CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

CHỦ ĐỀ :

BÀI GIÁO LƯ II VỀ CUỘC SỐNG KITÔ HỮU :
NHẬN BIẾT ĐỨC GIÊSU

 

Đức Giêsu hiện ra
cho hai môn  đệ trên đường Emmau
(Lc 24,35-38)

Minh họa

- Mille images 183 B

- Đức Giêsu hiện ra cho hai môn  đệ trên đường Emmau (Lc 24,35-38)

Sợi chỉ đỏ

- Bài đọc I (Cv 3,13-15.17-19) : Bài giảng của Phêrô cho người do thái sau khi chữa lành một người què à "Anh em đă hành động (giết Đức Giêsu) mà không biết".

- Bài Tin Mừng (Lc 24,35-38) : Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ Emmau à Hai ông đă nhận ra Đức Giêsu khi Ngài giải thích Sách Thánh và khi Ngài bẻ bánh.

- Bài đọc II (1 Ga 2,1-6a) : Dấu chỉ ḿnh thực sự "biết" Chúa là tuân giữ giới răn Ngài.

Như thế bài giáo lư II này nhấn mạnh đến việc "nhận biết" Đức Giêsu.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Trên cuộc lữ hành dương thế, chúng ta không phải là người độc hành cô đơn phải tự ḿnh giải quyết mọi vấn đề. Nhưng có Chúa cùng đi với chúng ta. Tuy vô h́nh nhưng Ngài luôn hiện diện bên cạnh chúng ta. Lời Ngài soi sáng tâm trí và sưởi ấm cơi ḷng chúng ta. Chúng ta hăy lắng nghe câu nói mà phụng vụ thường nhắc đi nhắc lại : "Chúa ở cùng anh chị em".

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Đức Giêsu đă nói "B́nh an cho chúng con". Nhưng b́nh an có đang thực sự ngự trị trong tâm hồn chúng ta và trong môi trường chúng ta sống không ?

- Đức Giêsu đă nói "Hăy ở trong Thầy". Nhưng chúng ta có thực sự ở trong Chúa khi cầu nguyện, khi lănh nhận các bí tích và khi sống trong cộng đoàn Giáo Hội không ?

- Đức Giêsu đă nói "Chúng con là nhân chứng của Thầy". Nhưng chúng ta có thực sự làm chứng cho Chúa qua lời nói, việc làm và cách sống không ?

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I : Cv 3,13-15.17-19

Sau khi Phêrô chữa lành một người què tại cửa Đền thờ, nhiều người ngạc nhiên và bàn tán. Nhân cơ hội này, Phêrô giảng một bài :

- Trong phần đầu bài giảng, Phêrô xác nhận người què này được chữa lành không phải nhờ quyền năng hay đạo đức riêng của ông, mà chính là nhờ Danh Giêsu.

- Qua phần hai, Phêrô nhắc lại vụ án Đức Giêsu. Ông nói người do thái đă giết Đức Giêsu v́ họ không "biết". Nay Thiên Chúa đă cho Ngài sống lại. Việc này chứng tỏ Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Vậy họ hăy sám hối và tin vào Ngài để được ơn cứu độ.

2. Đáp ca : Tv 4

Đây là lời cầu nguyện bày tỏ ḷng trông cậy phó thác : mặc dù đang ở trong cơn khốn khó, tín hữu vẫn tin rằng Thiên Chúa sẽ giải thoát ḿnh cho nên người tín hữu cảm thấy "thư thái b́nh an, vừa nằm tôi đă ngủ".

Đức Giêsu chính là người sống tâm t́nh này tuyệt hảo nhất : Ngài đă "nằm ngủ" b́nh an trong tay Thiên Chúa rồi được Thiên Chúa cho "thức dậy" qua cuộc phục sinh.

3. Tin Mừng : Lc 24,35-38

Hai môn đệ Emmau đă theo Đức Giêsu bấy lâu nay, họ nghĩ rằng họ "biết" Ngài. Theo cái "biết" ấy th́ Ngài chỉ là "một tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ" và họ "hy vọng Ngài sẽ cứu Israel".

Nhưng khi Đức Giêsu bị giết, họ mới ư thức rằng cái "biết" đó chỉ là cái họ "tưởng" chứ không phải là "biết" thật.

Đức Giêsu giúp họ "biết" thực sự, nhờ việc Ngài giảng giải Lời Sách Thánh và nhờ việc Bẻ bánh.

Khi đă "biết" Đức Giêsu, hai ông vội vă trở lại Giêrusalem để loan báo cho các môn đệ khác "biết" nữa.

4. Bài đọc II : 1 Ga 2,1-6a

Chịu ảnh hưởng của thuyết Ngộ đạo, các tín hữu cũng coi trọng sự "biết" và họ tự hào rằng ḿnh đă biết Đức Giêsu.

Thánh Gioan tông đồ giải thích thế nào là "biết" thật : "Chính nơi điều này mà chúng ta biết rằng ḿnh "biết" Đức Giêsu, đó là chúng ta giữ các giới răn của Ngài. Ai nói rằng ḿnh "biết" Ngài mà không giữ giới răn Ngài th́ ấy là kẻ nói dối".

IV. GỢI Ư GIẢNG

* 1. "Biết" và được cứu độ

Vào khoảng cuối thế kỷ I, có một lạc thuyết nổi lên trong Giáo Hội, đó là thuyết Ngộ đạo. Thuyết này đề cao sự hiểu biết ("ngộ") : ai đă đạt đến tŕnh độ hiểu biết cao sâu về Chúa th́ sẽ bảo đảm được cứu độ. Ngày nay, có nhiều người cũng lầm tưởng rằng nếu "biết" giáo lư, "biết" lề luật, "biết" Thánh Kinh th́ cũng bảo đảm được phần rỗi.

Bài Tin Mừng hôm nay xóa tan ngộ nhận ấy, cái "biết" có thể mang đến ơn cứu độ là cái "biết" do suy gẫm sách Thánh và kết hợp với Đức Giêsu Thánh thể. Bài trích thư thứ nhất Thánh Gioan cho thấy thêm một điều kiện nữa : không chỉ biết Chúa mà c̣n phải tuân giữ các giới răn của Ngài nữa th́ mới được cứu độ.

* 2. Những cảm nghiệm Emmau

Vào chính ngày Đức Giêsu sống lại, có hai môn đệ chán nản rời Giêrusalem để về làng Emmau. Thánh Luca cho biết tên một người, đó là Clêôpát. C̣n người kia th́ Luca không nói tên. Chắc chắn không phải v́ ông không biết, nhưng có lẽ v́ người thứ hai ấy chính là Luca, hoặc cũng có thể v́ một lư do ǵ khác. Ch. Perrot đă đoán lư do khác ấy là : "Người bạn của Clêôpát không được nêu rơ tên nhưng lại mang tên của mọi tín hữu". Nghĩa là, theo suy đoán của Ch. Perrot, Thánh Luca cố ư không nêu tên người môn đệ kia v́ muốn coi người ấy là đại biểu của mọi tín hữu. Nói cách khác, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể trải qua những cảm nghiệm của người môn đệ ấy.

Vậy chúng ta hăy đi vào tâm trạng của người môn đệ ấy, và chia xẻ những cảm nghiệm của ông.

1. "Đang lúc họ tṛ chuyện và bàn tán th́ chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ c̣n bị ngăn cản nên không nhận ra Ngài" : Đây là cảm nghiệm thứ nhất, cảm nghiệm về t́nh trạng của Đức Giêsu phục sinh. Ngài luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta. Chỉ có điều là cặp mắt xác thịt của chúng ta không thấy được Ngài, giống như có một bức màn ngăn cách giữa chúng ta với Ngài. Đến một lúc nào đó, nếu Ngài muốn, th́ Ngài bỏ bức màn ấy xuống, khi đó không c̣n ǵ ngăn cản nữa th́ chúng ta sẽ thấy được Ngài. Đối với hai môn đệ Emmau, đó là lúc ở trong lữ quán, "mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài".

2. Vậy nhờ cái ǵ mà tấm màn ngăn cách chúng ta với Đức Giêsu phục sinh được cất đi để chúng ta nhận ra Ngài ? Cảm nghiệm của hai môn đệ Emmau cho thấy nhờ hai điều :

a/ Điều thứ nhất là nhờ suy gẫm Sách Thánh : "Ngài giải thích cho hai ông những ǵ liên quan đến Ngài trong tất cả Sách Thánh". Sau này hai ông nhớ lại cảm giác lúc đó : "Dọc đường khi Ngài nói chuyện và giải thích Sách Thánh cho chúng ta, ḷng chúng ta đă chẳng bừng cháy lên đó sao ?".

b/ Điều thứ hai là Bí tích Thánh Thể : "Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài".

Sách Thánh đă làm cho những cơi ḷng lạnh giá chán chường bừng cháy lên, Bí tích Thánh Thể khiến cho bức màn ngăn cản cặp mắt xác thịt hạ xuống.

*

Thực ra chúng ta đă nhiều lần đọc Sách Thánh và tham dự Bí tích Thánh Thể. Nhưng tại sao khi đọc Sách Thánh ḷng chúng ta không "cháy bừng lên", và khi tham dự Thánh Lễ mắt chúng ta không "mở ra" ? Thưa v́ chúng ta đọc Sách Thánh như đọc về Đức Giêsu chứ không phải đọc với Đức Giêsu như hai môn đệ Emmau ; và chúng ta dâng Thánh Lễ như dâng lên cho Ngài chứ không phải cùng dâng với Ngài.

Chúng ta có thể làm mọi việc với Ngài, bởi v́ Đức Giêsu phục sinh luôn hiện diện bên cạnh chúng ta và luôn cùng đi với chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Ngày xưa đối với hai môn đệ Emmau cũng thế và ngày nay cũng vẫn thế.

3. Cuộc sống mới của các môn đệ

Có thể nói sau khi Đức Giêsu chết th́ các môn đệ cũng chết luôn, chết về mặt tinh thần và về luân lư : nhóm 12 đă ră rời, v́ Giuđa đă tự vẫn, Tôma đă bỏ đi do khủng hoảng đức tin, những người c̣n lại th́ co cụm với nhau trong căn pḥng đóng kín cửa, ḷng họ đầy sợ hăi, nghi ngờ, mặc cảm tội lỗi, buồn phiền và thất vọng.

Nhưng ngay sau khi sống lại, Đức Giêsu phục sinh cũng làm cho họ sống lại : Ngài chủ động đến với họ chứ không chờ họ đi t́m Ngài, Ngài không nói một lời trách móc nhưng lại chúc b́nh an, Ngài ăn uống với họ để họ tin chắc Ngài vẫn sống, Ngài mở trí cho các ông hiểu ư nghĩa Thánh Kinh, Ngài lại c̣n sai họ ra đi rao giảng cho muôn dân. Tất cả những việc làm tế nhị và yêu thương ấy đă giúp cho các môn đệ

- không c̣n sợ hăi

- không c̣n nghi ngờ

- không c̣n mặc cảm tội lỗi

- không c̣n buồn phiền

- không c̣n thất vọng

Con người cũ của các ông không c̣n, các ông như được sống lại trong con người mới, sẵn sàng ra đi khắp nơi loan báo Tin Mừng phục sinh cho mọi người.

4. "Hăy nh́n chân tay Thầy"

Một người con kia rất yêu thương cha ḿnh. Người cha là một nông dân, suốt đời cần cù lao động để nuôi sống gia đ́nh. Khi người cha chết đi, ḷng người con rất buồn rầu. Anh cứ đứng gần thi thể của cha mà nh́n, nhất là nh́n đôi bàn tay của cha. Anh nói : "Nh́n đôi bàn tay sần sùi chai sạm ấy, tôi nhớ lại tất cả những cực nhọc khổ sở mà cha tôi đă chịu v́ yêu thương tôi"

Khi hiện đến với các môn đệ, Đức Giêsu cũng bảo họ hăy nh́n chân tay Ngài, những chân tay không phải chai sạm mà đầy những thương tích. Nh́n không phải chỉ để xác nhận Đức Giêsu hôm nay cũng chính là Đức Giêsu hôm qua bị đóng đinh, mà c̣n để nhận ra t́nh thương bao la vô bờ bến của Ngài : "Không có t́nh thương nào lớn hơn t́nh của người thí mạng sống cho người ḿnh thương".

Khi hiện ra với Tôma, Đức Giêsu cũng bảo ông hăy chạm đến các vết thương của Ngài, rồi Ngài nói : "Đừng hồ nghi nữa, nhưng hăy tin" (Ga 20,28). Tin ǵ ? Không chỉ tin là Ngài đă sống lại, mà c̣n tin vào t́nh thương của Ngài.

T́nh Chúa thương ta là một điều chắc chắn, đă được đóng dấu bằng những vết thương trên thân xác Ngài. Chúng ta hăy tin chắc như thế, không có ǵ lay chuyển được.

5. Biến cố làm đảo lộn lịch sử thế giới

Trong những ngày ấy, có hai người bước trên đường về Emau, một làng cách Giêrusalem vài cây số. Về Emau, có nghĩa là trở về hư vô, về cơi của những niềm hy vọng đă tan vỡ. Họ kiệt lực rồi, họ hết c̣n mơ mộng, họ cũng đă hết nhiệt t́nh. Trước đây, họ đă đi theo phong trào Giêsu với tất cả nhiệt huyết, họ cứ chắc mẩm rằng họ sẽ giải phóng thế giới khỏi cái ác, giải phóng dân tộc họ khỏi giới quí tộc Đền thờ và khỏi ách đô hộ La Mă.. Nhưng nay th́ hết rồi Thầy đă chết, chết quá dễ dàng không một biểu hiện tự vệ. Các thủ lănh phong trào Giêsu, những bạn đồng hành thân cận nhất của Thầy, những người mà Thầy tín cẩn, cũng đă lánh mặt v́ khiếp nhược, v́ thất vọng. Có người thậm chí c̣n bảo, anh Phêrô nhiệt t́nh là thế, bao giờ cũng tranh ăn trên nói trước, thế mà người ta bảo anh đă thề độc, đă chứng minh anh không hề quen biết Giêsu.

Thế là hết. Hai anh tưởng đă được tham dự vào một cuộc phiêu lưu độc đáo, khiến cho đời các anh có một ư nghĩa rực sáng, mở ra cho hai anh, mở ra cho mọi người một tương lai chan chứa niềm vui và niềm hy vọng. Vậy mà giờ đây họ chỉ c̣n những nuối tiếc, hận đời và dằn vật.

Một người khách lạ nhập bọn với hai anh, bảo hai anh kể cho ông ta nghe về những nỗi buồn và niềm bất hạnh của họ. Cái ông khách này là một người hiếm hoi, biết nghe người khác nói. Rồi ông ta giải thích cho hai anh nghe về lịch sử thế giới, bắt đầu bằng kể về ông Môisê và các ngôn sứ. Hai anh thấy ḷng ấm dần lên, cởi mở dần ra. Đầu óc của hai anh, chậm hiểu hơn trái tim, chỉ nhận ra Ngài sau khi cùng Ngài chia sẻ bữa tối và sau khi Ngài khuất dạng.

Thế là hai anh quay lại, bước ra khỏi tăm tối và hư vô, trở về Giêrusalem. Những người các anh gặp lại ở Giêrusalem cũng đă từng trải qua những thất vọng năo nề... Vậy mà những con người thảm hại ấy bỗng đứng lên, mạnh dạn tuyên bố rằng Đức Kitô đang sống, và bằng chúng thuyết phục nhất là chính họ đă thấy Ngài, thậm chí đă cùng ăn uống với Ngài.

Những điều họ nói, thật ra không phải một bằng chứng bằng chứng thuyết phục nhất là chính họ, những người thấp hèn, nhát gan, ít chữ nghĩa, nay dám đương đầu với mọi hiểm nguy và làm phục sinh lại phong trào Giêsu. Đến đâu họ cũng nhắc lại những lời yêu thương và giải phóng, những lời không hẳn được tất cả mọi người nghe theo, nhưng là những lời đă thay đổi lịch sử thế giới.

Vậy th́, trong những ngày ấy, đă có một biến cố xảy ra, như một vụ bùng nổ, làm xuất hiện niềm tin và thay đổi cuộc đời những người này. Đối với họ, biến cố đă xảy ra đó là, Đức Giêsu đang sống. Đức Giêsu đă phục sinh, và họ đă loan truyền cái tin ấy đến nỗi dám hy sinh cả mạng sống. Chẳng ai có thể đưa ra những bằng chứng để chứng tỏ điều đó. Ai cũng có quyền nghi ngờ. Thiên Chúa mà Đức Giêsu đă rao giảng th́ tôn trọng tự do của con người đến độ đẻ họ nghi ngờ và phủ nhận Ngài... Tuy nhiên, trong những ngày ấy, một biến bố đă xảy ra làm đảo lộn những người đàn ông, những người phụ nữ ấy, và đă làm đảo lộn thế giới. Jacques Duquesne (Nhà văn Pháp)

6. Đời sống chứng nhân

Albert Schweitzer là một cậu bé rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đă trở thành Tiến sĩ âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu các chủ đề về tôn giáo, và đă đậu Tiến Sĩ Triết Học. Ông làm Hiệu Trưởng trường Đại Học.

Như thể học chưa đủ, ông từ chức Hiệu trưởng để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ với bằng Tiến sĩ Y Khoa. Với 3 bằng cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành một người giàu có, và nổi tiếng.

Thế nhưng, tiến sĩ Albert Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn người phong cùi và những người mắc bệnh buồn ngủ.

Ông huấn luyện y tá và điều dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua thuốc, ông trở về Âu Châu, tŕnh diễn âm nhạc trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những người nghèo ở Châu Phi đều là những thành viên trong gia đ́nh Thiên Chúa. Ông được giải thưởng Nobel Ḥa B́nh năm 1953.

Sau khi dâng hiến cả cuộc đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền giáo đă đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.

*

Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu Phục sinh kêu gọi các môn đệ hăy làm chứng nhân cho Người.

Chúng ta hăy là chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết của sida, ma tuư làm người ta chết không ra con người. Cái chết của phá thai, tự vẫn như cướp quyền Đấng Tạo Hóa. Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự sống mới.

Sự sống của Đấng Phục sinh : Lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn lần nỗi chết quay quắt điên loạn của con người. Sự sống của Đấng Phục sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Đức Kitô bị đóng đinh đă sống lại ra khỏi mồ, th́ chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến thắng của Người trên bạo lực, hận thù và nỗi chết.

Chúng ta hăy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền v́ Thầy đă chịu khổ h́nh, th́ các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu v́ sợ người ta đă giết Thầy sẽ bắt luôn cả tṛ, th́ các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về ḿnh, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.

Đức Hồng Y Danielou có nói : "Chúng ta hăy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe dọa đến của cải chúng ta".

Cha Charles de Foucauld quả quyết : "Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu, và bằng đời sống Kitô hữu sinh động".

Trong nghi thức rửa tội của Giáo hội Ấn Độ, người chịu phép Rửa tội đặt tay lên đầu và nói : "Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin mừng" (1Cr.9,16).

Vậy lời rao giảng Tin mừng sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao đẹp nhất chính là một cuộc đời quên ḿnh phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer đă làm cho những người phong cùi Châu Phi.

*

Lạy Chúa,

Khi chúng con u sầu, xin đem đến một ai đó để chúng con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho chúng con gánh nặng của người khác nữa.

Khi chúng con cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu yếm họ.

Xin dạy chúng con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục vụ và yêu thương. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

Chủ tế : Anh chị em thân mến, Đức Giêsu đă truyền cho các môn đệ phải kêu gọi mọi người ăn năn sám hối và phải làm chứng về Chúa Phục sinh cho muôn dân. Ư thức trách nhiệm đó, chúng ta hăy sốt sắng cầu nguyện :

1. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho mọi người trong Hội thánh / luôn nêu gương khiêm tốn ăn năn sám hối về các thiếu sót lỗi lầm / và luôn kêu gọi mọi người ăn năn sám hối / để loại trừ bớt tội lỗi trong thế giới.

2. Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho các nhà cầm quyền trên thế giới / biết cộng tác với nhau để ngăn chặn chiến tranh / diệt trừ tội ác, khủng bố, giết người / và xây dựng một thế giới ḥa b́nh hạnh phúc hơn.

3. Chúng ta cùng cầu xin cho những nạn nhân của bất công khủng bố / những người vô tội bị bách hại / những người nghèo đói bị khinh chê / những người yếu đuối bị áp bức / được Đức Giêsu Phục sinh nâng đỡ và ủi an.

4. Chúng ta cùng cầu xin cho anh chị em trong họ đạo chúng ta / luôn nhớ đến trách nhiệm làm chứng về Đức Giêsu Phục sinh cho mọi người chung quanh chúng ta.

Chủ tế  : Lạy Chúa, xin giúp chúng con luôn nhớ lệnh truyền của Đức Giêsu Kitô là ăn năn sám hối và dùng tất cả đời sống làm chứng về Người, để chúng con thực sự là môn đệ của Người. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Đức Giêsu là Đấng công chính nhưng đă hiến thân làm lễ vật đền tội cho loài người chúng ta. Chính v́ công nghiệp của Ngài mà chúng ta dám thưa với Thiên Chúa là Cha chúng ta rằng : "Lạy Cha chúng con ở trên trời…"

- Chúc b́nh an : Ngày xưa Đức Giêsu phục sinh đă "ở giữa các môn đệ và nói ‘B́nh an cho anh em". Hôm nay nguyện chúc b́nh an của Chúa cũng hằng ở cùng anh chị em.

- Trước rước lễ : Đức Giêsu phục sinh đă mời các môn đệ đụng chạm vào thân thể Ngài và hăy tin. Bây giờ Ngài cũng mời chúng ta kết hợp với Ḿnh Máu Thánh Ngài. "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng…"

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em đă biết rằng Đức Giêsu đă chịu nạn, chịu chết và sống lại để sinh on cứu rỗi cho loài người. Anh chị em phải làm chứng điều đó trước mặt mọi người. Chúc anh chị em về b́nh an.