CHÚA
NHẬT III PHỤC SINH
CHỦ ĐỀ :
BÀI GIÁO
LƯ II VỀ CUỘC SỐNG KITÔ HỮU :
NHẬN BIẾT ĐỨC GIÊSU
Đức
Giêsu hiện ra
cho hai môn đệ trên
đường Emmau
(Lc
24,35-38)
Minh
họa
-
Đức Giêsu hiện ra cho hai môn
đệ trên đường Emmau (Lc 24,35-38)
Sợi
chỉ đỏ
- Bài
đọc I (Cv 3,13-15.17-19) : Bài giảng của Phêrô cho
người do thái sau khi chữa lành một người què
à "Anh
em đă hành động (giết Đức Giêsu) mà không
biết".
- Bài Tin
Mừng (Lc 24,35-38) : Đức Giêsu hiện ra với
hai môn đệ Emmau à Hai ông đă nhận ra Đức Giêsu khi
Ngài giải thích Sách Thánh và khi Ngài bẻ bánh.
- Bài
đọc II (1 Ga 2,1-6a) : Dấu chỉ ḿnh thực
sự "biết" Chúa là tuân giữ giới răn
Ngài.
Như
thế bài giáo lư II này nhấn mạnh đến việc
"nhận biết" Đức Giêsu.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Trên cuộc
lữ hành dương thế, chúng ta không phải là
người độc hành cô đơn phải tự ḿnh
giải quyết mọi vấn đề. Nhưng có Chúa
cùng đi với chúng ta. Tuy vô h́nh nhưng Ngài luôn hiện
diện bên cạnh chúng ta. Lời Ngài soi sáng tâm trí và
sưởi ấm cơi ḷng chúng ta. Chúng ta hăy lắng nghe câu
nói mà phụng vụ thường nhắc đi nhắc
lại : "Chúa ở cùng anh chị em".
II. GỢI Ư SÁM HỐI
-
Đức Giêsu đă nói "B́nh an cho chúng con". Nhưng
b́nh an có đang thực sự ngự trị trong tâm
hồn chúng ta và trong môi trường chúng ta sống
không ?
-
Đức Giêsu đă nói "Hăy ở trong Thầy".
Nhưng chúng ta có thực sự ở trong Chúa khi cầu
nguyện, khi lănh nhận các bí tích và khi sống trong
cộng đoàn Giáo Hội không ?
-
Đức Giêsu đă nói "Chúng con là nhân chứng của
Thầy". Nhưng chúng ta có thực sự làm chứng
cho Chúa qua lời nói, việc làm và cách sống không ?
III. LỜI CHÚA
1. Bài
đọc I : Cv 3,13-15.17-19
Sau khi
Phêrô chữa lành một người què tại cửa
Đền thờ, nhiều người ngạc nhiên và bàn
tán. Nhân cơ hội này, Phêrô giảng một bài :
- Trong
phần đầu bài giảng, Phêrô xác nhận
người què này được chữa lành không phải
nhờ quyền năng hay đạo đức riêng
của ông, mà chính là nhờ Danh Giêsu.
- Qua
phần hai, Phêrô nhắc lại vụ án Đức Giêsu.
Ông nói người do thái đă giết Đức Giêsu v́
họ không "biết". Nay Thiên Chúa đă cho Ngài
sống lại. Việc này chứng tỏ Đức Giêsu
chính là Đấng Messia. Vậy họ hăy sám hối và tin
vào Ngài để được ơn cứu độ.
2. Đáp
ca : Tv 4
Đây là
lời cầu nguyện bày tỏ ḷng trông cậy phó
thác : mặc dù đang ở trong cơn khốn khó, tín
hữu vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ giải thoát ḿnh
cho nên người tín hữu cảm thấy "thư thái
b́nh an, vừa nằm tôi đă ngủ".
Đức
Giêsu chính là người sống tâm t́nh này tuyệt hảo
nhất : Ngài đă "nằm ngủ" b́nh an trong
tay Thiên Chúa rồi được Thiên Chúa cho "thức dậy"
qua cuộc phục sinh.
3. Tin
Mừng : Lc 24,35-38
Hai môn
đệ Emmau đă theo Đức Giêsu bấy lâu nay,
họ nghĩ rằng họ "biết" Ngài. Theo cái
"biết" ấy th́ Ngài chỉ là "một tiên tri
có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ" và
họ "hy vọng Ngài sẽ cứu Israel".
Nhưng
khi Đức Giêsu bị giết, họ mới ư thức
rằng cái "biết" đó chỉ là cái họ
"tưởng" chứ không phải là
"biết" thật.
Đức
Giêsu giúp họ "biết" thực sự, nhờ
việc Ngài giảng giải Lời Sách Thánh và nhờ
việc Bẻ bánh.
Khi đă
"biết" Đức Giêsu, hai ông vội vă trở
lại Giêrusalem để loan báo cho các môn đệ khác
"biết" nữa.
4. Bài
đọc II : 1 Ga 2,1-6a
Chịu
ảnh hưởng của thuyết Ngộ đạo, các
tín hữu cũng coi trọng sự "biết" và
họ tự hào rằng ḿnh đă biết Đức Giêsu.
Thánh Gioan
tông đồ giải thích thế nào là "biết"
thật : "Chính nơi điều này mà chúng ta
biết rằng ḿnh "biết" Đức Giêsu, đó
là chúng ta giữ các giới răn của Ngài. Ai nói rằng
ḿnh "biết" Ngài mà không giữ giới răn Ngài
th́ ấy là kẻ nói dối".
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. "Biết"
và được cứu độ
Vào
khoảng cuối thế kỷ I, có một lạc
thuyết nổi lên trong Giáo Hội, đó là thuyết
Ngộ đạo. Thuyết này đề cao sự
hiểu biết ("ngộ") : ai đă đạt
đến tŕnh độ hiểu biết cao sâu về Chúa
th́ sẽ bảo đảm được cứu
độ. Ngày nay, có nhiều người
cũng lầm tưởng rằng nếu
"biết" giáo lư, "biết" lề luật,
"biết" Thánh Kinh th́ cũng bảo đảm
được phần rỗi.
Bài Tin
Mừng hôm nay xóa tan ngộ nhận ấy, cái
"biết" có thể mang đến ơn cứu
độ là cái "biết" do suy gẫm sách Thánh và
kết hợp với Đức Giêsu Thánh thể. Bài trích
thư thứ nhất Thánh Gioan cho thấy thêm một
điều kiện nữa : không chỉ biết Chúa mà
c̣n phải tuân giữ các giới răn của Ngài nữa
th́ mới được cứu độ.
* 2. Những cảm nghiệm Emmau
Vào chính ngày Đức Giêsu sống
lại, có hai môn đệ chán nản rời Giêrusalem
để về làng Emmau. Thánh Luca cho biết tên một
người, đó là Clêôpát. C̣n người kia th́ Luca không
nói tên. Chắc chắn không phải v́ ông không biết,
nhưng có lẽ v́ người thứ hai ấy chính là
Luca, hoặc cũng có thể v́ một lư do ǵ khác. Ch. Perrot
đă đoán lư do khác ấy là : "Người bạn của Clêôpát
không được nêu rơ tên nhưng lại mang tên của
mọi tín hữu". Nghĩa
là, theo suy đoán của Ch. Perrot, Thánh Luca cố ư không nêu
tên người môn đệ kia v́ muốn coi người
ấy là đại biểu của mọi tín hữu. Nói
cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có
thể trải qua những cảm nghiệm của
người môn đệ ấy.
Vậy chúng ta hăy đi vào tâm trạng
của người môn đệ ấy, và chia xẻ
những cảm nghiệm của ông.
1. "Đang
lúc họ tṛ chuyện và bàn tán th́ chính Đức Giêsu
tiến đến gần và cùng đi với họ.
Nhưng mắt họ c̣n bị ngăn cản nên không
nhận ra Ngài" :
Đây là cảm nghiệm thứ nhất, cảm nghiệm
về t́nh trạng của Đức Giêsu phục sinh. Ngài
luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi
với chúng ta. Chỉ có điều là cặp mắt xác
thịt của chúng ta không thấy được Ngài,
giống như có một bức màn ngăn cách giữa chúng
ta với Ngài. Đến một lúc nào đó, nếu Ngài
muốn, th́ Ngài bỏ bức màn ấy xuống, khi đó
không c̣n ǵ ngăn cản nữa th́ chúng ta sẽ thấy
được Ngài. Đối với hai môn đệ
Emmau, đó là lúc ở trong lữ quán, "mắt họ liền mở ra và
họ nhận ra Ngài".
2. Vậy nhờ cái ǵ mà tấm màn
ngăn cách chúng ta với Đức Giêsu phục sinh
được cất đi để chúng ta nhận ra
Ngài ? Cảm nghiệm của hai môn đệ Emmau cho
thấy nhờ hai điều :
a/ Điều thứ nhất là
nhờ suy gẫm Sách Thánh : "Ngài
giải thích cho hai ông những ǵ liên quan đến Ngài trong
tất cả Sách Thánh". Sau này hai
ông nhớ lại cảm giác lúc đó : "Dọc đường khi Ngài nói
chuyện và giải thích Sách Thánh cho chúng ta, ḷng chúng ta đă
chẳng bừng cháy lên đó sao ?".
b/ Điều thứ hai là Bí tích Thánh
Thể : "Ngài
cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao
cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận
ra Ngài".
Sách Thánh đă làm cho những cơi ḷng
lạnh giá chán chường bừng cháy lên, Bí tích Thánh
Thể khiến cho bức màn ngăn cản cặp mắt
xác thịt hạ xuống.
*
Thực ra chúng ta đă nhiều
lần đọc Sách Thánh và tham dự Bí tích Thánh Thể.
Nhưng tại sao khi đọc Sách Thánh ḷng chúng ta không
"cháy bừng lên", và khi tham dự Thánh Lễ mắt
chúng ta không "mở ra" ? Thưa v́ chúng ta đọc
Sách Thánh như đọc về Đức Giêsu chứ không phải đọc với Đức Giêsu như hai môn đệ Emmau ; và
chúng ta dâng Thánh Lễ như dâng lên cho Ngài chứ không phải cùng dâng với Ngài.
Chúng ta có thể làm mọi việc với Ngài, bởi v́ Đức Giêsu phục sinh luôn
hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với
chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Ngày
xưa đối với hai môn đệ Emmau cũng
thế và ngày nay cũng vẫn thế.
3. Cuộc sống mới của các
môn đệ
Có thể nói sau khi Đức Giêsu
chết th́ các môn đệ cũng chết luôn, chết
về mặt tinh thần và về luân lư : nhóm 12 đă
ră rời, v́ Giuđa đă tự vẫn, Tôma đă bỏ
đi do khủng hoảng đức tin, những
người c̣n lại th́ co cụm với nhau trong căn
pḥng đóng kín cửa, ḷng họ đầy sợ hăi, nghi
ngờ, mặc cảm tội lỗi, buồn phiền và
thất vọng.
Nhưng ngay sau khi sống lại,
Đức Giêsu phục sinh cũng làm cho họ sống
lại : Ngài chủ động đến với
họ chứ không chờ họ đi t́m Ngài, Ngài không nói
một lời trách móc nhưng lại chúc b́nh an, Ngài ăn
uống với họ để họ tin chắc Ngài
vẫn sống, Ngài mở trí cho các ông hiểu ư nghĩa
Thánh Kinh, Ngài lại c̣n sai họ ra đi rao giảng cho muôn
dân. Tất cả những việc làm tế nhị và yêu
thương ấy đă giúp cho các môn đệ
- không c̣n sợ hăi
- không c̣n nghi ngờ
- không c̣n mặc cảm tội lỗi
- không c̣n buồn phiền
- không c̣n thất vọng
Con người cũ của các ông
không c̣n, các ông như được sống lại trong con
người mới, sẵn sàng ra đi khắp nơi loan
báo Tin Mừng phục sinh cho mọi người.
4. "Hăy nh́n chân tay Thầy"
Một người con kia rất yêu
thương cha ḿnh. Người cha là một nông dân,
suốt đời cần cù lao động để nuôi
sống gia đ́nh. Khi người cha chết đi, ḷng
người con rất buồn rầu. Anh cứ
đứng gần thi thể của cha mà nh́n, nhất là
nh́n đôi bàn tay của cha. Anh nói : "Nh́n đôi bàn tay
sần sùi chai sạm ấy, tôi nhớ lại tất
cả những cực nhọc khổ sở mà cha tôi đă
chịu v́ yêu thương tôi"
Khi hiện đến với các môn
đệ, Đức Giêsu cũng bảo họ hăy nh́n chân
tay Ngài, những chân tay không phải chai sạm mà
đầy những thương tích. Nh́n không phải
chỉ để xác nhận Đức Giêsu hôm nay cũng
chính là Đức Giêsu hôm qua bị đóng đinh, mà c̣n
để nhận ra t́nh thương bao la vô bờ bến
của Ngài : "Không có t́nh thương nào lớn
hơn t́nh của người thí mạng sống cho
người ḿnh thương".
Khi hiện ra với Tôma, Đức
Giêsu cũng bảo ông hăy chạm đến các vết
thương của Ngài, rồi Ngài nói :
"Đừng hồ nghi nữa, nhưng hăy tin" (Ga
20,28). Tin ǵ ? Không chỉ tin là Ngài đă sống lại,
mà c̣n tin vào t́nh thương của Ngài.
T́nh Chúa thương ta là một
điều chắc chắn, đă được đóng
dấu bằng những vết thương trên thân xác Ngài.
Chúng ta hăy tin chắc như thế, không có ǵ lay chuyển
được.
5. Biến cố làm đảo
lộn lịch sử thế giới
Trong những ngày ấy, có hai
người bước trên đường về Emau,
một làng cách Giêrusalem vài cây số. Về Emau, có nghĩa
là trở về hư vô, về cơi của những niềm
hy vọng đă tan vỡ. Họ kiệt lực rồi,
họ hết c̣n mơ mộng, họ cũng đă hết
nhiệt t́nh. Trước đây, họ đă đi theo
phong trào Giêsu với tất cả nhiệt huyết, họ
cứ chắc mẩm rằng họ sẽ giải phóng
thế giới khỏi cái ác, giải phóng dân tộc họ
khỏi giới quí tộc Đền thờ và khỏi ách
đô hộ La Mă.. Nhưng nay th́ hết rồi Thầy
đă chết, chết quá dễ dàng không một biểu
hiện tự vệ. Các thủ lănh phong trào Giêsu, những
bạn đồng hành thân cận nhất của Thầy,
những người mà Thầy tín cẩn, cũng đă
lánh mặt v́ khiếp nhược, v́ thất vọng. Có
người thậm chí c̣n bảo, anh Phêrô nhiệt t́nh là
thế, bao giờ cũng tranh ăn trên nói trước,
thế mà người ta bảo anh đă thề
độc, đă chứng minh anh không hề quen biết
Giêsu.
Thế là hết. Hai anh tưởng
đă được tham dự vào một cuộc phiêu
lưu độc đáo, khiến cho đời các anh có
một ư nghĩa rực sáng, mở ra cho hai anh, mở ra cho
mọi người một tương lai chan chứa
niềm vui và niềm hy vọng. Vậy mà giờ đây
họ chỉ c̣n những nuối tiếc, hận
đời và dằn vật.
Một người khách lạ
nhập bọn với hai anh, bảo hai anh kể cho ông ta
nghe về những nỗi buồn và niềm bất
hạnh của họ. Cái ông khách này là một người
hiếm hoi, biết nghe người khác nói. Rồi ông ta
giải thích cho hai anh nghe về lịch sử thế
giới, bắt đầu bằng kể về ông Môisê và
các ngôn sứ. Hai anh thấy ḷng ấm dần lên, cởi
mở dần ra. Đầu óc của hai anh, chậm
hiểu hơn trái tim, chỉ nhận ra Ngài sau khi cùng Ngài
chia sẻ bữa tối và sau khi Ngài khuất dạng.
Thế là hai anh quay lại,
bước ra khỏi tăm tối và hư vô, trở
về Giêrusalem. Những người các anh gặp lại
ở Giêrusalem cũng đă từng trải qua những
thất vọng năo nề... Vậy mà những con
người thảm hại ấy bỗng đứng lên,
mạnh dạn tuyên bố rằng Đức Kitô đang
sống, và bằng chúng thuyết phục nhất là chính
họ đă thấy Ngài, thậm chí đă cùng ăn
uống với Ngài.
Những điều họ nói,
thật ra không phải một bằng chứng bằng
chứng thuyết phục nhất là chính họ, những
người thấp hèn, nhát gan, ít chữ nghĩa, nay dám
đương đầu với mọi hiểm nguy và làm
phục sinh lại phong trào Giêsu. Đến đâu họ
cũng nhắc lại những lời yêu thương và
giải phóng, những lời không hẳn được
tất cả mọi người nghe theo, nhưng là
những lời đă thay đổi lịch sử thế
giới.
Vậy th́, trong những ngày ấy,
đă có một biến cố xảy ra, như một
vụ bùng nổ, làm xuất hiện niềm tin và thay
đổi cuộc đời những người này.
Đối với họ, biến cố đă xảy ra
đó là, Đức Giêsu đang sống. Đức Giêsu
đă phục sinh, và họ đă loan truyền cái tin ấy
đến nỗi dám hy sinh cả mạng sống.
Chẳng ai có thể đưa ra những bằng chứng
để chứng tỏ điều đó. Ai cũng có
quyền nghi ngờ. Thiên Chúa mà Đức Giêsu đă rao
giảng th́ tôn trọng tự do của con người
đến độ đẻ họ nghi ngờ và phủ
nhận Ngài... Tuy nhiên, trong những ngày ấy, một
biến bố đă xảy ra làm đảo lộn những
người đàn ông, những người phụ nữ
ấy, và đă làm đảo lộn thế giới. Jacques
Duquesne (Nhà văn Pháp)
6. Đời
sống chứng nhân
Albert Schweitzer là một cậu bé
rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng
thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đă trở
thành Tiến sĩ âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu
các chủ đề về tôn giáo, và đă đậu
Tiến Sĩ Triết Học. Ông làm Hiệu Trưởng
trường Đại Học.
Như thể học chưa
đủ, ông từ chức Hiệu trưởng
để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ
với bằng Tiến sĩ Y Khoa. Với 3 bằng
cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành
một người giàu có, và nổi tiếng.
Thế nhưng, tiến sĩ Albert
Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất
cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một
bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn
người phong cùi và những người mắc bệnh
buồn ngủ.
Ông huấn luyện y tá và điều
dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua
thuốc, ông trở về Âu Châu, tŕnh diễn âm nhạc
trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa
để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện
của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những
người nghèo ở Châu Phi đều là những thành
viên trong gia đ́nh Thiên Chúa. Ông được giải
thưởng Nobel Ḥa B́nh năm 1953.
Sau khi dâng hiến cả cuộc
đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền
giáo đă đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.
*
Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu
Phục sinh kêu gọi các môn đệ hăy làm chứng nhân
cho Người.
Chúng ta hăy là
chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi
chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố
khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết
của sida, ma tuư làm người ta chết không ra con
người. Cái chết của phá thai, tự vẫn
như cướp quyền Đấng Tạo Hóa.
Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự
sống mới.
Sự sống của Đấng
Phục sinh : Lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn
lần nỗi chết quay quắt điên loạn của
con người. Sự sống của Đấng Phục
sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Đức
Kitô bị đóng đinh đă sống lại ra khỏi
mồ, th́ chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến
thắng của Người trên bạo lực, hận thù
và nỗi chết.
Chúng ta hăy là
chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền v́ Thầy
đă chịu khổ h́nh, th́ các ông lại vui mừng
biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn
đệ lo âu v́ sợ người ta đă giết
Thầy sẽ bắt luôn cả tṛ, th́ các ông lại
trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại
ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi
nỗi âu lo về ḿnh, chúng ta sẽ tràn đầy niềm
vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những
người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui
Phục sinh.
Đức Hồng Y Danielou có nói :
"Chúng ta hăy tự khai mở niềm hy vọng của
người bất hạnh, cho dù điều đó đe
dọa đến của cải chúng ta".
Cha Charles de Foucauld quả
quyết : "Chỉ có một số người có
khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng
mọi người đều có thể làm chứng
bằng đời sống lương thiện,
gương mẫu, và bằng đời sống Kitô
hữu sinh động".
Trong nghi thức rửa tội của
Giáo hội Ấn Độ, người chịu phép
Rửa tội đặt tay lên đầu và nói : "Khốn thân tôi, nếu tôi không
rao giảng Tin mừng" (1Cr.9,16).
Vậy lời rao giảng Tin mừng
sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao
đẹp nhất chính là một cuộc đời quên
ḿnh phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer
đă làm cho những người phong cùi Châu Phi.
*
Lạy Chúa,
Khi chúng con u
sầu, xin đem đến một ai đó để chúng
con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho
chúng con gánh nặng của người khác nữa.
Khi chúng con
cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người
khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu
yếm họ.
Xin dạy chúng
con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục
vụ và yêu thương. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă
truyền cho các môn đệ phải kêu gọi mọi
người ăn năn sám hối và phải làm chứng
về Chúa Phục sinh cho muôn dân. Ư thức trách nhiệm
đó, chúng ta hăy sốt sắng cầu nguyện :
1. Chúng ta cùng
cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh /
luôn nêu gương khiêm tốn ăn năn sám hối
về các thiếu sót lỗi lầm / và luôn kêu gọi
mọi người ăn năn sám hối / để
loại trừ bớt tội lỗi trong thế giới.
2. Chúng ta cùng
cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền trên thế
giới / biết cộng tác với nhau để
ngăn chặn chiến tranh / diệt trừ tội
ác, khủng bố, giết người / và xây dựng
một thế giới ḥa b́nh hạnh phúc hơn.
3. Chúng ta cùng
cầu xin cho những nạn nhân của bất công
khủng bố / những người vô tội bị
bách hại / những người nghèo đói bị
khinh chê / những người yếu đuối
bị áp bức / được Đức Giêsu
Phục sinh nâng đỡ và ủi an.
4. Chúng ta cùng
cầu xin cho anh chị em trong họ đạo chúng
ta / luôn nhớ đến trách nhiệm làm chứng
về Đức Giêsu Phục sinh cho mọi người
chung quanh chúng ta.
Chủ tế : Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhớ
lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô là ăn năn
sám hối và dùng tất cả đời sống làm
chứng về Người, để chúng con thực
sự là môn đệ của Người. Chúng con cầu
xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước
kinh Lạy Cha : Đức Giêsu là Đấng công
chính nhưng đă hiến thân làm lễ vật đền
tội cho loài người chúng ta. Chính v́ công nghiệp
của Ngài mà chúng ta dám thưa với Thiên Chúa là Cha chúng ta
rằng : "Lạy Cha chúng con ở trên trời…"
- Chúc
b́nh an : Ngày xưa Đức Giêsu phục sinh đă
"ở giữa các môn đệ và nói ‘B́nh an cho anh
em". Hôm nay nguyện chúc b́nh an của Chúa cũng hằng
ở cùng anh chị em.
- Trước rước lễ :
Đức Giêsu phục sinh đă mời các môn đệ
đụng chạm vào thân thể Ngài và hăy tin. Bây giờ
Ngài cũng mời chúng ta kết hợp với Ḿnh Máu Thánh
Ngài. "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng…"
VII. GIẢI TÁN
Anh
chị em đă biết rằng Đức Giêsu đă
chịu nạn, chịu chết và sống lại
để sinh on cứu rỗi cho loài người. Anh
chị em phải làm chứng điều đó
trước mặt mọi người. Chúc anh chị em
về b́nh an.