CHÚA NHỰT XIV
CHỦ ĐỀ :
SỨ
MẠNG LÀM NGÔN SỨ
"Ngôn
sứ bị rẻ rúng ở chính quê hương ḿnh"
(Mc 6,4)
Minh
họa
- "Ngôn sứ bị rẻ rúng
ở chính quê hương ḿnh" (Mc 6,4)
Sợi
chỉ đỏ :
- Bài đọc I (Êd 2,2-5) : Ngôn
sứ Êdêkien lănh nhận sứ mạng nói Lời Chúa cho
một dân cứng ḷng.
- Tin Mừng (Mc 6,1-6) : Ngôn sứ
Giêsu không được đón nhận ở quê
hương Nadarét.
- Bài đọc II (2 Cr 12,7-10) : Ngôn
sứ Phaolô tâm sự : bản thân ḿnh rất yếu
đuối, nhưng ơn Chúa làm cho ông nên mạnh mẽ.
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Có lẽ anh chị em ít khi ư thức
rằng qua bí tích rửa tội và thêm sức, chúng ta
được chia xẻ với Đức Giêsu sứ
mạng làm ngôn sứ.
Hôm nay chúng ta hăy lắng nghe Lời Chúa
để hiểu sứ mạng ấy là thế nào, và hăy
cầu xin Chúa giúp chúng ta chu toàn sứ mạng ấy.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Chúng ta chỉ lo sống đạo
cho ḿnh mà không ư thức sứ mạng ngôn sứ của
chúng ta.
- Chúng ta không dám nói về Chúa cho
người khác.
- Chúng ta không can đảm bênh vực
sự thật và công b́nh.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc I (Êd 2,2-5)
Ngôn sứ Êdêkien kể về ơn
gọi của ḿnh :
- Ông đă được chính Thiên Chúa
kêu gọi
- Khi gọi ông làm ngôn sứ, Thiên Chúa
ban "thần linh" cho ông.
- Sứ mạng của ông là chuyển
sứ điệp của Chúa đến với con cái
- Nhưng đó là một sứ
mạng khó khăn, bởi v́ họ là một dân cứng
ḷng.
2. Đáp ca (Tv 122)
Có thể coi Tv 122 này là những tâm t́nh
của một người lănh sứ mạng ngôn
sứ :
- Ngôn sứ luôn nh́n lên Chúa là
Đấng đă kêu gọi ḿnh
- Trong những lúc khó khăn, ngôn
sứ cảm thấy ê chề chán nản
- Nhưng ngôn sứ luôn trông cậy vào
Chúa, xin Ngài cứu giúp.
3. Tin Mừng (Mc 6,1-6)
Đức Giêsu trở về quê
hương ḿnh là Nadarét. Đến ngày Sabát, Ngài vào hội
đường và giảng Thánh Kinh.
Ban đầu những người
đồng hương rất ngạc nhiên bởi sự
khôn ngoan của Ngài và v́ những phép lạ Ngài làm ở
những nơi khác.
Nhưng khi nhớ đến nguồn
gốc tầm thường của Ngài (chỉ là một
người thợ mộc, bà con với những dân làng
b́nh thường), họ không tin Ngài nữa.
Chính v́ thái độ không tin ấy, nên
ở Nadarét Đức Giêsu không làm nhiều phép lạ.
4. Bài đọc II (2 Cr 12,7-10)
Thánh Phaolô chân thành chia xẻ tâm sự
của ḿnh :
- Bản thân ông rất yếu
đuối. Ông cảm thấy như có một cái dằm
luôn đâm vào da thịt ḿnh. Các chuyên viên Thánh Kinh đang t́m
hiểu "cái dằm" này là ǵ. Dù chúng ta chưa xác
định cụ thể, nhưng có thể hiểu đó
là ám chỉ đến những sự yếu đuối
của Phaolô.
- Chính v́ ư thức yếu đuối
như thế nên nhiều lần ông ngă ḷng, xin Chúa cất
khỏi cái dằm ấy.
- Nhưng Chúa đă khích lệ ông :
"Ơn Ta đủ cho con"
- Cuối cùng ông tin tưởng và
tiếp tục sứ mạng, "v́ khi tôi yếu
đuối chính là lúc tôi mạnh mẽ".
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Tiếng nói của những ngôn
sứ
Tiếng nói của những ngôn sứ
rất lạ thường, v́ ngôn sứ không nói tiếng
nói của loài người mà là tiếng nói của Thiên Chúa.
Loài người thường "lựa lời mà nói cho
vừa ḷng nhau", c̣n Thiên Chúa th́ nói thẳng sự
thật để dạy dỗ hoặc sửa lỗi. Mà
"sự thật mất ḷng" cho nên tiếng nói
của Thiên Chúa nhiều khi chói tai.
Ngôn sứ nói tiếng nói của Thiên
Chúa, nên nhiều khi chẳng những không được
người ta nghe mà c̣n bị người ta ghét. Ngôn
sứ Êdêkien thay mặt Chúa kêu gọi dân do thái hăy sám
hối tội lỗi chứ đừng ỷ lại vào
sự kiện họ có Đền thờ tại Giêrusalem
và cũng đừng nương dựa vào thế lực
ngoại bang. Những lời nói này đă khiến dân do thái
kết ông tội phạm thánh và phản quốc. Và họ
đă nhiều lần bách hại ông, ông chỉ thoát
chết trong đường tơ kẻ tóc. Gioan Tẩy
giả thị bị Hêrôđê chém đầu v́ đă dám lên
tiếng vạch tội loạn luân của vua. Rất nhiều
ngôn sứ khác cũng không thoát khỏi lao đao lận
đận do đă thay mặt Chúa nói lên những
"sự thật mất ḷng".
Ngày nay có biết bao sự thật ê
chề trong xă hội cũng như trong Giáo Hội. Thiên
Chúa cần những ngôn sứ can đảm nói lên những
điều đó. Nhưng buồn thay, đa số kitô
hữu, thậm chí những cán bộ Tin Mừng và
những tu sĩ, giáo sĩ đă chọn thái độ
giả điếc làm ngơ và ngậm miệng. Chỉ v́
muốn được yên thân. Như thế là không thi hành
chức năng ngôn sứ của ḿnh.
Ta có thể nói thẳng bằng
những lời bộc trực, hoặc khéo léo hơn
bằng lời lẽ từ tốn tế nhị, nhưng
không bao giờ nên ngậm miệng không nói.
2. Tiêu chuẩn Chúa chọn
người
Khi chọn ai, Chúa theo những tiêu
chuẩn rất lạ : không cần học thức cao,
không cần tài ba lỗi lạc, không cần khả năng
khéo làm việc... Thánh Phaolô đă liệt kê 5 tiêu chuẩn
Chúa theo :
. những cái yếu đuối,
. những cái ngu dại,
. những cái hèn mọn,
. những cái bị khinh thường
. và những cái hư không. (Sunday School
Times).
3. "Ơn Ta đủ cho con"
(2Cr 12,9)
Thiên Chúa
luôn ban cho ta đầy đủ ơn Ngài :
. Khi gánh đời ta nặng hơn,
Ngài ban thêm ơn
. Khi công việc ta cực nhọc
hơn, Ngài ban thêm sức
. Khi Ngài gởi khổ sầu, Ngài
cũng gia tăng ḷng thương xót
. Khi Ngài gởi đến thử
thách, Ngài cũng gởi đến b́nh an
. Lúc ta cảm thấy sức ḿnh
hầu như cạn kiệt th́ đấy là lúc ơn Chúa
thực sự tràn đầy. (Góp nhặt).
4. Phép lạ
Bài Tin Mừng hôm nay đề cập
về Phép lạ : Ở quê hương Nadarét,
Đức Giêsu chỉ làm được một ít phép
lạ bởi v́ dân Nadarét không tin. Nhân dịp này, chúng ta hăy
t́m hiểu xem : phép lạ là ǵ ? và ngày nay phép lạ
c̣n xảy ra nữa không ?
Điều chúng ta cần lưu ư
trước tiên là người ta dùng chữ phép lạ theo
nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng, phép lạ là
một điều ǵ có vẻ khác thường, xảy ra
lạ hơn b́nh thường và không giống như
người ta dự kiến. Thí dụ như người
Do thái ngày nay đă vận dụng nhiều cố gắng
lao động, kết hợp với khoa học kỹ
thuật mà trồng được những vườn cam
ngon ngọt trên miền đất trước đây là sa
mạc. Người ta đă coi đó là một phép lạ
(theo nghĩa rộng). C̣n theo nghĩa hẹp, nghĩa chính
xác, phép lạ là điều không những kỳ diệu
khác thường, mà c̣n xảy ra ngoài những quy luật
tự nhiên nữa. Thí dụ : trong khoa vật lư
học, chúng ta biết có quy luật là một vật có
trọng lượng th́ bị rơi xuống do sức hút
của trái đất. Nhưng nếu có một người
nào đó té từ một nhà lầu cao nhưng không rơi
xuống đất mà cứ lơ lửng giữa
chừng, th́ khi đó sự kiện không xảy ra theo quy
luật tự nhiên nữa, nên được coi là phép
lạ.
Sau khi đă hiểu phép lạ là ǵ theo
nghĩa rộng và nghĩa hẹp, bây giờ chúng ta t́m
hiểu xem có thể xảy ra phép lạ hay không. Phép lạ
hiểu theo nghĩa rộng th́ ai cũng nh́n nhận
rằng có, kể cả những người không có
đạo, kể cả những kẻ vô thần.
Người ta nói nhiều đến phép lạ cải
tạo ruộng đất, làm theo nghĩa hẹp th́
những người vô tín ngưỡng lại không nh́n
nhận. Bởi v́ muốn có phép lạ theo nghĩa hẹp
này th́ cần có sự can thiệp của quyền năng
thần thánh. Kẻ vô tín ngưỡng không công nhận
thần thánh nên cũng không công nhận phép lạ.
C̣n đối với chúng ta, những
người Công giáo th́ sao ? Dĩ nhiên v́ tin vào quyền
năng Thiên Chúa nên chúng ta nh́n nhận có phép lạ. Tuy nhiên
cũng cần lưu ư thêm điều này là : Thiên Chúa
không làm phép lạ một cách bừa băi đâu. V́ như
đă nói trên : phép lạ (theo nghĩa hẹp) là
điều xảy ra ngoài quy luật tự nhiên. Quy
luật tự nhiên ấy ai đă thiết lập ra ?
Thưa là chính Thiên Chúa. Vậy nếu Thiên Chúa đă
thiết lập những quy luật tự nhiên th́
đương nhiên Thiên Chúa cũng muốn cho vạn
vật vận hành theo đúng quy luật tự nhiên mà Ngài
đă thiết lập. Chỉ thỉnh thoảng khi nào có
một lư do thật quan trọng th́ Chúa mới cho một
sự kiện xảy ra ngoài những quy luật tự
nhiên đó (và khi đó là phép lạ).
Vậy lư do quan trọng khiến Chúa
làm phép lạ là ǵ ? Thường là Đức Tin. Phép
lạ xảy ra để đáp ứng một ḷng tin
mạnh mẻ vững vàng - hoặc để mời
gọi những người chứng kiến càng tin
mạnh mẻ vững vàng hơn.
Trong các sách Tin Mừng chúng ta đă
đọc thấy nhiều lần trước khi làm phép
lạ chẳng hạn trước khi chữa cho một
người mà từ thuở mới sinh Đức Giêsu
hỏi "Con có tin không ?" Người đó tuyên
xưng đức tin th́ Chúa mới làm phép lạ.
Ngược lại, đối với vua Hêrôđê không tin
mà chỉ muốn có phép lạ để xem cho thoả thích
hiếu kỳ th́ Đức Giêsu không làm một phép lạ
nào hết. Trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng
thế : những người đồng hương
với Đức Giêsu ở Nagiarét một mặt khinh
thường Đức Giêsu chỉ là con của một bác
thợ một nghèo nàn tầm thường, nhưng mặt
khác khi nghe biết Đức Giêsu đă làm nhiều phép
lạ ở những nơi khác th́ cũng muốn
Đức Giêsu làm phép lạ ở quê hương Nagiarét cho
họ hưởng nhờ th́ Đức Giêsu cũng không
chịu làm phép lạ chỉ để thoả măn tính
vụ lợi của họ.
Có những người rất nhẹ
dạ dễ tin : chuyện ǵ hơi lạ một chút
cũng coi là phép lạ.
Có những người rất hay
cầu xin phép lạ : phép lạ được trúng
số, phép lạ được khỏi bệnh.
Không phải chúng ta không nên tin cũng
như không nên cầu xin nữa. Nhưng sau những phân
tích năy giờ, chúng ta hăy lưu ư : điều quan
trọng nhất trong các phép lạ không phải là khía
cạnh lạ thường, khía cạnh lợi lộc
của chúng, mà chính là Đức Tin : phép lạ xảy
ra là v́ Đức Tin : hoặc để đáp ứng
đức tin mạnh mẻ của con người,
hoặc để mời gọi con người qua đó
mà càng tin vững hơn vào Thiên Chúa.
- Ở Lộ Đức, ở Fatima,
ở La Salette v.v.... khi mà những biến cố lạ
thường xảy ra làm nhiều người xôn xao th́
Giáo Hội vẫn im lặng. Chỉ sau khi nghiên cứu
kỹ lưỡng một thời gian dài rồi th́ Giáo
Hội mới tuyên bố
đấy là phép lạ. Giáo Hội cẩn thận như
vậy là để khỏi rơi vào mê tín dị đoan.
Thiết tưởng mỗi người chúng ta cũng
phải cẩn thận như thế trước những
điều xảy ra có vẻ khác thường, bởi v́
Đức Tin của chúng ta không phải là nhẹ dạ,
mê tín, mà là một đức tin có nền tảng vững
chắc, trong sáng.
- Rồi trong cuộc sống
đạo của chúng ta, điều quan trọng mà chúng ta
phải chú ư hơn hết là cố gắng rèn luyện cho
đức tin của ḿnh càng ngày càng vững mạnh trong
sáng hơn. Nói cụ thể : tôi giữ đạo, tôi
làm theo những điều Chúa dạy là v́ tôi thực
sự tin vào Chúa... chứ không phải v́ tôi mong Chúa sẽ
làm phép lạ cho tôi giàu có, cho tôi trúng số, cho tôi khỏi
bệnh một cách lạ lùng... Những điều đó
nếu thấy cần th́ chúng ta cứ cầu xin, và Chúa nếu
thấy rằng tốt th́ sẽ ban cho chúng ta. Nhưng chúng
ta không nên chỉ giữ đạo v́ những điều
đó. Chúng ta giữ đạo v́ chúng ta tin vào Chúa. Tin vào
Chúa chẳng những khi cuộc sống thoải mái dễ
chịu, nhưng dù cuộc đời có gặp lúc gian nan,
túng thiếu., bệnh tật, buồn khổ... chúng ta
vẫn một niềm tin son sắt vào Chúa. Đó mới là
một đức tin vững mạnh.
5. Có tin mới thấy
Tại một vùng của nước
Pháp, dân chúng có tập tục rất lạ. Đó là vào sáng
sớm Chúa Nhật Phục sinh khi hồi chuông đầu
tiên của nhà thờ vang lên, tất cả mọi
người đều trổi dậy chạy ra giếng
làng để rửa mắt với gịng nước mát
lạnh.
Nhiều bạn trẻ không hiểu v́
sao lại chạy ra giếng rửa mắt, trong khi ngày nay
gia đ́nh nào cũng có các ṿi nước trong nhà.
Lúc ấy các vị bô lăo mới
giải thích : Đó là h́nh thức cầu nguyện
bằng hành động, qua đó dân làng cầu xin Thiên Chúa
ban cho họ đôi mắt đức tin mới, để
họ thấy Đức Giêsu Phục sinh đang hiện
diện sống động giữa họ.
*
Với con mắt định kiến,
thiển cận và hẹp ḥi, những người
đồng hương với Đức Giêsu đă không
nhận ra khuôn mặt thật của Người. Họ
không tin Người là một tiên tri, lại càng không
thể tin Người là Đấng Cứu Thế, và
chắc chắn họ chẳng ngờ ḿnh là người
đồng hương với Con Thiên Chúa.
Chính ḷng ghen tỵ là một trong
những nguyên nhân khiến "các tiên tri không
được kính trọng ở quê hương ḿnh"
(Lc.4,24). Mc. Kenzie nói : "Người có t́nh yêu nh́n
bằng viễn vọng kính, c̣n người ghen tỵ nh́n
bằng kính hiển vi".
Họ không tin v́ họ chỉ nh́n
thấy quá khứ rất đỗi b́nh thường
của Người.
Họ không tin v́ họ chỉ nh́n
thấy hiện tại của Người không một chút
hào quang.
Họ không tin v́ họ chỉ nh́n
thấy nơi Người một bác thợ mộc
rất mực âm thầm, khiêm tốn.
Chính v́ không tin nên họ đă không
thấy. Thấy đây là thấy toàn vẹn khuôn mặt
của Thiên Chúa. Thấy đây là thấy Người
bằng cái nh́n luôn đổi mới. Thấy đây là
thấy với con mắt đức tin. Tác giả thư
Do thái viết : "Đức
tin là bảo đảm cho những ǵ ta hy vọng, là
bằng chứng cho những ǵ ta không thấy" (Dt.11,1). James Woodbridge viết : "Đức tin là con mắt
để nh́n thấy Chúa, là bàn tay để nắm
lấy Người, là sức mạnh giúp ta tự hiến
cho Người".
Cho dù Thiên Chúa là Đấng toàn năng,
Người có thể làm được mọi sự.
Nhưng Người phải bó tay trước sự
cứng ḷng của con người. Người đă
trở nên bất lực trước những kẻ
thiếu niềm tin. Và quả thật, "Người đă không thể
làm được phép lạ nào" tại quê hương ḿnh. Thế mới biết con
người có khả năng cản trở Thiên Chúa, con
người có toàn quyền từ chối quà tặng
của Người.
Nếu Phép lạ là quà tặng của
Thiên Chúa, cần được đón nhận với
Niềm tin ; th́ chính Niềm tin là ân huệ của Thiên
Chúa chỉ có thể nhận được với lời
cầu nguyện. Cần phải cầu nguyện
để có Niềm tin. Nhà bác học kiêm triết gia Pascal
đă nói : "Để
có niềm tin con người phải qú gối cầu
xin".
*
Lạy Chúa, c̣n
bao nhiêu việc lạ lùng Chúa muốn làm cho đời chúng
con, xin Chúa ban thêm Niềm tin cho chúng con, để nhờ
đó Chúa được tự do thực hiện những
kỳ công của Người. Xin giúp chúng con cũng
biết gieo rắc Niềm tin Chúa trong ḷng mọi
người. Amen. (Thiên Phúc,
"Như Thầy đă yêu")
6. Mạnh và yếu
Câu chuyện sau đây có thể giúp
chúng ta hiểu được lời của Thánh Phaolô trong
bài đọc II hôm nay : "Khi tôi yếu chính là lúc tôi
mạnh" (2 Cr 12,10)
Hai người nghèo đi từ thành
phố này đến thành phố khác để xin ăn.
Một người rất vạm vỡ khoẻ mạnh
và không bao giờ đau yếu, c̣n người kia th́
ốm tong teo và hầu như lúc nào cũng bị bệnh.
Anh chàng khoẻ mạnh thường cười chê anh chàng
ốm yếu khiến chàng này rất buồn, anh cầu
xin Chúa trừng phạt anh kia.
Khi hai người đến thủ
đô th́ vừa gặp lúc trong triều đ́nh có chuyện
buồn, là hai vị quan thân cận nhất của nhà vua
vừa mới chết. Một người là cận
vệ của nhà vua, người khoẻ mạnh nhất
nước ; người kia là thái ư của nhà vua,
người chữa bệnh giỏi nhất nước.
Nhà vua sai người đi khắp nước để
t́m hai người thay thế, và cuối cùng người ta
cũng t́m được.
Nhưng trước khi bổ
nhiệm hai người ấy vào chức vụ, nhà vua
bảo họ hăy đưa ra bằng chứng về tài
năng của ḿnh. Người ứng cử vào chức
cận vệ thưa : "Muôn tâu thánh thượng, hăy
mang đến cho hạ thần người nào khoẻ
mạnh và to lớn nhất. Thần sẽ giết
chết hắn ngay lập tức chỉ bằng một cú
đấm". Người ứng cử vào chức thái y
thưa : "Xin hăy mang đến cho hạ thần
người nào ốm yếu bệnh tật nhất.
Thần sẽ chữa người đó hết mọi
thứ bệnh chỉ trong ṿng một tuần lễ."
Người ta lại đi t́m
đối tượng cho hai ứng cử viên ấy thi
thố tài năng. Và thật là bất ngờ, chính hai
người ăn mày trên được chọn. Chỉ
bằng một cú đấm, người ứng cử vào
chức cận vệ đă giết chết người
ăn mày to khoẻ. Và chỉ trong một tuần lễ,
người ứng cử vào chức thái y đă chữa
người ăn mày ốm yếu hết mọi thứ
bệnh. Thế là sức mạnh của người
ăn mày to khoẻ lại khiến anh phải chết, c̣n sự
ốm yếu của người ăn mày bệnh tật
lại giúp anh khoẻ mạnh !
Thánh Phaolô đă nói rất đúng :
"Khi tôi yếu chính là lúc tôi mạnh". Người ta
thường không té ngă v́ yếu, nhưng v́ tưởng
ḿnh mạnh. Thánh Phaolô biết ḿnh yếu, nhưng
đồng thời Ngài cũng biết bù đắp sự
yếu đuối của ḿnh bằng sức mạnh vô
địch của Chúa, "v́ sức mạnh của Chúa
được biểu lộ trọn vẹn trong sự
yếu đuối (của con người)". (Viết
theo Flor McCarthy)
7. Dụ ngôn sống động
về chung hiệp đại kết
Năm 1940 một thanh niên Tin Lành
người Thụy Sĩ dừng xe đạp
trước một ngôi làng hẻo lánh trong cảnh hoang tàn.
Một bà cụ khẩn khoản nói với người
thanh niên ấy : "Xin ở lại đây với chúng
tôi v́ anh thấy rơ chúng tôi sống trong cảnh cô
lập." Người thanh niên ấy nay được
cả thế giới biết đến với danh
xưng thân thương là Thầy Roger. Đối với
thầy Roger, lời mời của bà cụ nói lên ư Chúa dành
cho thầy. Khi ấy nước Pháp đang trong t́nh
trạng chiến tranh, đất nước bị chia
đôi, ranh giới giữa khu chiếm đóng và khu tự
do xuyên qua làng Taizé. Thầy Roger đă kiếm cho ḿnh một
nơi ở và bắt đầu một đời
sống cầu nguyện và suy niệm. Nhưng hoàn cảnh
đặt thầy trước những con người
cụ thể bị Đức Quốc Xă truy lùng
để tiêu diệt. Thầy đă đón tiếp và che
giấu những người Do Thái đáng thương
ấy. Một ḿnh thầy đứng ra săn sóc an ủi
những người nam và nữ chạy trốn quân
đội Hít-le. Nhưng v́ quân Đức Quốc Xă truy
lùng đối tượng gắt gao nên thầy buộc
phải trở về quê hương Thụy Sĩ. Năm
1944, thầy Roger trở lại Taizé, lần nầy với
3 đồng chí quyết tâm gầy dựng nên cộng
đoàn tu sĩ đại kết rộng mở. Mục
tiêu mà cộng đoàn này nhắm thể hiện là trở
nên như "bài dụ ngôn sống động về
một đời sống chung hiệp". Cộng
đoàn chủ tâm dâng lời cầu nguyện để góp
phần làm cho các Giáo Hội Kitô được ḥa giải.
Hai chủ đích ở tâm điểm của sứ
mạng theo thầy Roger là : Phải dám liều thân
dấn ḿnh vào việc giúp đỡ những người
nghèo nhất và hoà giải với đức tin công giáo. Ngay
từ ban đầu thầy Roger đă nối kết
với Roma bằng những mối dây của niềm tin
tưởng. Thầy đă kết thân với 3 vị Giáo
Hoàng là Đức Gioan XXIII, Đức Phaolô VI và Đức
Gioan Phaolô II. Thầy nói : "Đức Gioan XXIII đă
là cha linh hướng đích thực cho chúng tôi. Chính ngài
đă ủng hộ để cộng đoàn Taizé mà ngài
gọi là mùa xuân, được chào đời."
Ngày nay cộng đoàn Taizé có
cả trăm thành viên Công Giáo cũng như Tin Lành thuộc
nhiều truyền thống khác nhau, đến từ
hơn 25 quốc gia trên thế giới. Họ không nhận
quà tặng nhưng tự ḿnh lao động để góp
phần nuôi sống cộng đoàn và chia sẻ với
người khác. Họ cũng không nhận cho ḿnh tài
sản kế thừa nhưng chỉ nhận làm quà tặng
cho người nghèo mà thôi. Kể từ những năm 50,
cộng đoàn Taizé đă phái thành viên của ḿnh
đến sống nơi những môi trường nghèo trên
thế giới. Riêng về nữ tu, có hội ḍng thánh Anrê
từng được thiết lập trong Giáo Hội Công
Giáo đă 7 thế kỷ nay. Kể từ 1966, hội ḍng
này đă phái người đến ở một làng
kế cận Taizé để tham gia việc đón tiếp
khách từ thập phương.
Ảnh hưởng của Taizé về
đại kết nhất là với người trẻ
ở Âu Châu, thật là rơ nét. Để nâng đỡ
người trẻ, cộng đoàn này đă khơi
động một cuộc hành tŕnh về tin tưởng
lẫn nhau trên toàn cầu. Taizé không tổ chức
người trẻ thành phong trào qui về Taizé, nhưng
khuyến khích họ mang lại b́nh an, hoà giải, niềm
tin tưởng lẫn nhau ngay nơi những thành phố,
những đại học, những sở làm việc,
những giáo xứ. Và như vậy, người trẻ
được khuyến khích sống chung hiệp với
mọi thế hệ. Về cuối mỗi năm
dương lịch, Taizé có tổ chức một cuộc tập
họp người trẻ tương đối lớn
trong 5 ngày. Cuộc họp giới trẻ đại
kết vào cuối năm 1994, thu hút hơn một trăm
ngàn người trẻ từ nhiều nước tới
họp tại Paris của nước Pháp.
Mỗi dịp tập họp
như vậy, thầy Roger gửi đến tay
người trẻ một bức thư được
dịch ra trên 50 thứ tiếng. Nội dung thư đó
bao gồm Lời Chúa như chất liệu để suy
niệm suốt năm cho tới cuộc họp cuối
năm tới. Thư đó vị sáng lập cộng
đoàn Taizé thường viết từ một nơi
nổi tiếng về mức sống nghèo của
người dân như Calcutta, Chili, Haiti, Êtiôpi, Phi Luật
Tân, Phi Châu….
Bởi đâu thầy Roger
thực hiện được những việc có ư
nghĩa thiêng liêng như vậy ? Có lần thầy
cắt nghĩa cho thấy thầy đă nhận sứ
mạng góp phần hoà giải giữa các Kitô hữu từ
nơi bà ngoại thầy. Ngoại của thầy đă
từng trải qua hai cuộc chiến (1870 và 1914-1918) và
đă từng dặn ḍ cháu Roger Schultz khi c̣n tấm bé
rằng : "Cháu đừng trải qua những
điều bà đă phải trải qua ! Đừng
chấp nhận nh́n cách bàng quan những điều bà
đă mắt thấy tai nghe ! Hăy góp phần chuẩn
bị để Âu Châu được b́nh an nhờ
biết sống hoà giải giữa các Kitô hữu." Tuy
là tín hữu Tin Lành, ngoại đă chọn đến nhà
thờ Công Giáo để kín múc lấy sức mạnh hoà
giải từ bí tích Thánh Thể. Thực ra ngoại không
chỉ nói cũng không chỉ cầu nguyện, nhưng
đă nêu gương sống động nhờ biết
dấn thân tiếp đón những người già, phụ
nữ và trẻ em, phải chạy giặc dưới làn
bom đạn. Ngoại đă kiên tŕ làm việc
thương người đó hầu như tới phút
cuối cùng của đời ngoại.
Biến cố quyết
định cho việc thầy Roger hiến dâng đời
ḿnh cho công cuộc hoà giải xảy ra khi thầy lên 17. Khi
ấy thầy mắc bệnh lao phổi và nghiệm
thấy cái chết không xa. Thầy đối diện
với ư nghĩa cuộc đời và tự hỏi do
đâu xảy ra đau khổ, hằn thù khiến các dân
tộc sát hại nhau. Hỏi rằng có con đường
nào giúp người này hiểu người kia để
cùng nhau xây dựng hoà b́nh chăng ? Điều trở
nên minh nhiên nơi nội tâm thầy Roger là cần phải
chữa trị trái tim con người. Thầy nghe tiếng
nói thúc giục thầy rằng : "Nếu quả
thật có con đường hoà giải đó th́ tôi hăy
bắt đầu dấn thân bước theo con
đường đó đi." Kể từ ngày thầy
Roger nghe thấy lời thúc giục đó, thầy quyết
tâm tận hiến cả cuộc đời để
đạt cho được mục đích lư tưởng
nầy để có được sự hoà giải và
đại kết trong cộng đồng nhân loại. Nay
thầy đă 84 tuổi và quyết định ấy càng
thêm khởi sắc. (Lm Augustine sj, Vietcatholic 2001)
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă
về thăm quê hương, nhưng những người
đồng hương ở Nazaret đă không tin
Người mà c̣n muốn hại Người. Chúng ta là Kitô
hữu mang tên của Chúa, chúng ta hăy dâng lời cầu
nguyện :
1. Xin cho mọi
người Kitô hữu trong Hội thánh c̣n yếu
đức tin hoặc c̣n cứng ḷng tin /
được soi sáng và thông hiểu / để
lớn lên trong đức tin và có thể truyền giáo cho
mọi người.
2. Xin cho mọi
người trên thế giới c̣n đang chống
đối hoặc dửng dưng với Thiên Chúa /
đừng bắt buộc hoặc lôi kéo những
người khác phải theo họ / nhưng biết tôn
trọng tự do tín ngưỡng của mọi
người.
3. Xin cho những
người đang có những thành kiến hoặc
thất vọng về Thiên Chúa / được gặp
nhiều chứng nhân về sự thật và về t́nh yêu
Thiên Chúa / để họ t́m ra ánh sáng và hy vọng.
4. Xin cho các Kitô
hữu trong họ đạo chúng ta đừng tự hào
ḿnh đă biết tất cả về Chúa / không
muốn t́m hiểu học hỏi ǵ thêm / để
chỉ khư khư giữ lấy những thành kiến
sai lầm về Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa Kitô, chúng con là Kitô hữu mang tên
của Chúa, xin cho chúng con càng ngày càng hiểu biết Chúa
đầy đủ hơn, để chúng con có thể
giới thiệu Chúa cho mọi người thân cận, Chúa
là Đấng hằng sống hiển trị muôn
đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước kinh Lạy Cha :
Đức Giêsu Con Thiên Chúa đă chia xẻ cho chúng ta sứ
mạng ngôn sứ của Ngài, một sứ mạng
vừa cao cả vừa khó khăn. Chúng ta hăy hợp ư
với Ngài dâng lên Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu và
cũng là Cha chúng ta lời Kinh Lạy Cha, xin Cha giúp chúng ta
can đảm thi hành sứ mạng của ḿnh.
- Sau kinh Lạy Cha :
"Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự
dữ, xin giúp chúng con can
đảm đấu tranh chống lại sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con
đang sống được b́nh an…"
VII. GIẢI TÁN
Thánh lễ đă xong, anh chị em hăy ra về thi hành
chức năng ngôn sứ của ḿnh. Chúc a