CHÚA NHỰT XV
CHỦ ĐỀ :
CHÚA SAI
CHÚNG TA ĐI
"Ngài
gọi Nhóm 12 lại
và bắt đầu sai đi từng hai người
một"
(Mc 6,7)
Minh
họa
- "Ngài gọi Nhóm 12 lại và
bắt đầu sai đi từng hai người
một" (Mc 6,7)
Sợi
chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Am 7,12-15) : Thiên
Chúa sai ngôn sứ Amos đi nói tiên tri cho dân
- Tin Mừng (Mc 6,7-13) : Đức
Giêsu sai 12 tông đồ đi rao giảng Tin Mừng.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Chúng ta thường nghe nói tới hai
chữ "thừa sai" : Giáo Hội chúng ta là
một Giáo Hội "thừa sai", mỗi tín hữu
chúng ta là một "thừa sai". "Thừa sai" là
ǵ ? Là được sai đi. Ngày xưa Đức
Giêsu đă sai 12 tông đồ đi khắp nơi rao
giảng Tin Mừng. Ngày nay Ngài cũng sai chúng ta như
thế.
Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hăy xin Chúa
dạy cho chúng ta hiểu rơ hơn để chúng ta thi hành
sứ mạng này.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Xưa nay chúng ta chỉ lo
"giữ đạo" mà không để ư đến
"truyền đạo".
- Chúng ta chưa ư thức ḿnh
được Thiên Chúa sai đi để mang Tin Mừng
đến cho người khác.
- Trong những lúc khó khăn, chúng ta
chưa phó thác đủ vào sự quan pḥng của Chúa.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Am 7,12-15)
Amos sinh sống ở tiểu
vương quốc Giuđa (miền
V́ trung thực nói lời Chúa, nên Amos
bị dân
Amos đáp lại : Ông chỉ là
một nông dân chứ không thuộc ḍng dơi ngôn sứ cho nên
không quen làm ngôn sứ. Nhưng chỉ v́ Thiên Chúa sai ông nên
ông phải vâng theo.
Trong một đoạn khác không
thuộc trích đoạn này, Amos c̣n nói một câu rất ư
nghĩa cho thấy sự thúc bách của lệnh Chúa sai
đi : "Sư tử gầm lên, ai lại không
sợ ; Đức Chúa Giavê phán, ai lại không nói tiên
tri ?" (Am 3,8)
2. Đáp ca (Tv 84)
Trích đoạn Tv 84 này có thể
được coi là nối tiếp ư tưởng của
bài đọc I : người được Thiên Chúa
sai đi phải quan tâm "lắng nghe điều Thiên
Chúa phán", đó là những lời mang lại b́nh an và
ơn cứu độ.
3. Tin Mừng (Mc 6,7-13)
Trong giai đoạn đầu của
việc rao giảng Tin Mừng, trung tâm hoạt động
của Đức Giêsu là thành Caphácnaum và những thành ven
bờ hồ Ghênêdarét. Bây giờ bước vào giai
đoạn 2, Ngài sai các tông đồ từng hai
người một đi đến những vùng khác.
- Sứ mạng của các ông là rao
giảng sự thống hối và trừ quỷ, chữa
bệnh.
- "Phương tiện" của
các ông chỉ có tối thiểu, c̣n tất cả những
điều khác đều phó thác cho Chúa quan pḥng lo liệu.
4. Bài đọc II (Êp 1,3-14)
Thánh Phaolô tŕnh bày chương tŕnh
cứu độ của Thiên Chúa :
- Ngài đă chọn chúng ta trước
khi tạo thành thế gian.
- Tiền định cho chúng ta
được phúc làm con Ngài nhờ Đức Giêsu Kitô.
- Cứu chuộc chúng ta bằng giá máu
của chính Đức Giêsu Kitô.
- Ban Thánh Thần cho chúng ta.
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Chúa cần đến chúng ta
Trong thời kỳ chiến tranh
Triều Tiên, một ngôi làng bị pháo kích nặng nề.
Giữa làng có một ngôi nhà thờ, trước nhà thờ
có một tượng Đức Giêsu được
đặt trên một cái bệ. Nhưng sau khi khói lửa
của trận pháo kích tan đi, người ta chỉ c̣n
thấy cái bệ, c̣n pho tượng th́ biến đâu
mất. Những người lính đồng minh cố
gắng đi t́m và cuối cùng cũng t́m thấy
tượng Chúa bị văng khỏi đó một
khoảng khá xa. Tuy nhiên hai cánh tay của Chúa đă bị
hỏng mất. Họ cung cấp một chiếc máy bay
để chở pho tượng về Mỹ cho thợ
làm lại hai cánh tay. Nhưng Cha Xứ từ chối. Cha
bảo cứ đặt pho tượng lên bệ như
cũ, phía dưới viết thêm hàng chữ : "Các
con thân mến, hăy cho ta mượn đôi cánh tay của các
bạn".
Câu chuyện trên giúp ta hiểu sứ
điệp của bài Tin Mừng hôm nay : Đức
Giêsu kêu gọi các tông đồ tham gia công việc của
Ngài. Ngài chia sẻ sứ mạng với họ. Ngài ban cho
họ chính quyền năng và uy tín của Ngài. Rồi Ngài
sai họ đi loan truyền Tin Mừng. Thực ra, họ
chỉ là những người chài lưới, cả tài
năng lẫn đức độ đều không có bao
nhiêu. Nhưng Ngài vẫn chia sẻ sứ mạng cho
họ, v́ họ sẽ thi hành sứ mạng không phải
bằng sức riêng của họ, mà bằng ơn Chúa.
Ngày nay, có nhiều đấng có
thẩm quyền vẫn e ngại không chia xẻ công
việc cho giáo dân ; mặt khác, nhiều giáo dân cũng e
ngại không dám gánh trách nhiệm trong Giáo Hội. Cả hai
phía đều tính toán thành bại dựa trên khả
năng của con người. Nhưng đó không phải
là tính toán của Thiên Chúa.
Hăy nhớ rằng Sách Thánh bắt
đầu bằng chuyện Thiên Chúa giao cho loài
người quyền hợp tác với Ngài trong công cuộc
sáng tạo vũ trụ ; bài đọc I hôm nay kể
chuyện Thiên Chúa giao cho Amos sứ mạng làm ngôn sứ cho
dân Israel mặc dù ông chỉ chuyên nghề chăm sóc cây sung ;
và bài Tin Mừng kể chuyện Đức Giêsu sai 12 tông
đồ vốn là những dân chài sứ mạng
truyền giáo. (Viết theo Flor McCarthy)
* 2. Phó thác trong tay Chúa
Bài Tin Mừng này nói đến tinh
thần Phó Thác mà Chúa muốn các Tông đồ phải có
trong khi đi truyền giáo. Phó Thác là một nhân đức
quan trọng, nhưng nhiều người không hiểu
đúng.
. Chẳng hạn một người
kia mắc bệnh, không lo chữa trị mà cũng
chẳng có biện pháp giữ ǵn sức khoẻ ǵ hết,
mà lại nói "Tôi phó thác tất cả cho Chúa". Như
thế có phải là phó thác không ? Dĩ nhiên là không.
. Hay một người khác không
chăm chỉ làm ăn, tiêu xài th́ chẳng tính toán cân
nhắc, rồi lâm cảnh túng thiếu. Cũng nó :
"Xin phó thác tương lai trong tay Chúa". Có phải là
phó thác không ? Dĩ nhiên cũng là không.
. Xin thêm một thí dụ nữa :
làm cha mẹ chẳng lo sửa dạy con cái, để cho
chúng hư thân mất nết, rồi bảo "Phó thác cho
Chúa". Có phải là Phó thác không ? Cũng không phải.
Nếu những trường hợp
kể trên mà là Phó Thác, th́ Phó thác chẳng c̣n phải là
một nhân đức nữa, nhưng là một tính xấu :
tính lười biếng, thụ động. Đạo
Công giáo mà chủ trương Phó thác kiểu đó th́
cũng không oan ức ǵ khi bị người khác chế
nhạo là đạo tiêu cực, đạo cảm trở
sự tiến bộ....
Ngược lại, đứng
trước một công việc mà ḿnh lo lắng thái quá, làm
như Chúa để một ḿnh ḿnh phải lo, th́ cũng
không phải là Phó thác. Rồi trong khi lo công việc mà quá
cậy dựa vào những phương tiện vật
chất, thế tục, không tin tưởng vào ơn Chúa
giúp, cũng không phải là Phó thác.
Vậy Phó thác là ǵ ? Trong bài Tin
Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa dạy các tông đồ
có tinh thần Phó thác đúng nghĩa : khi các ông ra đi
truyền giáo, các ông chỉ cần một số
phương tiện vật chất vừa đủ :
một cây gậy để chống lại thú dữ
dọc đường, một chiếc áo mặc, một
đôi dép để đi, thế thôi. Đừng quá lo lắng
về vật chất : không cần mang lương
thực dự trữ, không cần thủ cho nhiều
tiền trong túi, không cần tới hai áo, không cần mang
bị theo để đựng quà biếu của
người khác. Về nơi ăn chốn ở cũng
thế, miễn sao có chỗ trọ là được, nhà
nào cho ḿnh trọ, th́ cứ trọ bất kể giàu hay
nghèo, đừng chọn lựa nhà này hay nhà khác để
có tiện nghi hơn. Nhà nào không cho ḿnh trọ th́ ḿnh ra
đi không chút lưu luyến. Điều chính yếu quan
trọng mà các ông phải cậy dựa vào, đó là
quyền năng của Chúa.
Qua đoạn Tin Mừng trên, chúng ta
hiểu Phó Thác là đứng trước một công
việc, một mặt ḿnh không được lười
biếng buông trôi nhưng phải vận dụng hết
sức ḿnh để làm cho được ; mặt khác
không ỷ sức riêng ḿnh mà c̣n phải cầu nguyện xin
Chúa ban ơn giúp sức. Và khi đă cố gắng hết
sức ḿnh đồng thời đă tin cậy vào ơn
Chúa như thế, sau đó công việc diễn tiến
thế nào đi nữa ḿnh cũng không quá lo lắng sợ
sệt, v́ ḿnh đă Phó thác cho Chúa.
Như thế, đứng
trước một vấn đề khó khăn, nếu ta
ngả ḷng nản chí th́ là thiếu Phó thác ; nhưng
nếu ta quá lo lắng cậy dựa vào khả năng
riêng của ḿnh để giải quyết th́ cũng là
thiếu phó thác.
Chúng ta hăy làm như một đứa
bé tập đi : bàn tay nhỏ bé của nó nắm
chặt bàn tay Cha nó, đôi chân nhỏ bé của nó can
đảm bước đi từng bước từng
bước, và ḷng nó th́ rất an tâm, v́ nó biết chắc
có Cha nó luôn sẵn sàng nâng đỡ mỗi khi nó xảy
chân. Phó thác là như thế.
* 3. Chúa sai tôi đi
Sau thế chiến thứ nhất,
một linh mục trẻ người Pháp được
bài sai đi coi xứ. Tay xách vali, cha mạnh dạn ra
đi truyền giáo. Đến nơi chỉ thấy
hầm sâu, tường đổ. Nhà thờ, nhà xứ,
chỉ c̣n duy nhất một bức tường xiêu
vẹo.
Không một chút sờn ḷng, cha cùng
với các tín hữu tích cực kiến thiết lại
ngôi thánh đường đổ nát. Chẳng bao lâu sau,
đền thờ vật chất đă hoàn thành khang trang
đẹp đẽ. Giờ đây, cha lại tiếp
tục xây dựng đền thờ tâm hồn. Nhờ
đời sống gương mẫu, cha đă tu sửa
lại ḷng đạo đức của cả đoàn
chiên.
Tuổi cha chưa cao nhưng đă
kiệt sức, giữa lúc t́nh cha con đang mặn
nồng, gắn bó. Dầu vậy, nằm trên giường
bệnh, cha vẫn thản nhiên vui vẻ. Giờ hấp
hối đến, cha nhỏ nhẹ nói với những
người chung quanh :
- Giờ đây tôi vui mừng v́ đă
trung thành giữ lời nhủ bảo của thân phụ
ngày tôi chịu chức linh mục : "Nay con làm linh
mục Chúa, cha chỉ cầu ước cho con 3
điều : Thứ nhất, lúc con chết đừng
nợ ai xu nào ; Thứ hai, khi qua đời con cũng
chẳng c̣n xu nào ; Thứ ba, lúc lâm chung con đừng
vướng một chút tội nào với Chúa". Và ngài an
b́nh đi về với Đấng ḿnh đă trọn
đời dâng hiến.
*
Vị linh mục trong câu chuyện trên
đây, không những đă làm theo lời khuyên của thân
phụ, mà c̣n thi hành đúng lời dạy của
Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay. Khi sai các tông
đồ đi truyền giáo, Chúa phán : "Không được mang
lương thực, bao bị, tiền bạc…" (Mc.6,8). Hành trang của các ông chỉ là chiếc áo
đang mặc, cây gậy và đôi dép đi
đường. V́ chính Người đă từng nói : "Con chồn có hang, chim trời
có tổ, con Người không có chỗ dựa
đầu". Người
muốn các ông hoàn toàn nương tựa vào Chúa, phó thác cho
t́nh yêu quan pḥng của Người, và cậy dựa vào ḷng
tốt của tha nhân.
Đó là thân phận của kẻ
được sai đi : ra đi mà không ǵ bảo
đảm, ra đi mà không mảy may dính bén. Sẵn sàng
đến mà cũng sẵn sàng đi. Thành công không thụ
hưởng mà thất bại cũng chẳng đắng
cay. V́ "Phaolô
trồng, Apollo tưới và Chúa mới cho mọc lên" (1Cr.3,6).
Hôm nay Chúa cũng sai chúng ta đi vào
ḷng thế giới, để "rao
giảng sự sám hối" (Mc.6,12). Sám hối rất khó nói v́ chẳng mấy ai
thích nghe. Đó cũng là thách thức của người
tông đồ : can đảm nói lên những
điều phải nói. Nói mà không giảm nhẹ những
đ̣i hỏi của Tin mừng. Nói mà không lợi dụng
tin mừng để mưu cầu cá nhân. Nói mà không trích
dẫn Tin mừng để khoe khoang kiến thức. Nói
mà không bóp méo Tin mừng để vuốt ve quần chúng.
Dù sao Tin mừng vẫn phải được loan báo. Chúng
ta hăy xem câu nói của Thánh Phaolô như là của chính
ḿnh : "Khốn thân
tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cr.9,16).
Hôm nay, Chúa cũng trao cho chúng ta
những quyền năng như hành trang để lên
đường. Đó là quyền rao giảng Tin mừng,
quyền trừ quỷ và quyền chữa bệnh.
Chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng
với niềm hân hoan của người t́m
được viên ngọc quí.
Chúng ta có thể nói về Chúa như
nói về một người bạn thân.
Chúng ta có thể xua trừ quỉ
bằng cách đẩy lui những thói hư tật
xấu.
Chúng ta có thể chữa bệnh
bằng cách lau khô những giọt lệ của bao
người quanh ta.
*
Lạy
Đức Giêsu, mỗi thánh lễ là một bài sai, mỗi
bài Tin mừng là một sứ điệp Chúa gởi cho
trần gian qua từng người chúng con. Xin cho chúng con
đừng bao giờ cậy dựa sức riêng ḿnh,
nhưng tin tưởng vào quyền năng Chúa mà chu toàn
sứ vụ Người đă trao ban. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
4. Những lời chói tai
Chúng ta hăy t́m hiểu bài đọc
thứ I, được trích từ sách tiên tri Amos.
Amos không phải là một nhà tiên tri
chuyên nghiệp. Hằng ngày làm ăn sinh sống bằng
nghề chăn chiên và hái trái sung. Nhưng một ngày kia
Thiên Chúa bảo ông hăy lên miền Israel công bố Lời
Chúa. Lúc ấy nước Do thái đang chia cắt thành hai
miền vừa khác nhau vừa đối nghịch
nhau ; miền Nam nơi Amos đang sinh sống là
Yuđa, c̣n miền Bắc là Israel. Mà Israel lúc đó đang
vào hồi thịnh vượng, giàu có. Tuy nhiên đó
chỉ là thịnh vượng giàu có về mặt vật
chất, chứ về tôn giáo và luân lư xă hội th́ rất
tồi tệ.
. Về tôn giáo : người dân
Israel thờ Chúa ở Đền Thờ Bethel. Họ dâng
hiến rất nhiều lễ vật. Nhưng họ
cũng ỷ rằng v́ họ đă dâng nhiều lễ
vật cho nên họ chẳng cần phải sống
đạo đức. Chúa đă nhận lễ vật
của họ cho nên Chúa có bổn phận phải che
chở cho họ. Đó là một thứ đạo
đức bề ngoài.
. C̣n về luân lư xă hội th́
đầy dẫy những xấu xa : người giàu
bóc lột, ức hiếp người nghèo, thói làm ăn gian
lận, kẻ có nhiều tiền th́ có tất cả, c̣n
kẻ không có tiền th́ thua thiệt mọi mặt.
V́ vâng lệnh Chúa, Amos đă từ
giả nếp sống b́nh dị ở miền Nam Yuđa
để lên miền bắc Israel. Ông lớn tiếng công
kích tất cả những tệ nạn xấu xa vừa
kể trên. Ông can đảm vạch tội của mọi
hạng người từ vua chúa, đến các tư
tế và những người giàu có. Và dĩ nhiên là
những người này tức giận. Nhưng người
tức giận nhất là Amasia, một tiên tri chuyên
nghiệp ở đền thờ Bethel. Xưa nay Amasia
vẫn cấu kết với giới hoàng gia và những người
giàu có, dùng quyền tiên tri để nói những
điều vừa ư họ. Bây giờ ông cũng thay
mặt họ chống lại Amos. Đại khái ông
mỉa mai Amos rằng : nếu nhà người có
muốn kiếm ăn bằng cái nghề tiên tri này th́
tốt hơn hăy trở về miền Yuđa của nhà
ngươi mà nói tiên tri đi. Ở đây mà nói tiên tri
giọng đó th́ chẳng ăn khách đâu. Đối
lại Amos trả lời : tôi đâu phải là một
người kiếm sống bằng nghề tiên tri. Tôi
chỉ là một nhà nông thôi. Nhưng v́ Chúa sai tôi đến
đây nói tiên tri th́ tôi phải đến và nói, và bổn
phận của tôi là phải truyền đạt lại
đúng y như lời Chúa. Amasia tức bực. Ông ta
vận động với triều đ́nh Israel ra lệnh
trục xuất Amos. Thế là Amos phải trở về quê
cũ.
Ca dao có câu : "Lời nói không
mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa ḷng
nhau". Đó là một thái độ khôn ngoan, khôn ngoan v́
lời ḿnh nói không đụng chạm ai và dễ
được người ta chấp nhận,
người ta c̣n thích ḿnh nữa. Đó là kiểu khôn ngoan
của tiên tri Amasia : ông đă nói những lời
thuận tai vừa ḷng những bậc vua chúa và những
người giàu có, và họ đă ưu đăi ông, ông
được hưởng một cuộc sống sung túc
dễ chịu. Nhưng kiểu khôn ngoan đó không đem
lại lợi ích thực sự cho dân. Dân Israel bị ru ngủ
bởi những lời dễ chịu ấy cứ
tiếp tục dấn sâu măi trong những tội lỗi
của ḿnh, để rồi đến khi Thiên Chúa ra tay trừng
phạt th́ hối tiếc đă muộn. Năm 721 Chúa
để cho đất nước họ bị xâm
lược, dân chúng bị bắt, đi lưu đày.
Tục ngữ cũng có câu "Thuốc đắng đă
tật lời thật mất ḷng". Những lời nói
thành thật, dám vạch ra những cái xấu th́
thường không được người ta ưa nghe,
lại c̣n làm cho người ta ghét ḿnh nữa. Có thể coi
đó là một thái độ ngu dại. Đó là cái ngu
dại của Amos. Thế nhưng cái ngu dại ấy
lại có ích. Nếu như dân Israel chịu nghe lời
của Amos mà sửa đổi những tật xấu
của ḿnh th́ họ đă được Chúa thương
tha thứ.
Như vậy là có 2 kiểu nói :
Kiểu nói thuận tai của Amasia và kiểu nói chói tai
của Amos. Tự nhiên th́ chúng ta thích nghe những lời
nói kiểu Amasia. Thế nhưng nếu chúng ta muốn hoàn
thiện đời ḿnh th́ chúng ta phải tập lắng
nghe những lời nói kiểu Amos. Vậy ai là những
Amos của chúng ta ngày nay ? Trước hết đó là
những Linh mục có nhiệm vụ giảng dạy
Lời Chúa. Kế đó là những người thiện
chí muốn sửa đổi chúng ta. Và kế tiếp
nữa phải kể cả những người không
ưa chúng ta mà chỉ trích chúng ta. Trước những
lời nói thẳng nói thật, nhiều người
tức bực, chẳng những không là một
người muốn kiếm ăn bằng nghề tiên tri.
Chúng ta cũng có phản ứng tương tự khi t́m
cách nói xấu lại người dám nói thẳng vạch
cái xấu của chúng ta : nào là người ấy
bịa chuyện, nào là bản thân người ấy
cũng chẳng tốt lành ǵ, có khi c̣n vạch ra những
cái xấu của người ấy hay thậm chí bịa
ra những điều xấu gán cho người ấy
để làm giảm uy tín của họ và để che
giấu chính cái xấu của ḿnh. Nghĩa là trên
cương vị người nghe, chúng ta phải tập
khiêm nhường để sẵn sàng lắng nghe
những tiếng nói chói tai vạch những cái xấu
của ḿnh.
C̣n trên cương vị người
nói, nếu nói kiểu Amasia để làm vừa ḷng
người ta th́ thật là quá đă, nhưng chúng ta
phải tập cho có can đảm để dám nói theo
kiểu Amos, dám vạch thẳng những cái xấu của
người khác. Nhưng chúng ta đừng hiểu lầm
Amos, cho rằng Amos đă làm gương cho chúng ta về
việc nói xấu nói hành. Amos nói thẳng nói thật
chứ không phải nói xấu nói hành. Người nói là
thẳng nói thật là người nói trước mặt
người nghe. C̣n người nói xấu nói hành là
người trước mặt th́ nói tốt hoặc không
dám nói, nhưng sau lưng th́ nói xấu. Thực ra, biết
được một điều xấu của
người khác th́ rất dễ, nhưng chỉ cho
người ta biết cái xấu của họ một cách
thẳng thắn th́ là khó, và giúp cho người ta sửa
được cái xấu ấy lại càng khó hơn
nhiều. Vậy trong thực hành, khi chúng ta biết một
điều xấu của người nào đó, nếu
chúng ta có can đảm tới nói thẳng với
người đó để người đó sửa
lỗi th́ chúng ta hăy nói, cho dù lời nói của ḿnh có
thể làm cho người ta khó chịu, người ta ghét
ḿnh. C̣n nếu chúng ta không có đủ can đảm như
vậy th́ thà chúng ta im lặng, đừng nói lén sau
lưng, đừng rỉ tai, đừng nói lại cho
bất cứ ai nghe, v́ như thế chẳng những không
có lợi mà chỉ có hại và c̣n có tội nữa.
Tuy nhiên có lẽ chúng ta nên t́m một
giải pháp dung hoà giữa hai thái độ của Amasia và
Amos. Amasia chỉ nói ngọt nên được người
ta ưa nghe nhưng không làm lợi cho người ta. C̣n
Amos th́ nói lời chói tai nên người ta không chịu nghe,
c̣n bị người ta ghét và xua đuổi. Thái độ
dung hoà là nói thật nhưng ngọt ngào. Vừa dễ nghe
vừa sửa được lỗi của người
khác. Và ngọt ngào th́ không ǵ ngọt ngào bằng yêu
thương. V́ yêu thương người có lỗi mà ta
nói, và nói làm sao để người nghe hiểu rằng
ta nói v́ ta thương họ ; và kết quả là v́
họ biết ta thương họ nên họ sẽ cố
gắng sửa ḿnh để đáp lại t́nh
thương của ta.
Con người có tai để nghe và
lưỡi để nói. Trong chữ Nho, chữ
"Thánh" là do 3 chữ ghép lại : chữ
Vương ở dưới có nghĩa là vua, phía trên có
chữ Nhĩ là lỗ tai và chữ Khẩu là cái miệng.
Vậy Thánh, theo chữ Nho, có nghĩa là người làm
chủ được sự nghe và sự nói của ḿnh.
Làm chủ được sự nghe là không phải chỉ
thích nghe những lời nói khen mà c̣n dám nghe những lời
phê b́nh thẳng thắn ; làm chủ sự nói là không
phải bạ đâu nói đó, nói một cách vô trách
nhiệm, nói hành nói xấu, nhưng là nói đúng, nói
thật, nói khéo, nói với t́nh thương để
lời nói của ḿnh đem lại lợi ích xây dựng
cho người khác.
5. Một tấm gương
Một tội nhân được
giong đi pháp trường. Đến nơi hành quyết
lính vây quanh thành ba ṿng : ṿng trong cầm gươm, ṿng
giữa cầm giáo, ṿng ngoài cầm cờ, sĩ quan oai
vệ cưỡi ngựa cưỡi voi. Bỗng tội
nhân lên tiếng nói đôi lời với những
người có mặt, sau đó nói riêng với viên chỉ
huy. Với viên chỉ huy tội nhân nói :
"Tôi xin gửi quan 30
đồng tiền để xin quan một ân huệ :
xin đừng chém tôi một nhát, nhưng chém ba nhát. Nhát
thứ nhất, tôi tạ ơn Chúa đă dựng nên tôi, và
đưa tôi đến đất Việt Nam giảng
đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ
sinh thành nên tôi. C̣n nhát thứ ba như lời di chúc cho các
bổn đạo của tôi, để họ bền chí
trong đức tin, theo gương vị chủ chăn
của ḿnh. Và như thế họ đáng lănh phần phúc
cùng các thánh trên trời."
Tội nhân là Đức Cha An
vừa dứt lời, lính liền trói ngài vào cây cọc h́nh
thập giá. Dân công giáo có mặt oà lên khóc. Lính chém
Đức Cha ba nhát như ngài đă yêu cầu. Đầu
và ḿnh của vị tử đạo bị ném xuống
sông. Có hai người lính thấm máu vị tử đạo
liền bị tống giam. Đồ đạc sách vở
của Đức Cha đều bị đốt.
Đó là ngày 20 tháng 7, 1857.
Trước đó hai tháng, Đức Cha đă viết
thư tạm biệt Đức Giám Mục và các linh
mục trong Giáo Phận. Từ nhà ngục tỉnh Nam
Định ngày 28 tháng 5,1857, Đức Cha An viết :
"Tù nhân trong Chúa gửi lời
tạm biệt Đức Cha và các cha cho tới ngày gặp
nhau trên trời. Xin tất cả anh em tha thứ cho những
điều lầm lỗi và gương xấu tôi đă
làm… Gông xiềng tôi đang mang được coi là
những báu vật Đức Giêsu gửi cho tôi. Tôi vui
mừng lắm và chỉ ước ao đổ máu v́ Chúa,
để máu tôi hoà với máu cực thánh Đức Giêsu
rửa linh hồn tôi được sạch mọi
tội lỗi. Xin anh em cầu cho tôi vững tin đến
cùng…"
Giuse Diaz Sanjurjo cất tiếng
chào đời ngày 26 tháng 10, 1818 tại tỉnh Lugo
nước Tây Ban Nha. Cậu là con cả trong gia đ́nh có
năm anh em mà một người sau là nữ tu Antonia.
Lớn lên cậu theo học chủng viện Lugo. Chiến
tranh khiến việc học của cậu bị gián
đoạn ba năm nhưng sau được vào
đại học, cậu đă t́m đến với
tỉnh ḍng Đa Minh Rất Thánh Mân Côi là tỉnh ḍng
đặc trách lo việc truyền giáo tại Viễn
Đông. Ở đây cậu đă lần lượt
được nhận vào Tập Viện ngày 23 tháng 9, 1842 ;
được tuyên khấn 24.9.1843. Cha Giuse Diaz Sanjurjo
đến địa phận Đông Đàng Ngoài ngày
19.9.1845 với tên Việt Nam là An. Sau thời gian học
tiếng Việt, cha An được giao nhiệm vụ
coi sóc chủng viện tại Nam An.
Dưới thời vua Tự
Đức cấm đạo gắt gao năm 1848, cha An
đă phải đau ḷng gấp rút giải tán chủng sinh,
chôn giấu các đồ thờ phượng và nh́n
chủng viện bị tàn phá. Trong thư gởi một
bạn ở Tây Ban Nha, cha An viết : "Chúng tôi
chẳng c̣n nhà, chẳng c̣n sách vở và áo quần,
chẳng c̣n ǵ nữa… nhưng chúng tôi vẫn an tâm v́
nhớ lời Thầy Chí Thánh nói "Con Người không
có chỗ gối đầu…"
Nhiệt thành với tương
lai giáo phận, cha An tái lập chủng viện tại Cao
Xá. Thời gian này cha biên soạn cuốn văn phạm La
ngữ bằng tiếng Việt.
Qua tông thư đề ngày
05.09.1848, Đức Piô IX thiết lập giáo phận Trung
tách khỏi giáo phận Đông Đàng Ngoài. Giáo phận
Trung gồm cả Bùi Chu và Thái B́nh hiện nay, với dân
số khi ấy là 140.000 giáo hữu rải rác trên 624 giáo
xứ.
Người có công thuyết
phục linh mục Marti Gia nhận chức vụ giám
mục giáo phận mới thành lập chính là cha An. Trong
bầu khí trao đổi thân t́nh, cha An đă phân tích các
mặt của nhiệm vụ giám mục với những
khó khăn trong thời cấm đạo. Kế
đến cha nêu những nhu cầu của cộng đoàn
dân Chúa mà vai tṛ phục vụ được giao cần
phải đáp ứng. Cha An không ngờ sắc lệnh
bổ nhiệm Đức Cha Marti Gia làm giám mục giáo
phận Trung Đàng Ngoài, có ban quyền chọn giám mục
phó. Đức Cha Gia liền chọn người đă
thuyết phục ḿnh nhận chức giám mục bản
quyền, là cha An, làm giám mục phó.
Sau khi thụ phong giám mục, cha
An lại trở về Cao Xá tiếp tục coi sóc chủng
viện. Trong thư gởi gia đ́nh, đức tân giám
mục viết : "Ở đây th́ chức vụ cao
chỉ thêm công việc, con thường phải đi
bộ, có khi phải đi chân không, nhiều lần
phải lội bùn đến đầu gối, để
trốn tránh những người lùng bắt."
Tháng 3, 1850, Đức Cha An giao
chủng viện cho cha San Pedro Xuyên coi sóc rồi đi kinh
lư toàn tỉnh Hưng Yên. Cuộc kinh lư bị bỏ
dở. Hai linh mục Việt Nam cùng đi với
Đức Cha bị bắt. Đức Cha thoát nạn
nhưng về bị sốt rét nặng một thời
gian. Hai năm sau, Đức Cha Marti Gia lâm bệnh nặng
và qua đời tại Hương Cảng ngày 26.4.1852.
Thế là Đức Cha An phải đến ở toà giám
mục Bùi Chu để điều khiển công việc
giáo phận mà mũi nhọn là công cuộc truyền giáo.
Số người được chịu phép rửa
tội năm 1852 lên tới 28.355 người. Đức
Cha An viết : "Đó quả là phần
thưởng đầy khích lệ để các nhà
truyền giáo tiếp tục trách nhiệm tông đồ
bất chấp âm mưu của thần dữ. Không nản
ḷng trước những cơ cực thiếu thốn,
trước nguy hiểm vây quanh và những nghịch
cảnh có thể xảy đến…"
Xảy ra là từ năm 1854,
tại miền Bắc có giặc châu chấu của Lê Duy
Cự và Cao Bá Quát. Họ kêu gọi người công giáo tham
gia nhưng Đức Cha An lên tiếng cấm bổn
đạo không được chống lại chính
quyền hợp pháp. Do đó các quan chức địa
phương cũng nới tay trong việc thi hành sắc
lệnh cấm đạo của nhà vua. Tổng
đốc Nguyễn Đ́nh Tuân biết chính xác trụ
sở toà giám mục Bùi Chu nhưng vẫn làm ngơ. Ông c̣n
hứa nếu bất đắc dĩ phải sai quân truy
nă th́ ông sai người báo trước.
Không may khi ấy có quan
thượng thư từ kinh đô về Nam Định
nhằm lúc có người làng Thoại Miên là Chánh Mẹo,
lên tỉnh tố cáo rằng có đạo trưởng Tây
tên An ở Bùi Chu. Quan Tổng đốc buộc ḷng
phải ra lệnh truy bắt nhưng cũng cho
người đi báo tin cho toà giám mục. Tiếc rằng
tin đến nơi th́ Đức Cha An đă bị
bắt. Khi lính đến bao vây, Đức Cha chạy
đi ẩn náu liên tiếp ở bốn nơi. Nơi
cuối cùng ở giữa bụi tre khá kín. Nhưng đúng
lúc Đức Cha ngó đầu ra để xem lính đă
đi chưa th́ bị phát hiện và bị bắt.
Đức Cha An bị giải
về Nam Định và bị biệt giam hai tháng
trước khi có án tử h́nh từ kinh đô truyền
chém đầu Tây dương đạo trưởng tên
An. Nhưng Đức Cha An đă không bị cưỡng
bức chịu tử h́nh. Ngài đă vui mừng đón
nhận cái chết tử đạo v́ yêu mến
Đức Giêsu vị Mục Tử nhân lành. Do đó ngài
đă xin được chém ba nhát mà nhát thứ ba như
lời di chúc cho các bổn đạo của ngài để
họ bền chí trong đức tin, theo gương vị
chủ chăn của ḿnh.
Cuộc đời tông đồ
và cái chết tử đạo của Đức Cha An
được kể v́ gắn liền với đời
tông đồ và cái chết tử đạo của
Mười Hai Tông Đồ xưa. Mỗi giám mục
đều là người kế vị các tông đồ
của Đức Giêsu. Chính Người gọi từng
người môn đệ (Mc 1,16-20). Từ số các môn
đệ ấy, Người tuyển chọn Nhóm
Mười Hai (3,13-19) để Nhóm này ở lại bên
Người hầu được huấn luyện.
Mục tiêu của huấn luyện là để họ trở
nên những người được Đức Giêsu sai
đi như ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay (6,7-13).
Họ có sứ mạng khử trừ các thần ô uế
(c.7), đó là điều chính yếu. Nhưng họ c̣n
được hướng dẫn về cách ăn
vận, về đồ vật nào được mang theo,
về nơi nào nên ở lại, về cách xử trí khi
bị khước từ… Điều quan trọng là
họ phải trở nên nhẹ nhàng cho việc di
chuyển và phải đặt ḿnh dưới sự
săn sóc của Thiên Chúa.
Điều mà Tin Mừng Máccô
gợi ư đối với các Kitô hữu xưa cũng
như nay là chính họ cũng cần ở lại bên
Đức Giêsu để được Người
huấn luyện. Đức Giêsu hôm qua cũng như hôm nay
và măi măi vẫn là một (Dt 13,8). Chính Người
đứng đầu Giáo Hội. Người điều
khiển mọi người nhờ Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh
Linh là Đấng làm vang lên tiếng gọi của
Đức Giêsu nơi những tâm hồn quảng
đại. Chúa Thánh Linh cũng là Đấng làm cho cuộc
huấn luyện các môn đệ vẫn c̣n tiếp tục
trong Giáo Hội. Thư Do Thái nói rơ tính chất của
cuộc huấn luyện đó khi nói "Anh em hăy nhớ
đến những người lănh đạo của anh
em, họ là những người làm cho anh em
được nghe lời của Thiên Chúa và hăy xem cuộc
đời của họ kết thúc như thế nào,
để noi theo ḷng tin của họ" (Dt 13,7).
Vậy bài Tin Mừng hôm nay đi
đôi với cái chết tử đạo của các thánh
tông đồ cũng như của các vị kế
nghiệp Nhóm Mười Hai như trường hợp
Đức Cha An, phải trở nên sức mạnh củng
cố ta trong đức tin và thăng tiến ta trong
đức ái nhằm vinh danh Chúa hơn. (Lm Augustine sj,
Vietcatholic 2001)
6. Chuyện minh họa
a/ Đóng
góp
Một vị Thị trưởng
mở một Lễ hội lớn và mời mọi
thị dân đến dự. Phần thức ăn th́
vị Thị Trưởng hứa cung cấp đầy
đủ. Phần rượu th́ ông kêu gọi mỗi
người khi đến dự hăy mang theo một chai,
đến đổ vào một thùng rất lớn rồi
mọi người sẽ uống chung.
Tới ngày Lễ hội, ai nấy
đều mang chai rượu ḿnh đến đổ vào
thùng. Khi mọi người đổ xong, vị Thị
trưởng cầm ly đến múc từ trong thùng ra,
rồi nâng ly tuyên bố "Lễ Hội chính thức
bắt đầu".
Tuy nhiên khi ông Thị Trưởng
uống, th́ ôi thôi chỉ toàn là nước ! Bởi v́
ai cũng nghĩ rằng người ta sẽ mang
rượu thật đổ vào đấy, chỉ
một chai nước của ḿnh th́ có làm loăng bao nhiêu
đâu ! Thế là Lễ Hội thất bại thê
thảm, chỉ v́ sự tiêu cực và ích kỷ của
thị dân.
Chúa mời gọi chúng ta cộng tác
vào công tŕnh của Ngài. Chúng ta hăy là những người
tích cực chứ đừng tiêu cực như những
thị dân trong chuyện trên. Chúng ta đừng chỉ
biết nhận mà cũng hăy biết cho.
b/ Trang
bị đầy đủ
Một chàng hiệp sĩ chuẩn
bị làm một chuyến viễn du. Chàng tính trước
tất cả mọi t́nh huống có thể xảy ra,
để trang bị tất cả những điều
cần thiết để đối phó.
Chàng mang theo một thanh gươm và
một bộ áo giáp để sẵn sàng chiến
đấu với quân thù. Chàng mang thêm một b́nh dầu
chống nắng để thoa lên da pḥng khi phải đi
giữa trời trưa nắng gắt. Lại mang thêm
một cái ŕu để đốn củi đốt lên
pḥng lúc đi lạc ban đêm trong rừng. Chàng c̣n mang thêm
một cái lều và rất nhiều chăn mền pḥng khi
gặp tiết trời trở lạnh. Lại có cả
nồi niêu xoong chăo để nấu nướng kẻo có
lúc không gặp được quán ăn. Và chàng cũng không
quên chở theo mấy bao ngũ cốc cho con ngựa v́
sợ dọc đường không mua được. Và
với những hành trang rất đầy đủ
đó, chàng bắt đầu lên đường.
Nhưng mới đi được
một khoảng th́ gặp một chiếc cầu cũ
kỹ lung lay. Chàng mới đi được đến
giữa cầu th́ chiếc cầu găy sụp v́ không
chịu nổi sức nặng của mớ hành lư. Thế
là anh chàng hiệp sĩ chết đuối mà không hoàn thành
được cuộc hành tŕnh đă dự định.
Khi Đức Giêsu sai 12 tông đồ
ra đi truyền giáo, Ngài căn dặn họ một
mặt đừng mang nhiều hành trang, mặt khác hăy phó
thác cho Chúa Quan Pḥng. Muốn hành tŕnh đi xa th́ hành trang
phải nhẹ nhàng. Tuy nhiên ra đi với hành trang nhẹ
nhàng đ̣i hỏi phải có đức tin vững
chắc.
c/ Chúng ta là
công cụ của Chúa
Một ngày mùa đông, một
người bộ hành bắt gặp một cậu bé
đang ngồi ăn xin ở dạ cầu. Cậu bé
vừa lạnh run vừa rất đói. Người
bộ hành cảm thấy bất nhẫn nên nói với
Chúa :
- Thưa Chúa, sao Chúa không làm ǵ hết
để giúp cậu bé này ?
Chúa đáp :
- Ta đă làm rồi chứ.
Người bộ hành rất ngạc
nhiên trước câu trả lời ấy nên vặn
lại :
- Nhưng dù Chúa có làm ǵ đi nữa
th́ xem ra chẳng có hiệu quả ǵ cả.
- Ta đồng ư.
- Nhân tiện, xin mạo muội
hỏi Chúa một câu nữa : Chúa đă làm ǵ nào ?
- Th́ Ta đă tạo dựng nên con
đó.
Chúng ta là dụng cụ Chúa dùng
để lo cho người khác, và chúng ta có trách nhiệm
về hạnh phúc của người khác.
d/ Ánh sáng
của Chúa
Ở thành phố
Để trở thành ánh sáng tỏa
chiếu trong thế giới tối tăm này, chúng ta không
cần phải có nhiều tiền, mà chỉ cần có
một tấm ḷng biết hướng tới người
khác.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă
sai 12 tông đồ đi loan báo Tin mừng. Chúng ta đă
lănh nhận bí tích Rửa tội và Thêm sức nhân danh Thiên
Chúa Ba Ngôi, chúng ta cũng được sai đi để
Tin mừng hóa anh chị em đồng bào chúng ta. Chúng ta hăy
dâng lời cầu nguyện :
1. Hội thánh có
sứ vụ loan báo Tin mừng cho mọi dân tộc mút cùng
trái đất / Xin cho các giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong
Hội thánh luôn hăng say thi hành sứ vụ Chúa đă trao
phó / dầu gặp thuận lợi hay bất cứ khó
khăn nào.
2. Nhiều nhà
cầm quyền trên thế giới c̣n hạn chế
cấm đoán, và bách hại các sứ giả Tin mừng
của Chúa / Xin cho họ biết dẹp bỏ mọi
thành kiến sai lầm / v́ việc Tin mừng hóa
chỉ nhằm mục đích đem lại hạnh phúc
thật cho con người.
3. Chung quanh chúng
ta c̣n rất nhiều người chưa biết Tin
mừng của Chúa / c̣n sống trong mê tín dị đoan
hoặc nô lệ vật chất / Xin cho họ sớm được
nghe biết Tin mừng giải phóng của Chúa.
4. Nhiều giáo
hữu trong họ đạo chúng ta c̣n dửng dưng và
chẳng quan tâm ǵ đến nhiệm vụ truyền
giáo / Xin Chúa cho họ biết cầu nguyện và góp công
góp của cho việc truyền giáo của Hội thánh.
Chủ tế : Lạy Chúa, xin cho mọi Kitô hữu chúng
con biết nghe theo lệnh truyền của Chúa, để
sẵn sàng cộng tác bằng bất cứ cách nào có
thể, cho mọi người được nghe biết
và đón nhận Tin mừng của Chúa. Chúng con cầu xin
nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha :
Khi cùng với Đức Giêsu dâng lời cầu nguyện
lên Chúa Cha trên trời, chúng ta hăy đặc biệt xin cho
Nước Cha trị đến.
VII. GIẢI TÁN
- Thánh lễ đă xong. Đây là lúc Chúa
sai chúng ta đi. Chúng ta hăy mang tinh thần Tin Mừng
của Chúa đến cho tất cả mọi người
chúng ta sẽ gặp gỡ trong tuần này.
Bài đọc thêm
THƯ ÊPHÊXÔ
A.
Người nhận thư
Về
người nhận thư, ta phải lưu ư tới 3
điều bất thường sau :
1. Êphêxô
là thủ phủ của Tỉnh hạt Asia (Tiểu Á), là
một thành phố lớn, lại là nơi Phaolô
thường xuyên lui tới và cư trú trong 1 thời gian
lâu. Do đó có thể nói Êphêxô được Phaolô thân
thiết hơn mọi giáo đoàn khác. Thế mà giọng
điệu thư này có vẻ chung chung (impersonnel)
chứ không có ǵ là thân thiết cả.
2. Trong
số các bản chép tay thư này, một vài bản chép câu
1,1 là "... kính gởi hàng
thánh hữu ở Laođixê"
3. Vài
bản khác lại chép bỏ trống : "... kính gởi hàng thánh hữu ở..."
V́ 3
điểm bất thường trên nên có nhiều giả
thuyết về người nhận thư :
a/ Là giáo
đoàn Laođixê.
b/ Là
một bức thư chung viết sẵn để
muốn gởi đến giáo đoàn nào cũng
được.
c/ Chúng ta
theo giả thuyết của W. Harrington : đây là thư
gởi trực tiếp cho giáo đoàn Êphêxô. Nhưng v́
Êphêxô c̣n là thủ phủ của tỉnh hạt Asia
rộng lớn, có nhiều liên hệ với các giáo đoàn
khác trong tỉnh hạt (có thể coi đây là trung tâm
của vùng truyền giáo), nên cũng gián tiếp
gởi cho các giáo đoàn kia nữa. Nghĩa là qua trung gian
Êphêxô, Phaolô cũng muốn nói với các giáo đoàn kia. Tóm
lại, đây là một thư luân lưu cho nhiều
giáo đoàn mà Êphêxô là người nhận đầu tiên.
Giả
thuyết này cắt nghĩa được tất cả 3
điều bất thường trên : giọng
điệu chung chung v́ viết cho nhiều giáo đoàn ;
những chỗ bỏ trống là để cho Êphêxô khi
muốn gởi cho giáo đoàn nào khác th́ điền tên giáo
đoàn ấy vào ; "tại
Laođixê" v́ đó là một bản gởi
đến Laođixê.
B. Hoàn
cảnh
Thư
này có nhiều điểm giống với thư gởi
giáo đoàn Côlôxê :
-
Viết lúc Phaolô đang bị cầm tù ở Rôma
- Nội
dung tương tự nhau
- Cùng do
một người mang đi là Tychique.
Chúng ta
biết có hai thư khác của Phaolô cũng tương
tự nhau là thư Galát và thư Rôma : khởi
đầu Phaolô viết cho giáo đoàn Galát để
giải quyết vụ "khủng hoảng Galát"
(muốn được cứu rỗi th́ ngoài niềm tin
vào Đức Kitô c̣n phải giữ thêm luật lệ do
thái nữa mới "chắc ăn"). Sau đó v́
thấy vấn đề có tầm quan trọng đối với các giáo đoàn
khác nữa nên Phaolô viết thêm một thư nữa
gởi giáo đoàn Rôma : nội dung tương tự
nhưng giọng điệu b́nh tĩnh hơn chứ không
có tính bút chiến như thư đầu.
Hai
thư Côlôxê và Êphêxô cũng vậy : cũng có một
cơn khủng hoảng được gọi là
"khủng hoảng Côlôxê" (không vững ḷng khi chỉ
tin vào Đức Kitô, nên tin thêm nhiều điều nữa
từ do thái giáo, ngoại giáo và những ư tưởng
của thuyết tiền ngộ đạo, tạo thành
một thứ tín ngưỡng thập cẩm). Lúc
đầu Phaolô viết cho Côlôxê. Sau đó, thấy vấn
đề quan trọng nên lấy lại đề tài này
viết một thư luân lưu và gởi đến Êphêxô
trước, bàn vấn đề 1 cách sâu rộng và b́nh
tĩnh hơn. Cha Benoit nhận định : "Synthèse des épitres précédentes,
notamment de romains et de colossiens, elle représente comme l'apogée de
la pensée paulinienne" (là tổng hợp các thư
trước, đặc biệt là thư Rm và thư Cl,
thư này (Ep) như là đỉnh cao của tư
tưởng Phaolô). Đúng vậy, thư Rm đă sâu và
rộng hơn các thư trước, thư Ep c̣n sâu
rộng hơn nữa, nó là tuyệt đỉnh của
tư tưởng Phaolô.
C.
Nội dung
Thư
này có phần giống với thư Gl, Rm và Cl ở chỗ
giải quyết một cơn khủng hoảng
đức tin và sau đó triển khai 1 chủ đề
thần học :
- Nhân
cơn khủng hoảng Galát, Phaolô triển khai vấn
đề và dẫn tới một ư tưởng then
chốt : "người ta được công chính hóa
nhờ đức tin chứ không phải nhờ lề
luật".
- Nhân
cơn khủng hoảng Côlôxê, Phaolô triển khai vấn
đề và tiến tới một bước xa hơn
nữa : "Đức Kitô là tất cả và nơi
tất cả mọi người"
- Thư
Ep này c̣n tiến xa hơn nữa : niềm tin vào Đức
Kitô được thể hiện trong Giáo Hội.
Sở
dĩ Phaolô đề cao Giáo Hội v́, theo ông, ư
định huyền diệu của Thiên Chúa an bài từ
muôn thuở và giấu kín qua bao đời đă
được thi hành trong Đức Kitô, mặc
khải cho các tông đồ triển khai trong Giáo
Hội.
Chính v́
thế, người ta đă đặt cho thư Ep này thêm
một biệt danh : thư bàn về Giáo Hội
(l'épitre de l'Eglise). Phaolô gọi Giáo Hội bằng nhiều
tên : Thân thể Chúa Kitô, Ngôi nhà của Thiên Chúa,
Đền thờ, Hiền thê của Chúa Kitô.
1,03-14 Chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa
1,15--2,10 Chương tŕnh cứu độ ấy được thực hiện trong Giáo
Hội
3,01-13 Việc
mặc khải mầu nhiệm cứu
độ cũng được thực
hiện trong Giáo Hội :
Từ chương 4 đến
hết là những lời khuyên cụ thể, đặc
biệt lời khuyên đoàn kết bởi v́ mọi
người thuộc về một thân thể duy nhất
là Giáo Hội. Nói theo từ ngữ của Phaolô là : "chỉ
một thân thể, một Thánh Linh, một niềm trông
cậy, một Chúa, mộït đức tin, một Phép
rửa, một Thiên Chúa là Cha mọi người" (4,4-6)
Trong
phần những lời khuyên cụ thể này, ta cũng
nên lưu ư tới vài lời khuyên độc đáo như
sau :
- Hăy
cởi bỏ con người cũ mà mặc lấy con
người mới (4,17-24)
- Hăy
sống như con cái sự sáng (5,3-14)
-
Đừng say rượu nhưng hăy say Thánh Linh (5,15-20)
-
Độc đáo nhất là lời khuyên vợ chồng hăy
thương yêu nhau theo gương Đức Kitô
thương yêu Giáo Hội, v́ Đức Kitô là chồng
của Giáo Hội (5,22-33)
D.
Nhận định
Có
thể coi thư này như một triển khai của
dụ ngôn đứa con hoang trong Lc 15 :
- Mỗi
người chúng ta chỉ là những đứa trẻ
mồ côi sống lây lất ngoài đường phố.
- Thế
rồi chúng ta được nhận làm nghĩa tử
của Thiên Chúa, được sống trong Nhà của Ngài
(2,19 4,14)
-
Sống trong đó, chúng ta có dịp khám phá t́nh thương của
Đức Kitô cao, sâu và rộng đến mức nào (3,18).