CHÚA NHỰT XXII

CHỦ ĐỀ :

LỀ LUẬT VÀ TẤM L̉NG

 

"Cái ǵ từ trong con người xuất ra
mới là cái làm cho người ta ô uế"
(Mc 7,15)

Minh họa

- Mille images 129 A

- "Cái ǵ từ trong con người xuất ra mới là cái làm cho người ta ô uế" (Mc 7,15)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I (Đnl 4,1-2.6-8) : Môsê khuyên dân do thái hăy đem lề luật đă học ra thực hành.

- Tin Mừng (Mc 7,1-8a.14-15.21-23) : Đức Giêsu trách những người biệt phái và kinh sư chỉ lo giữ những khoản luật quy định về sự trong sách bề ngoài mà không lo giữ tâm hồn cho trong sạch.

- Bài đọc II (Gc 1,17-18.21b-22.27) : Đối với Lời Chúa, đừng nghe suông mà hăy thực hành.

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

Anh chị em thân mến

Ngày xưa Đức Giêsu đă dùng lời ngôn sứ Isaia để trách dân do thái rằng : "Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, c̣n ḷng chúng th́ lại xa Ta". Phải chăng chúng ta cũng đáng bị trách như thế ? Mỗi ngày Chúa nhật, chúng ta đến đây đọc kinh và rước lễ. Nhưng đó chỉ mới là bằng môi bằng miệng thôi. Tôn kính Chúa bằng một tấm ḷng chân thành c̣n đ̣i buộc chúng ta phải lắng nghe Lời Chúa, kết hợp với Ḿnh Thánh Chúa và sống theo ư Chúa nữa. Chúng ta hăy dâng Thánh lễ này với cả tấm ḷng chân thành yêu kính như vậy.

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Nhiều lần chúng ta dự thánh lễ nhưng ḷng trí không ở với Chúa.

- Chúng ta nghe Lời Chúa rất nhiều nhưng chẳng thực hành bao nhiêu.

- Chúng ta cố gắng giữ luật v́ sợ phạm tội chứ không v́ ḷng yêu mến Chúa.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Đnl 4,1-2.6-8)

Dân do thái rất hănh diện v́ có Thiên Chúa làm Chúa của họ và v́ được Thiên Chúa ban Luật cho họ : "Có dân tộc vĩ đại nào được Thần minh ở gần như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người ? Có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh như tất cả Lề luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em ?"

Nhưng Ông Môsê lưu ư : (1) Không được thêm cũng không được bớt ǵ vào những Lề luật của Chúa ; (2) Phải đem những lề luật đó ra thực hành.

2. Đáp ca (Tv 14)

Thánh vịnh này ca tụng những người luôn cố gắng sống công chính theo chỉ dẫn của lề luật.

3. Tin Mừng (Mc 7,1-8a.14-15.21-23)

Đức Giêsu và nhóm biệt phái cùng kinh sư tranh luận với nhau về vấn đề sạch dơ.

- Họ bám sát mặt chữ những quy định của luật lệ về sự phân biệt cái ǵ sạch cái ǵ dơ và về những đ̣i buộc phải rửa tay chân chén dĩa...

- Đức Giêsu nói đó chỉ mới là sạch dơ bề ngoài, không quan trọng bằng sạch dơ trong tâm hồn.

- Ngài nhận xét đạo đức của họ chỉ là đạo đức giả : "Dân này kính Ta bằng môi miệng, c̣n ḷng chúng th́ lại xa Ta".

- Ngài c̣n kết án họ lấy tập tục của loài người để thay thế lệnh truyền của Thiên Chúa. Ngài lấy tục lệ Corban ra làm thí dụ điển h́nh : Corban là của dâng cúng cho Thiên Chúa. Mặc dù Xh 20,12 buộc con cái phải phụng dưỡng cha mẹ. Nhưng để khuyến khích người ta đóng góp cho Đền thờ, biệt phái và kinh sư đă dạy rằng nếu ai khấn hứa đem những ǵ phải giúp cha mẹ để dâng cho Đền thờ th́ không c̣n phải giúp cha mẹ nữa. Quả thật đây là một cách bóp méo luật Chúa.

4. Bài đọc II (Gc 1,17-18.21b-22.27)

Thánh Giacôbê bảo rằng được đón nhận Lời Chúa quả là một ân huệ to lớn. Nhưng Ngài khuyên tín hữu "đừng nghe suông mà phải đem ra thực hành". Cụ thể là hăy "thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân và giữ ḿnh cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian".

IV. GỢI Ư GIẢNG

* 1. Chớ giả h́nh

Năm 587, trước khi Chúa ra đời, thủ đô Giêrusalem bị thất thủ, nước Do Thái sụp đổ, người Do thái bị bắt đi đày bên nước Babylon. Sống bên xứ lạ quê người, đền thờ không c̣n, tế tự không c̣n, niềm tin của người Do thái yếu kém đi. Hơn nữa sống giữa người ngoại, nhiều người Do thái đă dần dà bỏ đạo Chúa và theo các bụt thần. Trước hoàn cảnh đó, các luật sĩ Do thái đă hết sức cứu văn niềm tin của dân ḿnh bằng cách đặt ra những luật lệ nhằm bảo vệ đức tin cho tinh tuyền. V́ thế, có những khoản luật cấm tiếp xúc với kẻ tội lội, với những ǵ gọi là ô uế xấu xa.

Thế nhưng sau khi lưu đày trở về, các luật sĩ đă đi quá trớn, đưa ra những khoản luật rất là tỉ mỉ. Thí dụ :

. Một người đàn ông bị đi lính th́ bị coi là ô uế. Tất cả mùng mền chiếu gối của họ đều bị coi là dơ. Ai đụng tới cũng bị dơ và phải giặt quần áo của ḿnh, và cho dù đă tắm giặt như vậy vẫn c̣n bị coi là dơ cho đến chiều tối. Xe họ ngồi cũng bị coi là dơ, phải rửa cho sạch.

. Đàn bà tới kỳ xuất huyết th́ bị coi là ô uế suốt 7 ngày. Ai đụng tới họ cũng bị lây ô uế, có tắm giặt cũng c̣n ô uế tới chiều.

. Nếu kẻ bị coi là ô uế hay lây ô uế khi tắm giặt cũng phải theo những luật tỉ mỉ : lấy nước th́ lấy bằng b́nh đồng, b́nh sành hay b́nh gỗ chứ không được dùng bằng thứ b́nh nào khác. Đụng tới một người ô uế th́ phải rửa từ khuỷu tay trở xuống, và phải rửa 2 lần : 1 lần v́ tay bẩn, lần thứ hai để tẩy đợt nước thứ nhất đă bị bẩn khi dính vào tay bẩn của ḿnh.

. Trước khi ăn th́ phải rửa tay cho khỏi những ô uế mà có thể v́ vô t́nh ḿnh đă chạm phải. Người ta kể rằng có 1 luật sĩ tên là Aqiba đă thà chết khát trong tù c̣n hơn vi phạm luật này : trong tù nước rất ít, nhưng ông cũng dùng để rửa tay trước khi ăn dù rửa xong th́ không c̣n nước để uống.

Đi tới chỗ quá trớn đó th́ trở thành thói vụ h́nh thức. Và nếu chỉ coi trọng h́nh thức mà quên phần nội tâm th́ trở thành chứng giả h́nh. Vụ h́nh thức và giả h́nh, đó là 2 điều mà Đức Giêsu cực lực công kích trong bài Tin mừng hôm nay.

Nhưng dù sao giữ h́nh thức cũng dễ hơn giữ nội tâm, cho nên những người cho nên không riêng ǵ người Do thái thời xưa, mà cả chúng ta ngày nay cũng dễ mắc thói vụ h́nh thức và giả h́nh.

. Thiếu ǵ người thích làm đám cưới linh đ́nh, lễ cưới có nhiều cha đồng tế nhưng chẳng lo phần giáo lư cho đôi tân hôn bao nhiêu.

. Thiếu ǵ người cha mẹ già c̣n sống th́ bỏ bê, nói nặng nói nhẹ. Chỉ khi cha mẹ nằm xuống mới lo làm tang lễ um sùm, than khóc bù lu bù loa..

. Thiếu ǵ người không khuyến khích con cái đi học giáo lư, nhưng tới ngày Rước lễ, Thêm Sức th́ tới xin xỏ, làm áp lực cho con ḿnh cũng có mặt trong ngày lễ trọng đại ấy.

. Và thiếu ǵ người hết sức sùng kính ảnh thánh này, tượng thánh nọ, mà khi đối xử với người khác th́ chẳng thấy có chút ǵ giống tinh thần bác ái vị tha của các vị thánh đó.

Với những kẻ giả h́nh thời trước cũng như thời nay, Lời Đức Giêsu trách sứ vẫn luôn luôn nghiêm nhặt : "Hỡi bọn giả h́nh, Isaia đă nói thật chí lư về các ngươi rằng : dân này kính ta bằng môi miệng, c̣n ḷng nó th́ ở cách xa ta, v́ nói sùng kính ta cách giả dối".

Nhưng thực ra, chúng ta không muốn giả h́nh mà chỉ v́ có bề ngoài th́ dễ hơn có bề trong. Bề ngoài và bề trong đều quan trọng, nhưng bề trong quan trọng hơn. Giữ đạo mà không thật ḷng mến Chúa yêu người th́ vô ích, bởi v́ công phúc không phải từ bên ngoài mà tự trong ḷng mà ra, không phải do đọc kinh dự lễ mà có nhưng do tâm t́nh sốt sắng khi đọc kinh dự lễ.

* 2. Bàn về luật lệ

Năm 336 trước Chúa Giáng Sinh, nước Hy Lạp nổi lên một vị anh hùng, đó là Alexandre đại đế. Mới có 20 tuổi, ông đă chứng tỏ tài thao lược của ḿnh khi nổi lên bẻ găy ách đô hộ của đế quốc Ba Tư lúc đó đang đè nặng trên nước Hy Lạp. Chẳng những thế, ông c̣n quật ngược lại t́nh h́nh, biến Ba Tư trở thành một nước chư hầu và đưa Hy Lạp lên ngôi bá chủ. Ông đánh đâu thắng đó, trăm trận trăm thắng, xâm chiếm nhiều nước khác, đế quốc Hy lạp trải rộng cho tới Ấn Độ,. Nước Do thái bé nhỏ cũng rơi vào ṿng thống trị của đế quốc Hy Lạp. Loé mắt trước nền văn minh Hy Lạp, nhiều người Do Thái đua nhau học đ̣i kiểu sống Hy Lạp : nói tiếng Hy Lạp, mặc theo kiểu Hy lạp, ăn uống theo kiểu Hy Lạp và thờ các thần Hy Lạp. Mặt khác các quan thái thú Hy Lạp dùng sức mạnh để buộc người Do thái bỏ đạo Chúa để thờ đạo Hy Lạp, họ bắt đầu ăn thịt heo và đốt nhang trước các tượng thần. Ai không làm theo th́ bị xử tử. Văn hóa dân tộc và đức tin vào Chúa có nguy cơ bị huỷ diệt. V́ thế, những nhà lănh đạo tinh thần của dân đă hết sức cố gắng giữ ǵn truyền thống tốt đẹp của dân. Họ đặt ra những khoản luật buộc dân giữ ḿnh khỏi bị lây nhiễm nọc độc của ngoại bang, trong đó có những luật về ăn uống, về cách giữ các lễ nghi. Từ đó dấy lên một phong trào đề cao lề luật.

Nhưng phong trào này càng ngày càng đi tới chỗ quá trớn. Tới thời CG th́ luật lệ đă quá sức tỉ mỉ, nhất là luật về sạch dơ : đi đâu về trước khi vào nhà cũng đều phải rửa tay rửa chân, trước khi ăn uống cũng phải rửa tay chân, và những chén dĩa ly tách dùng để ăn uống cũng phải rửa nhiều lần trong ngày. Điều đáng ta chú ư là những luật này không phải để giữ vệ sinh hay bảo vệ sức khoẻ, mà chỉ để giữ nghi thức thôi, cho nên dù không dơ nhưng cũng phải tắm rửa, ai không làm vậy th́ bị coi là người tội lỗi, bị người khác chỉ trích và kết án nặng nề.

Như một lần kia, các môn đệ CG đă ăn mà không rửa tay trước. Lập tức họ bị những luật sĩ và biệt phái chỉ trích. Nhân dịp đó CG đă lên tiếng vừa để bênh vực môn đệ ḿnh, vừa để nói lên quan điểm của Chúa về vấn đề lề luật cách chung và cách riêng về vấn đề sạch dơ. Đại khái CG cho rằng luật lệ chỉ là h́nh thức để diễn tả tấm ḷng. Tấm ḷng mới quan trọng, c̣n h́nh thức không quan trọng. Bởi v́ dơ hay sạch là do tự tấm ḷng bên trong. Nếu ḷng dạ dơ dấy xấu xa th́ cho dù h́nh thức bên ngoài có đẹp đẽ mấy th́ cũng chỉ là vô ích, là giả h́nh.

Đức Giêsu đă nói rất đúng. Luật lệ giống như cái khuôn khổ, giống như những bức tường, những hàng rào, như sợi dây cương để lèo lái con ngựa chỉ được chạy một hướng, như chiếc đường rày không cho chiếc xe lửa chạy lệch hướng. Thành ra luật lệ có tính cách g̣ bó, ép buộc. C̣n tấm ḷng th́ dự do và thoải mái, cũng giống như t́nh cảm người ta th́ không có hàng rào, không có bánh lái. Dĩ nhiên luật lệ cũng cần thiết và hữu ích để ǵn giữ không cho tấm ḷng đi lệch lạc. Nhưng coi luật trọng hơn tấm ḷng, dùng luật lệ để bóp chết tấm ḷng, hoặc chỉ chú ư đến luật lệ mà bỏ hẳn tấm ḷng th́ quả là một sai lầm to lớn.

Sai lầm đó, các luật sĩ và biệt phái thời CG đă phạm. Và ngày nay nhiều người vẫn phạm. Thí dụ như mới đây thôi tôi gặp một người rất lâu không thấy đi xưng tội, hỏi tại sao th́ người ấy đáp : "Có chứ con xưng tội một năm một lần, đúng luật mà"

Khi đă có tấm ḷng th́ có thể chẳng cần lề luật. Cũng như cha mẹ đối với con cái. T́nh thương của cha mẹ lúc nào cũng bao la lai láng, v́ thế cha mẹ đă lo cho con ăn, lo cho con mặc, chăm sóc con cái mọi chuyện.... chỉ do sự thúc đẩy của t́nh thương chứ không do một luật lệ nào bắt buộc. Đứa con nào biết thương cha mẹ thực ḷng th́ cũng tận tuỵ phụng dưỡng cha mẹ như vậy. Nhưng có một số gia đ́nh mà con cái không c̣n tấm ḷng với cha mẹ nên khi cha mẹ già yếu phải đề ra những quy luật giao cho đứa này phải lo gạo, đứa kia lo tiền chợ, đứa khác lo tiền điện nước trong nhà. Khi đă không có t́nh nghĩa th́ người ta phải xài tới luật lệ. Nhưng mà luật lệ cũng không bảo đảm làm cho t́nh nghĩa sống lại, chúng chỉ là một mớ h́nh thức lỏng lẽo, héo khô. Như gia đ́nh mà tôi đang nói, các đứa con tuy giữ đúng quy định phân chia trách nhiệm như thế, nhưng khi cha mẹ đau yếu, cha mẹ cần tiền để đi dự một đám cưới, cha mẹ có khách tới ở nhà... th́ không đứa nào chịu bỏ tiền ra đưa cho cha mẹ, bởi v́ những khoản đó không có kể trong quy luật gia đ́nh. Những đứa con ấy giữ luật rất đúng nhưng đâu phải là những đứa con hiếu thảo.

Nếu chúng ta là những tín hữu đă tuân giữ luật Chúa và luật Giáo Hội một cách chu đáo th́ chúng ta cũng không được tự măn cho rằng ḿnh đă làm đầy đủ tất cả. Bởi v́ có thể chỉ là đầy đủ về h́nh thức thôi, chứ chưa hẳn là đầy đủ t́nh nghĩa yêu mến kính thờ Chúa. Chúng ta cũng nên áp dụng nhận thức trên vào một việc cụ thể là việc đọc kinh và dự lễ.

. Luật dạy chúng ta đọc kinh sáng tối mỗi ngày : đọc những kinh ǵ, và đọc lúc nào, đó là h́nh thức. Người chỉ để ư tới h́nh thức th́ đọc thật nhanh, đọc cho có cho rồi. Ngày nào có cớ để không đọc th́ chộp ngay lấy cớ đó để bỏ. Nhưng ta phải biết tinh thần của luật ấy là ǵ ? Đó là muốn chúng ta tỏ ḷng kính mến Chúa mỗi ngày vào khoảng khắc đầu tiên và cuối cùng trong ngày. Ai có tinh thần đó th́ không nhất thiết là phải đọc những kinh ǵ, đọc bao lâu. Mỗi ngày khi vừa thức dậy và khi sắp đi ngủ họ nâng tâm hồn lên tới Chúa, có thể họ đọc kinh mà có khi cũng không đọc kinh, chỉ nói với Chúa đôi lời, những lời đơn sơ, thực t́nh nhưng rất hiếu thảo.

. Luật buộc đi lễ Ngày Chúa Nhật : Đi lễ cũng chỉ là h́nh thức. C̣n tinh thần chính là dành ra một ngày trong tuần để đặc biệt cho Chúa, lo việc thờ phượng Chúa. Người nào đi lễ mà chỉ đứng ở ngoài nhà thờ, hay đến th́ trễ mà về th́ sớm th́ đúng là người chỉ chú ư đến h́nh thức. Kẻ coi trọng tinh thần ngày Chúa Nhật nếu v́ một cản trở nào đó mà không đến nhà thờ được th́ cũng biết cách để thánh hóa ngày Chúa Nhật, như cầu nguyện riêng ở nhà, như làm một vài việc lành dâng lên Chúa trong ngày đó.

Xin Chúa giúp chúng ta kính mến Chúa thực sự trong ḷng chứ không phải chỉ bằng những h́nh thức giữ lề luật bên ngoài, để chúng ta không bị Chúa trách như đă trách các biệt phái và luật sĩ ngày xưa "Dân này kính ta ngoài môi miệng, mà ḷng nó ở cách xa ta".

* 3. Đức Kitô và KARMELIUK

Có một cuốn phim truyền h́nh mang tên Karmeliuk,, kể chuyện một vị anh hùng dân tộc Nga : khi ấy nước Nga c̣n sống trong chế độ nông nô, một số ít phú nông địa chủ chiếm hầu hết đất đai, c̣n đa số dân chúng không có đất, th́ phải đi làm nô lệ cho các phú nông địa chủ trên, đời sống của họ hết sức cơ cực, họ bị bóc lột, đàn áp dă man. Lúc bấy giờ có một chàng thanh niên có tâm huyết tên là Karmeliuk. Chàng cũng là một nông nô, nhưng không chịu nỗi cảnh đàn áp, bất công đó nên đă trốn vào bưng biền để cùng với một số bạn tâm huyết khác nổi loạn. Họ tổ chức đánh cướp nhà các phú nông địa chủ và lấy tài sản của chúng đem chia cho các người nghèo. Danh tiếng Karmeliuk loan truyền khắp nước. Có những bài thơ, những bài hát được lưu truyền trong dân gian để ca ngợi chàng. Chàng Karmeliuk trên những dặm đường gió bụi cũng đă gặp gỡ nhiều thanh niên. Lúc đầu họ không biết chàng. Nhưng khi họ hỏi "Anh là ai ?" và Karmeliuk trả lời "Tôi là Karmeliuk", th́ những thanh niên ấy vô cùng sung sướng, bỏ lại sau lưng tất cả để theo chàng. Họ hănh diện v́ đă đi theo một vị anh hùng dân tộc.

Bài Tin mừng hôm nay, nếu được diễn tả bằng ngôn ngữ thời đại, th́ cũng tương tự như câu chuyện trên. Thuở bấy giờ dân chúng đang sống khổ sở, không phải họ chỉ mang một ách nô lệ, mà tới hai cái ách nô lệ : Nô lệ đế quốc La mă, và nô lệ đế quốc tội lỗi. Đức Giêsu xuất hiện, Ngài đi đó đi đây khắp nơi để xoa dịu những cực khổ thể xác, và giải phóng khỏi cách tội lỗi. Có nhiều tiếng đồn, nhiều dư luận về Ngài. Một ngày kia, trên con đường từ Betsaiđa đến thành phố Xêxarê Philip, Đức Giêsu đột ngột hỏi các môn đệ ḿnh : "C̣n anh em, anh em nghĩ Ta là ai ?" Các môn đệ bối rối trước câu hỏi đột ngột ấy nên không trả lời được, khi ấy, Phêrô lên tiếng : "Thầy là Đức Kitô". Đức Kitô, đó là một danh xưng theo tiếng Hy Lạp, ư nghĩa của nó, nói theo ngôn ngữ thời nay, chính là "Vị anh hùng giải phóng". Lời Phêrô nói : "Thầy là Đức Kitô", có nghĩa là "Thầy chính là vị Anh Hùng giải phóng mà toàn dân đă từ lâu mong đợi". Chắc hẳn Phêrô và các bạn ông rất hănh diện v́ được đi theo một Vị Anh Hùng như vậy. Họ dám bỏ lại sau lưng tất cả, nhà cửa, nghề nghiệp, gia đ́nh, vợ con mà không hề tiếc nuối, bởi v́ họ đi theo một Vị Anh Hùng, họ vô cùng hănh diện.

Thế nhưng vấn đề không phải chỉ đơn giản có thế. Đi theo một Vị Anh Hùng không phải chỉ để được hănh diện, mà c̣n phải chia xẻ tất cả những gian truân nguy hiểm trên con đường dài mà vị Anh Hùng ấy đă vạch ra. Trong chuyện Karmeliuk, nhiều thanh niên đă hănh diện khi được đi theo chàng. Thế rồi gian truân nguy hiểm đă phân họ thành hai hạng : có một người đă không chịu nỗi những gian khổ nên cuối cùng đă phản bội, nghe theo âm mưu của địch để đầu độc Karmeliuk, rất may là chàng không chết ; hạng thứ hai là những kẻ trung thành với chàng cho đến chết. Thánh Phêrô và các bạn cũng hănh diện v́ đi theo Đức Kitô. Nhưng Đức Kitô phải nhắc họ : Đi theo Ngài không phải chỉ để hănh diện, mà c̣n phải cùng Ngài dấn thân vào con đường Thập Giá đầy đau khổ. Rơ ràng là các môn đệ chưa được biết điều đó, cho nên nghe vậy th́ họ sợ nguy ngay. Và một lần nữa Phêrô lên tiếng thay các bạn "Thưa Thầy, đừng, không được như vậy đâu ?" Đức Giêsu nghiêm khắc rầy Phêrô và xác định lại dứt khoát "Ai muốn theo Ta, phải bỏ ḿnh, vác Thập Giá mà theo". Từ đó trở đi, các môn đệ dần dần hiểu được con đường của Thầy. Nhưng họ cũng phân ra thành hai hạng : 1 hạng gồm những kẻ trung thành với Thầy cho đến chết, và hạng kia là Giuđa cuối cùng đă phản lại Thầy.

Đoạn kết của câu chuyện Karmeliuk và câu chuyện Đức Giêsu cũng giống nhau : cả 2 đều bị giết. Kể như cả 2 đều thất bại. Nhưng thực ra đó không phải là thất bại, mà là thành công : Karmeliuk đă gây được ư thức giải phóng nơi dân chúng, với ư thức đó, về sau họ đă đứng lên và dành lại được quyền sống cho ḿnh. C̣n CG th́ đă vạch ra một con đường cứu thoát rơ ràng : phải dám vác Thập giá, phải dám chết đi, rồi sau đó sẽ sống lại và toàn thắng. Con đường ấy ngày nay đang được hàng trăm triệu người đi theo.

Trong số đó có chúng ta.

Nhưng hôm nay, chúng ta hăy đặt lại 2 vấn đề cơ bản :

1. Chúng ta có hănh diện v́ đă đi theo Đức Kitô không ?

Người ta thường hănh diện khi đi theo một Vị Anh Hùng đang nổi tiếng, đang thành công, đang đứng giữa ṿng hào quang. Nhưng những vị "Anh Hùng Mạt lộ" th́ thường bị đệ tử bỏ rơi. Khi CG bị chống đối, rất nhiều người đă bỏ Ngài. Khi các thủ lănh dân Do thái âm mưu giết ngài, Giuđa đă trở mặt, nộp Ngài cho chúng giết đi, c̣n Phêrô th́ xấu hổ không dám nhận là môn đệ của Ngài. Có thể coi đó là tâm lư thường t́nh. Và chắc chúng ta cũng rơi vào thứ tâm lư thường t́nh đó khi thấy đạo của ḿnh h́nh như không được vinh dự lắm, khi nghe thấy những lời chỉ trích, chế nhạo, lên án Đạo ḿnh. Có người đă làm như Giuđa, trở mặt bỏ Đạo ; có người làm như Phêrô không dám để cho người ta biết ḿnh có Đạo.

Giuđa th́ một lần phản bội đă hư mất luôn. C̣n Phêrô chỉ chối Thầy 3 lần. Sau đó đă ư thức được điều mà tôi đă tŕnh bày ở phần trước : CG xem ra đă thất bại v́ đă bị Vác Thập Giá và đă bị giết chết ; nhưng thực ra đó chính là thành công : Thập giá là đường đưa tới Phục Sinh, đau khổ là đường đưa tới vinh quang. V́ ư thức như vậy nên sau đó Phêrô (và các tông đồ khác) đă kiên tŕ theo Thầy cho đến cùng, và hănh diện mà đi theo Thầy : vẫn hănh diện khi bị bắt bớ, vẫn hănh diện khi bị giết, luôn luôn hănh diện. Thánh Phaolô đă nói "Vinh dự của chúng tôi là Thập Giá Đức Kitô".

Đó là điều thứ nhất chúng ta nên nghiền ngẫm suy nghĩ.

2. Và điều thứ hai cần xác định : chúng ta đi theo Chúa không phải chỉ để được hănh diện.

Theo ai, chủ yếu là để cùng chia vui, xẻ buồn với người đó, đồng lao cộng khổ để đồng hưởng vinh quang. Như lời Thánh Phaolô "Nếu ta cùng chết với Ngài. Ta sẽ sống lại với Ngài ; nếu Ta cùng chịu đau khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài chia xẻ vinh quang". Ai có dám cùng bước với CG trên những đoạn đường gian khổ th́ mới có thể cùng đứng với Ngài trên đài Vinh quang.

Nhưng Vinh Quang, chiến thắng chỉ là bước cuối cùng, có thể c̣n xa xôi vời vợi. C̣n trước khi đó là cả một đoạn đường thánh giá dài lê thê. Theo Chúa là phải theo cả con đường thánh giá ấy th́ mới có thể đến cuối đường vinh quang kia. CG đă nói trước "Ai muốn theo Ta, hăy bỏ ḿnh, vác Thập Giá mà theo".

Liệu chúng ta có kiên tŕ để theo Chúa như vậy không ?

Xin Chúa giúp chúng ta t́m ra câu trả lời,. Và nếu đó là câu trả lời : "Có" th́ xin Chúa ban thêm sức cho chúng ta qua Bí tích Thánh Thể này mà chúng ta tiếp tục cử hành.

* 4. Tẩy rửa trái tim

Văn hào Dostoevski trong tác phẩm "Anh em nhà Karamazov" có kể lại câu chuyện sau đây : "Vào thời đại của ṭa phán quan ở Tây ban Nha, người ta đă dựng những hỏa đài để thiêu sống những kẻ tà giáo. Đức Kitô dịu hiền đột nhiên đến thăm con cái của Người ở Seville, Người về giữa loài người như một dân thường. Đức Giêsu bước xuống những con đường sôi bỏng của thành phố phương Nam. Nơi đây, mới hôm trước, vị phán quan vĩ đại đă cho thiêu sống trăm tên tà giáo "Ad majorem Gloriam Dei".

Hỏa đài ngay trước khán đài danh dự có đông đủ vô số triều đ́nh, các hiệp sĩ, các mệnh phụ xinh đẹp và cả Đức hồng Y giáo chủ. Đức Giêsu nhẹ nhàng bước trên đường bằng dáng điệu trầm tĩnh, nhưng lạ lùng tất cả đă nhận ra Người. Dân chúng xô đẩy nhau quấn quít bước chân Người. Người lặng lẽ vào giữa đám đông với nụ cười và ánh mắt từ bi. Một cụ già mù van xin : "Lạy Chúa, xin cho con được sáng để con nh́n thấy Người". Một cái vẩy rơi xuống và cụ nh́n thấy được. Dân chúng vui mừng chảy nước mắt và hôn lên mảnh đất chỗ Người đi qua. Những em bé tung hoa trên lối Người đi.

Đức Kitô đứng lại trước giáo đường Seville ngay lúc có đám tang một cô bé bảy tuổi. Cạnh cỗ áo quan màu trắng phủ đầy hoa, người mẹ đang nức nở. Trong đám đông có người hô lớn : "Con bà sẽ hồi sinh". Người mẹ tha thiết : "Nếu đúng là Người xin hăy hồi sinh đứa con của con". Đức Giêsu nhắc lại lời thuở trước : "Talitha Kum" và em bé ngồi lên.

Đúng lúc đó, Hồng Y giáo chủ và phán quan vĩ đại đi ngang qua. Từ xa ông đă thấy hết. Ông thấy chiếc áo quan đặt xuống, đứa bé hồi sinh. Mặt ông xịu xuống, mắt ông chớp tia sáng ghê hồn. Ông lấy ngón tay chỉ vào Đức Giêsu và ra lệnh cho bọn lính bắt người. Thế lực ông quá lớn nên ông khuất phục cả quần chúng. Phán quan ra lệnh tống giam Giêsu. Ông vào ngục một ḿnh gặp Người. Ông thương cảm nhưng "Luật là luật, trật tự của Giáo hội phải được bảo tồn bằng mọi giá". Ông tuyên bố "Tôi chẳng rơ Người là ai. H́nh như Người là Đức Giêsu, nhân danh Giáo hội, Ad majorem gloriam Dei, ngày mai Ngài cũng lên giàn hỏa".

*

Vị phán quan trong câu chuyện trên cũng chỉ đi theo vết xe cũ của các biệt phái và kư lục Do thái. Bài Tin mừng hôm nay chứng minh điều ấy, Đức Giêsu đang ở Galilê, các Biệt phái và Kư lục từ Giêrusalem tới, nghĩa là họ phải vượt qua 170 Km đường bộ để chỉ hỏi tại sao các môn đệ Người không rửa tay trước khi ăn. Điều đó cho thấy người Do thái rất coi trọng việc tuân giữ các tập tục tiền nhân về vấn đề thanh tẩy.

Thực ra, lúc đầu luật rửa tay trước khi vào nơi thánh dành cho các tư tế. Mục đích là tẩy rửa các ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng thờ phượng Chúa. Sau này, dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Với suy nghĩ tương tự họ cũng rửa tay trước khi ăn. Ư tưởng này rất cao đẹp v́ nó làm cho tôn giáo thâm nhập vào hành vi con người trong cuộc sống.

Khốn thay trong quá tŕnh thực thi luật này, tôn giáo đă thoái hóa đến chỗ chỉ c̣n giữ nghi thức bên ngoài, nghĩa là ai tuân giữ các nghi thức này th́ được xem là đạo đức, là đẹp ḷng Thiên Chúa, c̣n không tuân giữ là phạm tội. Nói như nhà thần học William Barclay : "Người ta có thể căm thù tha nhân tận xương tuỷ mà không một chút áy náy v́ họ đă tuân giữ chặt chẽ các nghi thức rửa tay và các nghi thức thanh tẩy khác". Tôn giáo không phải là một mớ luật lệ. Tôn giáo là một diễn tả t́nh yêu, một phát minh của Thiên Chúa nhân từ.

Thế nên, Đức Giêsu mới vạch mặt sự giả h́nh của họ, v́ họ chẳng quan tâm đến chuyện tẩy rửa trái tim. Họ rửa tay để được an tâm. Họ rửa tay để khỏi phải rửa tâm hồn. Rửa tay th́ dễ chứ rửa tâm hồn mới thực là khó. Nhưng cái ô uế thực lại không từ bên ngoài vào, nó ở ngay trong trái tim mỗi người. Đức Giêsu đă kể ra 12 ư định xấu từ trong trái tim. Từ ư định xấu xa sẽ dẫn đến những hành vi tội lỗi (x.Mc.7,21-22). Michael Taeboit nói : "Khi cái dầm tội lỗi ra khỏi mắt ta, tất cả thế giới sẽ tỏa sáng".

Vậy điều quan trọng là phải đổi mới trái tim. Đổi mới được trái tim là đổi được tất cả. Điều cốt lơi trong đạo không phải là chúng ta làm việc này việc nọ, mà chính là lư do thúc đẩy chúng ta làm những việc ấy. Việc đọc kinh dự lễ, suy niệm Lời Chúa, làm việc bác ái… tự chúng không bảo đảm rằng chúng ta thánh thiện, nếu chúng ta làm v́ một lư do không mấy đúng đắn. Nó chỉ trở nên thánh thiện trước mặt Chúa khi những hành động ấy phát xuất từ t́nh yêu Thiên Chúa và tha nhân. Thánh Phaolô đă quả quyết : "Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà tôi không có đức ái, th́ cũng chẳng ích ǵ cho tôi" (1Cr.13,3).

*

Lạy Chúa, xin nhắc cho chúng con nhớ rằng : luật lệ và nghi thức là cần thiết, nhưng đừng quên điều cốt lơi của luật Chúa là yêu thương. Xin dạy chúng con chỉ biết có một điều : là chúng con làm mọi sự chỉ để kính mến Chúa và yêu thương anh em. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

5. Mảnh suy tư

a/ Đầu và tim

Trong trường học, người ta để ư huấn luyện cái đầu hơn là trái tim, v́ người ta cho rằng cái đầu mới biết suy nghĩ. Bởi đó người ta lo đào tạo nên những đứa trẻ giỏi hơn là những đứa trẻ tốt, v́ công việc và nghề nghiệp sau này của đứa trẻ đ̣i hỏi hiệu năng hơn là tấm ḷng. Kết quả của lối giáo dục trên là nền văn minh khoa học kỹ thuật ngày nay, rất hiệu quả nhưng cũng rất lạnh lùng, ích kỷ và tàn nhẫn.

Tuy nhiên trong trường đời th́ trái tim lại quan trọng hơn, v́ sống ở đời và giao tiếp với người đời, "được việc" mà thôi chưa đủ, c̣n phải "được người" nữa. Nền văn minh mang lại hạnh phúc cho con người không phải là văn minh của khoa học kỹ thuật mà là văn minh của t́nh thương.

b/ Chăm sóc bề ngoài

Hàng ngày xem TV, chúng ta thấy quảng cáo rất nhiều sản phẩm : các loại xà bông mới, các loại dầu gội mới, nhiều loại nước hoa v.v. Tất cả đều nhằm chăm sóc cho làm da, mái tóc, cơ thể… nhưng đều là bề ngoài. Ngày nay, người ta cũng để ư nhiều hơn đến chất lượng của những thức ăn và thức uống… Mọi thứ phải đáp ứng đúng tiêu chuẩn thực phẩm an toàn và bổ dưỡng. Tuy nhiên, tất cả chỉ là những thứ từ bên ngoài được đưa vào trong cơ thể con người.

Nhưng xem ra người ta rất ít lo chăm sóc cái bề trong của con người, như lương tâm, ḷng nhân ái, ư thức về tội… và cũng rất ít để ư tới những cái từ trong ḷng phát ra.

6. Chuyện minh họa

Một sư phụ hỏi các đệ tử của ḿnh : "Cái ǵ ta phải lo tránh nhất trong cuộc đời ?" Sau đây là những câu trả lời của các đệ tử :

- Một con mắt xấu

- Một người bạn xấu

- Một người láng giềng xấu

- Một trái tim xấu.

Sư phụ đánh giá câu trả lời thứ tư là đúng nhất, bởi v́ một trái tim xấu chứa đựng tất cả những sự xấu khác.

Sau đó sư phụ lại hỏi : "Và cái ǵ ta cần bồi dưỡng nhất trong cuộc đời ?" Cũng có những câu trả lời tương tự :

- Một con mắt tốt.

- Một người bạn tốt.

- Một người láng giềng tốt

- Một trái tim tốt.

Vị sư phụ cũng đánh giá câu trả lời thứ tư là đúng nhất, v́ một trái tim tốt chứa đựng tất cả mọi thứ tốt khác.

Nhưng sư phụ lưu ư thêm : Một trái tim tốt không chỉ là một trái tim sạch mà c̣n phải là một trái tim đầy, bởi v́ một trái tim sạch có thể chỉ là một trái tim trống rỗng, c̣n một trái tim đầy th́ chan chứa t́nh thương.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, người biệt phái Do thái tranh luận với Đức Giêsu về sự ô uế và trong sạch Đức Giêsu đă bảo họ : "Tất cả những điều xấu xa đều từ bên trong xuất ra và làm cho con người thành ô uế". Chúng ta hăy khiêm tốn cầu nguyện :

1. Xin cho các Đức Giáo Hoàng, Giám mục, Linh mục và cá giáo lư viên / biết hướng dẫn mọi người sống theo tinh thần lề luật của Chúa / và tránh mọi lối sống vụ h́nh thức cũng như giả h́nh.

2. Xin cho các người lănh đạo các dân tộc / biết ứng xử với nhau và với đồng bào của ḿnh trong tinh thần và sự thật / để đôi bên luôn tín nhiệm và đoàn kết với nhau.

3. Xin cho những người quen sống lối sống vụ h́nh thức và giả h́nh / biết nhận thức rằng chính lối sống đó chỉ làm cho họ trở nên ô uế xấu xa.

4. Xin cho anh chị em trong giáo xứ chúng ta / biết yêu mến và tuân giữ lề luật của Chúa / hơn là chạy theo những thói quen ngoại giao giả h́nh.

Chủ tế  : Lạy Đức Giêsu, Chúa đă dạy chúng con rằng : tất cả những điều xấu xa đều từ bên trong mà xuất ra. Xin Chúa giúp chúng con luôn thanh tẩy tâm hồn cho trong sạch, để chúng con biết phục vụ Chúa và mọi người trong thần khí và sự thật. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước lúc rước lễ : Chúng ta hăy nhớ lời Đức Giêsu nói trong bài Tin Mừng : "Chính cái từ trong con người xuất ra là cái làm cho con người ra ô uế. V́ từ bên trong, từ ḷng người, phát xuất những ư định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại t́nh, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng". Xin Chúa thương tẩy xóa mọi thứ ô uế đó khỏi ḷng chúng ta để chúng ta xứng đáng rước Chúa vào ḷng.

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em hăy ghi nhớ một lời Tin Mừng hôm nay : "Dân này thớ kính Ta bằng môi miệng, nhưng ḷng chúng th́ lại xa Ta". Ước ǵ tuy Thánh lễ đă kết thúc và chúng ta sắp ra khỏi nhà thờ, nhưng ḷng chúng ta luôn gắn bó với Chúa.

Bài đọc thêm

THƯ GIACÔBÊ

A. Tác giả

1. Đầu thư có ghi tên tác giả : "tôi là Giacôbê, tôi tớ của Chúa Trời và của Đức Giêsu Kitô" (1,1). Điều này cho ta biết tác giả tên là Giacôbê. Nhưng Giacôbê nào v́ Tân Ước có nhiều người tên Giacôbê ?

a/ Giacôbê "tiền" con của Giêbêđê, anh của Gioan, là một trong 12 tông đồ, được Đức Giêsu gọi là "con của sấm sét", và cũng là một trong 3 tông đồ được Đức Giêsu thường đem riêng theo trong những hoàn cảnh đặc biệt ?

b/ Giacôbê con ông Anphê, cũng là một trong số 12 tông đồ ?

c/ Giacôbê "hậu" người bà con của Đức Giêsu (Mc 6,3). Dù không phải là tông đồ nhưng đă được thấy Chúa phục sinh hiện ra (1 Cr 15,7). Sau khi Đức Giêsu về trời, ông trở thành người lănh đạo giáo đoàn Giêrusalem và đă chủ tọa công đồng Giêrusalem bàn về quy chế cho các tín hữu gốc lương dân ?

2. Giọng văn của một kẻ có quyền (3,1) khiến người ta đoán tác giả thư này phải thuộc giới lănh đạo Giáo hội. Xét về nội dung th́ tác giả viết cho những người do thái ṭng giáo, có lẽ là giáo đoàn Giêrusalem. 2 chi tiết này khiến người ta kết luận tác giả thư này là Giacôbê hậu.

Tân Ước cho ta một số chi tiết về tác giả :

- là một người anh em của Đức Giêsu (Mt 13,55 - Tin lành, v́ cho rằng Đức Giêsu có nhiều anh em ruột, nên c̣n nghĩ rằng Giacôbê là anh cả hay ít ra là anh kế tiếp Đức Giêsu, v́ tên ông được kể đầu tiên trong bảng danh sách này).

- là một trong số ít người được Đức Giêsu chọn hiện ra sau khi Ngài sống lại (1Cr 15,7).

- được Phaolô coi là một trong những trụ cột của Giáo Hội (Gl 2,9).

- do đó Phaolô luôn quan tấm đến tŕnh diện với Giacôbê sau khi mới trở lại đạo (Gl 1,19) và trong chuyến về Giêrusalem lần cuối (Cv 21,18).

- Ngay cả Phêrô cũng coi trọng Giacôbê : ngay sau khi thoát khỏi từ, Phêrô đă bảo người ta báo tin này cho Giacôbê (Cv 12,17).

- Giacôbê đóng vai tṛ quan trọng trong hội nghị Giêrusalem (Cv 15,13).

- là một người nổi tiếng đến nỗi trong thư Giuđa, tác giả không cần xưng tên ḿnh trong liên hệ với cha ḿnh (theo thói quen người do thái) mà lại lấy liên hệ với Giacôbê : "tôi là anh em của Giacôbê" (Gđ 1,1).

3. Tuy nhiên văn chương hy lạp của thư này quá hay, không thể là của Giacôbê anh em Đức Giêsu, v́ ông này chỉ biết tiếng hy lạp sơ sài thôi. Nhưng cả 3 ông Giacôbê cũng đều như nhau về điểm này. Vậy có thể là Giacôbê anh em Đức Giêsu đưa ư tưởng, rồi một thư kư rành tiếng hy lạp viết lại.

B. Thời điểm và người nhận

Nếu ta nh́n nhận giả thuyết tác giả là Giacôbê hậu, th́ thời điểm viết thư này vào khoảng các năm 57-62. Đó là thời gian ông điều khiển giáo đoàn Giêrusalem.

Đầu thư có đề tên người nhận, đó là "những kiều bào tản cư 12 chi tộc" (1,1b). Họ là những kitô hữu gốc do thái đang lưu lạc khắp nơi trong các diaspora giữa thế giới hy lạp, có lẽ sau biến cố Têphanô bị ném đá chết (x. Cv 8,1 11,19). Kiểu nói "12 chi tộc" chỉ toàn thể Dân Mới.

C. Hoàn cảnh

Nội dung thư cho thấy 2 hoàn cảnh đặc biệt :

a/ Hoàn cảnh tín hữu bị bắt bớ ;

b/ Hoàn cảnh một giáo đoàn có sự chia rẽ giữa người giàu và người nghèo :

- Người giàu th́ hám danh, đ̣i đặc quyền ngay cả trong những buổi nhóm họp phụng vụ (2,1-3), thích nói bù lu bù loa miễn là khỏi phải chi tiền (2,16), và bóc lột người nghèo (5,1-6)

- Người nghèo th́ bị coi rẽ bởi chính những người tự coi là mục tử của họ (2,2-6)

Do chia rẽ như thế nên sinh ra ganh ghét (3,14 4,2), giận dữ (1,19), chửi bới nhau (4,11 5,9)

Giacôbê đứng về phía  người  nghèo để chống lại các bất công xă hội.

D. Nội dung

Thư này không có một chủ đề chính như các thư của Phaolô, mà bàn về nhiều vấn đề cụ thể.

- 1,2-4 : sư thử thách

- 1,13-15 : Cám dỗ

- 2,1-13 : Cư xử với người nghèo

- 4,13-5,6 : Lên án người giàu

- 2,14-26 : Đức tin và việc làm

- 3,1-12 : Lo giữ miệng lưỡi

- 5,14-15 : Bí tích xức dầu bệnh nhân

E. Nhận định

"Where there is life, there is motion" (hễ sống th́ phải động) :

- Đành rằng "động" không sinh ra "sống", nhưng "động" là bằng chứng hiển nhiên nhất của "sống".

- "Động" là việc lành ; "sống" là đức tin.

- Giacôbê diễn tả một cách vừa dễ hiểu vừa rất chắc chắn : đức tin mà không có việc làm là đức tin chết ; quỷ cũng tin nhưng nó đâu có được cứu độ, v́ nó tin mà không làm.

Thư này là câu trả lời rất vững chắc cho những kẻ ngụy biện rằng chỉ cần tin trong ḷng (đạo tại tâm).