CHÚA NHỰT XXIII

CHỦ ĐỀ :

CHÚA CỨU CHỮA
NHỮNG KHUYẾT TẬT CỦA CHÚNG TA

 

"Ngài đặt ngón tay vào lỗ tai anh"
(Mc 7,33)

Minh họa

- Mille images 105 D

- "Ngài đặt ngón tay vào lỗ tai anh" (Mc 7,33)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I (Is 35,4-7a) : Ngôn sứ Isaia tiên báo rằng Đấng Messia sẽ làm cho người điếc được nghe, người quẻ được đi và người câm nói được.

- Tin Mừng (Mc 7,31-37) : Đức Giêsu cứu chữa một người vừa điếc vừa ngọng.

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

Anh chị em thân mến

Bài Tin Mừng hôm nay kể chuyện Đức Giêsu cứu chữa một người vừa điếc vừa ngọng. Về mặt thiêng liêng, chúng ta cũng điếc và ngọng, vì tai chúng ta chưa biết lắng nghe Lời Chúa cho đủ và miệng lưỡi chúng ta chưa biết ca tụng Chúa cho xứng. Chúng ta hãy tha thiết xin Chúa cứu chữa chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Người công giáo Việt Nam chúng ta quen đọc kinh nhưng chưa quen đọc và suy gẫm Lời Chúa.

- Trong khi cầu nguyện, chúng ta thường xin Chúa ban ơn, nhưng ít khi biết ca tụng Chúa.

- Trong bài đọc II hôm nay, Thánh Giacôbê chỉ trích những kitô hữu coi trọng người giàu và khinh rẽ người nghèo. Phải chăng lời công kích ấy cũng đúng cho chúng ta ?

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 35,4-7a)

Chương 35 sách Isaia là những lời an ủi dân do thái đang sống kiếp lưu đày khổ sở. Bằng những hình ảnh rất cụ thể, Isaia mô tả ơn giải thoát Chúa sẽ ban cho họ : người điếc nghe được, người què đi được, người câm nói được. Dĩ nhiên đây chỉ là những hình ảnh được mượn để nói đến những ơn cao trọng hơn : điếc, què và câm là tình trạng khốn khổ của con người bị tước mất những khả năng tự nhiên ; nghe, đi và nói là tình trạng được ơn Chúa phục hồi.

Điều Isaia tiên báo sẽ được Đức Giêsu thực hiện.

2. Đáp ca (Tv 145)

Thánh vịnh này mang cùng nội dung với bài đọc I, nghĩa là nói về ơn giải thoát của Thiên Chúa. Nhưng tác giả Thánh vịnh xử dụng những hình ảnh khác hơn : xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải phóng người tù tội, mở mắt kẻ mù lòa v.v.

3. Tin Mừng (Mc 7,31-37)

Phép lạ này có nhiều ý nghĩa biểu tượng :

- Diễn ra "giữa miền Thập Tỉnh", nghĩa là miền đất lương dân.

- Nạn nhân là một người câm và điếc, tức là một người mất khả năng tương giao với kẻ khác : người ta nói thì anh không nghe, anh muốn nói cho người ta nghe cũng không được.

- Lúc chữa bệnh, Đức Giêsu nói Epphata (Hãy mở ra), tiếng này ngày nay được phụng vụ dùng lại trong bí tích Rửa tội. Khi đọc câu đó, Linh mục cũng đưa tay sờ vào miệng và tai người thụ tẩy.

4. Bài đọc II (Gc 2,1-5) (Chủ đề phụ)

Thánh Giacôbê khuyên tín hữu đừng đối xử thiên vị coi trọng người giàu và coi khinh người nghèo. Ngài còn lưu ý rằng Thiên Chúa ưu ái người nghèo.

IV. GỢI Ý GIẢNG

* 1. Ơn ban nghe được và nói được

Nghe và nói là khả năng rất quan trọng của con người.

- Ai không nghe được hoặc nghe không rõ thì thường trở thành trò cười cho người khác, bởi vì không hiểu đúng ý người nói cho nên trả lời hoặc phản ứng thường sai lệch. Bởi vậy những người khiếm thính thường rút lui vào sự im lặng và cô đơn.

- Nói là khả năng giúp con người giao tiếp và là phương tiện chủ yếu được dùng trong giao tiếp. Người kém khả năng này cũng dễ thành trò cười cho thiên hạ.

Cho nên nghe được và nói được là hai ơn rất lớn Chúa ban cho con người.

Việc Đức Giêsu chữa cho một người câm điếc hôm nay không chỉ có ý nghĩa với người đó, mà cũng có ý nghĩa đối với chúng ta. Có ý nghĩa không phải vì chúng ta câm điếc, mà vì chúng ta được Chúa ban cho hai khả năng quý báu đó. Tuy nhiên nhận được hai ơn ban ấy không hẳn là chúng ta biết xử dụng đúng hai ơn ban ấy. Trong chúng ta, nhiều người có đôi tai tốt nhưng không biết lắng nghe, nhiều người có miệng lưỡi tốt nhưng không biết nói những điều đáng nói. Cho nên cả chúng ta ta nữa cũng cần được Đức Giêsu chữa trị.

Nghe được mọi chuyện nhưng lại không nghe được Lời Chúa thì cũng như điếc. Nói đủ thứ chuyện nhưng không biết tuyên xưng lòng nhân lành của Chúa thì cũng kể như câm.

2. Mê tín trong đạo

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kể chuyện Đức Giêsu làm phép lạ cứu chữa cho một người khỏi tật câm và điếc. Có một vài chi tiết trong câu chuyện này đáng chúng ta lưu ý, đó là :

. Khi chữa trị cho người này, CG đã đưa anh ta ra khỏi đám đông và kín đáo làm phép lạ chữa trị cho anh.

. Và sau khi anh ta đã khỏi bệnh rồi, CG còn cấm anh không được nói lại điều đó với ai khác.

Tại sao CG cư xử như vậy ? Thưa vì CG không muốn đám đông ồn ào biết đến phép lạ này. Nếu biết, họ sẽ ồn ào đổ xô theo Chúa, nhưng theo như vậy không phải vì tin cho bằng vì óc hiếu kỳ, vì muốn được lợi lộc.

Con người ta rất dễ bị kích động vì những chuyện lạ thường. Khi nghe nói chỗ nào có Đức Mẹ hiện ra thì người ta ùn ùn kéo đến. Nhưng thử hỏi, những người đổ xô đi tới những nơi nghe đồn có chuyện lạ thường ấy, họ đi đến đó vì động lực nào thúc đẩy ? Chắc không phải vì lòng đạo đức chân thật, không phải vì đức tin chân chính, cho bằng vì óc hiếu kỳ muốn thấy chuyện lạ, và vì óc vụ lợi muốn được khỏi bệnh... Một hành động không vì niềm tin chân chính mà vì óc hiếu kỳ và tính vụ lợi rất dễ đưa tới mê tín dị đoan. Mà mê tín dị đoan thì làm lu mờ đức tin chân chính, làm méo mó sai lệch bộ mặt của đạo giáo.

Rất may là trong đạo Công giáo chúng ta tương đối ít có những chuyện mê tín dị đoan. Đó là nhờ chúng ta có giáo lý vững chắc, có luật cấm mê tín dị đoan và thường được Giáo hội thường xuyên chỉ dạy nhắc nhở. Tuy nhiên, tương đối ít hơn nơi các đạo khác thôi, chứ không phải là hoàn toàn không có. Thỉnh thoảng vẫn có những người công giáo đi coi bói, đi xin bùa... Những người ấy đã làm những việc mê tín dị đoan đó trong những hoàn cảnh nào ? Thường là :

. Khi có người thân bị bệnh nặng : chữa trị bằng thuốc men không thấy hết, người ta quay sang các thầy bùa thầy ngãi.

. Hay khi trong nhà bị mất tiền, mất vàng, mất đồ đạc. Người ta sốt ruột, đi coi thầy bói để mong biết được kẻ cắp mà lấy của lại.

. Hoặc khi gặp một cơn hoạn nạn, người ta lo sợ muốn qua khỏi nên chạy đến cần cứu với thần thánh này nọ, người ta cúng, người ta khấn vái...

Một bà kia xưa nay vẫn giữ đạo rất tốt. Nhưng rồi bà mắc một chứng bệnh kỳ lạ, chữa chạy nhiều cách không khỏi. Có người nói rằng chắc là bà ta bị thư bị ếm gì đó, cần phải nhờ thầy bùa giải dùm. Gia đình rất băn khoăn, tới hỏi ý kiến của các Cha. Các Cha khuyên rằng đây chính là dịp để mình chứng tỏ đức tin của mình vào Chúa. Các Cha nhắc nhở về ý nghĩa của đau khổ, về sự phó thác trong tay Chúa v.v... Nhưng người thân của bà ấy chỉ im lặng, rồi buồn bả ra về, đưa bà ta đến thầy bùa. Rốt cuộc bà ta cũng chết thôi. Gia đình vừa buồn vì mất một người thân, mà lại thêm mặc cảm là mình đã phạm tội không tin tưởng trọn vẹn vào Chúa. Một người giữ đạo tốt bấy lâu nay, thế mà trong cơn hoạn nạn cũng không đứng vững trong đức tin, để còn chạy theo những giải pháp mê tin dị đoan như vậy, chứng tỏ cái cám dỗ mê tín dị đoan nó mạnh đến chừng nào !

Vậy, để chúng ta có thêm sức chống lại cái cám dỗ đó, hôm nay chúng ta hãy suy nghĩ một vài điểm :

. Thứ nhất : hãy tưởng tượng mình là Chúa đi. Rồi có một giáo dân này đó đến cầu xin với ta một ơn gì đó. Ta chưa ban ơn thì người đó đã chạy đi cầu xin với một ông thần khác, cầu xin với ma quỷ, với thầy bói thầy bùa. Thì ta nghĩ làm sao ? Đương nhiên là Chúa phải nghĩ rằng người này không tin Chúa, hay có tin chỉ cũng không tin bằng tin các thầy bói thầy bùa. Nếu tôi là Chúa thì chẳng bao giờ tôi ban ơn cho một kẻ đến cầu xin với tôi mà không tin tôi như vậy. Hãy bỏ mọi thứ mê tín dị đoan đó đi, hãy dứt khoát với các thầy bùa thầy ngãi đi rồi đến cầu xin với Chúa thì mới mong được Chúa ban ơn. Đừng bắt cá hai tay, rốt cuộc tay nào cũng không bắt được cá. Chúa đã từng nói : "Không ai có thể làm tôi hai chủ" mà.

. Điểm thứ hai : chúng ta cũng phải nhận thức rằng tuy trong lúc bệnh tật, gian nan chúng ta lo âu thật, nhưng bệnh tật, gian nan, đau khổ là chuyện dĩ nhiên và đương nhiên phải có trong cuộc sống ở thế gian này. Chỉ khi nào ở thiên đàng thì mới hết những thứ đó, còn bao lâu còn ở thế gian thì phải gặp những thứ ấy. Có thể nói chính Chúa để cho cuộc sống ở thế gian có những thứ ấy. Để làm chi ? Để nhắc chúng ta biết rằng thế gian chỉ là tạm bợ, là bất toàn ; thiên đàng mới là quê hương vĩnh viễn, là nơi hạnh phúc hoàn toàn. Cho nên mặc dù chúng ta phải cố gắng hết sức để thoát khỏi đau khổ, thoát khỏi bệnh tật, thoát khỏi tai ương... Nhưng phải ý thức rằng sẽ không thoát khỏi hoàn toàn được đâu, vì mình vẫn còn sống ở thế gian. Phải có đức tin để ý thức được điều đó. Một Linh mục kia đã khuyên một người đau khổ như sau : "Khi chúng ta đến than thở với Chúa về một Thánh Giá ta đang gánh vác. thì cách đáp ứng tốt nhất của Chúa không phải là cất thánh giá đó đi, nhưng là ban thêm sức cho ta có thể vác nổi thánh giá đó".

Qua bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta thấy rằng Đức Giêsu không dửng dưng trước những đau khổ của loài người, vì thế Chúa thường làm phép lạ để cứu chữa loài người khỏi những đau khổ. Nhưng trong lần này, Chúa đã làm phép lạ xa khỏi cặp mắt của đám đông, làm phép lạ xong còn cấm người ta không được kể lại phép lạ đó. Ấy là vì Chúa không muốn những phép lạ làm cho người ta sai lạc về đức tin. Chúa muốn người ta theo Chúa vì tin thật chứ không phải vì được hưởng những chuyện lạ thường, Chúa không muốn người ta theo Chúa vì mê tín dị đoan hay vì hiếu kỳ hoặc vì lợi lộc vật chất.

Xin Chúa cho chúng con theo Chúa vì thực sự tin Chúa. Xin cho đức tin chúng con được vững mạnh, nhất là trong những lúc đau khổ, gian nan.

3. Lưỡi và tai

Báo Tuổi Trẻ có đăng bài xã luận về "Cái lưỡi và cái tai" như sau :

Một hôm trong lúc đang ngồi uống trà và hàn thuyên tâm sự với nhau, tự nhiên tôi thấy ông Hai Hưu Trí có vẻ tư lự và phát biểu như sau :

- Người đời thường hay đổ thừa mọi điều xằng bậy là do tội của "cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo". Nhưng tôi nghĩ nếu chỉ có cái lưỡi thì cũng chẳng có vấn đề ! Anh cứ ngẫm lại mà coi, nếu chỉ có mấy cái lưỡi lươn lẹo, xu nịnh thường hay múa may với nhau thì bất quá cũng chỉ làm điếc tai hàng xóm láng giềng mà thôi. Cái lưỡi chỉ có thể làm nên những chuyện tày trời nếu nó được hỗ trợ của những "cái tai" không biết phân biệt tốt xấu, thật giả của mấy ông : "Nhà báo nói láo ăn tiền".

Nhưng họ lại quên không chê mấy ông cấp trên quan liêu chỉ khoái được nghe những bài báo cáo thành tích khi chưa kiểm tra thực hư ! Nếu chỉ chuyên có cái lưỡi thì chắc sẽ không thể "vẽ vời" để biến một công ty đang từ tình trạng làm ăn thua lỗ, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho nhà nước, bỗng dưng trở thành một công ty đang trên đà phát triển và làm ăn khấm khá. Nếu có những cái tai thực sự ngay chính thì những lời đường mật như vậy làm sao có khả năng gây ra biết bao thiệt hại được.

Nghe ông Hai Hưu Trí triết lý một hồi như vậy, tôi liền thêm vào :

- Hôm nay Bác Hai nói thật là chí lý thậm phải !

Ông Hai Hưu Trí bèn cười lên một tiếng lớn rồi ôn tồn nói :

- Nè nhá, cũng bởi cái tai của chú mày chỉ khoái nghe những chuyện xốc hông xiên xỏ, nên cái lưỡi của lão già rách việc này mới có cơ hội múa may như từ nãy đến giờ, phải không chú em ?

*

Lưỡi và tai là hai cơ quan truyền thông của con người. Kẻ "câm và điếc" hoàn toàn bị tước đoạt hai phương tiện cần thiết này. Lưỡi họ như bị một sợi dây vô hình trói buộc, tai họ dường như có một cánh cửa khóa chặt. Họ không hiểu được ai và cũng chẳng ai hiểu được họ. Có thể nói, họ bị tách khỏi thế giới bên ngoài. Hôm nay, Đức Giêsu chữa cho một người câm điếc. Người phán : "Ép-pha-ta" nghĩa là "Hãy mở ra " lập tức tai anh mở ra, lưỡi anh như hết bị trói buộc (x. Mc.6,34-35).

Chẳng ai muốn mình bị điếc, nhưng trong thực tế không thiếu người mắc bệnh này. Chúng ta bị điếc khi để mình mất khả năng lắng nghe kẻ khác. Chúng ta bị điếc khi chúng ta nghe người khác nhưng lại cố hiểu theo ý mình. Chúng ta bị điếc khi lắng nghe mà không nhận thức được đúng sai, hay dở. Vậy điều quan trọng không nằm ở nơi người nói, mà ở chỗ người nghe suy nghĩ và quyết định ra sao. Nắm được tâm lý của con người nên hãng bảo hiểm Prudential mới chọn khẩu hiệu : "Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu".

Vì thế, chỉ nghe bằng tai thôi không đủ, mà phải lắng nghe với cả trái tim. Chỉ có trái tim yêu thương, chân thành và quảng đại mới có thể hiểu đầy đủ, hiểu chính xác những thông điệp mà người nói muốn truyền đạt. Hơn nữa, không phải thông tin nào cũng nên nghe. Cần phải chọn lựa những thông tin bổ ích hữu dụng ; không gây phương hại, vẫn đục cho tâm hồn.

Cha Mark Link có viết : "Chúng ta không thể luôn tin vào những gì nghe bằng đôi tai, nhưng luôn có thể tin vào những gì thấy bằng con tim của mình".

*

Lạy Chúa, xin phá đổ bức tường thành kiến trong tâm trí chúng con, để chúng con lắng nghe được tiếng gọi thổn thức của anh em, và tiếng thúc giục của Lời Chúa.

Xin cho chúng con đừng câm điếc trước lời mời gọi của Chúa và tha nhân. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

4. Đừng đánh giá con người theo vẻ bề ngoài

Những chuyện dưới đây có thể dùng để minh họa lời khuyên của Thánh Giacôbê trong bài đọc II hôm nay :

a/ Hôm đó, một đệ tử của một vị thiền sư đi dự một buổi lễ trở về, mặt mày hớn hở. Khi được hỏi tại sao hớn hở như vậy, người đệ tử ấy cho biết là mọi người đều khen anh mặc áo đẹp. Vị thiền sư ôn tồn chỉ dạy : "Con chẳng có gì để vui mừng hớn hở cả, vì người ta khen chiếc áo đẹp chứ đâu phải khen con đẹp".

b/ Một ông nhà giàu mở tiệc khoản đãi tất cả những người láng giềng. Cạnh nhà ông có một người rất nghèo. Vì nễ tình hàng xóm nên người này cũng đến dự. Tuy nhiên người này nghèo nên chiếc áo anh mặc rất là tầm thường. Khi tới cổng, anh bị các đầy tớ của người nhà giàu không cho vào. Tức quá, anh mượn một chiếc áo rất đẹp của một người nhà giàu khác và lại đến. Lần này, anh được mời vào tử tế. Rủi thay, đang lúc lấy thức ăn thì một cánh tay áo rơi vào dĩa thức ăn. Lý do là chiếc áo đặc biệt này có hai cánh tay loại tháo ráp được. Người nhà nghèo chưa quen mặc nên đã không cẩn thận cài nút ở chỗ ráp nối. Những đầy tớ thấy vậy bảo anh nhà nghèo mau lượm cánh tay áo lại. Nhưng anh nhà nghèo thản nhiên nhìn cánh tay áo và nói : "Mày nằm trong dĩa thức ăn thì cứ tha hô mà ăn cho thoả thích đi nhé, vì người ta kính trọng mày chứ đâu phải kính trọng tao".

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, thời Đức Giêsu người ta đem các thứ bệnh nhân đến để xin Chúa chữa lành, chúng ta cũng hãy đến với Chúa với tất cả mọi lo âu và bệnh tật hồn xác, và dâng lên Chúa lời nguyện sau đây :

1. Hội thánh ngày nay đang sống giữa đa số những người nghèo khổ bệnh tật cả xác hồn / Xin cho mọi người trong Hội thánh trở nên bạn của những người nghèo khổ bệnh tật / và sẵn sàng chia vui sẻ buồn với họ.

2. Đa số các nước trên thế giới còn sống trong tình trạng kém phát triển, chậm tiến, đói khổ và bệnh tật / Xin cho các nhà lãnh đạo các nước kém phát triển biết thật tình quan tâm hơn đến đa số dân còn nghèo đói và chậm tiến.

3. Chung quanh chúng ta còn nhiều người bệnh tật cả phần xác lẫn phần hồn / mà không có ai đem họ đến với Chúa / Xin cho họ sớm gặp được người an ủi giúp đỡ và dẫn họ đến với Chúa.

4. Trong họ đạo chúng ta còn nhiều người mắc bệnh câm điếc thiêng liêng sợ hôn câm điếc thể xác / Xin cho họ được chữa lành để nghe tin Chúa và ca tụng cảm tạ.

Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, Chúa luôn quan tâm sẵn sàng giúp đỡ mọi người đang gặp cảnh khốn khó, xin Chúa chấp nhận những y nguyện chúng con vừa dâng lên, để mọi người nhận biết quyền năng Chúa, và dâng lời cảm tạ tôn vinh. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Khi chúng ta đọc "Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ", chúng ta hãy xin Chúa thương đến những người nghèo nàn, bệnh hoạn, tật nguyền…

- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, đặc biệt là những chứng mù, què, câm, điếc về mặt thiêng liêng, khiến chúng con không nhìn thấy Chúa, không hăng hái đi theo Chúa, không ca tụng Chúa và không lắng nghe tiếng Chúa…"

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em hãy ghi nhớ một câu Tin Mừng hôm nay : khi Đức Giêsu chữa cho người vừa điếc vừa ngọng, Ngài nói : "Epphata", nghĩa là hãy mở ra. Sống trong tuần này, chúng ta hãy cố gắng mở lòng, mở tai và mở rộng bàn tay để vừa đón nhận tình yêu của Chúa vừa đón tiếp anh chị em chúng ta.

 ------------------------------------

CN23TN-B- Lm Ng Kham

HÃY MỞ RA

"Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và Người câm nói được"

Có nhiều khi tôi tự hỏi: Nếu một ngày nào đó tự nhiên mình bị câm và điếc lúc ấy cuộc đời mình sẽ ra sao? Tôi lại nghĩ: Lúc ấy chắc sẽ buồn, sẽ thất vọng lắm.

Kinh Thánh Kitô Giáo của mình trình bày con người của mình là một sinh vật được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chúa Giêsu không phải là một Thiên Chúa đơn độc, cô đơn. Nhưng mà là một Thiên Chúa Ba Ngôi, là một cộng đồng hiệp thông trong yêu thương. Chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa. Mình phải làm thế nào để cuộc sống của mình sẽ vươn tới chỗ hiệp thông, hiệp thông với nhau, hiệp thông với cả vũ trụ. Đến lúc ấy cuộc sống chúng ta sẽ phong phú lắm.

Để tiến tới sự hiệp thông chúng ta phải dùng ngôn ngữ để chia sẻ với nhau. Nhờ lời nói chúng ta có thể diễn tả được suy tư, cảm xúc tâm tư trong lòng. Đồng thời chúng ta có thể nghe được tâm sự của người khác. Từ đó nó sẽ hình thành một cuộc đối thoại, kiến tạo một sự hiệp thông giữa hai người và làm cuộc sống của chúng ta phong phú hơn.

Như vậy, nếu chúng ta không thấy, không nghe, rõ ràng chúng ta sẽ bị cắt đứt khỏi thế giới bình thường của con người. Vì thế trong các trường khuyết tật bây giờ người ta cố gắng giúp cho các em tập nghe và tập nói, để các em có thể hội nhập vào thế giới bình thường của con người. Biết được nỗi đau của những người câm điếc ta sẽ thấy quý cái tai và cái miệng của mình. Lúc ấy chúng ta sẽ nhận được đấy chính là ân huệ và là một quà tặng lớn lao Thiên Chúa ban cho ta mà ta không biết tạ ơn.

Chúng ta có miệng và tai tốt lắm. Nhưng có khi nào chúng ta nghĩ mình bị câm điếc theo nghĩa toàn diện không? Chúa Giêsu đã có lần mắng các tông đồ: "Các anh có mắt mà như mù, có tai mà như điếc". Thực sự vậy, nếu chúng ta quay lại định nghĩa của Kitô Giáo về mục đích của con người là sự hiệp thông. Và ngôn ngữ là phương thế để dẫn chúng ta đến sự hiệp thông. Lúc ấy chúng ta sẽ khám phá ra rằng: Rất nhiều khi tai và miệng thay vì dẫn đến sự hiệp thông thì nó lại ngăn cản và có thể sẽ huỷ diệt sự hiệp thông. Chúng ta trở thành câm điếc theo nghĩa đó.

Một hôm, đọc sách báo tình cờ tôi có đọc được một câu chuyện kể về một người phụ nữ đã có chồng 5 con. Chị được đưa vào bệnh viện để giải phẩu mắt. Suốt ngày đêm chị than thân trách phận. Chị sợ hãi, lo âu đủ chuyện. Chị chả hề quan tâm đến ai, kể cả những bệnh nhân nằm chung phòng. Tuần sau có một phụ nữ khác nhập viện nằm gần chị. Người phụ nữ mới vào ngày nào cũng thăm hỏi an ủi khuyến khích nâng đỡ chị suốt mấy tuần lễ như vậy. Một hôm, sau khi chồng và các con đến thăm chị, người phụ nữ mới vào sau nói với chị "Này Chị ơi! Chị phải biết là chị may mắn và hạnh phúc nhiều lắm, vì có biết bao nhiêu người quan tâm và chăm sóc chị". Câu ấy làm cho chị suy nghĩ và phải nhận đúng như vậy. Biết bao nhiêu người quan tâm đến chị mà chị chả biết quan tâm đến ai, ngay cả những người trong gia đình. Chị nhận ra người bạn nằm cùng với mình chả có ai thăm nuôi. Vậy mà chị ta không hề than vãn một lời lại còn động viên an ủi mình. Chị cảm thấy hối hận định sáng hôm sau sẽ an ủi xin lỗi chị ấy. Nhưng đã muộn. Chị ấy đã được Chúa gọi. Vài hôm, sau khi tháo băng chị đọc được lá thư người bạn gởi cho mình. Nội dung bức thư:

"Bạn thân mến, cảm ơn bạn về những ngày rất đặc biệt này. Tôi cảm nhận niềm hạnh phúc trong tình bạn của chúng ta. Tôi biết rằng bạn cũng chăm sóc cho tôi dù bạn không nhìn thấy tôi. Đôi khi để lôi kéo sự chú ý của chúng ta Thiên Chúa đã đánh gục chúng ta, hay ít ra Chúa làm cho ta mù loà, với hơi thở cuối cùng này tôi cầu xin Chúa cho chị đựơc nhìn thấy trở lại. Nhưng không phải thấy như chị thường thấy. Nếu biết tập nhìn bằng con tim, cuộc đời của chị sẽ phong phú hơn."

Chúng ta có đôi tai rất thính, đôi mắt rất sáng, miệng rất đẹp. Vấn đề ở đây là chúng ta không nhìn bằng cặp mắt bình thường, nghe và nói bình thường. Nhưng phải nói và nghe bằng con tim.

Chúng ta câm điếc khi chúng ta không nghe được những nỗi niềm ray rứt của người khác. Câm điếc khi chúng ta dửng dưng trước những đau khổ của những người bệnh hoạn, tật nguyền, trẻ thơ bơ vơ.

Chúng ta câm điếc khi chúng ta không nghe Chúa Giêsu nói lời sự thật, nói lời yêu thương, nói lời hoà giải. Có khi trong một ngày chúng ta nói biết bao là lời hằn học, hận thù, độc ác, gây đau khổ, gây oán thù, gây chia rẽ. Muốn tránh đựơc những câm điếc này chúng ta phải cầu nguyện: "Lạy Chúa xin cho con được nói, xin cho con được nghe. Xin Chúa hãy phán một lời hãy mở ra ".

Không phải chúng ta chỉ nghe nói một mình. Chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ và bước xa hơn nữa. Chúa Giêsu đã chữa lành cho người câm điếc và Ngài mời gọi chúng ta thi hành tác vụ chữa lành cho những người câm điếc. Chúng ta không thể chữa được như Chúa. Nhưng chúng ta có thể trở nên đôi tai cho người điếc, trở nên cái miệng cho người câm.

Ở bên Mỹ, muốn đoạt được giải thưởng nổi tiếng thì tác phẩm của mình phải làm tác động đến trái tim người đọc và có thể vượt qua mọi biên giới của các quốc gia. Có một nhà văn cũng là một nhà báo mơ ước như vậy. Nhưng một ngày kia, tình cờ ông ta đến một nhà dưỡng lão, gặp một cụ già ngồi ghế đá. Ông cụ kể về gia đình, con cái của cụ. Ông có nhiều con nhưng chúng đi xa hết, đứa con gái út ở tận bên Đức, ít khi liên lạc được bằng điện thoại. Tay ông bị liệt nên không viết thư được cho con, nghe vậy ông nhà báo liền lấy giấy viết ra viết dùm ông cụ một lá thư. Viết xong anh cầm tay cho ông cụ ký tên. Và hai hàng nước mắt của cụ lăn trên má. Ông cụ cảm thấy hạnh phúc vô cùng, anh nhà báo trở về nhà và hai hàng nứơc mắt cũng tuôn chảy. Anh cảm thấy ngày hôm ấy anh đã đoạt được giải thưởng rồi. Anh chỉ viết một lá thư thôi. Nhưng những dòng chữ ấy đã chạm đến trái tim con người, anh đã cho cụ mượn đôi tay, mượn cái miệng để diễn tả nỗi lòng của ông cụ đối với đứa con gái thân yêu và xa cách nghìn trùng.

Trong cuộc sống hàng ngày có biết bao nhiêu công việc, biết bao dịp để chúng ta có thể giúp đỡ người khác. Chúng ta phải biết làm tác vụ chữa lành câm điếc của Chúa Giêsu, chúng ta cho người không biết nói mượn miệng lưỡi của chúng ta, cho người khác nghe đựơc lời sự thật, lời an ủi, lời khuyến khích.

Hôm nay tôi chỉ mời anh chị em chiêm ngắm hình ảnh của người câm điếc để từ lòng chúng ta thốt lên một lời tạ ơn về quà tặng và ân huệ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đồng thời chúng ta ý thức được chính mình cũng ở trong tình trạng câm điếc theo nghĩa toàn diện để xin Chúa chữa lành. Xin Thiên Chúa đưa chúng ta vào trong tác vụ chữa lành mà Chúa đã sống suốt cuộc đời của Ngài.

Tôi xin anh chị em hãy nhớ lại một cử chỉ rất quen thuộc mà mỗi lần tham dự thánh lễ chúng ta đều thực hiện. Đây là lúc nghe đọc Tin Mừng chúng ta đọc: "Lạy Chúa vinh danh Chúa" và ta làm dấu thánh giá trên trán, trên môi, trên ngực. Đấy chính là dấu chỉ bề ngoài để nói lên ý nghĩa bên trong. Hãy mở ra: ý muốn nói: Lạy Chúa xin hãy mở trí khôn con, xin mở miệng con, xin mở trái tim con, để con được hiểu, để con cảm nhận, để con có thể nói lời của Chúa. Một cử chỉ rất quen thuộc và vì quá quen nên chúng ta xem thường. Ước gì mỗi lần làm dấu thánh giá chúng ta ý thức được: Phải mở trí, mở lòng, mở miệng ra để chúng ta thoát khỏi cảnh câm điếc.

Lạy Chúa, xin hãy dùng con theo ý Chúa, làm chân tay cho những người què cụt, làm đôi mắt cho những ai phải đui mù, làm lỗ tai cho những người bị điếc, làm miệng lữơi cho những người không nói được, làm tiếng kêu cho những người bị bất công. Lạy Chúa xin cứ gởi con ra đồng lúa để đem cơm cho những người đói đang chờ, đem nước cho những người bị khát, đem thuốc thang cho những người đau ốm, đem áo quần cho những người trần trụi, đem mềm đắp cho người rét đang run. Lạy Chúa, xin cứ gửi con ra đường thắp đèn soi cho ai bước trong đêm, đốt lửa ấm cho những ai giá lạnh. Truyền cảm thông cho lữ khách đơn côi, nâng đỡ dậy cho những kẻ bị chà đạp, đem tự do cho những kiếp đoạ đày.Amen


---------------------

Bài giảng của ÐTC Beneđitô XVI trong thánh lễ Chúa Nhật mùng 10 tháng 9 năm 2006 tại thành phố Munich, thủ phủ của Bang Baviera.

Có thể nói có hai biến cố chính, trong ngày Chúa Nhật mùng 10 tháng 9 năm 2006, là Thánh Lễ cho dân chúng tại Tân Quảng Trường Hội Chợ vào ban sáng, từ lúc 10 giờ đến 12 giờ trưa, và Buổi đọc Kinh Chiều, gặp gỡ các Em Rước Lễ lần đầu, trong Nhà Thờ Chính Toà Munich, vào ban chiều. Thánh Lễ của Ðức Thánh Cha vào sáng Chúa Nhật đã có hơn 200,000 tín hữu hiện diện. Bài giảng của ÐTC trong Thánh Lễ thật nhiều ý nghĩa, nên chúng tôi kính mời quý vị theo dõi bản dịch việt ngữ nguyên văn bài giảng này, như sau:

Anh chị em thân mến,

Trước hết, tôi chân thành chào thăm anh chị em: tôi vui mừng vì có thể gặp lại anh chị em và cử hành Thánh Lễ với anh chị em. Tôi vui mừng vì có thể một lần nữa viếng thăm những nơi quen thuộc, đã có ảnh hưởng quyết định trên đời sống tôi, những nơi đã đào luyện tư tưởng và tâm tình của tôi, những nơi mà trong đó tôi đã học Tin Chúa và học sống. Ðây là dịp để cám ơn tất cả mọi người - còn sống và đã qua đời - đã hướng dẫn và đồng hành với tôi. Tôi cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi một quê hương đẹp như thế này và vì những người đã và còn đang làm cho Ðất Nước này thật sự là quê hương.

Chúng ta vừa nghe qua ba bài đọc Kinh Thánh mà phụng vụ Chúa Nhật đã chọn cho Chúa Nhật hôm nay. Cả ba bài đọc khai triển hai chủ đề, mà thật ra chỉ là một chủ đề duy nhất, nhưng nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác, tuỳ theo viễn ảnh. Cả ba bài đọc đều nói về Thiên Chúa như là trung tâm của thực tại và như là trung tâm của đời sống cá nhân chúng ta. Tiên tri Isaia thốt lên: "Ðây là Thiên Chúa của các người! (Is 35, 4).

Thư của thánh Giacôbê và đoạn phúc âm nói lên cùng một điều, theo cách thức riêng của mỗi bài đọc. Hai bài đọc này muốn hướng dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa, vừa hướng dẫn ta đi trên con đường ngay chính. Tuy nhiên, có chủ đề xã hội được gắn với chủ đề "Thiên Chúa": đó là trách nhiệm hỗ tương chúng ta, đó là trách nhiệm chúng ta phải thực hiện ưu thế của công bằng và tình thương trong thế giới. Ðiều này được biểu lộ trong bài đọc thứ hai, trong đó Thánh Giacôbê, một người có họ hàng gần với Chúa Giêsu, ngỏ lời với chúng ta. Thánh nhân ngỏ lời với một cộng đoàn, trong đó con người bắt đầu có thái độ sống tự kiêu, bởi vì trong cộng đoàn có những con người giàu có và có địa vị, nhưng là cộng đoàn có nguy cơ thiếu đi mối quan tâm đối với quyền lợi của người nghèo. Trong những lời của mình, Thánh Giacôbê hé mở cho ta nhìn thấy dung mạo của Chúa Giêsu, dung mạo của Một Vị Thiên Chúa nhập thể làm người, và, cho dù thuộc dòng tộc vua Ðavid, nghĩa là dòng tộc vương giả, Chúa Giêsu trở thành con người đơn hèn trong số những kẻ đơn sơ chất phát; Chúa không ngồi trên ngai, nhưng cuối cùng chịu chết trong sự khó nghèo tột cùng trên thập giá. Tình yêu thương đối với người lân cận, một tình thương trước hết như là mối quan tâm đối với công bằng, là viên đá nền tảng cho đức tin và cho tình thương đối với Thiên Chúa. Thánh Giacôbê gọi đó là "luật vương giả" (x. Giac 2,8); cách nói gợi ý cho chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu thường dùng: tính cách vương quyền của Thiên Chúa, sự thống trị của Thiên Chúa. Ðiều này không chỉ bất cứ vương quốc nào đến vào lúc này hay lúc khác, nhưng chỉ rằng Thiên Chúa phải trở nên sức mạnh quyết định cho đời sống chúng ta và cho hành động chúng ta. Ðó là điều chúng ta xin, khi cầu nguyện: "Nước Cha trị đến". Chúng ta không xin bất cứ sự gì xa lạ, mà có lẽ chúng ta không muốn cảm nghiệm. Trái lại, chúng ta cầu nguyện cho Thánh Ý Thiên Chúa trong giây phút này định đoạt cho ý muốn chúng ta, và như thế Thiên Chúa ngự trị trong thế gian; như thế, chúng ta cầu nguyện sao cho công bằng và tình thương trở thành sức mạnh quyết định trong trật tự trần gian. Một lời cầu nguyện như vậy chắc chắn hướng trước tiên về Thiên Chúa, nhưng đánh động chính con tim chúng ta. Nhưng thử hỏi chúng ta thật sự có muốn như vặy hay không? Chúng ta có đang định hướng đời sống chúng ta theo hướng này không? Thánh Giacôbê gọi "luật vương giả", luật cho vương quyền của Thiên Chúa, và cũng gọi đây là "luật của tự do" như sau: nếu tất cả suy tưởng và sống theo Thiên Chúa, thì bấy giờ tất cả chúng ta trở thành bằng nhau, chúng ta sẽ trở thành tự do và như thế phát sinh nhân loại đích thật. Tiên tri Isaia, trong bài đọc thứ I, khi nói về Thiên Chúa, thì đồng thời cũng nói về sự cứu rỗi cho những kẻ khổ đau; và thánh Giacôbê, khi nói về trật tự xã hội như là biểu lộ không thể chối bỏ được của đức tin chúng ta, thì cũng nói đến Thiên Chúa, mà chúng ta là những con cái của Ngài.

Giờ đây, chúng ta chú ý đến đoạn Phúc âm, kể lại việc Chúa Giêsu chữa lành một người câm điếc. Ở đây chúng ta cũng gặp lại một lần nữa hai khía cạnh của cùng một thực tại duy nhất. Chúa Giêsu tận tuỵ hiến thân cho kẻ khổ đau, cho những ai bị loại ra ngoài lề xã hội. Chúa chữa lành cho họ và, qua việc mở ra cho họ khả thể sống và quyết định, Chúa đưa họ vào trong sự bình đẳng và trong tình huynh đệ. Ðiều này có liên hệ đến tất cả chúng ta: Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta biết được định hướng của hành động chúng ta. Trọn cả câu chuyện tuy nhiên còn trình bày một chiều kích sâu xa hơn mà các giáo phụ đã đưa ra ánh sáng một cách rõ ràng và là chiều kích liên hệ cách riêng đến chúng ta ngày nay. Các giáo phụ nói về đề tài con người và nói cho con người của thời đại các ngài. Nhưng điều mà các ngài nói, cũng có liên hệ một cách mới mẻ cả với chúng ta, những con người thời hiện đại. Không những có sự điếc tai của thân thể?#224;m cho con người gần như hoàn toàn bị tách ra khỏi sinh họat xã hội. Còn có một sự giảm yếu trong sự lắng nghe đối với Thiên Chúa, mà chúng ta đang gặp phải, nhất là trong thời đại chúng ta. Chúng ta không thể cảm thấy Thiên Chúa được nữa; có quá nhiều làn sóng khác nhau chiếm cứ đôi tai chúng ta. Ðiều được nói về Thiên Chúa, xem ra như là điều "tiền khoa học" đối với chúng ta, xem ra như không còn thích hợp với thời đại chúng ta nữa. Với sự giảm yếu sự lắng nghe, hoặc nói cách khác, với sự điếc tai tinh thần đối với Thiên Chúa, thì cũng bị mất đi khả năng chúng ta nói cùng với Ngài hoặc nói với Ngài. Như thế, chúng ta bị thiếu đi một nhận thức quyết định. Những giác quan nội tâm chúng ta gặp nguy hiểm bị mai một đi. Với sự thiếu mất sự nhận thức này, thì tầm mức của tương quan chúng ta với thực tại cũng bị bao vây một cách mãnh liệt và đầy nguy hiểm. Chân trời của đời sống chúng ta bị thu hẹp một cách đáng ngại.

Phúc âm kể lại rằng Chúa Giêsu đưa ngón tay chạm đến lỗ tai của người câm điếc, và thấm một chút nước miếng của Ngài trên lưỡi của người bệnh và nói: Effata - Hãy mở ra! Tác giả phúc âm đã giữ lại cho chúng nguyên ngữ tiếng aramaica mà Chúa Giêsu đã nói, và như thế đưa chúng ta trực tiếp vào trong giây phút đó. Ðiều mà được kể lại trong phúc âm, là điều duy nhất, tuy nhiên không thuộc về quá khứ xa xôi: Chúa Giêsu thực hiện cũng một điều như vậy một cách mới mẻ và làm lại điều đó nhiều lần cả trong thời đại hôm nay. Trong bí tích Rửa Tội, Chúa Giêsu đã hoàn tất trên chúng ta cử chỉ chạm đến này, và đã nói với chúng ta: Effata, hãy mở ra! Ðể làm cho chúng ta có khả năng cảm nghiệm được Thiên Chúa và như thế để cho chúng ta có lại khả thể nói chuyện với Thiên Chúa. Nhưng biến cố này, --- biến cố Bí Tích Rửa Tội --- không có gì là ảo thuật. Bí tích Rửa tội mở ra một con đường. Bí Tích đưa chúng ta vào trong cộng đoàn của những kẻ có khả năng lắng nghe và nói, đưa chúng ta vào trong sự hiệp thông với chính Chúa Giêsu, Ðấng duy nhất đã nhìn thấy Thiên Chúa Cha và sau đó đã có thể nói về Ngài (x. Gn 1,18): qua đức tin, Chúa Giêsu muốn chia sẻ với chúng ta việc Người nhìn thấy Thiên Chúa, việc Người lắng nghe Thiên Chúa và nói chuyện với Thiên Chúa. Con đường của kẻ lãnh nhận bí tích rửa tội, phải là một diễn tiến của sự phát triển từ từ, trong đó chúng ta lớn lên trong cuộc sống hiệp thông với Thiên Chúa, và như thế đạt được một cái nhìn mới khác về con người và về tạo vật.

Phúc âm mời gọi chúng ta hãy ý thức rằng trong chúng ta có bị thiếu hụt về khả năng nhận thấy --- một sự thiếu mà lúc đầu chúng ta không lưu ý được như vậy ---, bởi vì phần còn lại được xử dụng bởi sự khẩn thiết và hợp lý của nó; bởi vì từ bên ngoài xem ra như tất cả đều tiến hành một cách bình thường, cả khi chúng ta không còn đôi tai lắng nghe và đôi mắt nhìn thấy Thiên Chúa nữa và chúng ta sống không có Ngài. Nhưng thử hỏi có phải tất cả đều diễn ra cách đơn thuần, khi Thiên Chúa bị thiếu đi trong đời sống chúng ta và trong thế giới chúng ta hay không? Trước khi đặt thêm những câu hỏi nữa, tôi muốn kể lại đây một chút về kinh nghiệm tôi đã trải qua trong những lần gặp gỡ với các giám mục trên khắp thế giới. Giáo Hội Công Giáo tại Ðức là thật cao cả trong những hoạt động xã hội của mình, trong sự sẵn sàng trợ giúp cho bất cứ đâu xem ra cần thiết. Luôn luôn xảy ra, trong những lần về viếng Mộ Thánh Tông Ðồ, các Giám Mục, và mới đây đến từ Phi Châu, đã thuật lại cho tôi với tâm tình biết ơn, về sự quảng đại của người công giáo Ðức và xin Tôi thay thế các ngài nói lên lòng biết ơn đó với giáo hội Ðức. Cả các giám mục miền Baltic, mới đến Roma viếng mộ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, đã nói với tôi về việc như thể nào những người công giáo Ðức đã trợ giúp cho các ngài thật nhiều trong việc xây dựng lại những ngôi nhà thờ bị xuống cấp trầm trọng, vì những thập niên cai trị của cộng sản. Nhiều lần các vị Giám Mục Phi Châu, nói như sau: "Nếu tôi trình những dự án xã hội cho bên Ðức, thì tôi gặp được liền ngay những cánh cửa mở sẵn để trợ giúp. Nhưng nếu tôi đến xin với dự án rao giảng phúc âm, thì tôi gặp phải thái độ dè dặt. Dĩ nhiên xuất hiện rõ ràng, trong vài người, ý tưởng cho rằng những dự án xã hội cần được cổ võ cách khẩn thiết nhất, trong khi mà những điều thuộc về Thiên Chúa, hay đức tin công giáo, lại bị xem như là những việc riêng và có tầm quan trọng nhỏ hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm của những vị giám mục này nói lên rằng việc rao giảng phúc âm phải có ưu tiên hơn, rằng Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô phải được nhìn nhận, phải được tin tưởng và yêu mến, phải làm cho các tâm hồn ăn năn trở lại, ngõ hầu những công việc xã hội có thể tiến bộ, ngõ hầu được mở ra sự hoà giải, ngõ hầu --- chẳng hạn --- bệnh AIDS có thể được diệt trừ, bằng cách giải quyết thật sự những nguyên nhân sâu xa của căn bệnh và bằng việc chăm sóc người bệnh với chú tâm phải có và với tình thương. Công việc xã hội và phúc âm không thể tách rời ra khỏi nhau. Nơi nào chúng ta mang đến cho con người chỉ những sự hiểu biết, tài khéo chuyên môn, khả năng kỹ thuật, và các phương tiện, thì quả thật ở đó chúng ta mang đến quá ít. Lúc đó sẽ mau phát sinh những thể thức bạo lực; và lúc đó khả năng tàn phá và giết chết sẽ trở thành phương thế thường được dùng đê堣hiếm đọat quyền hành --- một quyền hành đáng lý ra cách này hay cách khác phải mang đến quyền lợi, nhưng lại không bao giờ còn có khả năng làm như đáng phải làm như vậy nữa. Như thế, người ta càng ngày càng đi xa khỏi sự hoà giải, xa khỏi sự dấn thân chung cho công bằng và tình thương. Những tiêu chuẩn, mà theo đó kỹ thuật phải phục vụ cho quyền lợi và tình thương, (những tiêu chuẩn này) bị mất đi; nhưng chính từ những tiêu chuẩn này mà tất cả tuỳ thuộc vào; những tiêu chuẩn không phải chỉ là những lý thuyết mà thôi, nhưng còn soi sáng tâm hồn, và như thế đặt lý trí và hành động trên con đường đoan chính. Những dân tộc Phi Châu và Á Châu khâm phục những áp dụng kỹ thuật và khâm phục khoa học nơi chúng ta, nhưng đồng thời lo sợ trước lối lý luận hoàn toàn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cái nhìn của con người vừa cho rằng hình thức chóp đỉnh của lối lý luận này phải áp đặt trên văn hoá của họ. Ðiều hăm dọa thật sự đối với căn cước của họ, không phải là đức tin kitô, nhưng là sự khinh thị Thiên Chúa và thái độ có ác ý xem việc nhạo báng điều thiêng thánh như là một quyền của sự tự do và việc xem cái lợi như là tiêu chuẩn luân lý tối cao cho những thành công tương lai của công cuộc nghiên cứu.

Các bạn thân mến, thái độ có ác ý nói trên không phải là thái độ bao dung và cởi mở văn hoá mà các dân tộc đang chờ đợi, và cũng không phải là thái độ mà tất cả chúng ta đây mong muốn. Sự bao dung mà tất cả chúng ta đang cần đến, gồm có việc kính sợ Thiên Chúa, việc tôn trọng điều gì là thánh thiêng đối với kẻ khác. Sự tôn trọng đối với điều mà kẻ khác cho là thiêng thánh, đòi hỏi chính chúng ta biết học lại cho có lòng tôn sợ Thiên Chúa. Ý nghĩa này của sự tôn trọng có thể phát sinh lại trong thế giới tây phương, chỉ khi nào đức tin vào Thiên Chúa lớn lên lại, chỉ khi nào Thiên Chúa được hiện diện lại nhờ qua chúng ta và trong chúng ta.

Ðức tin này, chúng ta không đem áp đặt cho bất cứ ai. Một lối chiêu dụ tín đồ như thế là điều nghịch lại với kitô giáo. Ðức tin chỉ được phát triển trong sự tự do. Chúng ta kêu gọi sự tự do của con người hãy biết mở rộng tâm hồn đón nhận Thiên Chúa, đi tìm Ngài và lắng nghe ngài. Quy tụ nơi đây, chúng ta hết lòng cầu xin Chúa hãy phán lại lần nữa lời "Effata! Hãy mở ra! Ðể chữa lành sự giảm yếu khả năng lắng nghe Thiên Chúa, giảm yếu khả năng nhìn thấy công việc của Ngài, giảm yếu khả năng lắng nghe Lời Ngài; xin Ngài làm cho chúng ta có khả năng nhìn thấy và lắng nghe. Chúng ta khẩn xin Chúa giúp chúng ta gặp lại lời của sự cầu nguyện, lời mà phụng vụ mời gọi chúng ta, lời mà công thức thiết yếu đã được trao ban cho chúng ta trong Kinh Lạy Cha.

Thế giới đang cần đến Thiên Chúa. Chúng ta đang cần đến Thiên Chúa. Nhưng thử hỏi Thiên Chúa nào đây? Trong bài đọc thứ nhất tiên tri ngỏ lời với một dân tộc đang bị áp bức và nói: Việc trả thù của Thiên Chúa sẽ đến (Is 35,4). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy người dân tưởng tượng ra việc trả thù đó phải như thế nào. Nhưng chính tiên tri nói ra sau đó về sự trả thù của Thiên Chúa là như thế nào: nó hệ tại nơi lòng tốt lành có sức chữa lành của Thiên Chúa. Giải thích cuối cùng của lời tiên tri, chúng ta gặp thấy được trong Ðấng đã chết trên thập giá: trong Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể. Sự trả thù của Thiên Chúa là Thập Giá, là thưa không đối với bạo lực, là tình yêu thương không cùng. Ðây là Thiên Chúa chúng ta cần. Chúng ta đừng thiếu sót trong việc tôn trọng những tôn giáo và văn hoá khác, đừng thiếu sót trong việc tôn trọng sâu xa đối với Niềm Tin của họ, nếu chúng ta tuyên xưng lớn tiếng và rõ ràng vị Thiên Chúa chống lại bạo lực bằng chính sự đau khổ của mình, rằng trước sự dữ và quyền lực của sự dữ, Thiên Chúa đưa ra, như là giới hạn và như là sự thắng vượt, lòng nhân từ của ngài. Chúng ta khẩn cầu Ngài, xin Ngài hiện diện giữa chúng ta và giúp chúng ta trở thành những chứng nhân đáng tin của Ngài. Amen.

Sau thánh lễ, trước khi xướng kinh Truyền Tin Trưa Chúa Nhật và ban phép lành cho dân chúng, ÐTC vắn tắt nhắc lại mẫu gương của Mẹ Maria, người nữ của sự lắng nghe, đối với Thiên Chúa và con người.

Thánh Lễ bắt đầu lúc 10 giờ sáng. Nhưng từ 4 giờ sáng các tín hữu đã kéo đến, để có chỗ gần khán đài cao và có hình lục giác.

LM. Đặng Thế Dũng