CHÚA NHỰT XXIX

CHỦ ĐỀ :  PHỤC VỤ

"Ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm người phục vụ anh em"  (Mc 10,43)

LỜI CHÚA

BÀI ĐỌC I - Is 53: 10-11

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đă muốn hành hạ người trong đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một ḍng dơi trường tồn, và nhờ người, ư định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thỏa măn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hóa nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ.

Đó là Lời Chúa.

ĐÁP CA

Tv 32: 4-5, 18-19, 20, 22

Đáp: Lạy Chúa, xin đổ ḷng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Chúa.

1.     V́ lời Chúa là lời chân chính,
bao việc Ngài làm đều đáng cậy tin.
Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực,
địa cầu đầy ân sủng của Chúa.

2.     Ḱa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài,
nh́n xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài,
để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết
và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.

3.     Linh hồn chúng con mong đợi Chúa,
chính Ngài là Đấng phù trợ và che chở chúng con.
Lạy Chúa, xin đổ ḷng từ bi xuống trên chúng con,
theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.

BÀI ĐỌC II

Dt 4: 14-16

Bài trích thơ gởi tín hữu Do Thái.

Anh em thân mến, chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đă băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hăy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, v́ Người đă chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Bởi thế, ta hăy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lănh ơn trợ giúp mỗi khi cần.

Đó là Lời Chúa.

ALLELUIA - Sam 3: 9

Alleluia, alleluia. - Lạy Chúa, xin hăy nói, v́ tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia

PHÚC ÂM - Mc 10: 35-45

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Khi ấy, hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an đến gần Đức Giê-su và nói: "Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây." Người hỏi: "Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều ǵ?" Các ông thưa: "Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang." Đức Giê-su bảo: "Các anh không biết các anh xin ǵ! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được." Đức Giê-su bảo: "Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. C̣n việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, th́ Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đă dọn sẵn cho ai th́ kẻ ấy được." Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an. Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: "Anh em biết: những người được coi là thủ lănh các dân th́ áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn th́ áp đặt trên họ quyền hành của ḿnh. Nhưng giữa anh em th́ không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em th́ phải làm đầy tớ mọi người. V́ Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người."

Đó là Lời Chúa.

---------------------------------------

 

Minh họa

 

- Mille images 129 F

 

- "Ai muốn làm lớn giữa anh em th́ phải làm người phục vụ anh em" (Mc 10,43)

 

Sợi chỉ đỏ :

 

- Bài đọc I (Is 53,10-11) : Người Tôi Tớ Giavê sẵn sàng gánh chịu mọi đau khổ để nhờ đó làm cho muôn người nên công chính.

 

- Tin Mừng (Mc 10,35-45) : Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người.

 

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

Anh chị em thân mến

 

Đức Giêsu dạy chúng ta nhiều điều rất ngược đời : đối với người đời, làm lớn th́ có quyền sai khiến và được cung phụng, c̣n làm nhỏ th́ phải hầu hạ người lớn. Đức Giêsu dạy khác hẳn : "Ai muốn làm lớn th́ phải làm người phục vụ, ai muốn làm đầu th́ phải làm đầy tớ".

 

Thực ra giáo huấn của Đức Giêsu rất khôn ngoan. Nếu những người làm lớn đều biết phục vụ những kẻ dưới quyền ḿnh th́ xă hội sẽ rất b́nh an, và mọi người đều hạnh phúc.

 

Xin Chúa giúp chúng ta thấm nhuần bài học quư báu này.

 

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Khi được làm lớn, chúng con không lo phục vụ những kẻ dưới quyền ḿnh, trái lại thường hống hách bắt họ phục vụ chúng con.

 

- Chúng con hay đ̣i hỏi người khác phục vụ chúng con mà không nhiệt t́nh phục vụ người khác.

 

- Chúng con coi thường những công việc nhỏ nhặt ít người để ư tới.

 

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 53,10-11)

 

Người Tôi Tớ Giavê bị nghiền nát v́ đau khổ để hiến thân làm lễ vật đền tội và làm cho muôn người nên công chính.

 

2. Đáp ca (Tv 32)

 

Thiên Chúa cũng phục vụ loài người : Ngài để mắt trông nom người kính sợ Chúa, cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống họ trong buổi cơ hàn.

 

3. Tin Mừng (Mc 10,35-45)

 

Chuyện xảy ra ngay sau khi Đức Giêsu loan báo (đây đă là lần thứ ba) rằng Ngài sắp chịu nạn, chịu chết và sống lại.

 

- Hai môn đệ Giacôbê và Gioan lại xin hai địa vị ưu tiên trong "nước" mà họ nghĩ Đức Giêsu sắp thành lập. 10 môn đệ kia bực tức. Không phải v́ cho rằng hai môn đệ này sai mà v́ nghĩ họ đă muốn "chơi trội" hơn ḿnh trong cuộc chạy đua tranh dành địa vị.

 

Trong bối cảnh đó, Đức Giêsu dạy về Nước Thiên Chúa và nước trần gian, về cách cư xử của những người lớn trong hai nước đó :

 

- Trong nước trần gian, kẻ làm lớn th́ lấy quyền mà trị dân, bắt dân phục vụ ḿnh.

 

- Trong Nước Thiên Chúa, làm lớn là làm đầy tớ, càng làm lớn th́ càng phải phục vụ.

 

4. Bài đọc II (Dt 4,14-16) (Chủ đề phụ)

 

Đức Giêsu là Vị Thượng Tế siêu phàm : (1) Ngài chính là Con Thiên Chúa ; (2) Ngài cảm thông những nỗi yếu hèn của loài người v́ chính bản thân Ngài cũng từng trải qua đau khổ. Bởi vậy chúng ta hăy mạnh dạn tiến đến gần Ngài để được xót thương và lănh ơn trợ giúp.

 

IV. GỢI Ư GIẢNG

* 1. Quyền bính để phục vụ

 

a. Một nhà tu đức tên là Jean Vanier, người sáng lập ḍng Arche, phân biệt hai loại quyền bính :

 

- Một loại quyền bính từ trên áp xuống. Người nắm loại quyền bính này tự coi ḿnh là kẻ ở trên và những kẻ thuộc quyền ḿnh là những người ở dưới. Người này bắt những kẻ dưới phải làm theo ư ḿnh, nếu không theo th́ phạt. Loại quyền bính này được dùng để cai trị, hay nói chính xác hơn là thống trị.

 

- Loại quyền bính thứ hai không từ trên áp xuống mà đứng bên cạnh để giúp đỡ. Người nắm quyền bính này không coi ḿnh là ở trên cũng không coi kẻ thuộc quyền ḿnh là ở dưới. Người này không nhắm cho ư ḿnh được người ta thực hiện, nhưng nhắm đến ích lợi chung và ích lợi của kẻ ḿnh muốn giúp đỡ. Loại quyền bính này được dùng để phục vụ.

 

b. Khi hai người con ông Dêbêđê, tức là Gioan và Giacôbê đến xin Đức Giêsu cho ḿnh được hai chỗ bên tả và bên hữu Chúa là họ muốn loại quyền bính nào ? Thưa là quyền thống trị.

 

Nhưng Đức Giêsu đă từ chối. Lư do thứ nhất là Ngài thấy trong các tổ chức chính trị, hành chánh và xă hội, những người lănh đạo đều thích loại quyền thống trị đó. Nhưng các tổ chức mà họ lănh đạo người ta không được hạnh phúc ǵ cả, trái lại c̣n phải đau khổ. Lư do thứ hai là trong tổ chức mà Ngài thành lập, tức Giáo Hội, không có người trên kẻ dưới, không có người lớn kẻ nhỏ, mà tất cả đều b́nh đẳng với nhau v́ tất cả đều là anh em với nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Cho nên không có chuyện người này bắt người kia làm theo ư ḿnh, nhưng mọi người đều giúp nhau để làm theo ư Cha trên trời. Bởi vậy trong Giáo Hội, quyền bính được trao không phải cho kẻ ham muốn kiếm t́m nó, mà trao cho những người nào có thiện chí và khả năng phục vụ.

 

c. Khi 10 môn đệ kia bực tức với hai người con ông Dêbêđê, th́ họ cũng có quan niệm giống như hai ông này về quyền bính. V́ cùng ham quyền thống trị như nhau cho nên họ ganh tị nhau, bực tức nhau và tranh dành nhau.

 

Có một câu chuyện ngụ ngôn như sau : một chiếc đồng hồ đeo tay một hôm đi dạo ở công trường trước một nhà thờ. Nó nh́n lên tháp nhà thờ thấy một chiếc đồng hồ rất lớn nên thấy ghét. Nó nói : Anh tưởng là anh ngon lắm hả. Thực ra cái mặt anh to quá khổ chẳng đẹp chút nào, hai cánh tay th́ dài thượt coi chẳng đẹp ǵ cả. Giọng nói th́ khàn khàn. Chiếc đồng hồ lớn chỉ mỉm cười và nói "Hăy lên đây". Chiếc đồng hồ nhỏ leo lên. Khi đứng bên chiếc đồng hồ lớn nh́n xuống th́ nó mới hoảng sợ. Th́ ra ở trên cao này nguy hiểm quá té xuống tan xác như chơi. Rồi lúc nào cũng bị bao nhiêu cắp mắt nh́n lên, và lại c̣n cô đơn nữa. Khi đó chiếc đồng hồ lớn khều nó nói "Ở dưới có người muốn biết giờ ḱa. Em đưa mặt ra cho họ xem đi". Chiếc đồng hồ nhỏ đáp : "Không được, từ đây xuống dưới xa quá mà mặt em nhỏ quá ở dưới xem không thấy đâu". "Vậy th́ em nói giờ cho họ nghe đi". "Cũng không được, v́ tiếng em nhỏ quá". Khi đó chiếc đồng hồ lớn mới ôn tồn giải thích : "Đó em thấy chưa. Em cũng không thể làm việc của anh, mà anh cũng không thể làm việc của em. Mỗi người chúng ta ai làm việc nấy, chỉ để phục vụ cho người ta thôi. Từ này về sau ḿnh đừng chỉ trích nhau nữa nhé".

 

Câu chuyện rất ư nhị : mỗi người có một nhiệm vụ để phục vụ người khác. Kẻ ở địa vị cao th́ phải phục vụ nhiều hơn. Và ở địa vị cao th́ càng gặp khó khăn nhiều hơn, có khi c̣n cô đơn hơn nữa.

 

d. Bởi vậy, khi hai người con ông Dêbêđê xin địa vị, Đức Giêsu đă hỏi : "Chúng con có uống nổi chén đắng không ?" Địa vị và quyền bính trong Giáo Hội luôn đi kèm với chén đắng, tức là những hy sinh, đau khổ.

 

* 2. "Các anh không biết các anh xin ǵ"

 

Chuyện hai người con nhà Dêbêđê xin được hai địa vị trong Nước Đức Giêsu không có ǵ lạ. Có lạ chăng là họ đă xin điều đó liền ngay sau khi Đức Giêsu loan báo Ngài sẽ chịu nạn chịu chết.

 

Ai mà không thích địa vị. Nhiều người cũng giống hai môn đệ kia thôi, chỉ khác là không dám nói ra như họ.

 

Vả lại Đức Giêsu cũng không muốn lập một Giáo Hội không có phẩm trật. Giáo Hội, như bất cứ tổ chức nào khác, cũng cần có phẩm trật, kẻ trên người dưới chứ.

 

Cái đáng nói là hai môn đệ ấy đă xin một điều mà họ không hiểu :

 

- Họ không hiểu rằng trong Nước Chúa, địa vị rất khác với nước trần gian, v́ địa vị là để phục vụ chứ không phải để được người ta phục vụ ḿnh.

 

- Họ không hiểu rằng có địa vị trong Nước Chúa th́ họ sẽ phải uống chén đắng chứ không phải sẽ ngồi đó mà hưởng thụ.

 

Tóm lại, họ không đáng trách v́ đă ham muốn địa vị, nhưng đáng trách v́ chưa hiểu mục đích và điều kiện của địa vị trong Nước Chúa, thế mà đă nhanh nhẫu xin cho bằng được.

 

* 3. Phục vụ

 

Một lần Đức Hồng Y Roncalli vừa từ trên xe bước xuống. Ngài mới đi xa về. Phái đoàn ṭa Giám mục ra đón. Mọi người ngạc nhiên trên vai áo Hồng Y có vương mấy cọng rơm đồng quê. Ai hỏi ngài cũng cười xoà vui vẻ, nhưng mấy nhân viên phụ tá trên xe đều hiểu chuyện. Chiếc xe của Đức hồng Y đang từ hướng Bắc xuống miền Nam qua ṿng đồng ruộng. Giữa đường một chiếc xe ḅ chở rơm sa hố. Người đánh xe gắng sức đẩy phụ nhưng xe không nhúc nhích. Đức Hồng Y cho xe dừng lại, xắn tay áo ḥ dô ta đẩy phụ, và chiếc xe rơm sa lầy lại chuyển bánh tiếp tục lên đường.

 

Những cọng rơm trên vai áo Hồng Y đối với ngài chỉ cười xoà cho qua. Nhưng thực sự tỏ rơ cho chúng ta một Hồng Y không quản ngại khó khăn hay sợ bẩn chiếc áo ḍng sang trọng.

 

Sau này lên ngôi Giáo hoàng, Đức Gioan 23 vẫn tiếp tục sống nếp sống b́nh dị phục vụ.

 

Lần khác, cả giáo triều Rôma báo động : "Đức Giáo hoàng mất tích". Nhân viên an ninh đổ xô đi t́m. Cuối cùng người ta gặp ngài đang chuyện tṛ thân mật với các tù nhân trong khám đường Rôma.

 

*

 

"Con người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và ban mạng sống ḿnh làm giá cứu chuộc cho nhiều người" (Mc.10,45).

 

Đó là Hiến chương Nước Trời, là Hiếp Pháp Đức Kitô đă tuyên bố cho Giáo hội. Từ đây, mỗi tín hữu Kitô phải là đầy tớ của mọi người.

 

Người lănh đạo trong Giáo hội chính là "Đầy tớ của các đầy tớ" (Sevrus Servorum). Chữ Latin "Minister" có nghĩa là đầy tớ. V́ thế, trong Giáo hội chỉ có kẻ thừa sai, người thừa tác, nữ t́, tôi tá, hay mục tử chăm lo cho đoàn chiên.

 

Mẹ của Giacôbê và Gioan xin Đức Giêsu cho hai con bà được làm tể tướng trong nước của Người. Nhưng họ đă không hiểu rằng Đức Giêsu không bước lên ngai vàng để thống trị, mà Người chỉ leo lên thập giá để hiến dâng mạng sống, để yêu thương và "yêu cho đến cùng". (Ga.13,1).

 

Hôm nay, Chúa cũng mời gọi các tín hữu Kitô hăy noi gương Người : Phục vụ và hiến dâng mạng sống cho tha nhân. Trước nhất là yêu thương phục vụ những người trong gia đ́nh : "Charity begin at home" (Bác ái bắt đầu từ gia đ́nh), sau đó mới lan tỏa sang những người chung quanh, nhất là những người nghèo hèn, yếu đuối.

 

Nếu chúng ta chưa nên giống được như Cha Maximilien Kolbe xin chết thay cho bạn tù, như thánh Martino Porres bán ḿnh làm nô lệ, hoặc như cha Damien tông đồ người hủi, th́ ít là mỗi ngày chúng ta hăy âm thầm phục vụ hết ḿnh những người thân yêu, những người Chúa giao phó trong gia đ́nh ḿnh, trong cộng đoàn ḿnh.

 

Báo chí Pháp đăng h́nh của Cha Damien sau mấy chục năm phục vụ trong trại cùi, ghép cạnh h́nh cha hồi c̣n tẻ. Tấm h́nh gây xúc động cho biết bao con người. Khi nh́n vào tấm h́nh, mẹ Ngài không thể tin được con ḿnh đă thay h́nh đổi dạng đến thế. Chính thái độ tận tụy phục vụ đă tiêu hao sức lực và tàn phá h́nh hài con người. V́ thế, chúng ta không thể phục vụ nếu không có sẵn một tấm ḷng dấn thân quảng đại.

 

Người thành công nhất là người phục vụ cho đồng loại nhiều nhất. Albett Shweitzer đă nói : "Người hạnh phúc thật là người biết t́m cách sống thiện ích cho người khác". Martin Luther King nói : "Chúng ta học bay như chim trên trời, học bơi như cá dưới nước, nhưng lại chưa học sống với nhau như anh em". Ở giây phút định mệnh của mỗi con người chỉ có cường độ t́nh yêu và tinh thần phục vụ là có giá trị.

 

*

 

Lạy Chúa, ai trong chúng con cũng có một chút ham mê địa vị, chức quyền. Nếu Chúa xếp đặt cho chúng con một chức vụ nào đó, xin cũng ban chúng con một ơn này, là chức vụ càng cao, chúng con càng biết khiêm tốn phục vụ anh em nhiều hơn. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

 

* 4. Hiến thân phục vụ

 

Thiên Chúa đă gọi Cha Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó

 

 Một cậu bé nhà nghèo bị bố bỏ rơi, 4 tuổi đă phải đi ăn xin. Xong tiểu học ở tuổi 13, Giuse Lê Đ́nh Kỷ (Joseph Wresinski) học được nghề làm bánh ngọt để sống tới tuổi 19. Qua trung gian phong trào Thanh Sinh Công, cậu được hướng dẫn theo ơn gọi linh mục.

 

 Năm 1937 cậu nhập ngũ theo tuổi quân dịch. Hai năm sau, chiến tranh bùng nổ ở Pháp, cậu bị bắt làm tù binh nhưng trốn được và về học ở chủng viện Sinh Đông (Soissons), nơi Thầy Giuse thụ phong linh mục năm 1946. Kế đó là 4 năm làm cha phó và 6 năm làm cha sở.

 

 Năm 1956 Cha Kỷ được giao nhiệm vụ mở ra một giai đoạn hoàn toàn mới không riêng cho cha. Cha ghi lại như sau :

 

 Đức Giám Mục đă phái tôi đến trại tiếp cư khẩn cấp vùng ngoại ô Noisy-le-Grand của Thủ đô Paris. Ngày đầu tôi tới đó là 14 tháng 7, 1956. Tôi được gặp những gia đ́nh gợi nhớ t́nh cảnh túng quẫn của mẹ tôi. Trẻ con tới tấp tới quấy phá tôi, tôi kể đó là những người em trong gia đ́nh tôi.

 

 Đó là h́nh ảnh của chính tôi, bốn mươi năm trước đây trên đường Gia-cô-bê của thành phố Aùnh Dương (Angers). Từ ngày tôi đặt chân tới trại, chính những gia đ́nh ấy đă khởi hứng cho tôi về tất cả những ǵ tôi thực hiện nhằm giải phóng họ. Họ ôm chầm lấy tôi, ám ảnh tôi, thúc bách tôi, đưa đẩy tôi cùng với họ thiết lập một phong trào. Chính họ rèn luyện nên căn tính riêng và tự xưng là "Thế giới thứ Bốn".

 

 Để cha hiến thân phục vụ người nghèo

 

 Tại sao gọi là "Thế giới thứ Bốn" ? Cha Kỷ muốn người ta nh́n nhận phẩm giá của những gia đ́nh đó. Ngài muốn nói lên thái độ của họ muốn từ khước túng quẫn. Chính v́ muốn chấm dứt cảnh túng quẫn của họ nên Cha Kỷ đă khởi xướng kế hoạch phát triển cộng đồng cùng với họ. Cùng với những gia đ́nh đó, cha Kỷ đă thiết lập phong trào Trợ Giúp người lâm bất cứ cảnh túng quẫn nào (Aide à Toute Détress (ATD), tức International Movement ATD Fourth World).

 

 Nhật kư của Cha Kỷ ghi tiếp :

 

 "Ngày đó, tôi nguyền làm cho thế giới biết đến những gia đ́nh đó. Tôi đoan thề sẽ t́m cho họ nơi ở xứng đáng, thanh niên có việc làm, người trẻ được dạy nghề, trẻ con có trường để học hành. Hôm đó tôi chọn cho tôi con đường nhắm tới mục tiêu là làm cho người nghèo có chỗ đứng và chỗ đứng ấy được thế giới nh́n nhận và tôn trọng. Tôi sẽ phải làm thế nào để họ có cơ hội trèo lên những bậc thang của Liên Hiệp Quốc, của cơ quan Giáo Dục UNESCO, của Tổ Chức Lao Động thế giới (ILO), của Hội Đồng các nước Âu Châu và của Vatican, để tiếng nói của họ được nghe thấy.

 

 Năm 1961 Cha Kỷ thiết lập Viện nghiên cứu đầu tiên để nghiên cứu về cảnh cùng cực (Research Institute on extreme poverty), lôi cuốn các chuyên gia đến từ các nước và các ngành khoa học. Qua những chuyến công du và những bài thuyết tŕnh, nhiều dự án nghiên cứu của phong trào lan rộng đến nhiều nước Âu Châu và Hoa Kỳ.

 

 Được thúc đẩy do thâm tín rằng túng quẫn phải được chấm dứt khỏi đời sống con người, những người thiện nguyện đầu tiên đến cộng tác với cha Kỷ từ năm 1960. Họ đến từ nước, thuộc nhiều quốc tịch, nhiều tín ngưỡng và nghề nghiệp. Một số có gia đ́nh, một số độc thân. Con số những thành viên chí nguyện này hiện là 350 tại 20 quốc gia, trong số đó 200 người đă phụcvụ trên 5 năm và 35 người đă phục vụ trên 20 năm. Họ sống trong những cộng đoàn nơi họ phục vụ bằng cách cổ vơ giao lưu giữa những gia đ́nh nghèo và dân chúng nói chung.

 

 Cuộc viếng Ấn Độ năm 1965 khiến Cha Kỷ có thêm phong trào Tapori, trong đó các em thiếu nhi từ nhiều tầng lớp khác nhau trong xă hội trở nên bạn thân với nhau. Song song nữa là phong trào thanh niên cũng nhằm mục tiêu là gây t́nh bạn vượt mọi rào cản.

 

 Hai biến cố đánh dấu năm 1987 là năm chót đời cha Kỷ. Năm ấy cha đệ lên Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội của Pháp Quốc một đề nghị tổng hợp nhằm diệt tận căn bệnh nghèo trường kỳ. Tài liệu của cha Kỷ nhan đề là "nghèo cùng cực và sự bấp bênh Kinh Tế và Xă Hội" khiến chó nước Pháp đă làm luật để bảo đảm đồng lương tối thiểu. Điều này đă gây hứng khởi cho những nước khác của Âu Châu và lôi kéo sự chú ư trên toàn cầu.

 

 Cũng năm ấy, vào ngày 17 tháng 10, trước sự có mặt của trên 100,000 người từ khắp nơi trên thế giới, cha Kỷ đă đặt viên đá kỷ niệm nhằm tán dương những khổ đau và ḷng can đảm của người nghèo. Viên đá kỷ niệm được đặt tại Công Trường Các Quyền Con Người tại Paris, đối diện tháp Eiffel. Bảng viết ghi rơ : "Bất cứ khi nào người nam hay nữ phải sống trong nghèo khổ th́ quyền làm người của họ bị chà đạp (condemned). Ta có bổn phận cùng nhau bảo đảm cho những quyền đó được tôn trọng."

 

 Trong lễ an táng cha Kỷ tại nhà thờ chính toà Paris, Đức Hồng Y Lustiger nói : "Thiên Chúa đă gọi cha Giuse Kỷ bước ra khỏi vực thẳm của nghèo khó để cha hiến thân trở nên sức hút nhằm loại bỏ tận căn tệ nạn người loại bỏ người. Điều dễ phát sinh ra căm hờn đă trở nên dấu chỉ của t́nh thương. Điều dễ phát sinh ra tàn phá đă mở lối vào để con người được triển nở, được nhận ra ḿnh và khám phá ra phẩm giá của ḿnh.

 

 Lư tưởng cao đẹp nhất của người môn đệ Đức Giêsu

 

 Câu chuyện Cha Kỷ hiến thân phục vụ người nghèo được kể để giúp lănh hội ư nghĩa bài Tin Mừng hôm nay. Ư nghĩa ấy quả thật ngược lại với xu hướng tự nhiên của Nhóm Mười Hai. Khởi sự là hai anh em trong nhóm, tức Giacôbê và Gioan, đă xin để được ngồi bên hữu bên tả Đức Giêsu khi người thiết lập Vương quốc, nhưng Người đă giao cho hai ông vác thập giá theo Người. Lời hai anh em này yêu cầu cũng dễ hiểu v́ cả nhóm đă từng : "căi nhau xem ai là người lớn hơn cả" (Mc 9,34). Tin Mừng Mátthêu c̣n cho thấy chính bà mẹ của hai ông nói lên lời thỉnh cầu của gia đ́nh (Mt 20,20). Nhưng Đức Giêsu đă phản ứng với lời thách đố : "các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ?" (Mc 10,38). Đức Giêsu có ư nói tới cơn hấp hối và cái chết mà Người sẽ chịu. Hai anh em được thách đố để theo Đức Giêsu đến cùng. Đức Giêsu kết thúc đối thoại bằng cách đặt hai anh em trước một câu trả lời đ̣i họ phải được hoán cải để theo ư muốn của Thiên Chúa. Người nói : "Có thể Chúa Cha sẽ dành địa vị cho các anh, nhưng các anh phải sẵn sàng vác thập giá tôi vác, uống chén đắng tôi uống và chịu phép rửa tôi chịu." Nghĩa là hai anh em phải bước theo Đức Giêsu cho tới cái chết trên thập tự.

 

 Không riêng hai anh em là Giacôbê và Gioan, mười người c̣n lại trong nhóm Mười Hai, đều bị chỉnh khi họ tỏ ra tức tối với hai anh em liên quan tới việc tranh giành ảnh hưởng giữa nhau. Để bước theo Đức Giêsu cần phải dứt khoát loại bỏ thái độ "hống hách đối với người khác" (c.42). Là Kitô hữu có nghĩa là trở nên kẻ phục vụ tha nhân như Đức Giêsu đă phục vụ (c.45). Ai ở địa vị cao nhất và uy thế nhất, người đó nhận lấy trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi người theo gương Đức Giêsu (c.44). Đó là con đường đưa người môn đệ vào vinh quang của Đức Giêsu.

 

 Bài Tin Mừng hôm nay liên quan trước hết tới hai môn đệ thân cận nhất của Đức Giêsu là ông Giacôbê và Gioan (cùng với Simon-Phêrô, hai ông này được Đức Giêsu chọn để tháp tùng Ngài lên núi biến h́nh (9,2-9) và có mặt trong cơn hấp hối tại Vườn Dầu (14,32-42)). Sứ điệp mà Tin Mừng Máccô có ư truyền đạt liên quan tới địa vị lănh đạo trong Giáo Hội, họ phải là người đầu tiên "uống chén đắng" bằng cách phục vụ nhu cầu của anh chị em, bất cứ là nhu cầu nào họ nhận thấy và bất cứ trong hoàn cảnh nào họ nhận ra. Đó quả là một đ̣i hỏi tận căn, hầu như không bao giờ người được giao trách nhiệm cảm thấy ḿnh đă chu toàn được nhiệm vụ.

 

 Nơi Cha Kỷ, ư nghĩa của bài Tin Mừng hôm nay được sáng tỏ. Thiên Chúa đă an bài để Cha sinh ra trong khó nghèo hầu cả đời hiến thân phục vụ người nghèo. Cha không căm hờn người giàu nhưng đ̣i họ bằng mọi giá phải hoán cải bản thân. Bằng mọi giá họ phải trả lại cho người nghèo quyền lợi và phẩm giá thuộc về họ. Lư tưởng cao đẹp nhất được nêu cho người môn đệ Đức Giêsu là họ phải cúi ḿnh phục vụ người nghèo theo gương chính Đức Giêsu. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)

 

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă tuyên bố : "Con Người đến để được người ta hầu, nhưng là để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người". Chúng ta hăy cảm tạ Chúa thương chúng ta và dâng lời cầu xin :

 

1. Đức Giêsu đă nói với các tông đồ rằng : đối với anh em, ai muốn làm lớn th́ phải làm bé hầu hạ / ai muốn làm đầu th́ phải làm đầy tớ mọi người / Xin Chúa cho các người lănh đạo trong Hội thánh biết ứng xử đúng theo lời dạy của Chúa / để luôn sẵn sàng phục vụ mọi người.

 

2. Đức Giêsu cũng cho biết rằng / những người được coi là thủ lănh các nước th́ cai trị dân như những bạo chúa / và những người làm lớn th́ lấy quyền mà áp chế dân / Xin Chúa cho các nhà cầm quyền ngày nay biết từ bỏ cách cai trị độc tài chuyên chế / để tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền của mọi người.

 

3. Khắp nơi trên thế giới vẫn c̣n rất nhiều người đang cần được giúp đỡ và phục vụ / Xin Chúa cho họ được nhiều người trong Hội thánh và trong xă hội / biết quan tâm và lo lắng cho họ.

 

4. Đức Giêsu đến trần gian để cứu độ bằng phục vụ, và Chúa phục vụ để cứu độ / Xin Chúa cho mọi người trong xứ đạo chúng ta biết noi gương Chúa / luôn sẵn sàng phục vụ để truyền giáo cho những người chung quanh.

 

Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, khi bắt đầu theo Chúa, các tông đồ c̣n mơ ước một cuộc sống giàu sang và quyền lực, nhưng sau các ngài đă hiểu và tự nguyện bước theo đường Chúa đă đi ; Xin giúp mỗi người chúng con biết noi gương các ngài, chấp nhận hy sinh thiệt tḥi, để phục vụ cho việc truyền giáo. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

 

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước khi rước lễ : Đức Giêsu đă hiến thân làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta sau khi rước Chúa vào ḷng cũng biết hiến thân phục vụ anh chị em chúng ta.

 

VII. GIẢI TÁN

Hôm nay chúng ta đă học được bài học phục vụ : người lớn phải phục vụ người nhỏ, càng làm lớn th́ càng phải phục vụ. Chúng ta hăy ra về và cố gắng thực hành bài học này.

 

-----------------------------------------------------------------------

Hăy đi khắp thế giới

KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO

Chúa Nhật 29 Thường niên -năm B.
Mc.10,35-45 hay Mc. 10,42 -45

Lm. Nguyễn Khảm


Hôm nay là ngày lễ Khánh nhật truyền giáo. Mục đích Giáo Hội mừng lễ này là để nhắc nhở và thúc đẩy mọi người Kitô hữu chúng ta góp phần vào công cuộc truyền giáo.

Ngày Khánh nhật truyền giáo năm này tại Rôma Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II long trọng tuyên bố thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm tiến sĩ Hội Thánh. Sở dĩ Đức Giáo Hoàng chọn ngày hôm nay là v́ thánh nữ Têrêsa là bổn mạng của các xứ truyền giáo.

Khi tuyên bố thánh Têrêsa là tiến sĩ Hội Thánh, là bậc thầy trong đời sống đức tin, điều đó cũng có nghĩa Đức Giáo Hoàng muốn nói với các tín hữu toàn cầu rằng: Têrêsa là bậc thầy trong nghệ thuật truyền giáo. Vậy hôm nay chúng ta hăy dành ra ít phút để chiêm ngắm thánh nữ xem nghệ thuật truyền giáo của Ngài như thế nào?

Khi chiêm ngắm thánh nữ Têrêsa như là bậc thầy nghệ thuật truyền giáo, th́ tôi chắc chắn là chúng ta sẽ thấy xuất hiện một nghịch lư. Nghịch lư ở chỗ tại sao một nữ tu nhà kín suốt đời ở trong bốn bức tường mà lại được chọn làm bổn mạng cho các xứ truyền giáo, công cuộc truyền giáo.

Nói đến truyền giáo th́ chúng ta cũng nhớ đến hai động từ Đi và Nói.

Chính Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Anh em hăy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân". Sách Ngôn sứ Isaia viết: "Vinh quang thay, những bước chân đi truyền rao Tin Mừng ơn cứu độ". Phải đi, nhưng Têrêsa không đi đâu một bước nào cả, 15 tuổi đă vào ḍng kín. Phải nói, chính thánh Phaolô bảo: "Làm sao người ta tin nếu không nghe nói. Làm sao người ta nghe nói nếu không có người đi rao giảng. Làm sao có người rao giảng nếu không có ai được sai đi". Nhưng Têrêsa lại không nói ǵ với ai. Đời sống của các nữ tu ḍng kín th́ rất nghiêm ngặt, rất nghịch lư. Một nữ tu ḍng kín chẳng đi đâu, chẳng nói với ai mà lại được làm bổn mạng của các xứ truyền giáo. Chính cái nghịch lư ấy bắt tôi suy nghĩ và khám phá ra điều này: Giáo Hội mời gọi chúng ta hăy thay thế câu hỏi truyền giáo làm ǵ? bằng câu hỏi là ǵ? Nếu nói làm ǵ với Têrêsa th́ không đúng, v́ thánh nữ Têrêsa chả làm ǵ cả. Nếu ta đặt câu hỏi Têrêsa là ai th́ lập tức ta sẽ khám phá ra chiều sâu trong đời sống của thánh nữ.

Tôi nhắc lại một câu có thể tóm tắt tâm t́nh của thánh nữ Têrêsa. Khi đọc Kinh Thánh, thư thánh Phaolô, Ngài thấy trong Giáo Hội có rất nhiều ơn gọi nhưng h́nh như Ngài không thấy Ngài có trong đấy. Ngài suy nghĩ. Cuối cùng Ngài khám phá ra điều này: Giữa ḷng Giáo Hội có một trái tim rực cháy t́nh yêu. Nếu không có t́nh yêu các tông đồ sẽ không ra đi loan báo Tin Mừng. Nếu không có t́nh yêu các vị tử đạo đă chối từ đổ máu. Cho nên t́nh yêu là tất cả. Và Ngài nói thêm: Giữa ḷng Hội Thánh tôi sẽ là t́nh yêu. V́ thế tôi sẽ là tất cả.

Câu nói ấy giúp cho chúng ta khám phá ra được nghệ thuật truyền giáo của Têrêsa. Không đi đến đâu, không nói với ai, nhưng chỉ yêu thôi. Chính Têrêsa đă sống một t́nh yêu mănh liệt đối với Thiên Chúa, đối với tất cả mọi người. Bởi v́ Têrêsa cầu nguyện như thế này: "Lạy Chúa Giêsu, con mong ước được yêu mến Chúa như chưa từng bao giờ Chúa được yêu mến như thế. Và Ngài nói thêm: Con ước mong làm cho mọi người cũng yêu mến Chúa như thế ". Khi Têrêsa chọn một lối sống như thế th́ chính t́nh yêu đó đă chấp cánh cho Têrêsa đi khắp nơi và nói chuyện với mọi người. T́nh yêu làm nên như thế, không đi bằng bước chân nhưng đi bằng trái tim. Không nói bằng lời nhưng nói bằng lời cầu nguyện. Thiên Chúa đă ban cho Têrêsa một huyền nhiệm về t́nh yêu. Têrêsa đă đến với mọi người, đến với mọi trái tim. Têrêsa đă sống nghệ thuật truyền giáo theo nghĩa như thế.

Khi chiêm ngắm thánh nữ Têrêsa để khám phá ra cái điều quan trọng không phải làm ǵ mà là ǵ. Tôi tưởng là về mặt t́nh yêu đối với Chúa, với các linh hồn, đối với chúng ta c̣n xa vời lắm. Nó thiêng liêng quá. Nhưng có một điều mà chúng ta giống thánh nữ đó là: là Kitô hữu, là người công giáo. Trước khi làm nữ tu thánh nữ đă sống trọn vẹn là một người Kitô hữu.

Chúng ta cũng được mời gọi sống danh nghĩa là một Kitô hữu cho xứng đáng và chúng ta cố gắng sống đời Kitô hữu cho đúng nghĩa,th́ từ lời chứng ấy nó trở thành một lời chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu. Ngược lại nếu ḿnh không sống đời sống Kitô hữu cho xứng đáng, th́ dẫu ḿnh có làm đủ thứ chuyện, th́ tâm hồn vẫn có thể rơi vào t́nh trạng rỗng tuếch và Chúa Giêsu sẽ kết án ta như đă kết án những người Pharisêu ngày xưa: "Các anh đi khắp nơi để t́m một người ṭng giáo và khi người ta đă ṭng giáo rồi, các anh làm cho người ta trở thành ma quỉ gấp 10 lần các anh". Thật nguy hiểm.

Tôi thấy phần lớn anh chị em dự ṭng đi t́m hiểu đạo, là bởi v́ các bạn ấy đă cảm kích trước vẻ đẹp của một đời sống Kitô hữu nào đó, nên họ đă t́m hiểu giáo lư, t́m kiếm Chúa. Ngược lại thỉnh thoảng chúng ta gặp một trường hợp theo đạo v́ một đối tượng mà họ yêu mến. Như thế chỉ một thời gian là họ sẽ chán ngay, sẽ rời bỏ Chúa ngay. Khi ấy chúng ta sẽ dễ dàng kết án họ ngay.

Có bao giờ chúng ta xét lại chính ḿnh, chính cuộc sống người công giáo của chính ḿnh có khá không hay là v́ chính cuộc sống bê bối của chúng ta làm cho họ thất vọng, họ không c̣n tiếp tục tin vào Chúa nữa.

Chính v́ vậy hôm nay khi cùng với Hội Thánh cầu nguyện cho việc Phúc Âm hóa các dân tộc. Tôi nghĩ chính chúng ta phải Phúc Âm hóa chính bản thân ḿnh. Chính chúng ta phải sống lại đời sống Kitô hữu của ḿnh cho đúng nghĩa. Đó là khởi điểm, đó là một cách góp phần thiết thực nhất cho công cuộc truyền giáo, công cuộc Phúc Âm hóa mà Giáo Hội mời gọi chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu t́nh yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thểû khác nhau. Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất đó là trái tim, một trái tim bừng cháy t́nh yêu. Chính t́nh yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng t́nh yêu th́ các tông đồ sẽ ngừng rao giảng. Các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu ḿnh. Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đă t́m thấy ơn gọi của con chính là t́nh yêu. Con đă t́m thấy chỗ đứng của con trong Hội Thánh, nơi trái tim Hội Thánh con sẽ là t́nh yêu và như thế con sẽ là tất cả. V́ t́nh yêu bao trùm ơn gọi trong Hội Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con mọi ước mơ của con được thực hiện. Amen.

 

 

 

----------------------------------------------------------------------------------

Bồi Dưỡng Tinh Thần

I.Tia sáng:

v CHÍ TRAI

v SỐNG KHIÊM TỐN 

II.Thư giăn:

 

1.  NHANH TRí

2.  TIẾNG VANG

3.  VẬT HY SINH

4.  T̀M CHỦ NGỮ

5.  Ư ĐỒ

6.  NHƯ NGƯỜI THẬT

7.  KHÔNG ĐỀ

III.Chuyện vui suy niệm:  
         
AVE JESU MARIA JOSEPH

v MẶT NƯỚC TRONG THÙNG

IV.Chuyện ngụ ngôn:

v SUỐT RUỘT

V.Hẹn bạn trên đỉnh thành công:

v ĐIỀU TÔI TIN

VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia đ́nh:

v TV, VIDEOGAMES, VI TÍNH VỚI TRẺ EM: CON DAO HAI LƯỠI

VII.Chuyện phiếm của Phạm Khải:

 v QUÀ SINH NHẬT CHO CHỒNG

----------------------------------------------------

I.     TIA SÁNG :

*Bạn dừng nói : đó là bản tính tôi, đó là mặt ngoài của tính tôi, v́ thực ra đó là bộ mặt của một người thiếu đức tính : Bạn phải nhớ luôn đến "Chí trai" !

*NHỮNG NGƯỜI QUẢNG ĐẠI NHẤT THƯỜNG QUEN SỐNG KHIÊM TỐN HƠN CẢ.

Descartes.

Người trẻ nghĩ rằng: khiêm nhường là một đức tính do yếu đuối, mà thật ra nó là sự thật và từ tốn.. C̣n tôi, tôi có hay thổi phồng những việc nghĩa của tôi không? Trong cuộc đời tôi, có ǵ là quảng đại không?

II.  THƯ GIĂN:

1.NHANH TRí

Một trọc phú mời nhà danh họa vào pḥng khách có treo bức tranh.

Trọc phú: "Nét bút của ngài thật tuyệt vời".

Nhà danh họa kêu lên: "Nhưng sao ông lại treo ngược tranh?"

"Tôi biết chứ?" Trọc phú nhanh miệng: "Tôi tập Yoga ở pḥng này v́ thế phải treo ngược".

2.TIếNG VANG

Cả hai người cùng đua nhau khoe ngọn núi quê ḿnh.

Một người nói: "Nếu anh đến quê tôi hét trước hang núi, ba phút sau mới nghe tiếng vọng".

"Có ǵ ghê! Người kia bảo: "Hang núi quê tôi th́ tối nay anh hét, sáng mai tiếng vang mới đến đánh thức anh dậy!".

3. VậT HY SINH

Chồng bảo vợ: "Ngày mai là kỷ niệm 20 năm ngày cưới chúng ḿnh, ta nên giết một con gà làm tiệc".

Bà vợ hà tiện mau mắn nói ngay: "Sao lại phải giết con gà? Chẳng lẽ nó có lỗi trong những cuộc căi nhau suốt 20 năm qua của chúng ta sao?"

4.T́M CHủ NGữ

Thầy giáo viết lên bảng câu: "Người đàn ông lang thang đă chết đói!". Rồi quay lại hỏi học sinh: "Này Pitơ, em cho thầy biết chủ ngữ ở đâu?"

"Ơ .. Có lẽ dưới mồ ạ!" Pitơ không chắc lắm.

5.Ư Đồ

Người vợ nói với chồng: "Anh X ở lầu trên h́nh như không thích con trai ḿnh đánh trống".

"Sao thế?" Người chồng hỏi.

"Thế này" Người vợ giải thích: "Trưa hôm nay anh ấy cho con trai ḿnh một con dao nhỏ và hỏi nó có biết trong ruột trống có ǵ không?"

6.NHƯ NGƯờI THậT

"Tôi đă phát minh ra loại người máy y như người thật". Một nhà khoa học tuyên bố với đồng nghiệp.

"Nó không phạm sai lầm bao giờ à?" Một vị khác chất vấn.

"Không đâu, nhưng nếu có phạm sai lầm, nó sẽ đổ trách nhiệm lên đầu các người máy khác ngay"".

7. KHÔNG Đề

Hai vợ chồng đi xem triển lăm mỹ thuật. Họ đến trước bức tranh có thiếu nữ khỏa thân được che đậy bởi vài chiếc lá, ông chồng cứ trố mắt ra mà ngắm không chịu rời. Bà vợ tức giận kéo tay ông ta lôi đi: "Này, ông định chờ đến mùa thu lá rụng hết mới vừa ḷng hay sao".

III.             CHUYỆN VUI SUY NIỆM :

 

MẶT NƯỚC TRONG THÙNG

(Thinh lặng, chiêm ngắm, hành động)

 

Trong truyện các thánh tu rừng có kể rằng hai tu sĩ trẻ kia rất muốn nên trọn lành nhưng lại có tật thích nói chuyện. Ngày nọ, để dạy cho hai tu sĩ một bài học, cha bề trên khuấy một thùng nước ở ng̣ai trời rồi gọi hai thầy tới và bảo: “Các thầy hăy xem gương mặt của ḿnh trong thùng nước”.;

Dù mở to đôi mắt hai thầy vẫn không thể  nào nh́n ra gương mặt ḿnh v́ nước bị khuấy động.

Cha bề trên nói tiếp: “Các thầy hăy trở lại đây chừng mười lăm phút nữa”.

Một khắc sau, hai thầy trở lại khi nước trong thùng đă yên lặng. Và lần này hai thầy nh́n rơ mặt ḿnh phản chiếu trong thùng nước.

Trong mỗi người chúng ta có một khao khát nên tốt hơn. Tâm hồn chúng ta cũng giống như thùng nước, nếu cứ khuấy động th́ nó chẳng thể phản chiếu h́nh ảnh nào. Trái lại, trong yên lặng nó phản chiếu được mọi vật, nó sẽ gíup ta nhận ra chính ḿnh. Thinh lặng là quê hương của những vĩ nhân. Không có ǵ làm cho con người trở nên xấu xa bằng đánh mất sự chiêm ngắm. Và không có ǵ hữu ích làm tăng vẻ cao siêu cho tâm hồn bằng sự thinh lặng. Nếu lời nói tạo nên cá tính của con người, th́ thinh lặng làm nên đức hạnh cho con người.

Trong nhân vị con người có ba lúc khác nhau: chiêm ngắm, quyết  định và hành động. Chiêm ngắm trong thinh lặng là nền tảng cho mọi công việc được tốt. Như đàn ong chăm chỉ làm việc trong bóng tối, cũng thế, tư tưởng trở nên có hiệu lực trong thinh lặng.

Hơn nữa, thinh lặng cần thiết cho việc gặp gỡ Thiên Chúa. Nếu lời nói giúp ta giao tiếp được với người khác, th́ thinh lặng cho ta khả năng  nắm bắt được sự hiện diện vô h́nh của Chúa. Thánh Gioan Thánh giá quả quyết: “Sự hiểu bíêt về Thiên Chúa có được trong thinh lặng. Có ba cái nằm trong thinh lặng, đó là vẻ đẹp, t́nh yêu thương thân mật và cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn ḿnh”.

Người ta kể một hôm chị Cecilia hỏi em ḿnh là Têrêsa Hài Đồng Giêsu đang qú ngây ngất trước Nhà Tạm.

- Têrêsa, em nói ǵ với Chúa mà lâu như vậy?

Têrêsa trả lời:

- Em chẳng nói ǵ hết, em chỉ yêu mến Ngài mà thôi.

Ngôn ngữ của trái tim là thinh lặng, và tột đỉnh của mối hiệp thông với Chúa cũng không có ǵ khác hơn là thinh lặng gấp đôi. Như thế, thinh lặng không phải là câm nín, là vô cảm, nhưng là một độ rung linh thiêng mănh liệt, đó là sự tập trung sức lực, lời nói, đó là nguồn suối của hoạt động, là lắng nghe lời Chúa, là đắm ch́m  trong sự thờ lạy  Thiên Chúa.

IV.             TRUYỆN NGỤ NGÔN:

SUỐT RUỘT

 

Nô lệ xưa phải làm lao động rất nặng nhọc quá súc vật, càng khoẻ mạnh càng phải làm nhiều cho chủ nô đến kiệt sức, có lúc tới bỏ mạng. Để khỏi bỏ mạng v́ lao động cực h́nh, có một nông nô nghĩ ra một cách. Anh ta giả vờ bị mù, chủ nô tưỏng thật, sợ nuôi tốn cơm, bèn thả cho lang thang tự kiếm sống. Thế là người nô lệ đó đuợc tự do. Số nô lệ thấy vậy cũng định làm cho mắt ḿnh mù thật đi để có thể được thả tự do.

Khi số người này định khoét mắt ḿnh th́ có người nói :

- Không làm thế được ! Làm như vậy th́ suốt đời ta sẽ mù. Hăy từ từ để nghĩ cách khác. Đa số người nghe theo lời khuyên, nhưng có một số người không chờ đợi được, họ sốt  ruột và đă tự chọc mắt ḿnh để mù. Chủ nô thấy số nô lệ bị mù nhiều như vậy, liền bắt tất cả số nô lệ mù quẳng xuống sông.

V.  HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:

Theo bản tiếng Anh: See you at the top của Zig Ziglar

Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU - DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN –
NGUYỄN VĂN DIỄM

ĐIỀU TÔI TIN

Ta thường được nghe quảng cáo về những chuyện t́nh "đẹp như  mơ" độc nhất vô nhị trên thế gian này. Dĩ nhiên, những luận điệu như thế đều không có thật, nhưng thực ra vẫn có một người nào đó tại một nơi nào đó, vào một lúc nào đó đă từng kể hoặc sẽ kể về một câu chuyện t́nh "đẹp như mơ" và "độc nhất vô nhị.

Phần tôi, tôi luôn xác tín rằng những câu chuyện t́nh thực sự "đẹp như mơ" đă và sẽ không bao giờ được nói đến cả. Những câu chuyện đó đă và sẽ tiếp tục sống ngoài những trang giấy in, màn ảnh truyền h́nh hay màn ảnh xi nê. V́ chẳng người chồng hay người vợ nào rất mực thương nhau, coi nhau hơn hết mọi người, mọi sự muốn bán rao những t́nh tiết về cuộc đời và t́nh yêu của ḿnh cả. Tiết lộ cho một người họ c̣n chẳng muốn, huống chi cho cả thế giới cách xa diệu vợi! Bởi nếu làm như vậy th́ mối tương quan mật thiết, riêng tư, và đẹp đẽ của họ lại chẳng hoá nên một thứ tài sản công cộng, chung phần, khiến mối tương quan mật thiết và thiêng liêng ấy trở thành tầm thường, dung tục. T́nh yêu đích thực luôn thực sự tốt đẹp và rất đỗi riêng tư. Giống như thép tốt được luyện trong lửa và nước, xa lộ được h́nh thành bởi đồi cao, lũng sâu và khúc quanh, t́nh yêu và hôn nhân cũng phải được xây dựng trong gian khổ và thử thách. Bởi vậy, thật đáng buồn khi thấy nam nữ tự nhiên chung sống hay sống với nhau qua những cuộc hôn nhân thử. Điều đó chỉ khiến cho họ dễ dàng thôi nhau như cọng rơm hay trong cơn băo, trước khi có đủ thời gian để hiểu biết nhau chứ đừng nói là yêu nhau nữa. Họ không hiểu thế nào là t́nh yêu giữa những người có trách nhiệm cả. Họ không biết phân biệt giữa t́nh yêu và t́nh dục, là hai thứ có thể giống nhau nhưng cũng có thể khác nhau hoàn toàn. Khi t́nh dục là biểu hiện của t́nh yêu và hoà hợp trong hôn nhân thánh thiện, th́ nó rất tốt đẹp, nhưng khi chỉ là biểu hiện của nhục dục th́ chỉ là thú tính và ích kỷ mà thôi.

T́nh yêu, trái với điều các thi sĩ và các nhà viết kịch bản đề cập, không phải là một cảm xúc cố hữu. Ngay lần đầu gặp nhau, tôi đă bị vợ tôi hớp hồn. Tôi nghĩ ḿnh đă "yêu" nàng trong khi đeo đuổi và những năm đầu cuộc sống vợ chồng. Vậy mà thực sự, măi đến 25 năm sau, tôi vẫn chưa hiểu t́nh yêu đích thực là ǵ cả. Khi mừng hai mươi sáu năm kết hôn, th́ t́nh yêu ấy vẫn lớn mạnh hàng ngày. Vợ tôi luôn vượt xa và ở trên bất cứ người đàn bà nào đẹp nhất, lôi cuốn nhất, kích thích nhất mà tôi từng gặp. Nếu có giờ rỗi rảnh mà phải chọn lựa giữa vợ và công việc th́ vợ tôi luôn luôn giành phần chiến thắng.

Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng tôi luôn ăn ư và không bao giờ xích mích nhau, mà chỉ có nghĩa là chúng tôi không bao giờ cố ư làm khổ nhau cả. Nó cũng có nghĩa là chúng tôi luôn sẵn sàng nhận lỗi và xin lỗi nhau. Và cũng có nghĩa là chúng tôi luôn sống vui vẻ bên nhau, luôn yêu thương nhau đến mức coi người yêu trên hết. Chúng tôi không bao giờ đi chung hoặc lên giường ngủ khi chưa giải quyết những xung khắc và tái khẳng định t́nh yêu của ḿnh cả.

VI.T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH: 

(Đại Đoàn Kết ngày 28/6/1997, trang 13)

TV, VIDEOGAMES, VI TÍNH VỚI TRẺ EM: CON DAO HAI LƯỠI

Nhị Hoàng.

"Những sản phẩm của thời đại ngày nay đang làm hỏng sự phát triển trí tuệ của trẻ con" Tiến sĩ Robert Sylwester, người chủ tŕ cuộc hội nghị về vấn đề tư duy của thế hệ tương lai (ITC) tổ chức tại Mỹ đă cảnh báo như vậy. Ngày nay trẻ em dành quá nhiều thời gian thức (ITC quy định đời sống con người chia làm hai phần là thức và ngủ) để dán mắt vào các chương tŕnh tivi, videogames hay màn h́nh vi tính.

Một khi tập trung như vậy, các đứa trẻ bị bào ṃn khả năng tṛ chuyện và không thấy cần thiết điều ǵ khác. Thái độ chung của chúng là miễn cưỡng trả lời và thường im lặng. "Những sản phẩm của thời đại", tiến sĩ R. Sylwester nói một cách lo lắng rằng những thứ ấy làm mất đi tính chất tương tác xă hội cần thiết cho năo bộ phát triển. Không chỉ có vậy, R. Sylwester c̣n cho biết rằng, các phương tiện truyền thông đại chúng như vậy (electronic media) làm yếu năo và làm mất khả năng của hệ phản ứng nội thần kinh. "Đây không phải là chuyện hù doạ các bậc cha mẹ" - ông R. Sylwester nói - "Đây thực sự là chuyện năo bộ bị cầm tù bởi kỹ thuật tiên tiến mà chúng ta đă sáng tạo ra". Theo ông, đặc tính của con người có từ hàng ngàn năm trước có thể phát triển được là nhờ sự phản ứng nhận biết các chi tiết của đời sống, trong không gian và thời gian. Những đứa trẻ lớn lên có khả năng nhận thức được các vật thể, liên hệ với chúng bằng cách tự vận động và phát triển ư thức từ thấp lên cao. Thế nhưng trong thế kỷ này, mọi việc dường như thay đổi hẳn. Có quá nhiều sự bộc lộ, giới thiệu... từ các electronic media làm chựng lại tính phát triển trí tuệ, v́ nó làm cho trẻ con lười vận động thần kinh, không bắt trẻ con phải suy nghĩ. Một môi trường như vậy rất nguy hại đến chất xám trong năo.

Hơn nữa, nhịp độ tiếp thu liên lạc từ electronic media khiến phần kư ức dài hạn nơi năo sẽ bị thay thế bằng phần kư ức ngắn hạn (short - term memory). Mọi thứ phản ứng của trẻ em sẽ trở nên tự động hoá giống như một chương tŕnh đă cài đặt sẵn. Chúng hoàn toàn mất ư thức về hành động và ngôn ngữ. Chẳng hạn, khi hỏi chúng tắm bằng xà bông ǵ, thay v́ trả lời, chúng có thể đọc một tràng lời quảng cáo của hăng xà bông X nào đó.

Trước khi hiểu kịp t́nh dục, bạo lực... là ǵ th́ năo của trẻ em đă bị ấn đầy các h́nh ảnh ấy từ tivi, videogames và các thứ hấp dẫn khác trên mạng Internet. Khả năng phân tích và khám phá của năo cũng bị bào ṃn. Đứa trẻ sẽ trở nên thụ động và luôn luôn t́m lời khuyên chứ tự ḿnh không thể giải quyết được vấn đề.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là phủ nhận vai tṛ của electronic media trong cuộc sống, ITC nhấn mạnh rằng việc kiểm soát và tác động của gia đ́nh chính là yếu tố quyết định để bảo vệ trẻ em trong sự phát triển cân đối. Tiến sĩ R. Sylwester cho biết, một khi các gia đ́nh củng cố hơn các mối quan hệ của thành viên với nhau, tạo nên một sự êm ấm yêu thương th́ đứa trẻ có đủ khả năng để phát triển tâm thần với nhận thức đúng nhất của nó!. Tiến sĩ R. Sylwester nói: "Điều quan trọng là chúng ta không nên lo sợ quá mức những ǵ mà electronic media mang đến cho trẻ con, mà quan trọng là tạo cho trẻ con có ư thức như thế nào đối với electronic media".

 CHUYỆN PHIẾM :

Trích trong tập truyện hài hước trẻ “Bồ non”

Biên soạn : PHẠM KHẢI

 

QUÀ SINH NHẬT CHO CHỒNG

Chồng đẹp trai, có tài lẻ. Vợ con nhà quyền quư, có một công việc ít người dám mơ. Họ sống với nhau trong không khí ”trăng mật” suốt mười năm. Tác phẩm của họ là cậu con trai đẹp như tranh, thuộc diện quư tử. Ông bà bên ngoại cho không một hộ khép kín và ngôi nhà ấy cũng nhanh chóng chật ních tiện nghi…Chiều thứ bảy và trưa chủ nhật, vợ chồng con cái đi ăn tiệm.

Đó là “gia cảnh” của vợ chồng Bỉnh trước ngày ”mợ cháu” đi Tây. Việc Hiên, vợ Bỉnh quyết chí xuất ngoại phần lớn do quyết tâm của Bỉnh. Hiên chần chừ cân nhắc th́ Bỉnh sốt sắng dứt khoát. Hiên lo lắng chạy thủ tục lấy lệ th́ Bỉnh quyết liệt, có bài bản và thực tế. Cuối cùng hai cha con anh Bỉnh hớn hở tiễn Hiên ra sân bay, trở về Bỉnh mới thấy ăn chắc.

Hiên đi theo một đoàn điều tra thị trường tới một đất nước được ví như thiên đường. Những ngày đầu Bỉnh nằm bên máy điện thoại để nghe vợ gọi về từ cái nơi cách xa cả vạn kilômét. Thăm hỏi là chính nhưng Bỉnh chỉ đạo vợ cũng là chính. Những thông báo của vợ Bỉnh các tháng sau, y hệt một cô thư kư của sếp báo cáo t́nh h́nh tài chánh. Tiết kiệm ăn sáng bao nhiêu; tiền khách sạn dư ra do ở nhờ người quen bao nhiêu; tiền lưu trú, tiền bạn bè biếu xén… Khoản nào rành mạch khoản đó. Bỉnh quán triệt vợ: Một xen cũng quư. Tất cả quy ra đôla Mỹ và nếu khoản nào không đáng chi th́ tuyệt đối không chi.

Tháng sau rồi tháng sau nữa,Hiên điện về thưa dần. Nhưng Bỉnh luôn luôn yên ḷng bởi những thông báo của vợ: ”Anh và con cứ yên trí.Những ǵ chúng ta tích góp 10 năm th́ bây giờ em có thể kiếm trong vài ngày”.

Ở nhà Bỉnh bắt đầu chuẩn bị cuộc sống “hậu thời kỳ chắt bóp”. Anh phải xử lư món tiền nhiều ngh́n đô do vợ anh sắp đem về để trang trí một số tiện nghi c̣n thiếu. Một ngàn đô la cho chuyến đi biển. Số c̣n lại anh sẽ ném ra mua cổ phần công ty tư nhân do bạn anh làm chủ tịch hội đồng quản trị. Viễn cảnh trước mắt anh sẽ là: Vợ con thuộc hàng quư phái. Anh vừa tham gia điều hành công ty. Anh sẽ biến nó thành Group và đóng vai một VIP trong hàng ngũ các chủ doanh nghiệp.

Bỉnh không dám mơ tiếp bởi nó quá lớn, có thể khiến anh ngợp, không lợi cho dấu hiệu huyết áp cao đă bắt đầu xuất hiện ở anh.

Hết hạn công tác, Hiên trở về và tất cả những ǵ Bỉnh ”đếm cua trong hang” đều vượt xa. Nghĩa là số tiền thực tế Hiên có c̣n gấp nhiều lần số tiền Bỉnh cộng nhẩm một cách lăng mạn. Hiên ”mợ” hẳn lên. Ngay tức khắc Bỉnh tuyệt giao với hàng loạt bạn bè để khỏi phải lẩn tránh họ. Anh nuôi một con chó nặng gần nửa tạ, dữ dằn đến mức thằng bạn nào định ”đỉa” cũng không đủ gan đối mặt với nó. Tiếng sủa kinh dị của nó như muốn bảo: ”Đứa nào muốn chết th́ bước vô”.

Vợ Bỉnh tự dưng thích sống theo kiểu “bà lớn”, bởi nàng bảo nàng ghê tởm lối sống dụi dọ. Nàng bắt đầu chuộng lễ nghĩa. Nàng chuẩn bị sinh nhật chồng rất công phu, đến mức Bỉnh phải lấy làm phiền. Sau chầu Champagne Pháp chính hiệu mà nàng yêu cầu chồng mở, nàng đặt nhẹ lên trước mắt Bỉnh chiếc ch́a khóa xe Toyota Crow, khiến toàn thân Bỉnh run bắn lên v́ bất ngờ quá lớn. Vợ Bỉnh ngồi bắt chéo chân cười khanh khách. Bỉnh không ḱm được, bất chấp trước mặt cậu con trai đă lớn, lao vào bế bổng vợ lên. Bất chợt Hiên co rúm người lại, tay cúm chặt đáy váy. Bỉnh càng thấy thế làm thích thú, tung cao Hiên rồi vồ lấy hôn như mưa vào cổ Hiên. Có vật ǵ đó mỏng manh trang nhă vừa liệng nhẹ xuống nền nhà.Bỉnh đặt Hiên xuống, tiện thể cúi nhặt tờ giấy. Hiên xông vào cướp, Bỉnh rụt ngay tay lại, nói trêu:

-Nếu thằng nào tán được vợ anh, Bỉnh này xin thưởng thêm.

Tờ giấy trong tay Bỉnh duỗi ra, mềm mại và cho thấy nó là loại giấy cực quư hiếm. Cái thứ dùng mực  để viết những ḍng chữ vô cùng dễ đọc cũng ngào ngạt thứ hương thơm đắt tiền. Dưới mắt Bỉnh ḍng chữ đó hiện lên như sau :

“Nhớ cái cảm giác tuyệt diệu với em bên bờ Địa Trung Hải trong từng tích tắc. Bỏ lại tất cả với hắn để bay sang với anh ngay”.

Người có 10 triệu đô và là nô lệ của em.

John Hách.

Ly Champagne có lẽ vừa vào đến dạ dày Bỉnh, ói ngược trở ra, sủi bọt dưới nền nhà.

 

-----------------------------------------------------------------------------------

GÓP NHẶT CÁT ĐÁ

CHÚA NHẬT XXIX – Mc. 10, 35-45

Bài đọc: Is 53 : 10-11; Đt 4 : 14-16 ; Mc 10 : 35-45

 

Mục lục

 

BÁNH VÀ NƯỚC (Mark Link S.J)....... 1

“CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ” (N. Quesson)  4

RA LỆNH VÀ TRUYỀN LỆNH (Gm. Arthur Tonne)       6

QUYỀN BÍNH PHỤC VỤ THA NHÂN         7

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez       7

 

 

BÁNH VÀ NƯỚC

Mark Link S.J.

Chủ đề:

Chúng ta phải bắt chước Chúa Giêsu, Đấng đă đến để phục vụ người khác chứ không phải để được người khác phục vụ.

 

Câu cuối cùng trong bài Phúc Âm ngày hôm nay là một trong những câu hỏi nổi bật nhất trong toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta hăy nghe lại câu ấy: “CON NGƯỜI không đến để được phục vụ, nhưng để Phục vụ và hiến thân cứu chuộc nhiều người”. Ít câu nào trong Kinh Thánh tóm tắt được cuộc đời Chúa Giêsu một cách hoàn hảo như thế.

Lần đầu tiên nghe nói về cuộc đời Chúa Giêsu, một Kitô hữu Nhật Bản nổi tiếng tên là Kagawa kêu lên: “Lạy Chúa, xin cho con nên giống Đức Kitô của Ngài”. Và để nên giống Đức Kitô hơn, Kagawa đă từ bỏ căn nhà tiện nghi để đến sống trong những khu tồi tàn vùng Tokyo. Ở đó, ông chia sẻ chính bản thân và của cải ḿnh cho bất cứ ai cần sự giúp đỡ. Trong cuốn sách nhan đề “Nổi tiếng về đời đời” (Famuos Li-fe Decision), Cecil North Cott viết: Kagawa đă cho đi hết áo quần của ḿnh, và chỉ mặc trên người chiếc áo thụng rách nát tả tơi; vào một dịp khác, dù lâm bệnh rất nặng, ông vẫn tiếp tục thuyết giáo dưới cơn mưa, miệng lập đi lập lại không ngừng, “Thiên Chúa là T́nh yêu, Thiên Chúa là T́nh yêu. Ở đâu có t́nh yêu ở đấy có Thiên Chúa”.

William Barclay cho chúng ta thấy tâm hồn và trí tuệ của Kagawa qua những lời của Kagawa mà ông trích dẫn như: “Chúa ở trong tâm hồn những người hèn mọn nhất, Ngài hiện diện giữa những kẻ ăn xin, Ngài nằm chung với những người bệnh hoạn, Ngài đứng về phía những người thất nghiệp. V́ thế, ai muốn gặp Thiên Chúa th́ hăy đến thăm tù ngục trước khi đi tới đền thờ, hăy đến thăm tù ngục trước khi đi tới đền thờ, hăy đến thăm bệnh viện trước khi đi dự lễ, hăy giúp đỡ kẻ nghèo khổ trước khi đọc Kinh Thánh.

Khi đọc về một người như Kagawa, chúng ta nên tự vấn chính ḿnh; chúng ta phải làm sao để có thể sống Phúc Âm một cách nghiêm chỉnh hơn trong đời sống ḿnh? phải làm sao để  bắt chước đời sống phục vụ của Chúa Giêsu một cách thiết thực hơn? phải làm sao để trở thành Kitô hữu đích thực hơn trong chính gia đ́nh  và trong môi trường làm việc của ḿnh?

Dĩ nhiên không ai có thể trả lời dùm chúng ta, v́ đây là những câu hỏi mà chúng ta phải tự trả lời lấy, nghĩa là mỗi người đang hiện diện ở đây sẽ phải trả lời những câu hỏi ấy theo cách thức của ḿnh. Tuy nhiên, đừng bao giờ vịn cớ rằng : “Tôi không thể đến những khu tồi tàn ở Tokyo để sống giống như Kagawa đă làm”, để rồi chúng ta chẳng làm ǵ nữa cả; v́ nếu chúng ta không thể làm được một điều thật can đảm, thật anh hùng, th́ điều đó không có nghĩa là chúng ta không c̣n có thể làm được bất cứ việc ǵ khác.

Tất cả chúng ta đều có thể làm một điều ǵ đó dù rất là nhỏ bé và xem ra vô nghĩa, khởi đầu là cho chính những người thân trong gia đ́nh chúng ta, rồi từ đó chúng ta sẽ có những may mắn mở rộng việc phụng sự ra môi trường xa hơn, c̣n nếu chúng ta không khởi sự ngay từ gia đ́nh ḿnh th́ chúng ta cũng sẽ không bao giờ khởi sự được ở bất cứ nơi nào khác.

Sau đây là một trong những ví dụ hấp dẫn nhất nói về việc phục vụ tha nhân khởi sự từ chính gia đ́nh  ḿnh. Đó là câu chuyện được đăng trong tạp chí Leadership (Giới lănh đạo) cách đây ít lâu:

Một cậu bé nọ cứ cố t́nh đi học về trễ hoài mà chẳng có lư do ǵ chính đáng cả, dù đă có biết bao lời khuyên nhủ răn bảo cậu. Cuối cùng, v́ quá thất vọng, bố cậu bảo cậu ngồi xuống và nói; “Lần sau con c̣n về trễ nữa là con chỉ được ăn tối bằng bánh ḿ với nước lă thôi, ngoài ra không được ăn thứ ǵ khác nữa nhé. Con nghe rơ chưa?” Cậu bé nh́n thẳng vào mắt cha và gật đầu. Cậu đă hoàn toàn hiểu ư bố cậu.

Vài ngày sau, cậu bé về nhà c̣n trễ hơn b́nh thường nữa, Mẹ cậu gặp cậu ở cửa song chẳng nói một lời. Cha cậu gặp cậu trong pḥng khách nhưng cũng vẫn chẳng nói lời nào với cậu. Tuy nhiên, tối hôm ấy, khi mọi người quây quần bên bàn ăn, trái tim cậu bé  như muốn thót lại khi thấy đĩa cha cậu chất đầy thức ăn, đĩa của mẹ cũng thế, c̣n đĩa của cậu th́ chỉ có một khúc bánh ḿ, bên cạnh có một ly nước lă, trông hiu quạnh làm sao! Đầu tiên cậu liếc nh́n miếng  bánh, sau đó lại nh́n qua ly nước lă. Đây chính là h́nh phạt bố mẹ cậu đă nói trước với cậu, đáng buồn hơn nữa là tối nay cậu lại cảm thấy đói quá chừng.

J. Allan Peterson, tác giả câu chuyện đă mô tả diễn tiến sự việc như sau: “Người bố chờ cho bầu khí căng thẳng lắng xuống đoạn lặng lẽ cầm chiếc đĩa của cậu đặt trước mặt ông, rồi cầm chiếc đĩa của ông đặt trước mặt cậu bé…” Cậu bé chợt hiểu ngay điều bố cậu đang làm. Bố cậu đă nhận h́nh phạt mà lẽ ra chính cậu phải chịu v́ hành vi bê bối của riêng cậu…. Măi nhiều năm về sau, chính cậu bé ấy vẫn nhớ đến biến cố và nói: “Chính nhờ hành vi bố tôi đă làm tối hôm ấy, mà suốt cả đời, tôi đă hiểu được Thiên Chúa tốt lành biết bao!”.

Câu chuyện trên giúp ta hiểu thật dễ dàng điều Chúa Giêsu muốn ám chỉ qua lời Ngài nói trong Phúc Âm hôm nay; “Con Người…. đến… để hiến mạng cứu chuộc nhiều người”. Đức Giêsu đă đến trong thế gian để làm cho chúng ta điều mà bố cậu bé đă làm cho cậu. Ngài đến để đền tội lỗi chúng ta bằng chính cái chết của Ngài trên thập giá.

Vậy, để kết thúc, chúng ta hăy nhớ rằng bài Phúc Âm hôm nay đưa ra cho chúng ta một thách thức; Đó là chúng ta phải hiến mạng sống ḿnh để phụng sự tha nhân như Chúa Giêsu đă làm cho chúng ta và nơi chốn tốt nhất để khởi sự việc này là chính gia đ́nh  ta và môi trường làm vịêc của ta. Nếu chúng ta khởi đầu từ những môi trường này, chúng ta sẽ mở rộng được ḷng yêu thương phục vụ của chúng ta sang những môi trường khác nữa.

Biết đâu vào một thời gian nào đó, chúng ta sẽ có dịp phục vụ kẻ khác cũng quảng đại như Kagawa đă làm nơi những căn nhà tồi tàn vùng Tokyo. Chúng ta sẽ có thể có dịp phục vụ tha nhân cũng quảng đại như người bố trong câu chuyện đối với đứa con hư của ḿnh. Tuy nhiên, trước khi chúng ta hy vọng có thể bay được th́ chúng ta phải tập đi bộ đă. Và bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta bắt đầu tập đi bộ, mời gọi chúng ta bắt đầu phục vụ lẫn nhau, ngay từ trong gia đ́nh và môi trường làm việc của chúng ta; Đó chính là lời mời gọi chúng ta hăy bắt chước Chúa Giêsu là Đấng đă phán”

“Con Người đến không phải để được phục vụ, mà để phục vụ và hiến mạng sống cứu chuộc nhiều người”.

 

“CON NGƯỜI ĐẾN ĐỂ PHỤC VỤ”

N. Quesson

 

Caphu (Martin Caphu) là người Bangla thuộc Camerun Phi Châu. Cha anh là quốc vương Bangla. Từ thiếu niên, anh đă quen với phong trào Tổ Ấm, một tổ chức Công giáo làm việc xă hội ở Phi châu. Thấy các thành viên Tổ Ấm xả thân giúp đỡ người đồng loại, anh Caphu rất cảm phục, và tới năm 1963, vào lúc mười bảy tuổi, anh xin trở lại Công giáo. Sau khi tốt nghiệp Trung học, anh được Gia đ́nh gởi về Rôma học ngành điện tử. Đậu tiến sĩ điện tử xong, anh Caphu gia nhập phong trào Tổ Ấm.

Năm 1980, cha anh qua đời, và theo chúc thư, ông đă chọn Caphu kế vị ngai vàng. Caphu vội vă trở về Bangla, anh họp cả sắc tộc lại và xin mọi người đề cử người khác làm vua. C̣n anh, anh muốn dành cả cuộc sống làm việc xă hội theo tinh thần Kitô giáo. Và mọi người đă đồng ư.

Trong cuộc sống trần gian, ai cũng muốn có danh vọng, và người ta thường xếp tiền tài danh vọng như một cặp bài trùng. Caphu đă từ chối ngai vàng để phục vụ Chúa đắc lực hơn. C̣n Giacôbê và Gioan, hai ông lại tới xin Chúa cho một địa vị trong Nước Chúa, các ông hiểu đây là nước trần gian mà các ông nghĩ Chúa sắp thiết lập.

Nhân dịp này Chúa Giêsu cắt nghĩa cho các ông hiểu thêm về công việc của Người. Người là Chúa Cứu Thế, Đấng Cứu chuộc trần gian bằng đau khổ, bằng thập giá chứ không phải bằng một hoạt động chính trị, Chúa buồn rầu trách nhẹ các ông. Các con chẳng biết ḿnh xin cái ǵ! Nhưng Chúa thấy các ông chân t́nh và nồng nhiệt, nên Chúa cũng hé mở cho các ông một vài nét về tương lai: Các con sẽ uống chén đắng Ta uống, và đắm ḿnh trong phép rửa bằng máu như Ta. C̣n việc ngồi bền tả hay bên hữu Ta th́ lại là chuyện khác. Những lời này làm hai tông đồ hoang mang, nhưng về sau các ông sẽ hiểu và coi đó là một động cơ cho niềm tin trong hoạt động rao giảng Tin Mừng.

Đọc lại câu chuyện hai tông đồ, có lẽ chúng ta mỉm cười. Nhưng trong cuộc đời Kitô hữu, nhiều khi chúng ta cũng chỉ nhằm lợi ích, địa vị cho ḿnh, chúng ta nghĩ tới một bảo đảm cho cuộc sống hiện tại và mai sau. Đáng lẽ chúng ta phải đặt Chúa làm trung tâm đời sống, chúng ta muốn thực thi ḷng tôn sùng, muốn dâng lời cảm tạ ngợi khen và phó thác tin tưởng vào Chúa. C̣n tương lai của ta hoàn toàn do Chúa xếp định. Đó mới là tâm t́nh của người con thảo sống bên Cha hiền.

Lời thỉnh cầu của Giacôbê và Gioan đă làm các tông đồ khác khó chịu, v́ tất cả các ông đều cùng tâm trạng như nhau, dù chưa dám xin Chúa. Cho tới lúc đó chưa ai hiểu được tư tưởng của Chúa. Chúa đă nói về cuộc khổ nạn của Người tới ba lần (Mc 10, 32-34) với những lời lẽ rơ rệt: Con Người sẽ bị bắt nộp, sẽ bị xử tử, bị chế giễu, ngừơi ta khạc nhổ vào mặt, đánh đ̣n và giết chết… Trong lúc Chúa Giêsu tự chọn chỗ rốt hết, th́ các môn đệ lại mơ màng danh vọng, lại nghĩ tới địa vị cao sang. Một lần nữa Chúa nói lại chủ trương của Chúa trong tổ chức Người. Khác hẳn mọi tổ chức trần gian, ở đây người nào muốn lănh đạo phải là tôi tớ, ai muốn đứng đầu phải trở thành nô lệ cho mọi người. “V́ Con Người không đến để cho người ta hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn dân”. Đó là căn bản Hiến pháp của Giáo hội Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết noi gương Chúa, không màng tới địa vị cho ḿnh, nhưng luôn dấn thân phục vụ anh em, như Chúa đă đến phục vụ và hy sinh cả mạng sống làm giá cứu chuộc chúng con.

 

RA LỆNH VÀ TRUYỀN LỆNH

Gm. Arthur Tonne

Francis Joseph, hoàng đế nước Áo và vua nước Hung gari từ 1848 đến 1916, một triều đại dài nhất trong lịch sử, cũng là triều đại tiến bộ nhất. Francis Joseph là người nghiêm khắc nhưng ông trị v́ rất khoan dung. Khởi đầu triều đại ông, bệnh dịch tả lan tràn khắp Châu Âu. Người ta xin Francis rời Vienna để lánh nạn sang Salzburg cho tới khi tai nạn qua đi.

Hoàng đế hỏi: “ở Salzbugr có đủ pḥng cho các con ta không?” Quan cố vấn trả lời: “Chắc chắn, tâu Ḥang Thượng, có nhiều pḥng cho tất cả Hoàng Gia”.

“Có thực sự đủ pḥng cho các con ta?” chỉ tay qua cửa sổ lâu đài, về phía đám đông dưới, Hoàng đế nhắc lại “Hăy nh́n đám dân này. Chúng là con của ta. Cha của chúng bỏ mặc chúng trong nguy hiểm sao? Không, những người thành Viena yêu quí luôn chia sẻ vui buồn với ta. Ta sẽ không bỏ họ trong ǵơ lo âu”.

Chúng ta vừa nghe: Hai môn đệ Đức Kitô. Yacôbê và Yoan muốn được địa vị vinh dự và uy quyền trong Nước Chúa, Chúa Giêsu nhắc họ rằng: “Những người cai trị thế gian th́ sai khiến con dân ḿnh. Nhưng đó không phải là đường lối của Nước Chúa. Trong Nước Chúa ai có quyền bính phải là đầy tớ của người dưới quyền ḿnh”. Francis Joseph là một tấm gương về điều ấy.

Ngày nay, người ta tranh luận nhiều về quyền bính và tự do. Một chân lư nền tảng cho cuộc tranh luận này là: Trong mọi xă hội, loài người đều phải có người nắm quyền bính, một người có quyền và có bổn phận ra lệnh, một người có quyết định tối hậu. Bạn không thể có một quốc gia không người thủ lĩnh. Bạn không thể có một đội banh không huấn luyện viên, một chiếc tàu không có thuyền trưởng, một quân đội không tướng, một bộ lạc không tù trưởng, một xí nghiệp không giám đốc. Mỗi tập thể loài người đều phải có “ông Bầu” hoặc chỉ định hoặc bầu lên.

Chúa Giêsu biết cần phải có quyền bính. Người chỉ than phiền là nhiều người lạm quyền, lạm dụng quyền bính. Người ta ích kỷ, bất công, có khi c̣n tàn bạo nữa. Trong Nước Chúa Kitô, người lănh đạo phải là đầy tớ của mọi người.

Bây giờ chúng ta t́m câu trả lời cho vấn đề quyền bính và tự do. Người chỉ huy phải dự tính và hành động v́ lợi ích của tập thế. Cùng lúc người dưới phải được tự do góp ư, có khi c̣n phải phê b́nh nữa. Tóm lại, mọi người phải hành động theo quyết  định của người có trách nhiệm với đoàn thể. Cũng vậy trong một thể chế dân chủ, người lănh đạo được bầu lên có bổn phận phải quyết  định.

Đây cũng là đường lối trong đơn vị xă hội nhỏ bé nhất và quan trọng nhất: gia đ́nh . Nhiều gia đ́nh  bàn luận về mọi vấn đề và quyết định như một tập thể. Rất nhiều gia đ́nh không có ai chịu trách nhiệm tối hậu. Đó cũng là t́nh trạng của nhiều tổ chức như trường học và xứ đạo. Do đó chúng ta thường thấy: đáng lư những người phải vâng lời lại ra lệnh cho người có trách nhiệm.

Việc phượng tự chung của gia đ́nh Chúa là một điển h́nh tập thể nghĩ tưởng và hành động với nhau. Thánh lễ có thể dạy chúng ta ra lệnh thế nào và tuân lệnh làm sao.

Xin Chúa chúc lành bạn.

 

QUYỀN BÍNH PHỤC VỤ THA NHÂN

Lm. Gérard Bessière và Hyacinthe Vulliez

 

Ai muốn làm đầu anh em th́ phải làm đầy tớ mọi người

Nếu phải trích dẫn một trong những câu nói có ư nghĩa mới mẻ nhất của Đức Giêsu, một trong những lời in dấu ấn sâu đậm nhất vào tâm thức nhân loại, một trong những lời có khả năng thay đổi thế giới, một trong những lời mà Kitô hữu có thể tự hào là độc đáo nhất của đạo ḿnh, tôi không ngần ngại trích lời Chúa nói với các tông đồ trong bài Tin Mừng hôm nay về cách sử dụng quyền bính: "Anh em đừng sử dụng quyền bính như những người được coi là thủ lĩnh các dân tộc áp đặt quyền bá chủ trên người bị trị...".

Ít khi có lời nào lại có tính cách mạng cao hơn. Chưa bao giờ lại có những lời lẽ đ̣i hỏi khe khắt hơn đối với quyền bính nói chung và mọi loại quyền hành nói riêng.

Được coi là bá quyền, những kẻ cầm quyền mà coi những người "dưới quyền" như những người nô lệ để mặc t́nh ức hiếp. Là bá quyền, những kẻ lạm dụng thần quyền áp đặt những cấm kỵ vào tự do và lương tâm đồng loại. Là bá quyền, những kẻ tưởng ḿnh nắm vững chân lư, nên đă vi phạm tự do của đồng loại. Là bá quyền, những kẻ ra vẻ cúc cung tận tuỵ, một hai xưng ḿnh là đầy tớ dân đen, nhưng lại tế nhị lợi dụng quyền hành để thủ lợi riêng. Họ quả quyết rằng ḿnh phục vụ hạnh phúc đồng bào, nhưng lại "bắt người ta gọi ḿnh ân nhân" (Lc 22,25).

Cám dỗ về quyền bính có lẽ là cơn cám dỗ nặng nề nhất của Chúa. Dân đen muốn tôn Chúa làm vua để tiếp tục cung cấp bánh ḿ và chữa bệnh cho họ. Bạn hữu thân tín của Chúa th́ tranh giành nhau địa vị, chiếu trên chiếu dưới khi Chúa được vinh quang. Cả Satan, tên thần dữ mưu mô cũng xảo quyệt đề nghị tặng Ngài quyền bính của tất cả các đế quốc thiên hạ. Chúa đă từ chối dứt khoát. Và chính v́ từ chối, Ngài trở thành nạn nhân của các nhà cầm quyền chính trị và tôn giáo đương thời, liên minh ma quỷ với nhau để hại Ngài. Mà cũng phải thôi, v́ Chúa quyết liệt phê phán lối hành sử quyền hành của chúng. Cuối cùng th́ Ngài đă đổ máu ra để kư vào sứ điệp Ngài gởi cho môn đệ, cho loài người: "Đừng sử dụng quyền hành như những kẻ bá quyền, hăy là người phục vụ, như Con Người đến để phục vụ và dâng hiến mạng sống ḿnh làm giá chuộc muôn người".