́nh, có một nông nô
nghĩ ra một cách. Anh ta giả vờ bị mù, chủ
nô tưỏng thật, sợ nuôi tốn cơm, bèn thả
cho lang thang tự kiếm sống. Thế là người nô
lệ đó đuợc tự do. Số nô lệ thấy
vậy cũng định làm cho mắt ḿnh mù thật
đi để có thể được thả tự do.
Khi số người này định khoét
mắt ḿnh th́ có người nói :
- Không làm thế được ! Làm như
vậy th́ suốt đời ta sẽ mù. Hăy từ từ
để nghĩ cách khác. Đa số người nghe theo
lời khuyên, nhưng có một số người không
chờ đợi được, họ sốt ruột và đă tự chọc
mắt ḿnh để mù. Chủ nô thấy số nô lệ
bị mù nhiều như vậy, liền bắt tất
cả số nô lệ mù quẳng xuống sông.
V. HẸN BẠN TRÊN
ĐỈNH THÀNH CÔNG:
Theo bản tiếng Anh: See you at the top
của Zig Ziglar
Biên
soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU -
DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN VĂN DIỄM
ĐIỀU TÔI TIN
Ta thường được nghe
quảng cáo về những chuyện t́nh "đẹp
như mơ" độc
nhất vô nhị trên thế gian này. Dĩ nhiên, những
luận điệu như thế đều không có
thật, nhưng thực ra vẫn có một người
nào đó tại một nơi nào đó, vào một lúc nào đó
đă từng kể hoặc sẽ kể về một câu
chuyện t́nh "đẹp như mơ" và
"độc nhất vô nhị.
Phần tôi, tôi luôn xác tín rằng những
câu chuyện t́nh thực sự "đẹp như
mơ" đă và sẽ không bao giờ được nói
đến cả. Những câu chuyện đó đă và
sẽ tiếp tục sống ngoài những trang giấy in,
màn ảnh truyền h́nh hay màn ảnh xi nê. V́ chẳng
người chồng hay người vợ nào rất
mực thương nhau, coi nhau hơn hết mọi
người, mọi sự muốn bán rao những t́nh
tiết về cuộc đời và t́nh yêu của ḿnh
cả. Tiết lộ cho một người họ c̣n
chẳng muốn, huống chi cho cả thế giới cách
xa diệu vợi! Bởi nếu làm như vậy th́
mối tương quan mật thiết, riêng tư, và
đẹp đẽ của họ lại chẳng hoá nên
một thứ tài sản công cộng, chung phần,
khiến mối tương quan mật thiết và thiêng
liêng ấy trở thành tầm thường, dung tục.
T́nh yêu đích thực luôn thực sự tốt đẹp
và rất đỗi riêng tư. Giống như thép tốt
được luyện trong lửa và nước, xa
lộ được h́nh thành bởi đồi cao,
lũng sâu và khúc quanh, t́nh yêu và hôn nhân cũng phải
được xây dựng trong gian khổ và thử thách.
Bởi vậy, thật đáng buồn khi thấy nam nữ
tự nhiên chung sống hay sống với nhau qua những
cuộc hôn nhân thử. Điều đó chỉ khiến cho
họ dễ dàng thôi nhau như cọng rơm hay trong
cơn băo, trước khi có đủ thời gian
để hiểu biết nhau chứ đừng nói là yêu
nhau nữa. Họ không hiểu thế nào là t́nh yêu giữa
những người có trách nhiệm cả. Họ không
biết phân biệt giữa t́nh yêu và t́nh dục, là hai
thứ có thể giống nhau nhưng cũng có thể khác
nhau hoàn toàn. Khi t́nh dục là biểu hiện của t́nh yêu
và hoà hợp trong hôn nhân thánh thiện, th́ nó rất tốt
đẹp, nhưng khi chỉ là biểu hiện của
nhục dục th́ chỉ là thú tính và ích kỷ mà thôi.
T́nh yêu, trái với điều các thi sĩ
và các nhà viết kịch bản đề cập, không
phải là một cảm xúc cố hữu. Ngay lần
đầu gặp nhau, tôi đă bị vợ tôi hớp
hồn. Tôi nghĩ ḿnh đă "yêu" nàng trong khi đeo
đuổi và những năm đầu cuộc sống
vợ chồng. Vậy mà thực sự, măi đến 25
năm sau, tôi vẫn chưa hiểu t́nh yêu đích thực
là ǵ cả. Khi mừng hai mươi sáu năm kết hôn,
th́ t́nh yêu ấy vẫn lớn mạnh hàng ngày. Vợ tôi
luôn vượt xa và ở trên bất cứ người
đàn bà nào đẹp nhất, lôi cuốn nhất, kích
thích nhất mà tôi từng gặp. Nếu có giờ rỗi
rảnh mà phải chọn lựa giữa vợ và công
việc th́ vợ tôi luôn luôn giành phần chiến thắng.
Nhưng như vậy không có nghĩa là
chúng tôi luôn ăn ư và không bao giờ xích mích nhau, mà chỉ có
nghĩa là chúng tôi không bao giờ cố ư làm khổ nhau
cả. Nó cũng có nghĩa là chúng tôi luôn sẵn sàng
nhận lỗi và xin lỗi nhau. Và cũng có nghĩa là chúng
tôi luôn sống vui vẻ bên nhau, luôn yêu thương nhau
đến mức coi người yêu trên hết. Chúng tôi
không bao giờ đi chung hoặc lên giường ngủ
khi chưa giải quyết những xung khắc và tái
khẳng định t́nh yêu của ḿnh cả.
VI.T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA
Đ̀NH:
(Đại Đoàn Kết ngày 28/6/1997, trang 13)
TV,
VIDEOGAMES, VI TÍNH VỚI TRẺ EM: CON DAO HAI LƯỠI
Nhị Hoàng.
"Những sản phẩm của
thời đại ngày nay đang làm hỏng sự phát
triển trí tuệ của trẻ con" Tiến sĩ Robert
Sylwester, người chủ tŕ cuộc hội nghị
về vấn đề tư duy của thế hệ
tương lai (ITC) tổ chức tại Mỹ đă
cảnh báo như vậy. Ngày nay trẻ em dành quá nhiều
thời gian thức (ITC quy định đời sống
con người chia làm hai phần là thức và ngủ)
để dán mắt vào các chương tŕnh tivi, videogames hay
màn h́nh vi tính.
Một khi tập trung như vậy, các
đứa trẻ bị bào ṃn khả năng tṛ chuyện
và không thấy cần thiết điều ǵ khác. Thái
độ chung của chúng là miễn cưỡng trả
lời và thường im lặng. "Những sản
phẩm của thời đại", tiến sĩ R.
Sylwester nói một cách lo lắng rằng những thứ
ấy làm mất đi tính chất tương tác xă hội
cần thiết cho năo bộ phát triển. Không chỉ có
vậy, R. Sylwester c̣n cho biết rằng, các phương
tiện truyền thông đại chúng như vậy
(electronic media) làm yếu năo và làm mất khả năng
của hệ phản ứng nội thần kinh. "Đây
không phải là chuyện hù doạ các bậc cha mẹ"
- ông R. Sylwester nói - "Đây thực sự là chuyện năo
bộ bị cầm tù bởi kỹ thuật tiên tiến
mà chúng ta đă sáng tạo ra". Theo ông, đặc tính
của con người có từ hàng ngàn năm trước
có thể phát triển được là nhờ sự
phản ứng nhận biết các chi tiết của
đời sống, trong không gian và thời gian. Những
đứa trẻ lớn lên có khả năng nhận
thức được các vật thể, liên hệ
với chúng bằng cách tự vận động và phát
triển ư thức từ thấp lên cao. Thế nhưng
trong thế kỷ này, mọi việc dường như
thay đổi hẳn. Có quá nhiều sự bộc lộ,
giới thiệu... từ các electronic media làm chựng
lại tính phát triển trí tuệ, v́ nó làm cho trẻ con
lười vận động thần kinh, không bắt
trẻ con phải suy nghĩ. Một môi trường
như vậy rất nguy hại đến chất xám trong
năo.
Hơn nữa, nhịp độ tiếp
thu liên lạc từ electronic media khiến phần kư ức
dài hạn nơi năo sẽ bị thay thế bằng
phần kư ức ngắn hạn (short - term memory). Mọi
thứ phản ứng của trẻ em sẽ trở nên tự
động hoá giống như một chương tŕnh
đă cài đặt sẵn. Chúng hoàn toàn mất ư thức
về hành động và ngôn ngữ. Chẳng hạn, khi
hỏi chúng tắm bằng xà bông ǵ, thay v́ trả lời,
chúng có thể đọc một tràng lời quảng cáo
của hăng xà bông X nào đó.
Trước khi hiểu kịp t́nh dục,
bạo lực... là ǵ th́ năo của trẻ em đă bị
ấn đầy các h́nh ảnh ấy từ tivi, videogames
và các thứ hấp dẫn khác trên mạng Internet. Khả năng
phân tích và khám phá của năo cũng bị bào ṃn. Đứa
trẻ sẽ trở nên thụ động và luôn luôn t́m
lời khuyên chứ tự ḿnh không thể giải quyết
được vấn đề.
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là phủ
nhận vai tṛ của electronic media trong cuộc sống, ITC
nhấn mạnh rằng việc kiểm soát và tác
động của gia đ́nh chính là yếu tố quyết
định để bảo vệ trẻ em trong sự
phát triển cân đối. Tiến sĩ R. Sylwester cho
biết, một khi các gia đ́nh củng cố hơn các
mối quan hệ của thành viên với nhau, tạo nên
một sự êm ấm yêu thương th́ đứa
trẻ có đủ khả năng để phát triển
tâm thần với nhận thức đúng nhất của
nó!. Tiến sĩ R. Sylwester nói: "Điều quan trọng là
chúng ta không nên lo sợ quá mức những ǵ mà electronic media
mang đến cho trẻ con, mà quan trọng là tạo cho
trẻ con có ư thức như thế nào đối với
electronic media".
CHUYỆN
PHIẾM :
Trích trong tập truyện hài
hước trẻ “Bồ non”
Biên soạn : PHẠM KHẢI
QUÀ SINH NHẬT CHO CHỒNG
Chồng đẹp trai,
có tài lẻ. Vợ con nhà quyền quư, có một công việc
ít người dám mơ. Họ sống với nhau trong không
khí ”trăng mật” suốt mười năm. Tác phẩm
của họ là cậu con trai đẹp như tranh,
thuộc diện quư tử. Ông bà bên ngoại cho không một
hộ khép kín và ngôi nhà ấy cũng nhanh chóng chật ních
tiện nghi…Chiều thứ bảy và trưa chủ
nhật, vợ chồng con cái đi ăn tiệm.
Đó là “gia cảnh”
của vợ chồng Bỉnh trước ngày ”mợ cháu”
đi Tây. Việc Hiên, vợ Bỉnh quyết chí xuất ngoại
phần lớn do quyết tâm của Bỉnh. Hiên chần
chừ cân nhắc th́ Bỉnh sốt sắng dứt khoát.
Hiên lo lắng chạy thủ tục lấy lệ th́
Bỉnh quyết liệt, có bài bản và thực tế.
Cuối cùng hai cha con anh Bỉnh hớn hở tiễn Hiên
ra sân bay, trở về Bỉnh mới thấy ăn
chắc.
Hiên đi theo một
đoàn điều tra thị trường tới một
đất nước được ví như thiên
đường. Những ngày đầu Bỉnh nằm bên
máy điện thoại để nghe vợ gọi về
từ cái nơi cách xa cả vạn kilômét. Thăm hỏi
là chính nhưng Bỉnh chỉ đạo vợ cũng là
chính. Những thông báo của vợ Bỉnh các tháng sau, y
hệt một cô thư kư của sếp báo cáo t́nh h́nh tài
chánh. Tiết kiệm ăn sáng bao nhiêu; tiền khách sạn
dư ra do ở nhờ người quen bao nhiêu; tiền
lưu trú, tiền bạn bè biếu xén… Khoản nào rành
mạch khoản đó. Bỉnh quán triệt vợ: Một
xen cũng quư. Tất cả quy ra đôla Mỹ và nếu
khoản nào không đáng chi th́ tuyệt đối không chi.
Tháng sau rồi tháng sau
nữa,Hiên điện về thưa dần. Nhưng
Bỉnh luôn luôn yên ḷng bởi những thông báo của
vợ: ”Anh và con cứ yên trí.Những ǵ chúng ta tích góp 10 năm
th́ bây giờ em có thể kiếm trong vài ngày”.
Ở nhà Bỉnh bắt
đầu chuẩn bị cuộc sống “hậu thời
kỳ chắt bóp”. Anh phải xử lư món tiền nhiều
ngh́n đô do vợ anh sắp đem về để trang
trí một số tiện nghi c̣n thiếu. Một ngàn đô
la cho chuyến đi biển. Số c̣n lại anh sẽ ném
ra mua cổ phần công ty tư nhân do bạn anh làm chủ
tịch hội đồng quản trị. Viễn
cảnh trước mắt anh sẽ là: Vợ con thuộc
hàng quư phái. Anh vừa tham gia điều hành công ty. Anh
sẽ biến nó thành Group và đóng vai một VIP trong hàng
ngũ các chủ doanh nghiệp.
Bỉnh không dám mơ
tiếp bởi nó quá lớn, có thể khiến anh ngợp,
không lợi cho dấu hiệu huyết áp cao đă bắt
đầu xuất hiện ở anh.
Hết hạn công tác,
Hiên trở về và tất cả những ǵ Bỉnh
”đếm cua trong hang” đều vượt xa. Nghĩa
là số tiền thực tế Hiên có c̣n gấp nhiều
lần số tiền Bỉnh cộng nhẩm một cách
lăng mạn. Hiên ”mợ” hẳn lên. Ngay tức khắc
Bỉnh tuyệt giao với hàng loạt bạn bè
để khỏi phải lẩn tránh họ. Anh nuôi
một con chó nặng gần nửa tạ, dữ dằn
đến mức thằng bạn nào định
”đỉa” cũng không đủ gan đối mặt với
nó. Tiếng sủa kinh dị của nó như muốn
bảo: ”Đứa nào muốn chết th́ bước vô”.
Vợ Bỉnh tự
dưng thích sống theo kiểu “bà lớn”, bởi nàng
bảo nàng ghê tởm lối sống dụi dọ. Nàng
bắt đầu chuộng lễ nghĩa. Nàng chuẩn bị
sinh nhật chồng rất công phu, đến mức
Bỉnh phải lấy làm phiền. Sau chầu Champagne Pháp
chính hiệu mà nàng yêu cầu chồng mở, nàng
đặt nhẹ lên trước mắt Bỉnh chiếc
ch́a khóa xe Toyota Crow, khiến toàn thân Bỉnh run bắn lên v́
bất ngờ quá lớn. Vợ Bỉnh ngồi bắt
chéo chân cười khanh khách. Bỉnh không ḱm
được, bất chấp trước mặt cậu
con trai đă lớn, lao vào bế bổng vợ lên. Bất
chợt Hiên co rúm người lại, tay cúm chặt đáy
váy. Bỉnh càng thấy thế làm thích thú, tung cao Hiên
rồi vồ lấy hôn như mưa vào cổ Hiên. Có
vật ǵ đó mỏng manh trang nhă vừa liệng nhẹ
xuống nền nhà.Bỉnh đặt Hiên xuống,
tiện thể cúi nhặt tờ giấy. Hiên xông vào
cướp, Bỉnh rụt ngay tay lại, nói trêu:
-Nếu thằng nào tán
được vợ anh, Bỉnh này xin thưởng thêm.
Tờ giấy trong tay
Bỉnh duỗi ra, mềm mại và cho thấy nó là
loại giấy cực quư hiếm. Cái thứ dùng
mực để viết
những ḍng chữ vô cùng dễ đọc cũng ngào
ngạt thứ hương thơm đắt tiền.
Dưới mắt Bỉnh ḍng chữ đó hiện lên
như sau :
“Nhớ cái cảm giác
tuyệt diệu với em bên bờ Địa Trung Hải
trong từng tích tắc. Bỏ lại tất cả
với hắn để bay sang với anh ngay”.
Người có 10
triệu đô và là nô lệ của em.
John Hách.
Ly Champagne có lẽ
vừa vào đến dạ dày Bỉnh, ói ngược
trở ra, sủi bọt dưới nền nhà.
-----------------------------------------------------------------------------------
Bài
đọc: Is
53 : 10-11; Đt 4 : 14-16 ; Mc 10 : 35-45
Mục
lục
BÁNH VÀ
NƯỚC (Mark Link S.J)....... 1
“CON
NGƯỜI ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ” (N. Quesson) 4
RA LỆNH VÀ
TRUYỀN LỆNH (Gm. Arthur Tonne) 6
QUYỀN BÍNH
PHỤC VỤ THA NHÂN 7
Lm. Gérard Bessière
và Hyacinthe Vulliez 7
Chủ đề:
Chúng ta phải bắt chước
Chúa Giêsu, Đấng đă đến để phục
vụ người khác chứ không phải để
được người khác phục vụ.
Câu
cuối cùng trong bài Phúc Âm ngày hôm nay là một trong những
câu hỏi nổi bật nhất trong toàn bộ Kinh Thánh,
chúng ta hăy nghe lại câu ấy: “CON NGƯỜI không
đến để được phục vụ,
nhưng để Phục vụ và hiến thân cứu
chuộc nhiều người”. Ít câu nào trong Kinh Thánh tóm
tắt được cuộc đời Chúa Giêsu một
cách hoàn hảo như thế.
Lần
đầu tiên nghe nói về cuộc đời Chúa Giêsu,
một Kitô hữu Nhật Bản nổi tiếng tên là
Kagawa kêu lên: “Lạy Chúa, xin cho con nên giống Đức
Kitô của Ngài”. Và để nên giống Đức Kitô
hơn, Kagawa đă từ bỏ căn nhà tiện nghi
để đến sống trong những khu tồi tàn
vùng Tokyo. Ở đó, ông chia sẻ chính bản thân và
của cải ḿnh cho bất cứ ai cần sự giúp
đỡ. Trong cuốn sách nhan đề “Nổi
tiếng về đời đời” (Famuos Li-fe
Decision), Cecil North Cott viết: Kagawa đă cho đi hết áo
quần của ḿnh, và chỉ mặc trên người
chiếc áo thụng rách nát tả tơi; vào một dịp
khác, dù lâm bệnh rất nặng, ông vẫn tiếp
tục thuyết giáo dưới cơn mưa, miệng
lập đi lập lại không ngừng, “Thiên Chúa là T́nh
yêu, Thiên Chúa là T́nh yêu. Ở đâu có t́nh yêu ở
đấy có Thiên Chúa”.
William
Barclay cho chúng ta thấy tâm hồn và trí tuệ của Kagawa
qua những lời của Kagawa mà ông trích dẫn như:
“Chúa ở trong tâm hồn những người hèn mọn
nhất, Ngài hiện diện giữa những kẻ ăn
xin, Ngài nằm chung với những người bệnh
hoạn, Ngài đứng về phía những người
thất nghiệp. V́ thế, ai muốn gặp Thiên Chúa th́
hăy đến thăm tù ngục trước khi đi
tới đền thờ, hăy đến thăm tù ngục
trước khi đi tới đền thờ, hăy
đến thăm bệnh viện trước khi đi
dự lễ, hăy giúp đỡ kẻ nghèo khổ
trước khi đọc Kinh Thánh.
Khi
đọc về một người như Kagawa, chúng ta
nên tự vấn chính ḿnh; chúng ta phải làm sao để có
thể sống Phúc Âm một cách nghiêm chỉnh hơn trong
đời sống ḿnh? phải làm sao để bắt chước đời
sống phục vụ của Chúa Giêsu một cách thiết
thực hơn? phải làm sao để trở thành Kitô
hữu đích thực hơn trong chính gia đ́nh và trong môi trường làm
việc của ḿnh?
Dĩ
nhiên không ai có thể trả lời dùm chúng ta, v́ đây là
những câu hỏi mà chúng ta phải tự trả lời
lấy, nghĩa là mỗi người đang hiện
diện ở đây sẽ phải trả lời những
câu hỏi ấy theo cách thức của ḿnh. Tuy nhiên,
đừng bao giờ vịn cớ rằng : “Tôi không
thể đến những khu tồi tàn ở Tokyo
để sống giống như Kagawa đă làm”,
để rồi chúng ta chẳng làm ǵ nữa cả; v́
nếu chúng ta không thể làm được một
điều thật can đảm, thật anh hùng, th́ điều
đó không có nghĩa là chúng ta không c̣n có thể làm
được bất cứ việc ǵ khác.
Tất
cả chúng ta đều có thể làm một điều ǵ
đó dù rất là nhỏ bé và xem ra vô nghĩa, khởi
đầu là cho chính những người thân trong gia
đ́nh chúng ta, rồi từ đó chúng ta sẽ có những
may mắn mở rộng việc phụng sự ra môi
trường xa hơn, c̣n nếu chúng ta không khởi sự
ngay từ gia đ́nh ḿnh th́ chúng ta cũng sẽ không bao
giờ khởi sự được ở bất cứ
nơi nào khác.
Sau
đây là một trong những ví dụ hấp dẫn
nhất nói về việc phục vụ tha nhân khởi
sự từ chính gia đ́nh
ḿnh. Đó là câu chuyện được đăng
trong tạp chí Leadership (Giới lănh đạo) cách
đây ít lâu:
Một
cậu bé nọ cứ cố t́nh đi học về
trễ hoài mà chẳng có lư do ǵ chính đáng cả, dù đă
có biết bao lời khuyên nhủ răn bảo cậu.
Cuối cùng, v́ quá thất vọng, bố cậu bảo
cậu ngồi xuống và nói; “Lần sau con c̣n về
trễ nữa là con chỉ được ăn tối
bằng bánh ḿ với nước lă thôi, ngoài ra không
được ăn thứ ǵ khác nữa nhé. Con nghe rơ
chưa?” Cậu bé nh́n thẳng vào mắt cha và gật
đầu. Cậu đă hoàn toàn hiểu ư bố cậu.
Vài
ngày sau, cậu bé về nhà c̣n trễ hơn b́nh
thường nữa, Mẹ cậu gặp cậu ở
cửa song chẳng nói một lời. Cha cậu gặp
cậu trong pḥng khách nhưng cũng vẫn chẳng nói
lời nào với cậu. Tuy nhiên, tối hôm ấy, khi
mọi người quây quần bên bàn ăn, trái tim cậu
bé như muốn thót lại
khi thấy đĩa cha cậu chất đầy thức
ăn, đĩa của mẹ cũng thế, c̣n
đĩa của cậu th́ chỉ có một khúc bánh ḿ, bên
cạnh có một ly nước lă, trông hiu quạnh làm sao!
Đầu tiên cậu liếc nh́n miếng bánh, sau đó lại nh́n qua ly
nước lă. Đây chính là h́nh phạt bố mẹ
cậu đă nói trước với cậu, đáng
buồn hơn nữa là tối nay cậu lại cảm
thấy đói quá chừng.
J.
Allan Peterson, tác giả câu chuyện đă mô tả diễn
tiến sự việc như sau: “Người bố
chờ cho bầu khí căng thẳng lắng xuống
đoạn lặng lẽ cầm chiếc đĩa
của cậu đặt trước mặt ông, rồi
cầm chiếc đĩa của ông đặt
trước mặt cậu bé…” Cậu bé chợt hiểu
ngay điều bố cậu đang làm. Bố cậu
đă nhận h́nh phạt mà lẽ ra chính cậu phải
chịu v́ hành vi bê bối của riêng cậu…. Măi nhiều
năm về sau, chính cậu bé ấy vẫn nhớ đến
biến cố và nói: “Chính nhờ hành vi bố tôi đă làm
tối hôm ấy, mà suốt cả đời, tôi đă
hiểu được Thiên Chúa tốt lành biết bao!”.
Câu
chuyện trên giúp ta hiểu thật dễ dàng điều
Chúa Giêsu muốn ám chỉ qua lời Ngài nói trong Phúc Âm hôm
nay; “Con Người…. đến… để hiến
mạng cứu chuộc nhiều người”. Đức
Giêsu đă đến trong thế gian để làm cho chúng
ta điều mà bố cậu bé đă làm cho cậu. Ngài
đến để đền tội lỗi chúng ta
bằng chính cái chết của Ngài trên thập giá.
Vậy,
để kết thúc, chúng ta hăy nhớ rằng bài Phúc Âm hôm
nay đưa ra cho chúng ta một thách thức; Đó là chúng
ta phải hiến mạng sống ḿnh để phụng sự
tha nhân như Chúa Giêsu đă làm cho chúng ta và nơi chốn
tốt nhất để khởi sự việc này là chính
gia đ́nh ta và môi
trường làm vịêc của ta. Nếu chúng ta khởi
đầu từ những môi trường này, chúng ta
sẽ mở rộng được ḷng yêu thương
phục vụ của chúng ta sang những môi trường
khác nữa.
Biết
đâu vào một thời gian nào đó, chúng ta sẽ có
dịp phục vụ kẻ khác cũng quảng
đại như Kagawa đă làm nơi những căn nhà
tồi tàn vùng Tokyo. Chúng ta sẽ có thể có dịp
phục vụ tha nhân cũng quảng đại như
người bố trong câu chuyện đối với
đứa con hư của ḿnh. Tuy nhiên, trước khi
chúng ta hy vọng có thể bay được th́ chúng ta
phải tập đi bộ đă. Và bài Phúc Âm hôm nay mời
gọi chúng ta bắt đầu tập đi bộ,
mời gọi chúng ta bắt đầu phục vụ
lẫn nhau, ngay từ trong gia đ́nh và môi trường làm
việc của chúng ta; Đó chính là lời mời gọi
chúng ta hăy bắt chước Chúa Giêsu là Đấng đă
phán”
Caphu
(Martin Caphu) là người Bangla thuộc Camerun Phi Châu. Cha anh
là quốc vương Bangla. Từ thiếu niên, anh đă
quen với phong trào Tổ Ấm, một tổ chức Công
giáo làm việc xă hội ở Phi châu. Thấy các thành viên
Tổ Ấm xả thân giúp đỡ người
đồng loại, anh Caphu rất cảm phục, và
tới năm 1963, vào lúc mười bảy tuổi, anh xin
trở lại Công giáo. Sau khi tốt nghiệp Trung học,
anh được Gia đ́nh gởi về Rôma học ngành
điện tử. Đậu tiến sĩ điện
tử xong, anh Caphu gia nhập phong trào Tổ Ấm.
Năm 1980, cha anh qua đời, và theo chúc
thư, ông đă chọn Caphu kế vị ngai vàng. Caphu
vội vă trở về Bangla, anh họp cả sắc
tộc lại và xin mọi người đề cử
người khác làm vua. C̣n anh, anh muốn dành cả cuộc
sống làm việc xă hội theo tinh thần Kitô giáo. Và
mọi người đă đồng ư.
Trong cuộc sống trần gian, ai cũng
muốn có danh vọng, và người ta thường
xếp tiền tài danh vọng như một cặp bài
trùng. Caphu đă từ chối ngai vàng để phục
vụ Chúa đắc lực hơn. C̣n Giacôbê và Gioan, hai ông
lại tới xin Chúa cho một địa vị trong
Nước Chúa, các ông hiểu đây là nước trần
gian mà các ông nghĩ Chúa sắp thiết lập.
Nhân dịp này Chúa Giêsu cắt nghĩa cho các
ông hiểu thêm về công việc của Người.
Người là Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu
chuộc trần gian bằng đau khổ, bằng
thập giá chứ không phải bằng một hoạt
động chính trị, Chúa buồn rầu trách nhẹ các
ông. Các con chẳng biết ḿnh xin cái ǵ! Nhưng Chúa thấy
các ông chân t́nh và nồng nhiệt, nên Chúa cũng hé mở cho
các ông một vài nét về tương lai: Các con sẽ
uống chén đắng Ta uống, và đắm ḿnh trong
phép rửa bằng máu như Ta. C̣n việc ngồi bền
tả hay bên hữu Ta th́ lại là chuyện khác. Những
lời này làm hai tông đồ hoang mang, nhưng về sau
các ông sẽ hiểu và coi đó là một động cơ
cho niềm tin trong hoạt động rao giảng Tin
Mừng.
Đọc lại câu chuyện hai tông
đồ, có lẽ chúng ta mỉm cười. Nhưng trong
cuộc đời Kitô hữu, nhiều khi chúng ta cũng
chỉ nhằm lợi ích, địa vị cho ḿnh, chúng ta
nghĩ tới một bảo đảm cho cuộc
sống hiện tại và mai sau. Đáng lẽ chúng ta
phải đặt Chúa làm trung tâm đời sống, chúng
ta muốn thực thi ḷng tôn sùng, muốn dâng lời cảm
tạ ngợi khen và phó thác tin tưởng vào Chúa. C̣n
tương lai của ta hoàn toàn do Chúa xếp định.
Đó mới là tâm t́nh của người con thảo
sống bên Cha hiền.
Lời thỉnh cầu của Giacôbê và Gioan
đă làm các tông đồ khác khó chịu, v́ tất cả
các ông đều cùng tâm trạng như nhau, dù chưa dám xin
Chúa. Cho tới lúc đó chưa ai hiểu được
tư tưởng của Chúa. Chúa đă nói về cuộc
khổ nạn của Người tới ba lần (Mc 10,
32-34) với những lời lẽ rơ rệt: Con
Người sẽ bị bắt nộp, sẽ bị
xử tử, bị chế giễu, ngừơi ta
khạc nhổ vào mặt, đánh đ̣n và giết
chết… Trong lúc Chúa Giêsu tự chọn chỗ rốt
hết, th́ các môn đệ lại mơ màng danh vọng,
lại nghĩ tới địa vị cao sang. Một
lần nữa Chúa nói lại chủ trương của
Chúa trong tổ chức Người. Khác hẳn mọi
tổ chức trần gian, ở đây người nào
muốn lănh đạo phải là tôi tớ, ai muốn đứng
đầu phải trở thành nô lệ cho mọi
người. “V́ Con Người không đến để
cho người ta hầu hạ, nhưng để hầu
hạ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn
dân”. Đó là căn bản Hiến pháp của Giáo hội
Chúa.
Lạy
Chúa, xin giúp chúng con biết noi gương Chúa, không màng
tới địa vị cho ḿnh, nhưng luôn dấn thân
phục vụ anh em, như Chúa đă đến phục
vụ và hy sinh cả mạng sống làm giá cứu
chuộc chúng con.
Francis Joseph, hoàng
đế nước Áo và vua nước Hung gari từ 1848
đến 1916, một triều đại dài nhất trong
lịch sử, cũng là triều đại tiến
bộ nhất. Francis Joseph là người nghiêm khắc
nhưng ông trị v́ rất khoan dung. Khởi đầu
triều đại ông, bệnh dịch tả lan tràn
khắp Châu Âu. Người ta xin Francis rời Vienna
để lánh nạn sang Salzburg cho tới khi tai nạn qua
đi.
Hoàng đế hỏi: “ở Salzbugr có
đủ pḥng cho các con ta không?” Quan cố vấn trả
lời: “Chắc chắn, tâu Ḥang Thượng, có nhiều
pḥng cho tất cả Hoàng Gia”.
“Có thực sự đủ pḥng cho các con
ta?” chỉ tay qua cửa sổ lâu đài, về phía đám
đông dưới, Hoàng đế nhắc lại “Hăy nh́n
đám dân này. Chúng là con của ta. Cha của chúng bỏ
mặc chúng trong nguy hiểm sao? Không, những người
thành Viena yêu quí luôn chia sẻ vui buồn với ta. Ta sẽ
không bỏ họ trong ǵơ lo âu”.
Chúng ta vừa nghe: Hai môn đệ
Đức Kitô. Yacôbê và Yoan muốn được
địa vị vinh dự và uy quyền trong Nước
Chúa, Chúa Giêsu nhắc họ rằng: “Những người
cai trị thế gian th́ sai khiến con dân ḿnh. Nhưng
đó không phải là đường lối của
Nước Chúa. Trong Nước Chúa ai có quyền bính
phải là đầy tớ của người
dưới quyền ḿnh”. Francis Joseph là một tấm
gương về điều ấy.
Ngày nay, người ta tranh luận nhiều
về quyền bính và tự do. Một chân lư nền
tảng cho cuộc tranh luận này là: Trong mọi xă
hội, loài người đều phải có người
nắm quyền bính, một người có quyền và có
bổn phận ra lệnh, một người có quyết
định tối hậu. Bạn không thể có một
quốc gia không người thủ lĩnh. Bạn không
thể có một đội banh không huấn luyện viên,
một chiếc tàu không có thuyền trưởng, một
quân đội không tướng, một bộ lạc không
tù trưởng, một xí nghiệp không giám đốc.
Mỗi tập thể loài người đều phải
có “ông Bầu” hoặc chỉ định hoặc bầu
lên.
Chúa Giêsu biết cần phải có quyền
bính. Người chỉ than phiền là nhiều
người lạm quyền, lạm dụng quyền bính.
Người ta ích kỷ, bất công, có khi c̣n tàn bạo
nữa. Trong Nước Chúa Kitô, người lănh
đạo phải là đầy tớ của mọi
người.
Bây giờ chúng ta t́m câu trả lời cho
vấn đề quyền bính và tự do. Người
chỉ huy phải dự tính và hành động v́ lợi ích
của tập thế. Cùng lúc người dưới
phải được tự do góp ư, có khi c̣n phải phê
b́nh nữa. Tóm lại, mọi người phải hành
động theo quyết
định của người có trách nhiệm
với đoàn thể. Cũng vậy trong một thể
chế dân chủ, người lănh đạo
được bầu lên có bổn phận phải
quyết định.
Đây cũng là đường lối
trong đơn vị xă hội nhỏ bé nhất và quan
trọng nhất: gia đ́nh . Nhiều gia đ́nh bàn luận về mọi vấn
đề và quyết định như một tập
thể. Rất nhiều gia đ́nh không có ai chịu trách
nhiệm tối hậu. Đó cũng là t́nh trạng
của nhiều tổ chức như trường học
và xứ đạo. Do đó chúng ta thường thấy:
đáng lư những người phải vâng lời lại
ra lệnh cho người có trách nhiệm.
Việc phượng tự chung của gia
đ́nh Chúa là một điển h́nh tập thể nghĩ
tưởng và hành động với nhau. Thánh lễ có
thể dạy chúng ta ra lệnh thế nào và tuân lệnh làm
sao.
Xin Chúa chúc lành bạn.
Nếu phải trích dẫn một trong
những câu nói có ư nghĩa mới mẻ nhất của
Đức Giêsu, một trong những lời in dấu ấn
sâu đậm nhất vào tâm thức nhân loại, một
trong những lời có khả năng thay đổi
thế giới, một trong những lời mà Kitô hữu
có thể tự hào là độc đáo nhất của
đạo ḿnh, tôi không ngần ngại trích lời Chúa nói
với các tông đồ trong bài Tin Mừng hôm nay về cách
sử dụng quyền bính: "Anh em đừng sử
dụng quyền bính như những người
được coi là thủ lĩnh các dân tộc áp
đặt quyền bá chủ trên người bị
trị...".
Ít khi có lời nào lại có tính cách mạng
cao hơn. Chưa bao giờ lại có những lời
lẽ đ̣i hỏi khe khắt hơn đối với
quyền bính nói chung và mọi loại quyền hành nói riêng.
Được coi là bá quyền, những
kẻ cầm quyền mà coi những người
"dưới quyền" như những người
nô lệ để mặc t́nh ức hiếp. Là bá
quyền, những kẻ lạm dụng thần quyền
áp đặt những cấm kỵ vào tự do và
lương tâm đồng loại. Là bá quyền, những
kẻ tưởng ḿnh nắm vững chân lư, nên đă vi
phạm tự do của đồng loại. Là bá quyền,
những kẻ ra vẻ cúc cung tận tuỵ, một hai
xưng ḿnh là đầy tớ dân đen, nhưng lại
tế nhị lợi dụng quyền hành để
thủ lợi riêng. Họ quả quyết rằng ḿnh
phục vụ hạnh phúc đồng bào, nhưng lại
"bắt người ta gọi ḿnh ân nhân" (Lc 22,25).
Cám
dỗ về quyền bính có lẽ là cơn cám dỗ
nặng nề nhất của Chúa. Dân đen muốn tôn Chúa
làm vua để tiếp tục cung cấp bánh ḿ và chữa
bệnh cho họ. Bạn hữu thân tín của Chúa th́ tranh
giành nhau địa vị, chiếu trên chiếu
dưới khi Chúa được vinh quang. Cả Satan, tên
thần dữ mưu mô cũng xảo quyệt đề
nghị tặng Ngài quyền bính của tất cả các
đế quốc thiên hạ. Chúa đă từ chối
dứt khoát. Và chính v́ từ chối, Ngài trở thành
nạn nhân của các nhà cầm quyền chính trị và tôn
giáo đương thời, liên minh ma quỷ với nhau
để hại Ngài. Mà cũng phải thôi, v́ Chúa quyết
liệt phê phán lối hành sử quyền hành của chúng.
Cuối cùng th́ Ngài đă đổ máu ra để kư vào
sứ điệp Ngài gởi cho môn đệ, cho loài
người: "Đừng sử dụng quyền hành
như những kẻ bá quyền, hăy là người
phục vụ, như Con Người đến để
phục vụ và dâng hiến mạng sống ḿnh làm giá
chuộc muôn người".