CHÚA NHỰT XVI
CHỦ ĐỀ :
THIÊN CHÚA
CHĂM SÓC ĐOÀN CHIÊN NGÀI
"Đức
Giêsu thấy một đám người rất đông
th́ chạnh ḷng thương
v́ họ như đàn chiên không người chăn"
(Mc 6,34)
Minh
họa
- "Đức Giêsu thấy một
đám người rất đông th́ chạnh ḷng
thương v́ họ như đàn chiên không người
chăn" (Mc 6,34)
Sợi
chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Gr 23,1-6) : Thiên
Chúa trách các lănh tụ do thái không chăm sóc đàn chiên Ngài
giao cho họ. Ngài sẽ lấy đoàn chiên lại và
đích thân chăm sóc.
- Đáp ca (Tv 22) : Ca tụng Thiên
Chúa là mục tử nhân lành.
- Tin Mừng (Mc 6,30-34) : Đức
Giêsu thương dân chúng v́ họ như đàn chiên không
người chăn.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Người ta thường gọi các
kitô hữu là những "con chiên" của Chúa. Nói
như thế nghĩa là ǵ ? Lời Chúa hôm nay sẽ cho
chúng ta biết được làm con chiên của Chúa th́
sẽ hạnh phúc như thế nào. Xin Chúa cho chúng ta
hiểu được hạnh phúc của chúng ta và luôn vui
sống dưới sự chăm sóc của Chúa là mục
tử chúng ta.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Chúng ta ít nghĩ đến t́nh
thương của Chúa đối với chúng ta.
- Chúng ta chưa gắn bó với các tín
hữu khác là những người sống trong cùng một
đoàn chiên Chúa với chúng ta.
- Chúng ta không vâng nghe các mục tử
mà Chúa đă đặt lên để hướng dẫn
chúng ta.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Gr 23,1-6)
Trích đoạn này gồm 2
phần :
- Trong phần đầu, Thiên Chúa trách
"các mục tử
- Trong phần sau, Thiên Chúa nói Ngài
sẽ lấy đoàn chiên ấy lại và đích thân
chăm sóc : quy tụ những con chiên tản lạc,
dẫn chiên đến đồng cỏ, che chở chúng
khỏi mọi nguy hiểm. Thiên Chúa c̣n hứa sẽ cho
từ nhà Đavít nổi lên một mục tử đích
thực. Đây là lời hứa ban Đấng Messia.
2. Đáp ca (Tv 22)
Tv này rất quen thuộc với chúng
ta. Đây là bài ca tụng Thiên Chúa như một mục
tử nhân lành, lo cho đoàn chiên có cỏ non, nước
ngọt và bóng mát. Lại che chở chiên khỏi sói dữ
và quân trộm cướp. Tác giả Tv bày tỏ niềm
tin tuyệt đối rằng được sống
dưới sự chăn dắt của Thiên Chúa th́ sẽ
không thiếu chi và không c̣n phải sợ ǵ nữa.
3. Tin Mừng (Mc 6,30-34)
Trong bài Tin Mừng tuần
trước, Đức Giêsu đă sai 12 tông đồ
đi rao giảng Tin Mừng. Trong bài này, các ông trở
về hân hoan báo cáo những thành công của ḿnh.
Đức Giêsu rất nhân bản, Ngài
bảo các ông t́m một nơi yên tĩnh để nghỉ
ngơi. Thầy tṛ xuống thuyền chèo đến
một nơi yên tĩnh.
Nhưng vừa ra khỏi thuyền,
Đức Giêsu lại thấy dân chúng kéo đến đông
đảo. Ngài chạnh ḷng thương họ, thấy
họ như một đoàn chiên bơ vơ không
người chăn. Thế là Ngài bỏ nghỉ ngơi,
tiếp tục dạy dỗ họ.
4. Bài đọc II (Êp 2,13-18)
Thánh Phaolô tŕnh bày cho những tân ṭng
ở Êphêxô hiểu về hai ơn trọng mà Chúa đă ban
cho họ : ơn ḥa giải và ơn quy tụ.
- Ơn ḥa giải : trước
đây có một bức tường ngăn cách
người do thái với người ngoại. Nhưng
Đức Kitô đă phá đổ bức tường
ấy để tử nay do thái và dân ngoại ḥa giải
với nhau.
- Quy tụ : trước đây dân
ngoại như những con chiên tản mác khắp nơi.
Nhưng Đức Giêsu Kitô đă quy tụ họ lại
trong cùng một đoàn chiên với dân do thái. Từ nay
mọi người đều hiệp nhất trong Ngài.
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Con tim mục tử
H́nh ảnh Đức Giêsu trong
đoạn Tin Mừng này thật dịu dàng và rất
đáng kính mến, v́ Ngài có một trái tim rất nhạy
cảm trước những nhu cầu của người
khác :
- Các môn đệ trở về sau
chuyến đi thực tập truyền giáo. Các ông vui
mừng v́ những thành công, hăng hái kể chuyện cho
Ngài nghe, quên hết những mệt nhọc. Nhưng con tim
mục tử của Đức Giêsu biết họ cần
được nghỉ ngơi. Ngài dịu dàng bảo
họ "Các con hăy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ
ngơi đôi chút".
- Khi đă đến chỗ có thể
nghỉ ngơi, Đức Giêsu thấy dân chúng kéo
đến với ḿnh. Con tim mục tử lại xúc
động, v́ họ như đoàn chiên không người
chăn dắt. Ngài liền hy sinh sự nghỉ ngơi
để tiếp tục giảng dạy họ.
Từ đoạn Tin Mừng này, chúng
ta rút ra được hai điều :
- Thứ nhất : chúng ta hăy vui
sướng v́ được làm một con chiên đang
sống dưới sự chăm sóc của một Vị
mục Tử giàu t́nh thương như thế. Ngài
biết chúng ta cần ǵ trước khi chúng ta cảm
thấy điều cần đó, và Ngài lo liệu
đầy đủ cho chúng ta.
- Thứ hai : chúng ta hăy xin Chúa ban
cho chúng tại sao có một con tim giống như Ngài,
một con tim biết xúc động và biết mở
rộng trước nhu cầu của người khác, v́
quả thực rất nhiều khi con tim của chúng ta
đă chai ĺ, băng giá và khép kín.
2. "Các con hăy lui vào nơi vắng
vẻ..."
Số người mắc bệnh
thần kinh ngày nay càng ngày càng nhiều. Và một trong
những lư do đưa đến bệnh đó là nếp
sống càng ngày càng ồn ào xô bồ. Ngoài đường
th́ tiếng xe, tiếng máy, tiếng người ồn ào
suốt ngày ; trong nhà th́ các thứ tiếng nói, tiếng
hát, tiếng nhạc từ các máy radiô, tivi, cassette ;
rồi c̣n những tiếng khác từ các rạp hát, các loa
phóng thanh v.v. Ở giữa bao nhiêu là tiếng động
ồ ào đó, con người ngày nay như bị quay
cuồng, bị li tâm, bị trống rỗng, thần kinh
th́ căng thẳng, và nội tâm th́ nghèo nàn.
Để thoát ra khỏi bầu khí
ồn ào cẳng thẳng đó hầu t́m lại phần
nào yên tỉnh, trầm lặng, nội tâm... người ta
đă t́m đến với Yoga, với Thiền, với
những phương pháp dưỡng sinh... Những h́nh
thức này càng ngày càng lôi kéo được nhiều
người tham gia. (Đó cũng là một phản ứng
tất nhiên để đánh quân b́nh lại với
những hoạt động quá náo nhiệt ồn ào đă
nói ở đầu). Ở những nước công
nghiệp phát triển, vào mùa hè, người ta tạm
nghỉ việc, rời bỏ nếp sống đô
thị náo nhiệt và t́m đến nghỉ ngơi ở
vùng yên tĩnh hơn như miền quê miền biển,
miền núi... Và ngay ở Liên hợp quốc cũng có
một căn pḥng đặc biệt, pḥng này không trang trí
ǵ cả, rất trống trải nhưng rất yên
tĩnh, dành cho các nhà ngoại giao, các nhà chính trị nếu
cần t́m một chút bầu khí trầm tĩnh th́
đến đấy trong một thời gian nào đó... Tất
cả những cố gắng và những sáng kiến
vừa kể trên cũng là một phản ứng tất
nhiên của con người để đánh quân b́nh
lại với cuộc sống đă quá ồn ào như
đă nói ở trên.
Như thế, chúng ta thấy
được rằng một bầu khí yên tĩnh,
một thời gian trầm lặng là điều rất
cần thiết cho con người. Nó cần thiết
vừa để cho thân xác nghỉ ngơi, vừa
để cho tinh thần con người thư giăn, vừa
để cho trí óc con người sáng suốt nh́n lại
cuộc sống ḿnh, kiểm điểm và rút ưu
khuyết điểm để định hướng cho
cuộc sống trong giai đoạn tới. Sau khi các tông
đồ đi hoạt động truyền giáo một
thời gian trở về, Đức Giêsu đă bảo các
ông chèo thuyền qua phía bên kia hồ, yên tỉnh hơn
để tỉnh dưỡng xác hồn "Các con hăy lui
vào nơi vắng vẻ..."
Lời khuyên này của Chúa ngày nay
vẫn được những người tu hành, các Giám
mục, Linh mục, Tu sĩ, đặc biệt coi
trọng. Hằng năm, hàng tháng các vị đó vẫn có
những cuộc tĩnh tâm, có khi kéo dài một tháng, có khi
một tuần, có khi một ngày, hay ít ra cũng một
buổi. Trong thời gian đó, họ sẽ kiểm
điểm đời sống, cầu nguyện,
định hướng cho hoạt động sắp
tới...
C̣n đối với giáo dân, cuộc
sống chạy đua với miếng cơm manh áo
khiến chúng ta không có nhiều thời giờ rănh rỗi
để làm những cuộc tĩnh tâm như vậy. Tuy
nhiên chúng ta đừng quên rằng yên tĩnh là một nhu
cầu cần thiết cho cuộc sống, cuộc
sống càng ồn ào chừng nào th́ nhu cầu yên tĩnh
càng cần thiết chứng ấy. Cho nên dù bận
rộn, thỉnh thoảng chúng ta cũng hăy cố gắng
đi t́m một chút yên tĩnh cho tâm hồn ḿnh. Nhưng có
nhiều thứ yên tĩnh :
. Không phải thứ yên tĩnh
chỉ v́ vắng tiếng động bên ngoài. Có những
người v́ quá quen với ồn ào nên khi phải ở
một nơi im lặng th́ chịu không nổi, muốn
phát điên lên. Chúng ta không đi t́m thứ yên tĩnh đó.
. Chúng ta cũng không đi t́m thứ
yên tĩnh trống rỗng, nghĩa là bên ngoài đă hoang
vắng mà trong tâm hồn cũng hoang sơ, cằn cỗi.
. Thứ yên tĩnh mà chúng ta cần
đi t́m là thứ yên tĩnh tràn đầy hương
vị ngọt ngào... Yên tĩnh bên ngoài để cho bên trong
tâm hồn có được những ư hướng cao
thượng, những nhận định sáng suốt,
những sức mạnh an ủi khích lệ... Có một
nhạc sĩ đă viết lên những câu nhạc như
thế này : "Ta hăy làm thinh chớ nói nhiều,
để nghe dưới đáy nước hồ reo,
để nghe tơ liễu rung trong giá, và để xem
trời giải nghĩa yêu..." Đó là thứ yên
tĩnh ngọt ngào, phong phú, là chính thứ yên tĩnh ta
cần đi t́m.
Nhưng t́m ở đâu bây
giờ ? Thưa thứ yên tĩnh đó ta có thể t́m
thấy trong bầu khí trầm mặc ở nhà thờ,
trong những giây phút cầu nguyện, và ngay trong chính tâm
hồn ḿnh. Nghe nói đến đây chắc chắn
nhiều bạn trẻ thấy ngán ! Đúng thế,
chắc hẳn có nhiều lần chúng ta cũng đă
đến nhà thờ, cũng đă cầu nguyện...
nhưng thấy nó buồn tẻ làm sao, chỉ muốn ngủ
gục thôi. Tại v́ chúng ta như bị bó buộc
phải đi vào cảnh yên tỉnh đó một cách
miễn cưỡng, cho nên chúng ta chỉ gặp
được cái thứ yên tĩnh chỉ v́ vắng
tiếng động bên ngoài, hay chỉ gặp thứ yên
tĩnh trống rỗng như đă phân loại ở trên.
Muốn t́m thấy yên tĩnh đích thực, nghĩa là
thứ yên tĩnh ngọt ngào, phong phú th́ chúng ta phải
tự nguyện t́m yên tĩnh và để trọn tâm
hồn của ḿnh lắng đọng trong cơi yên tĩnh
đó.
Augustinô sau một thời gian tuổi
trẻ chạy theo danh vọng, tiền tài, khoái lạc
đă bắt đầu thấy chán chường. Một
hôm chàng cầm theo một quyển sách vào ngồi trầm
tư trong khu vườn vắng vẻ. Đột nhiên,
chàng nghe vang lên một tiếng trẻ con "Hăy cầm
lấy mà đọc". Augustinô ngó xuống th́ thấy tay
ḿnh đang cầm quyển Thánh Kinh. Chàng mở ra và
đọc, đọc được câu "Anh em
đừng chạy theo xác thịt nữa nhưng hăy
sống theo Thánh Thần Chúa". Câu nói ấy của Thánh
Phaolô trong thư Ngài gửi cho giáo dân Rôma đă là khởi
đầu cho một cuộc sống mới của Thánh
Augustinô. Tất cả khởi đầu từ một giây
phút yên tĩnh của tâm hồn.
Tóm lại, điều chúng ta cần
ghi nhớ trong bài Tin mừng hôm nay là Lời Chúa khuyên :
"Chúng con hăy lui vào nơi vắng vẻ..." Để
thực hiện Lời Chúa, thỉnh thoảng chúng ta hăy
để cho tâm hồn ḿnh lắng đọng lại, hăy
tạm quên đi bỏ đi những ồn ào bên ngoài
để đi sâu vào tâm hồn ḿnh, thỉnh thoảng
chúng ta hăy cầu nguyện thật sự, thỉnh
thoảng chúng ta hăy vào nhà thờ với ước muốn
thật sự t́m gặp ở đấy sự yên tĩnh
cho tâm hồn.
Và cầu mong chúng ta sẽ gặp
được điều mà chúng ta t́m kiếm.
3. Sức quyến rũ của
Lời Chúa
Đoạn Tin Mừng hôm nay thuật
lại một giai đoạn thành công của việc rao
giảng Lời Chúa : dân chúng đă quá ngán trước
những lời giảng dạy của các tư tế và
luật sĩ quá khô khan và nặng nề h́nh thức,
lễ nghi, luật lệ - nay gặp thấy giáo huấn
của Đức Giêsu vừa đơn sơ dễ
hiểu, vừa gần gũi thực tế, vừa chan
chứa t́nh yêu thương nên họ say sưa đón
nhận.
. Đến nỗi một ḿnh
Đức Giêsu rao giảng không đủ, Chúa phải sai
các tông đồ chia nhau đi các thành phố làng mạc
để rao giảng. Các ông đi giảng ở đâu
cũng gặt hái được những thành công. V́
thế các ông làm việc mà không thấy mệt, nói đúng
hơn cũng có mệt nhưng không muốn nghỉ
ngơi, thành công gặt hái được khiến các ông hăng
hái muốn tiếp tục làm nữa. Đức Giêsu
phải dùng quyền mà bắt các ông phải nghỉ
ngơi đôi chút.
. Nhưng muốn nghỉ mà cũng
không được yên để nghỉ, v́ dân chúng cứ
tấp nập tuôn đến, các tông đồ không có
cả thời giờ để ăn uống. Đức
Giêsu mới nghĩ ra một cách giải quyết là bảo
các tông đồ xuống thuyền chèo đến một
nơi thanh vắng. Nhưng dân chúng đă đoán được
chỗ đó, cho nên họ chạy bộ dọc theo bờ
sông và đến nơi trước các ngài.
. Nh́n thấy đám đông khao khát nghe
Lời Chúa như thế, Đức Giêsu chạnh ḷng
thương. Ngài ví họ như một đoàn chiên đang
đói khát không người chăn dẫn. Và v́
thương họ nên Đức Giêsu hy sinh không nghỉ
ngơi nữa, đích thân Ngài tiếp tục giảng cho
họ nghe.
Thật là một cảnh tượng
đáng mơ ước : người giảng th́
hăng hái, mệt mà không muốn nghỉ ; c̣n
người nghe th́ say sưa nghe măi mà không chán. Nghĩa là
cả người giảng lẫn kẻ nghe đều
hăng hái say sưa. Do đâu mà mọi người
đều say sưa hăng hái như vậy ? do
sức quyến rũ của Lời Chúa.
Khi người ta khám phá
được một điều ǵ rất hay, rất
hữu ích th́ người ta hăng hái muốn nói lại
cho người khác nghe biết. Thí dụ như nhà bác
học Archimède : ông đang thắc mắc t́m hiểu
tại sao những vật thể có tỉ trọng
nặng hơn nước mà lại nổi trên mặt
nước. Một ngày kia, ông đang nằm tắm trong
bồn nước th́ ông cảm thấy như có một
sức đẩy dưới nước làm cho thân thể
ông nổi lên, nghĩa là trong nước có một sức
đẩy. Thế là ông đă t́m ra được lư do.
Mừng quá, ông la lên "Eureka" (nghĩa là : "Tôi
đă khám phá ra rồi") và chạy vội ra ngoài
để kể cho người khác nghe, mặc dù ông quên
chưa mặc quần áo, ông c̣n trần truồng !
Đó là tâm lư của người khám phá. C̣n về phần
người nghe, th́ khi thấy được một
nội dung hấp dẫn, người ta cũng say sưa
t́m nghe măi. Một giáo viên đă kể lại cái thời c̣n
là học sinh : "Anh em lớp chúng tôi rất mê
một ông thầy dạy văn, và đặc biệt mê
những bài thơ mới. Mỗi lần ông thầy
đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ mới là chúng tôi
say sưa chép, những bài thơ của Xuân Diệu,
Thế Lữ, Huy Cận v.v... tụi học tṛ chúng tôi mê
làm sao ấy. Nhưng mà ông thầy này cũng hà tiện,
chỉ khi nào chúng tôi thuộc bài giỏi, giữ trật
tự tốt th́ ổng mới thưởng cho một bài,
và mỗi lần như vậy là chúng tôi lại say mê
chép."
Lời Chúa cũng có sức quyến
rũ như vậy. Chiara Lubich là một người
sống b́nh thường như mọi người.
Đến thế chiến thứ II, nước Ư bị
lôi cuốn vào ṿng chiến. Hằng ngày bom đạn
cứ trút xuống các thành phố, nhà cửa tài sản tan
hoang, sinh mạng con người bị đe doạ
từng giây từng phút. Trong những hầm tránh bom, Bà
Chiara Lubich này cảm thấy chẳng c̣n có thể
nương dựa vào bất cứ cái ǵ ở trần
gian, nên bà chỉ đặt trọn niềm hy vọng vào
quyển sách Tin Mừng mà bà mang theo. Nào ngờ những
lời trong Tin Mừng đă khiến bà t́m thấy
được lẽ sống. Và khi khám phá rồi, bà
hăng hái kể lại khám phá ấy cho nhiều
người khác nghe. Họ thành lập những nhóm chia
sẻ Tin mừng với nhau. Những nhóm ấy càng ngày
càng sinh thêm những nhóm khác, làm thành cả một phong trào,
gọi là phong trào Focolare (nghĩa là Tổ ấm). Họ
hăng hái thực hiện Tin mừng. Bà Chiara Lubich có
để lại một câu nói đă trở thành danh ngôn :
"Chúng ta hăy sống Tin mừng như thế nào
để cho dù mọi quyển sách Tin mừng có bị
đốt hết, người ta vẫn có thể nh́n vào
đời sống của chúng ta mà viết lại trọn
vẹn Tin mừng, từng câu, từng chữ".
Có những người chỉ cần
khám phá một câu Tin mừng thôi là thấy được
hấp dẫn cả một cuộc đời. Chẳng
hạn như Thánh Phanxicô Thành Assisiô, câu "Phúc cho những
người nghèo" đă khiến ông bỏ hết gia tài
cha mẹ để dấn thân vào một cuộc sống
nghèo nàn, nghèo nhưng vô cùng hạnh phúc ; Thánh nữ
Têrêxa Hài Đồng Giêsu th́ vạch ra đường
lối tu đức riêng của ḿnh từ câu
"Nước Trời thuộc về những trẻ
nhỏ" ; Cha Charles de Foucauld đă lập ra một
Ḍng chuyên sống lao động, v́ cha rất say mê cuộc
đời lao động của Đức Giêsu ở
Nagiarét...
Lời Chúa quư giá như một viên
ngọc. Nhưng ít ai biết quư chuộng Lời Chúa.
Đọc Tin Mừng th́ lười biếng, đi lễ
nghe giảng th́ ngủ gục, lo ra hay bỏ ra ngoài nhà
thờ. Tại v́ đó là một viên ngọc
được chôn dấu dưới đất, ít ai khám
phá ra. Nhưng người nào mà khám phá ra th́ sẽ say mê,
đến nỗi có thể bán hết mọi của
cải tài sản để có được viên ngọc
quư ấy.
Bởi vậy, bổn phận của
các Linh mục là phải tŕnh bày Lời Chúa như thế
nào để giáo dân thấy được giá trị
hấp dẫn Lời Chúa. C̣n bổn phận của giáo dân
là phải biết chăm chú lắng nghe để chính ḿnh
cũng khám phá ra được giá trị tuyệt vời
của Lời Chúa. Và bổn phận của tất cả
mọi tín hữu, Linh mục cũng như giáo dân, là
phải trân trọng Lời Chúa : không phải chỉ
đọc phớt qua, nghe phớt qua, mà phải chăm
chú, t́m hiểu, cầu nguyện và cố gắng thực
hành.
Xét về một khía cạnh nào đó,
th́ Lời Chúa c̣n quan trọng hơn cả các Bí tích
nữa. Thí dụ như những người ở vào
một hoàn cảnh không thể đến nhà thờ
để dự lễ, xưng tội và chịu các bí tích
được. Chẳng hạn như những
người bệnh nặng, hay dời nhà về một
vùng không có Linh mục không có nhà thờ, những thanh niên
đi nghĩa vụ quân sự, những bà con ở vùng kinh
tế mới v.v. Nếu chúng ta chỉ biết có các Bí tích
th́ trong những hoàn cảnh ấy, chúng ta sẽ không c̣n cái
ǵ gọi là sống đạo nữa. Nhưng nếu
biết đọc Lời Chúa và sống Lời Chúa, th́
chỉ cần một quyển Tin Mừng thôi, hay chỉ
một quyển lịch công giáo thôi, chúng ta vẫn có
thể tiếp tục có lương thực nuôi
dưỡng linh hồn ḿnh, có lẽ sống hướng
dẫn cuộc đời ḿnh.
Ở cuối đoạn Tin Mừng
hôm nay ; thánh Marcô ghi nhận rằng : Đức
Giêsu nh́n thấy dân chúng th́ chạnh ḷng thương, v́
họ như đoàn chiên không người chăn dẫn.
Giáo dân là những con chiên của Chúa. Trong số đó có
nhiều giáo dân phải sống ở những nơi không
có Linh mục, họ đúng là đoàn chiên không người
chăn dẫn. Nhưng giáo dân ở các họ đạo có
Linh mục th́ có khi cũng phải đói khát về
lương thực tinh thần v́ họ chỉ biết có
đọc kinh và giữ các lễ nghi h́nh thức bề
ngoài. Chúa thương hết mọi con chiên, Chúa
thương cả đoàn chiên, nên Chúa đă cho đoàn chiên
một nguồn lương thực hết sức quư giá,
đó là Lời Chúa, chứa đựng trong Tin Mừng.
Ước ǵ chúng ta khám phá được giá trị
hấp dẫn của Lời Chúa, dù chỉ là một
Lời, một câu trong Tin Mừng thôi, để cuộc
đời chúng ta từ đó được biến
đổi, có ư nghĩa, có giá trị.
4. Bị quấy rầy
Một người kia đến
thăm người bạn của ḿnh làm giáo sư tại
một trường đại học lớn. Trong lúc hai
người đang tṛ chuyện với nhau trong văn pḥng
của vị giáo sư th́ những sinh viên thường
tới gơ cửa để xin ư kiến về vấn
đề này vấn đề nọ. Mỗi lần như
thế th́ câu chuyện bị gián đoạn v́ vị giáo
sư phải rời chỗ ngồi đi ra trả
lời cho sinh viên. Cuối cùng người bạn
hỏi : "Làm sao anh có thể làm việc
được nếu công việc cứ bị gián
đoạn măi như thế ?" Vị giáo sư
đáp : "Ban đầu tôi cũng rất bực bội.
Nhưng về sau, tôi chợt ư thức rằng công việc
chính của tôi chính là những lúc bị gián đoạn
như thế".
Vị giáo sư có thể đóng
cửa, không tiếp ai hết, để miệt mài
với công việc. Làm thế th́ ông có thể
được yên tĩnh. Nhưng v́ là một con
người quảng đại hay giúp đỡ, ông không
thể làm thế. Thay vào đó ông coi việc tiếp xúc và
giúp đỡ sinh viên là việc chính của ḿnh. Bởi
đó, không lạ ǵ ông được sinh viên quư mến, và
ông là người hạnh phúc nhất và hoàn thành trách
nhiệm giáo sư tốt nhất trong trường
Đại học.
Vị tha vừa dễ mà cũng
vừa khó. Dễ là khi việc phục vụ người
khác là do ta tự ư chọn, nhờ đó ta chẳng
những không cảm thấy bực bội mà c̣n thoải mái.
C̣n khó là khi ta phục vụ mà miễn cưỡng, thành ra
bực bội và khó chịu.
Một hành vi được xét là
tốt không do tầm quan trọng của nó, mà do tấm
ḷng của người làm hành vi đó : sẵn sàng
chấp nhận nếp sống bị xáo trộn
để giúp đỡ người khác, sẵn sàng
tạm gác qua một bên những dự định của
ḿnh để phục vụ người khác.
Như ta thấy trong bài Tin Mừng hôm
nay, Đức Giêsu rất bận rộn với biết
bao công việc, đến nỗi không có giờ để
ăn uống. Ngài vừa định cùng các môn đệ
đi tới một nơi yên tĩnh để nghỉ
ngơi th́ dân chúng lại kéo đến. Thấy vậy,
"Ngài chạnh ḷng thương và bắt đầu
dạy dỗ họ nhiều điều".
Mặc dù biết phục vụ
người khác là tốt, nhưng nhiều người
chỉ muốn phục vụ một chút thôi, miễn là
việc phục vụ đó đừng quá quấy
rầy, đừng xáo trộn nếp sống quen thuộc
của họ. Nhưng như thế không phải là
phục vụ. Đức Giêsu đă phục vụ khi
sẵn sàng cho người khác quấy rầy, làm xáo
trộn chương tŕnh của Ngài. Cha mẹ chúng ta
cũng thế : biết bao lần các ngài đang
ngủ giữa đêm phải thức dậy để
chăm sóc con cái ?
5. Lắng
đọng và b́nh an
Một thanh niên lực lưỡng xin
đốn cây để phụ giúp gia đ́nh. Thấy anh
vạm vỡ, chủ liền trao cho anh một chiếc
ŕu, dẫn anh vào rừng và bảo :
- Anh thử đốn cây này cho tôi xem.
V́ đă từng lao động, nên anh
đốn rất nhanh. Ông chủ nhận anh vào làm
việc, đưa ra mức lương và cho nơi cư
ngụ.
Dù mệt nhọc nhưng anh cảm
thấy rất vui, v́ nghĩ rằng cuối tuần
sẽ có một số tiền kha khá đem về gia
đ́nh. Thứ Hai, Thứ Ba, rồi Thứ Tư vùn
vụt trôi qua. Đến ngày Thứ Năm, chủ gọi
anh vào cám ơn và trao cho anh tiền công cả một
tuần.
Anh vui sướng cầm những
tờ giấy bạc thấm đẫm mồ hôi, đôi
mắt rạng ngời niềm vui. Bỗng chợt
nhận ra có điều ǵ bất thường, anh thắc
mắc hỏi chủ :
- Tôi xin cám ơn chủ đă trả
lương cho tôi suốt tuần. Nhưng sao không
để đến thứ bảy mà lại trả
lương vào hôm nay.
- Đáng tiếc là tôi không thể
mướn anh được nữa, v́ theo sổ sách th́
anh đốn được nhiều cây nhất vào ngày
thứ Hai, nhưng qua ngày thứ Ba cây đă giảm
xuống, và ngày thứ Tư anh là người đốn
được ít cây nhất trong các công nhân ở đây.
- Nhưng thưa ông chủ, tôi đă
làm hết sức ḿnh. Tôi đi làm sớm về trễ. Tôi
chỉ nghỉ để ăn trưa có nửa tiếng
thay v́ một tiếng. Tôi làm việc không ngừng. Tôi làm
việc cả giờ giải lao. Vậy ông chủ c̣n
muốn ǵ nữa ?
- Những ǵ anh vừa nói không sai chút
nào, tôi hoan nghênh sự nhiệt t́nh của anh. Nhưng tôi
chỉ xin hỏi anh một câu : anh có mài ŕu không ?
*
"Các con hăy lui
vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút" (Mc.6,31). Sau cuộc hành tŕnh truyền giáo vất
vả, các tông đồ phấn khởi thuật lại
cho Đức Giêsu nghe những thành quả vàng son của
ḿnh. Nhưng Người lại quan tâm đến con
người hơn công việc. Người muốn các ông
hăy dành một chút nghỉ ngơi cho thân xác, một chút
lắng đọng cho tâm hồn, để tách ḿnh ra
khỏi đám đông, để sống t́nh thầy tṛ,
tương giao mật thiết với Thầy và với
nhau.
Lắm khi chúng ta quên mất "mài ŕu", v́ cho rằng khối lượng công việc
chồng chất, v́ thời buổi kinh tế cạnh
tranh, nên không dễ t́m được một chút tĩnh
lặng : để thẩm định lại
những biến cố, và soát lại công việc đă làm
và lắng nghe được tiếng Chúa mời gọi.
Nếu muốn đốn nhiều cây
càng phải năng "mài
ŕu" cho sắc.
Nếu muốn đi thật xa càng
phải luôn dừng lại để nghỉ ngơi,
lấy sức.
Nếu muốn hoạt động
tông đồ hiệu quả, càng phải năng tĩnh
dưỡng tâm hồn.
Khi được hỏi bí quyết
nào khiến George Washigton Carver thành công trong thành tựu khoa
học của ḿnh với trên 300 sản phẩm hữu
dụng, ông đă trả lời : "Tôi
thức dậy lúc 4 giờ sáng, và trong sự yên tĩnh
của buổi sớm mai, tôi lắng nghe tiếng Chúa và
chương tŕnh của Người xếp đặt cho
tôi".
P.Doncocur đă quả quyết : "Không một vĩ nhân nào đă
thành công mà không đắm ḿnh trong tĩnh lặng
để hồi tâm và cầu nguyện". Vâng, trong cuộc hành tŕnh về quê Trời,
người ta không thể đi hết con đường
vừa dài vừa dốc, nếu không dừng lại
nghỉ ngơi, lấy sức và định hướng.
*
Lạy
Đức Giêsu, Chúa đă "lui vào nơi hoang vắng mà
cầu nguyện". Xin cho chúng con cũng biết gác
bỏ những sôi nổi của thành công, những ê
chề của thất bại, để một ḿnh
tĩnh lặng bên Chúa ; lắng đọng và b́nh an.
Xin cho chúng con
biết dừng lại, lắng nghe và kín múc nơi Chúa
nguồn sức mạnh, để chúng con lại tiếp
tục lên đường. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
6. Thánh Giám mục Tử đạo
Cuénot Thể
Cuộc đời của Thánh
Giám Mục tử đạo Cuénot Thể (1802-1861) với
31 năm phục vụ Giáo Hội Việt Nam và 26 năm trong
chức vụ giám mục, gắn liền với công
cuộc khuếch trương truyền giáo không những
giữa người Việt Nam nhưng cả với
những dân tộc ít người tại vùng Cao Nguyên Kontum.
Khi bị bắt Đức Cha Thể đă bị
điều tra xét hỏi :
- Tại sao ông sang nước
tôi ?
+ Thưa, để giảng
đạo Thiên Chúa.
- Ông ở đây bao lâu rồi ?
+ Ba mươi bốn năm.
- Ông đă ở đâu ?
+ Thưa trước hết ở B́nh
Định rồi Phú Yên, B́nh Thuận và lại trở
về B́nh Định.
Có một điều không
được đề cập tới trong cuộc tra
vấn là công cuộc truyền giáo cho các dân tộc ít
người tại vùng Cao Nguyên Kontum. Về công tŕnh này, cha
Đỗ Đ́nh Bộ (P. Dourisboure) là người trong
cuộc có b́nh luận về Đức Cha Thể như sau :
Đức Cha có bẩm tính cương quyết và kiên tŕ,
và một khi ngài đă nghiền ngẫm dự tính ǵ đó
th́ những trở ngại, thay v́ làm ngài nản ḷng,
lại càng kích thích sự hăng say của ngài. Đă
bốn năm lần, ngài thấy dự tính rao giảng
Phúc Âm cho các dân tộc Thượng bị chặn
đứng và trở nên không thể thực hiện
được, nhưng chưa bao giờ v́ vậy mà ngài
có ư bỏ cuộc. Con đường bị đóng
ư ? Ngài cho mở đường khác. Con
đường mới này xem ra không thể lưu hành
được, ngài lại t́m ṭi hướng khác cho đến
khi thành tựu mới thôi." (Dân Làng Hồ, Sàig̣n 1972,
trang 5).
Vậy năm 1842 Đức Cha
Thể phái hai vị thừa sai (là hai linh mục thừa
sai Paris Miche và Duclos) cho cuộc mạo hiểm đầu
tiên. Hai vị đă bị thương gia người kinh
bắt và áp giải về Huế. Các ngài đă bị lên án
tử h́nh nhưng được giải thoát do chiếc
tàu Pháo Héroine đến can thiệp kịp thời.
Vài ba cuộc mưu toan
vượt biên khác qua lối Quảng Ngăi và Quảng
Gương
Thầy Sáu Do và các vị Thừa Sai
Đến năm 1848, Đức
Cha Thể lại thử một cuộc vượt biên
khác, lần này qua biên giới tỉnh B́nh Định
nơi ngài đang trú ẩn giữa cơn cấm
đạo gắt gao, và với một chủng sinh
người Việt mà ngài mới truyền chức phó
tế. Đó là thầy sáu Do. Khởi sự thầy Do
đóng vai giúp việc rồi nấu bếp cho một
thương gia người kinh. Thầy học tiếng
dân tộc và phong tục của họ. Thầy cũng khám
phá ra đường đưa các vị thừa sai
vượt ngoài sự ḍm ngó của những thương
gia người kinh. Sau sáu tháng phiêu bạt trở về,
thầy Do được Đức Cha tín nhiệm cho lên
đường như một nhà buôn có môn bài. Thầy
sẽ có thể đi sâu vào những buôn làng bên kia An Sơn
trước kia là Tây Sơn nơi 3 anh em cùng một gia
đ́nh đă nổi dậy chống chúa Nguyễn. Thầy
và bốn chủng sinh phụ tá, làm nên đoàn thương
gia giả hiệu, an toàn đến được với
bộ lạc Hà Drông. Không ngờ nơi đoàn
thương gia tới trọ lại là nơi có âm mưu
cướp của và bắt người bán làm nô lệ cho
dân Lào. May mà thầy sáu Do và anh em kịp thời chạy
trốn, bỏ lại hành lư và đồ đạc cho
bọn cướp.
Đức Cha Thể khâm phục
ḷng can đảm của thầy sáu Do và anh em, và chỉ
thị cho cha Cung (tức là linh mục thừa sai Paris
Combes) cùng với thầy sáu Do lên đường. V́ di
chuyển ban đêm, đoàn không kịp thời trông
thấy để lẩn tránh một đàn voi đang
chận đường họ. Một con trong đàn
dẫm găy sườn một thanh niên trong đoàn. Thôi th́ mạnh
ai nấy chạy. Riêng cha Cung bị một con voi
rượt theo, cha liền ném chiếc nón đang
đội lại phía sau. Voi ngừng đuổi, chà
đạp chiếc nón và để cha chạy thoát thân.
Lần này Đức Cha Thể
tỏ ra lạnh nhạt với phái đoàn đă sớm
bỏ cuộc. Đức Cha nói : "V́ thời
tiết xấu c̣n kéo dài, tôi cho các vị 15 ngày để
nghỉ ngơi. Sau thời gian này các vị sẽ lại
lên đường. Và lần này cũng đừng có vô
phúc mà quay về như vậy nữa." Để
bảo đảm hơn cho thành quả của chuyến
viễn du mới, Đức Cha ra lệnh cho cha Phạm
Tân (Fontaine) sửa soạn để tháp tùng cha Cung.
Cứ như vậy Đức
Cha Thể phái các thừa sai đi loan Tin Mừng cho các dân
tộc ít người ở vùng Cao Nguyên. Ban đầu
phải đi ban đêm để các vị thừa sai
ngoại quốc không bị phát hiện. Sau v́ muốn tránh
thú dữ nên phải đi ban ngày, th́ các vị ấy
phải được sơn phết cho đỡ
trắng trẻo, phải đội nón và ăn vận
như người b́nh dân.
Nơi dừng chân đầu tiên
là làng của một tên cướp khét tiếng cả vùng,
gọi là làng của Ba Ham (cha của Ham). Cũng may gă Ba Ham
lần đầu tiên đối diện với bộ
mặt dị dạng và râu ria rậm rạp của hai
vị thừa sai người Pháp, tự nhiên hắn
cảm thấy phần nào kính nể. Dẫu vậy
hắn cũng giữ hai cha lại trong nhà gần một
tháng mới chịu để cho hai cha ra đi.
Sau làng Ba Ham đến làng Bơ
Lu dễ thương hơn nhiều. Rồi đến Kon
Phar cách Bơ Lu hai ngày đường. Và c̣n nhiều làng
khác nữa mà các thừa sai phải kinh qua trước khi
các vị ấy được ơn làm phép rửa cho ba
người dân tộc đầu tiên vào năm 1853, tức
11 năm sau khi Đức Cha Thể phái hai vị thừa
sai đầu tiên lên vùng cao nguyên.
Gương
sống động của chính Đức Giêsu và các môn
đệ.
Cuộc phái thừa sai lên vùng cao
nguyên Việt Nam cũng là để tiếp nối cuộc
sai phái các môn đệ do chính Đức Giêsu. Tin Mừng
Máccô lần lượt cho thấy Đức Giêsu gọi
các môn đệ đầu tiên (1,16-20), thiết lập Nhóm
Mười Hai để các ông ở với Người và
để chính Người sai các ông đi rao giảng
(3,14). Một khi các môn đệ được sai đi
từng hai người để rao giảng và kêu gọi
người ta ăn năn sám hối (6,7-12), các ông trở
về báo cáo cho biết mọi điều các ông đă làm
và đă dậy (6,30).
Nhưng điều quan trọng
là thực chất của Nước Thiên Chúa mà các môn
đệ cần nhắm tới. Các ông trừ
được nhiều quỉ, xức dầu cho nhiều
người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh
(6,13), nhưng Đức Giêsu khẳng định
rằng : "Không phải bất cứ ai thưa với
Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! là
được vào Nước Trời cả đâu !
Nhưng chỉ ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là
Đấng ngự trên trời, mới được vào
mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa
với Thầy : Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi
đă chẳng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ
quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao ?
Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với
họ : Ta không hề biết các ngươi." (Mt
7,21-23).
Bài Tin Mừng hôm nay (6,30-34) cùng
với phần c̣n lại của đoạn văn (6,35-52)
minh họa cách cụ thể ư muốn của Thiên Chúa là ư
muốn mà Đức Giêsu triệt để vâng theo,
cũng là ư muốn mà Đức Giêsu sốt sắng
huấn luyện các môn đệ, để các ông vâng theo.
Sau đây là một loạt những biến cố cho
thấy rơ điều đó.
+ Thiên Chúa an bài để sự
việc xảy ra là các môn đệ đi sứ vụ
về báo cáo với Đức Giêsu ngay vào lúc Đức
Giêsu đang bị dân chúng tràn ngập đến nỗi các
môn đệ chẳng c̣n th́ giờ ăn uống (c.3).
+ Đức Giêsu ra lệnh cho các
môn đệ lánh riêng ra đến nơi thanh vắng mà
nghỉ ngơi đôi chút (c.31)
+ Thiên Chúa cũng an bài để
nhiều người hiểu ư nên từ khắp các thành
họ cùng nhau theo đường bộ chạy
đến nơi trước các ngài (c.33)
+ Ra khỏi thuyền, Đức
Giêsu thấy một đám người rất đông th́
chạnh ḷng thương v́ họ như bầy chiên không
người chăn dắt (c.34). Tức là Đức Giêsu
đọc được ư của Thiên Chúa Cha muốn
Đức Giêsu tỏ ra Người chính là vị Mục
Tử tốt lành từng được Cựu
Ước loan báo (Tv 76,21 ; Ed 34,23 ; 37,24). Vậy
Đức Giêsu đă bỏ dự định cũ,
Người không t́m đến nơi hẻo lánh nữa
nhưng ở lại với dân chúng để dạy
họ nhiều điều (c.34).
+ Sự việc lại xảy ra
là : v́ giờ đă muộn nên các môn đệ
đề nghị Đức Giêsu giải tán dân chúng về
để họ vào các thôn xóm mà mua của ăn (c.38).
Nhưng Đức Giêsu đă không theo ư các môn đệ v́
Người đọc được ư Thiên Chúa muốn
Người phải trở nên như Môsê từng cung
cấp lương thực là Manna cho dân nơi sa mạc (Xh
16,1-36). Do đó Đức Giêsu đă làm phép lạ hoá bánh ra
nhiều cho dân ăn no (cc.37-44).
+ Điều được
hiểu ngầm sau phép lạ hoá bánh ra nhiều là một
t́nh trạng lệch lạc nào đó xảy ra giữa dân
chúng và các môn đệ cho nên Đức Giêsu phải
bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia
trong khi chính Người giải tán dân chúng (c.45).
+ Trong Tin Mừng Gioan, Đức
Giêsu biết họ sắp bắt ḿnh đem đi mà tôn làm
vua, nên Người lánh mặt, đi lên núi một ḿnh"
(Ga 6,15). C̣n trong Tin Mừng Máccô, Đức Giêsu lên núi
cầu nguyện (Mc 6,46). Đức Giêsu như Môsê xưa
ở trên núi chuyển cầu cho dân (Xh 33,11-17). Chính ở
thế kết hợp với Thiên Chúa, Đức Giêsu
thấy rơ hoàn cảnh các môn đệ đang bị
thử thách trên biển hồ Galilê. Người đă đi
trên mặt nước để đến mang lại b́nh
an cho các ông.
+ Vậy tác nhân quan trọng
nhất trong công cuộc huấn luyện các môn đệ
là chính bản thân Đức Giêsu như tấm gương
sống động về tinh thần khắng khít với
Thiên Chúa trong cầu nguyện cũng như trong mọi hành
động. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu muốn
có những giây phút nghỉ ngơi với các tông đồ,
nhưng thấy dân chúng bơ vơ như đàn chiên không
người chăn. Người lo chăn dắt họ,
Người thật là mục tử nhân hậu
điển h́nh. Chúng ta hăy cầu nguyện :
1. Chúng ta hăy
cầu nguyện cho các vị chủ chăn trong Hội
thánh biết t́m thời giờ để nghỉ ngơi và
bồi dưỡng / để rồi lại hăng
say chăn dắt đàn chiên tốt đẹp hơn.
2. Chúng ta hăy
cầu nguyện cho các nhà cầm quyền biết từ
bỏ thói quan liêu tham nhũng và tư lợi /
để tận tâm phục vụ công ích và hạnh phúc
của người dân.
3. Chúng ta hăy
cầu nguyện cho những người bơ vơ không
nhà cửa, không việc làm, bị xă hội bỏ
rơi / được có người biết quan tâm
giúp đỡ.
4. Chúng ta hăy
cầu nguyện cho anh chị em giáo hữu trong họ
đạo chúng ta / năng cầu nguyện và tận
tâm giúp đỡ các vị chủ chăn trong Hội thánh.
Chủ tế : Lạy Đức Giêsu là vị chủ
chăn điển h́nh, xin sai đến với chúng con
những vị chủ chăn xứng đáng với Chúa,
và xin cho chúng con trở thành đoàn chiên ngoan ngoăn của
Chúa, Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha :
Trong tinh thần hiệp nhất của đoàn chiên quanh
chủ chiên nhân lành là Đức Giêsu, chúng ta hăy sốt
sắng cùng Ngài dâng lên Chúa Cha lời kinh chính Đức
Giêsu đă dạy.
- Sau kinh Lạy Cha :
"Lạy Đức Giêsu Kitô, Chúa đă nói với các tông
đồ rằng… Xin
đoái thương ban cho Hội Thánh được b́nh an
và hiệp nhất như ư Chúa muốn. Chúa hằng sống và hiển trị muôn
đời".
VII. GIẢI TÁN
Thánh lễ đă xong. Anh chị em hăy
ra về và sống an b́nh, đừng lo lắng ǵ cả,
v́ có Chúa là mục tử luôn chăm sóc mỗi người
chúng ta. Chúc anh chị em được b́nh an.