CHÚA NHỰT XIV

CHỦ ĐỀ :

SỨ MẠNG LÀM NGÔN SỨ

 

"Ngôn sứ bị rẻ rúng ở chính quê hương ḿnh"
(Mc 6,4)

Minh họa

- Mille images 56 E

- "Ngôn sứ bị rẻ rúng ở chính quê hương ḿnh" (Mc 6,4)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I (Êd 2,2-5) : Ngôn sứ Êdêkien lănh nhận sứ mạng nói Lời Chúa cho một dân cứng ḷng.

- Tin Mừng (Mc 6,1-6) : Ngôn sứ Giêsu không được đón nhận ở quê hương Nadarét.

- Bài đọc II (2 Cr 12,7-10) : Ngôn sứ Phaolô tâm sự : bản thân ḿnh rất yếu đuối, nhưng ơn Chúa làm cho ông nên mạnh mẽ.

I. DẪN VÀO THÁNH  LỄ

Anh chị em thân mến

Có lẽ anh chị em ít khi ư thức rằng qua bí tích rửa tội và thêm sức, chúng ta được chia xẻ với Đức Giêsu sứ mạng làm ngôn sứ.

Hôm nay chúng ta hăy lắng nghe Lời Chúa để hiểu sứ mạng ấy là thế nào, và hăy cầu xin Chúa giúp chúng ta chu toàn sứ mạng ấy.

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Chúng ta chỉ lo sống đạo cho ḿnh mà không ư thức sứ mạng ngôn sứ của chúng ta.

- Chúng ta không dám nói về Chúa cho người khác.

- Chúng ta không can đảm bênh vực sự thật và công b́nh.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Êd 2,2-5)

Ngôn sứ Êdêkien kể về ơn gọi của ḿnh :

- Ông đă được chính Thiên Chúa kêu gọi

- Khi gọi ông làm ngôn sứ, Thiên Chúa ban "thần linh" cho ông.

- Sứ mạng của ông là chuyển sứ điệp của Chúa đến với con cái Israel.

- Nhưng đó là một sứ mạng khó khăn, bởi v́ họ là một dân cứng ḷng.

2. Đáp ca (Tv 122)

Có thể coi Tv 122 này là những tâm t́nh của một người lănh sứ mạng ngôn sứ :

- Ngôn sứ luôn nh́n lên Chúa là Đấng đă kêu gọi ḿnh

- Trong những lúc khó khăn, ngôn sứ cảm thấy ê chề chán nản

- Nhưng ngôn sứ luôn trông cậy vào Chúa, xin Ngài cứu giúp.

3. Tin Mừng (Mc 6,1-6)

Đức Giêsu trở về quê hương ḿnh là Nadarét. Đến ngày Sabát, Ngài vào hội đường và giảng Thánh Kinh.

Ban đầu những người đồng hương rất ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan của Ngài và v́ những phép lạ Ngài làm ở những nơi khác.

Nhưng khi nhớ đến nguồn gốc tầm thường của Ngài (chỉ là một người thợ mộc, bà con với những dân làng b́nh thường), họ không tin Ngài nữa.

Chính v́ thái độ không tin ấy, nên ở Nadarét Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ.

4. Bài đọc II (2 Cr 12,7-10)

Thánh Phaolô chân thành chia xẻ tâm sự của ḿnh :

- Bản thân ông rất yếu đuối. Ông cảm thấy như có một cái dằm luôn đâm vào da thịt ḿnh. Các chuyên viên Thánh Kinh đang t́m hiểu "cái dằm" này là ǵ. Dù chúng ta chưa xác định cụ thể, nhưng có thể hiểu đó là ám chỉ đến những sự yếu đuối của Phaolô.

- Chính v́ ư thức yếu đuối như thế nên nhiều lần ông ngă ḷng, xin Chúa cất khỏi cái dằm ấy.

- Nhưng Chúa đă khích lệ ông : "Ơn Ta đủ cho con"

- Cuối cùng ông tin tưởng và tiếp tục sứ mạng, "v́ khi tôi yếu đuối chính là lúc tôi mạnh mẽ".

IV. GỢI Ư GIẢNG

* 1. Tiếng nói của những ngôn sứ

Tiếng nói của những ngôn sứ rất lạ thường, v́ ngôn sứ không nói tiếng nói của loài người mà là tiếng nói của Thiên Chúa. Loài người thường "lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau", c̣n Thiên Chúa th́ nói thẳng sự thật để dạy dỗ hoặc sửa lỗi. Mà "sự thật mất ḷng" cho nên tiếng nói của Thiên Chúa nhiều khi chói tai.

Ngôn sứ nói tiếng nói của Thiên Chúa, nên nhiều khi chẳng những không được người ta nghe mà c̣n bị người ta ghét. Ngôn sứ Êdêkien thay mặt Chúa kêu gọi dân do thái hăy sám hối tội lỗi chứ đừng ỷ lại vào sự kiện họ có Đền thờ tại Giêrusalem và cũng đừng nương dựa vào thế lực ngoại bang. Những lời nói này đă khiến dân do thái kết ông tội phạm thánh và phản quốc. Và họ đă nhiều lần bách hại ông, ông chỉ thoát chết trong đường tơ kẻ tóc. Gioan Tẩy giả thị bị Hêrôđê chém đầu v́ đă dám lên tiếng vạch tội loạn luân của vua. Rất nhiều ngôn sứ khác cũng không thoát khỏi lao đao lận đận do đă thay mặt Chúa nói lên những "sự thật mất ḷng".

Ngày nay có biết bao sự thật ê chề trong xă hội cũng như trong Giáo Hội. Thiên Chúa cần những ngôn sứ can đảm nói lên những điều đó. Nhưng buồn thay, đa số kitô hữu, thậm chí những cán bộ Tin Mừng và những tu sĩ, giáo sĩ đă chọn thái độ giả điếc làm ngơ và ngậm miệng. Chỉ v́ muốn được yên thân. Như thế là không thi hành chức năng ngôn sứ của ḿnh.

Ta có thể nói thẳng bằng những lời bộc trực, hoặc khéo léo hơn bằng lời lẽ từ tốn tế nhị, nhưng không bao giờ nên ngậm miệng không nói.

2. Tiêu chuẩn Chúa chọn người

Khi chọn ai, Chúa theo những tiêu chuẩn rất lạ : không cần học thức cao, không cần tài ba lỗi lạc, không cần khả năng khéo làm việc... Thánh Phaolô đă liệt kê 5 tiêu chuẩn Chúa theo :

. những cái yếu đuối,

. những cái ngu dại,

. những cái hèn mọn,

. những cái bị khinh thường

. và những cái hư không. (Sunday School Times).

3. "Ơn Ta đủ cho con" (2Cr 12,9)

  Thiên Chúa luôn ban cho ta đầy đủ ơn Ngài  :

. Khi gánh đời ta nặng hơn, Ngài ban thêm ơn

. Khi công việc ta cực nhọc hơn, Ngài ban thêm sức

. Khi Ngài gởi khổ sầu, Ngài cũng gia tăng ḷng thương xót

. Khi Ngài gởi đến thử thách, Ngài cũng gởi đến b́nh an

. Lúc ta cảm thấy sức ḿnh hầu như cạn kiệt th́ đấy là lúc ơn Chúa thực sự tràn đầy. (Góp nhặt).

4. Phép lạ

Bài Tin Mừng hôm nay đề cập về Phép lạ : Ở quê hương Nadarét, Đức Giêsu chỉ làm được một ít phép lạ bởi v́ dân Nadarét không tin. Nhân dịp này, chúng ta hăy t́m hiểu xem : phép lạ là ǵ ? và ngày nay phép lạ c̣n xảy ra nữa không ?

Điều chúng ta cần lưu ư trước tiên là người ta dùng chữ phép lạ theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng, phép lạ là một điều ǵ có vẻ khác thường, xảy ra lạ hơn b́nh thường và không giống như người ta dự kiến. Thí dụ như người Do thái ngày nay đă vận dụng nhiều cố gắng lao động, kết hợp với khoa học kỹ thuật mà trồng được những vườn cam ngon ngọt trên miền đất trước đây là sa mạc. Người ta đă coi đó là một phép lạ (theo nghĩa rộng). C̣n theo nghĩa hẹp, nghĩa chính xác, phép lạ là điều không những kỳ diệu khác thường, mà c̣n xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên nữa. Thí dụ : trong khoa vật lư học, chúng ta biết có quy luật là một vật có trọng lượng th́ bị rơi xuống do sức hút của trái đất. Nhưng nếu có một người nào đó té từ một nhà lầu cao nhưng không rơi xuống đất mà cứ lơ lửng giữa chừng, th́ khi đó sự kiện không xảy ra theo quy luật tự nhiên nữa, nên được coi là phép lạ.

Sau khi đă hiểu phép lạ là ǵ theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bây giờ chúng ta t́m hiểu xem có thể xảy ra phép lạ hay không. Phép lạ hiểu theo nghĩa rộng th́ ai cũng nh́n nhận rằng có, kể cả những người không có đạo, kể cả những kẻ vô thần. Người ta nói nhiều đến phép lạ cải tạo ruộng đất, làm theo nghĩa hẹp th́ những người vô tín ngưỡng lại không nh́n nhận. Bởi v́ muốn có phép lạ theo nghĩa hẹp này th́ cần có sự can thiệp của quyền năng thần thánh. Kẻ vô tín ngưỡng không công nhận thần thánh nên cũng không công nhận phép lạ.

C̣n đối với chúng ta, những người Công giáo th́ sao ? Dĩ nhiên v́ tin vào quyền năng Thiên Chúa nên chúng ta nh́n nhận có phép lạ. Tuy nhiên cũng cần lưu ư thêm điều này là : Thiên Chúa không làm phép lạ một cách bừa băi đâu. V́ như đă nói trên : phép lạ (theo nghĩa hẹp) là điều xảy ra ngoài quy luật tự nhiên. Quy luật tự nhiên ấy ai đă thiết lập ra ? Thưa là chính Thiên Chúa. Vậy nếu Thiên Chúa đă thiết lập những quy luật tự nhiên th́ đương nhiên Thiên Chúa cũng muốn cho vạn vật vận hành theo đúng quy luật tự nhiên mà Ngài đă thiết lập. Chỉ thỉnh thoảng khi nào có một lư do thật quan trọng th́ Chúa mới cho một sự kiện xảy ra ngoài những quy luật tự nhiên đó (và khi đó là phép lạ).

Vậy lư do quan trọng khiến Chúa làm phép lạ là ǵ ? Thường là Đức Tin. Phép lạ xảy ra để đáp ứng một ḷng tin mạnh mẻ vững vàng - hoặc để mời gọi những người chứng kiến càng tin mạnh mẻ vững vàng hơn.

Trong các sách Tin Mừng chúng ta đă đọc thấy nhiều lần trước khi làm phép lạ chẳng hạn trước khi chữa cho một người mà từ thuở mới sinh Đức Giêsu hỏi "Con có tin không ?" Người đó tuyên xưng đức tin th́ Chúa mới làm phép lạ. Ngược lại, đối với vua Hêrôđê không tin mà chỉ muốn có phép lạ để xem cho thoả thích hiếu kỳ th́ Đức Giêsu không làm một phép lạ nào hết. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng thế : những người đồng hương với Đức Giêsu ở Nagiarét một mặt khinh thường Đức Giêsu chỉ là con của một bác thợ một nghèo nàn tầm thường, nhưng mặt khác khi nghe biết Đức Giêsu đă làm nhiều phép lạ ở những nơi khác th́ cũng muốn Đức Giêsu làm phép lạ ở quê hương Nagiarét cho họ hưởng nhờ th́ Đức Giêsu cũng không chịu làm phép lạ chỉ để thoả măn tính vụ lợi của họ.

Có những người rất nhẹ dạ dễ tin : chuyện ǵ hơi lạ một chút cũng coi là phép lạ.

Có những người rất hay cầu xin phép lạ : phép lạ được trúng số, phép lạ được khỏi bệnh.

Không phải chúng ta không nên tin cũng như không nên cầu xin nữa. Nhưng sau những phân tích năy giờ, chúng ta hăy lưu ư : điều quan trọng nhất trong các phép lạ không phải là khía cạnh lạ thường, khía cạnh lợi lộc của chúng, mà chính là Đức Tin : phép lạ xảy ra là v́ Đức Tin : hoặc để đáp ứng đức tin mạnh mẻ của con người, hoặc để mời gọi con người qua đó mà càng tin vững hơn vào Thiên Chúa.

- Ở Lộ Đức, ở Fatima, ở La Salette v.v.... khi mà những biến cố lạ thường xảy ra làm nhiều người xôn xao th́ Giáo Hội vẫn im lặng. Chỉ sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng một thời gian dài rồi th́ Giáo Hội  mới tuyên bố đấy là phép lạ. Giáo Hội cẩn thận như vậy là để khỏi rơi vào mê tín dị đoan. Thiết tưởng mỗi người chúng ta cũng phải cẩn thận như thế trước những điều xảy ra có vẻ khác thường, bởi v́ Đức Tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ, mê tín, mà là một đức tin có nền tảng vững chắc, trong sáng.

- Rồi trong cuộc sống đạo của chúng ta, điều quan trọng mà chúng ta phải chú ư hơn hết là cố gắng rèn luyện cho đức tin của ḿnh càng ngày càng vững mạnh trong sáng hơn. Nói cụ thể : tôi giữ đạo, tôi làm theo những điều Chúa dạy là v́ tôi thực sự tin vào Chúa... chứ không phải v́ tôi mong Chúa sẽ làm phép lạ cho tôi giàu có, cho tôi trúng số, cho tôi khỏi bệnh một cách lạ lùng... Những điều đó nếu thấy cần th́ chúng ta cứ cầu xin, và Chúa nếu thấy rằng tốt th́ sẽ ban cho chúng ta. Nhưng chúng ta không nên chỉ giữ đạo v́ những điều đó. Chúng ta giữ đạo v́ chúng ta tin vào Chúa. Tin vào Chúa chẳng những khi cuộc sống thoải mái dễ chịu, nhưng dù cuộc đời có gặp lúc gian nan, túng thiếu., bệnh tật, buồn khổ... chúng ta vẫn một niềm tin son sắt vào Chúa. Đó mới là một đức tin vững mạnh.

5. Có tin mới thấy

Tại một vùng của nước Pháp, dân chúng có tập tục rất lạ. Đó là vào sáng sớm Chúa Nhật Phục sinh khi hồi chuông đầu tiên của nhà thờ vang lên, tất cả mọi người đều trổi dậy chạy ra giếng làng để rửa mắt với gịng nước mát lạnh.

Nhiều bạn trẻ không hiểu v́ sao lại chạy ra giếng rửa mắt, trong khi ngày nay gia đ́nh nào cũng có các ṿi nước trong nhà.

Lúc ấy các vị bô lăo mới giải thích : Đó là h́nh thức cầu nguyện bằng hành động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa ban cho họ đôi mắt đức tin mới, để họ thấy Đức Giêsu Phục sinh đang hiện diện sống động giữa họ.

*

Với con mắt định kiến, thiển cận và hẹp ḥi, những người đồng hương với Đức Giêsu đă không nhận ra khuôn mặt thật của Người. Họ không tin Người là một tiên tri, lại càng không thể tin Người là Đấng Cứu Thế, và chắc chắn họ chẳng ngờ ḿnh là người đồng hương với Con Thiên Chúa.

Chính ḷng ghen tỵ là một trong những nguyên nhân khiến "các tiên tri không được kính trọng ở quê hương ḿnh" (Lc.4,24). Mc. Kenzie nói : "Người có t́nh yêu nh́n bằng viễn vọng kính, c̣n người ghen tỵ nh́n bằng kính hiển vi".

Họ không tin v́ họ chỉ nh́n thấy quá khứ rất đỗi b́nh thường của Người.

Họ không tin v́ họ chỉ nh́n thấy hiện tại của Người không một chút hào quang.

Họ không tin v́ họ chỉ nh́n thấy nơi Người một bác thợ mộc rất mực âm thầm, khiêm tốn.

Chính v́ không tin nên họ đă không thấy. Thấy đây là thấy toàn vẹn khuôn mặt của Thiên Chúa. Thấy đây là thấy Người bằng cái nh́n luôn đổi mới. Thấy đây là thấy với con mắt đức tin. Tác giả thư Do thái viết : "Đức tin là bảo đảm cho những ǵ ta hy vọng, là bằng chứng cho những ǵ ta không thấy" (Dt.11,1). James Woodbridge viết : "Đức tin là con mắt để nh́n thấy Chúa, là bàn tay để nắm lấy Người, là sức mạnh giúp ta tự hiến cho Người".

Cho dù Thiên Chúa là Đấng toàn năng, Người có thể làm được mọi sự. Nhưng Người phải bó tay trước sự cứng ḷng của con người. Người đă trở nên bất lực trước những kẻ thiếu niềm tin. Và quả thật, "Người đă không thể làm được phép lạ nào" tại quê hương ḿnh. Thế mới biết con người có khả năng cản trở Thiên Chúa, con người có toàn quyền từ chối quà tặng của Người.

Nếu Phép lạ là quà tặng của Thiên Chúa, cần được đón nhận với Niềm tin ; th́ chính Niềm tin là ân huệ của Thiên Chúa chỉ có thể nhận được với lời cầu nguyện. Cần phải cầu nguyện để có Niềm tin. Nhà bác học kiêm triết gia Pascal đă nói : "Để có niềm tin con người phải qú gối cầu xin".

*

Lạy Chúa, c̣n bao nhiêu việc lạ lùng Chúa muốn làm cho đời chúng con, xin Chúa ban thêm Niềm tin cho chúng con, để nhờ đó Chúa được tự do thực hiện những kỳ công của Người. Xin giúp chúng con cũng biết gieo rắc Niềm tin Chúa trong ḷng mọi người. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

6. Mạnh và yếu

Câu chuyện sau đây có thể giúp chúng ta hiểu được lời của Thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh" (2 Cr 12,10)

Hai người nghèo đi từ thành phố này đến thành phố khác để xin ăn. Một người rất vạm vỡ khoẻ mạnh và không bao giờ đau yếu, c̣n người kia th́ ốm tong teo và hầu như lúc nào cũng bị bệnh. Anh chàng khoẻ mạnh thường cười chê anh chàng ốm yếu khiến chàng này rất buồn, anh cầu xin Chúa trừng phạt anh kia.

Khi hai người đến thủ đô th́ vừa gặp lúc trong triều đ́nh có chuyện buồn, là hai vị quan thân cận nhất của nhà vua vừa mới chết. Một người là cận vệ của nhà vua, người khoẻ mạnh nhất nước ; người kia là thái ư của nhà vua, người chữa bệnh giỏi nhất nước. Nhà vua sai người đi khắp nước để t́m hai người thay thế, và cuối cùng người ta cũng t́m được.

Nhưng trước khi bổ nhiệm hai người ấy vào chức vụ, nhà vua bảo họ hăy đưa ra bằng chứng về tài năng của ḿnh. Người ứng cử vào chức cận vệ thưa : "Muôn tâu thánh thượng, hăy mang đến cho hạ thần người nào khoẻ mạnh và to lớn nhất. Thần sẽ giết chết hắn ngay lập tức chỉ bằng một cú đấm". Người ứng cử vào chức thái y thưa : "Xin hăy mang đến cho hạ thần người nào ốm yếu bệnh tật nhất. Thần sẽ chữa người đó hết mọi thứ bệnh chỉ trong ṿng một tuần lễ."

Người ta lại đi t́m đối tượng cho hai ứng cử viên ấy thi thố tài năng. Và thật là bất ngờ, chính hai người ăn mày trên được chọn. Chỉ bằng một cú đấm, người ứng cử vào chức cận vệ đă giết chết người ăn mày to khoẻ. Và chỉ trong một tuần lễ, người ứng cử vào chức thái y đă chữa người ăn mày ốm yếu hết mọi thứ bệnh. Thế là sức mạnh của người ăn mày to khoẻ lại khiến anh phải chết, c̣n sự ốm yếu của người ăn mày bệnh tật lại giúp anh khoẻ mạnh !

Thánh Phaolô đă nói rất đúng : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh". Người ta thường không té ngă v́ yếu, nhưng v́ tưởng ḿnh mạnh. Thánh Phaolô biết ḿnh yếu, nhưng đồng thời Ngài cũng biết bù đắp sự yếu đuối của ḿnh bằng sức mạnh vô địch của Chúa, "v́ sức mạnh của Chúa được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối (của con người)". (Viết theo Flor McCarthy)

7. Dụ ngôn sống động về chung hiệp đại kết

 Năm 1940 một thanh niên Tin Lành người Thụy Sĩ dừng xe đạp trước một ngôi làng hẻo lánh trong cảnh hoang tàn. Một bà cụ khẩn khoản nói với người thanh niên ấy : "Xin ở lại đây với chúng tôi v́ anh thấy rơ chúng tôi sống trong cảnh cô lập." Người thanh niên ấy nay được cả thế giới biết đến với danh xưng thân thương là Thầy Roger. Đối với thầy Roger, lời mời của bà cụ nói lên ư Chúa dành cho thầy. Khi ấy nước Pháp đang trong t́nh trạng chiến tranh, đất nước bị chia đôi, ranh giới giữa khu chiếm đóng và khu tự do xuyên qua làng Taizé. Thầy Roger đă kiếm cho ḿnh một nơi ở và bắt đầu một đời sống cầu nguyện và suy niệm. Nhưng hoàn cảnh đặt thầy trước những con người cụ thể bị Đức Quốc Xă truy lùng để tiêu diệt. Thầy đă đón tiếp và che giấu những người Do Thái đáng thương ấy. Một ḿnh thầy đứng ra săn sóc an ủi những người nam và nữ chạy trốn quân đội Hít-le. Nhưng v́ quân Đức Quốc Xă truy lùng đối tượng gắt gao nên thầy buộc phải trở về quê hương Thụy Sĩ. Năm 1944, thầy Roger trở lại Taizé, lần nầy với 3 đồng chí quyết tâm gầy dựng nên cộng đoàn tu sĩ đại kết rộng mở. Mục tiêu mà cộng đoàn này nhắm thể hiện là trở nên như "bài dụ ngôn sống động về một đời sống chung hiệp". Cộng đoàn chủ tâm dâng lời cầu nguyện để góp phần làm cho các Giáo Hội Kitô được ḥa giải. Hai chủ đích ở tâm điểm của sứ mạng theo thầy Roger là : Phải dám liều thân dấn ḿnh vào việc giúp đỡ những người nghèo nhất và hoà giải với đức tin công giáo. Ngay từ ban đầu thầy Roger đă nối kết với Roma bằng những mối dây của niềm tin tưởng. Thầy đă kết thân với 3 vị Giáo Hoàng là Đức Gioan XXIII, Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II. Thầy nói : "Đức Gioan XXIII đă là cha linh hướng đích thực cho chúng tôi. Chính ngài đă ủng hộ để cộng đoàn Taizé mà ngài gọi là mùa xuân, được chào đời."

 Ngày nay cộng đoàn Taizé có cả trăm thành viên Công Giáo cũng như Tin Lành thuộc nhiều truyền thống khác nhau, đến từ hơn 25 quốc gia trên thế giới. Họ không nhận quà tặng nhưng tự ḿnh lao động để góp phần nuôi sống cộng đoàn và chia sẻ với người khác. Họ cũng không nhận cho ḿnh tài sản kế thừa nhưng chỉ nhận làm quà tặng cho người nghèo mà thôi. Kể từ những năm 50, cộng đoàn Taizé đă phái thành viên của ḿnh đến sống nơi những môi trường nghèo trên thế giới. Riêng về nữ tu, có hội ḍng thánh Anrê từng được thiết lập trong Giáo Hội Công Giáo đă 7 thế kỷ nay. Kể từ 1966, hội ḍng này đă phái người đến ở một làng kế cận Taizé để tham gia việc đón tiếp khách từ thập phương.

Ảnh hưởng của Taizé về đại kết nhất là với người trẻ ở Âu Châu, thật là rơ nét. Để nâng đỡ người trẻ, cộng đoàn này đă khơi động một cuộc hành tŕnh về tin tưởng lẫn nhau trên toàn cầu. Taizé không tổ chức người trẻ thành phong trào qui về Taizé, nhưng khuyến khích họ mang lại b́nh an, hoà giải, niềm tin tưởng lẫn nhau ngay nơi những thành phố, những đại học, những sở làm việc, những giáo xứ. Và như vậy, người trẻ được khuyến khích sống chung hiệp với mọi thế hệ. Về cuối mỗi năm dương lịch, Taizé có tổ chức một cuộc tập họp người trẻ tương đối lớn trong 5 ngày. Cuộc họp giới trẻ đại kết vào cuối năm 1994, thu hút hơn một trăm ngàn người trẻ từ nhiều nước tới họp tại Paris của nước Pháp.

 Mỗi dịp tập họp như vậy, thầy Roger gửi đến tay người trẻ một bức thư được dịch ra trên 50 thứ tiếng. Nội dung thư đó bao gồm Lời Chúa như chất liệu để suy niệm suốt năm cho tới cuộc họp cuối năm tới. Thư đó vị sáng lập cộng đoàn Taizé thường viết từ một nơi nổi tiếng về mức sống nghèo của người dân như Calcutta, Chili, Haiti, Êtiôpi, Phi Luật Tân, Phi Châu….

 Bởi đâu thầy Roger thực hiện được những việc có ư nghĩa thiêng liêng như vậy ? Có lần thầy cắt nghĩa cho thấy thầy đă nhận sứ mạng góp phần hoà giải giữa các Kitô hữu từ nơi bà ngoại thầy. Ngoại của thầy đă từng trải qua hai cuộc chiến (1870 và 1914-1918) và đă từng dặn ḍ cháu Roger Schultz khi c̣n tấm bé rằng : "Cháu đừng trải qua những điều bà đă phải trải qua ! Đừng chấp nhận nh́n cách bàng quan những điều bà đă mắt thấy tai nghe ! Hăy góp phần chuẩn bị để Âu Châu được b́nh an nhờ biết sống hoà giải giữa các Kitô hữu." Tuy là tín hữu Tin Lành, ngoại đă chọn đến nhà thờ Công Giáo để kín múc lấy sức mạnh hoà giải từ bí tích Thánh Thể. Thực ra ngoại không chỉ nói cũng không chỉ cầu nguyện, nhưng đă nêu gương sống động nhờ biết dấn thân tiếp đón những người già, phụ nữ và trẻ em, phải chạy giặc dưới làn bom đạn. Ngoại đă kiên tŕ làm việc thương người đó hầu như tới phút cuối cùng của đời ngoại.

 Biến cố quyết định cho việc thầy Roger hiến dâng đời ḿnh cho công cuộc hoà giải xảy ra khi thầy lên 17. Khi ấy thầy mắc bệnh lao phổi và nghiệm thấy cái chết không xa. Thầy đối diện với ư nghĩa cuộc đời và tự hỏi do đâu xảy ra đau khổ, hằn thù khiến các dân tộc sát hại nhau. Hỏi rằng có con đường nào giúp người này hiểu người kia để cùng nhau xây dựng hoà b́nh chăng ? Điều trở nên minh nhiên nơi nội tâm thầy Roger là cần phải chữa trị trái tim con người. Thầy nghe tiếng nói thúc giục thầy rằng : "Nếu quả thật có con đường hoà giải đó th́ tôi hăy bắt đầu dấn thân bước theo con đường đó đi." Kể từ ngày thầy Roger nghe thấy lời thúc giục đó, thầy quyết tâm tận hiến cả cuộc đời để đạt cho được mục đích lư tưởng nầy để có được sự hoà giải và đại kết trong cộng đồng nhân loại. Nay thầy đă 84 tuổi và quyết định ấy càng thêm khởi sắc. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă về thăm quê hương, nhưng những người đồng hương ở Nazaret đă không tin Người mà c̣n muốn hại Người. Chúng ta là Kitô hữu mang tên của Chúa, chúng ta hăy dâng lời cầu nguyện :

1. Xin cho mọi người Kitô hữu trong Hội thánh c̣n yếu đức tin hoặc c̣n cứng ḷng tin / được soi sáng và thông hiểu / để lớn lên trong đức tin và có thể truyền giáo cho mọi người.

2. Xin cho mọi người trên thế giới c̣n đang chống đối hoặc dửng dưng với Thiên Chúa / đừng bắt buộc hoặc lôi kéo những người khác phải theo họ / nhưng biết tôn trọng tự do tín ngưỡng của mọi người.

3. Xin cho những người đang có những thành kiến hoặc thất vọng về Thiên Chúa / được gặp nhiều chứng nhân về sự thật và về t́nh yêu Thiên Chúa / để họ t́m ra ánh sáng và hy vọng.

4. Xin cho các Kitô hữu trong họ đạo chúng ta đừng tự hào ḿnh đă biết tất cả về Chúa / không muốn t́m hiểu học hỏi ǵ thêm / để chỉ khư khư giữ lấy những thành kiến sai lầm về Chúa.

Chủ tế  : Lạy Chúa Kitô, chúng con là Kitô hữu mang tên của Chúa, xin cho chúng con càng ngày càng hiểu biết Chúa đầy đủ hơn, để chúng con có thể giới thiệu Chúa cho mọi người thân cận, Chúa là Đấng hằng sống hiển trị muôn đời.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Đức Giêsu Con Thiên Chúa đă chia xẻ cho chúng ta sứ mạng ngôn sứ của Ngài, một sứ mạng vừa cao cả vừa khó khăn. Chúng ta hăy hợp ư với Ngài dâng lên Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu và cũng là Cha chúng ta lời Kinh Lạy Cha, xin Cha giúp chúng ta can đảm thi hành sứ mạng của ḿnh.

- Sau kinh Lạy Cha : "Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin giúp chúng con can đảm đấu tranh chống lại sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được b́nh an…"

VII. GIẢI TÁN

Thánh lễ đă xong, anh chị em hăy ra về thi hành chức năng ngôn sứ của ḿnh. Chúc a