CHÚA
NHẬT II PHỤC SINH
CHỦ ĐỀ :
BÀI GIÁO
LƯ I VỀ CUỘC SỐNG KITÔ HỮU :
TIN, YÊU VÀ GIỮ GIỚI RĂN.
"Phúc
cho những ai không thấy mà tin"
(Ga 20,29)
Minh
họa
-
"Phúc cho những ai không thấy mà tin" (Ga 20,29)
Sợi
chỉ đỏ
- Bài
đọc I (Cv 4,32-35) : các kitô
hữu ở giáo đoàn Giêrusalem thực hiện giới
răn yêu thương bằng việc chia xẻ :
họ đă tự nguyện để của riêng thành
của chung.
- Bài
đọc II (1 Ga 5,1-6) : nếu tin
th́ yêu, và nếu yêu th́ giữ các giới răn
Chúa.
- Bài Tin
Mừng (Ga 20,19-30) : 2 mức
độ tin : tin v́ thấy và tin dù không thấy.
Như
thế, bài giáo lư I này nhấn mạnh 3 điểm :
tin, yêu và giữ giới răn.
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Mặc
dù đă được tái sinh thành con Chúa qua bí tích Rửa
tội, chúng ta vẫn c̣n rất yếu như một
đưa trẻ sơ sinh. Chúng ta cần
được nuôi dưỡng thêm bằng Lời Chúa và bánh
Thánh thể. Chúng ta cần được nâng
đỡ bởi một cộng đoàn. Nhất là
chúng ta cần được tác động bởi Chúa
Thánh Thần. Ngày xưa Đức Giêsu phục sinh đă
thổi hơi ban Thánh Thần cho các tông đồ, th́ hôm
nay chúng ta cũng xin Ngài ban Thánh Thần cho chúng ta và nói
với chúng ta "B́nh an cho chúng con".
II. GỢI Ư SÁM HỐI
- Chúng ta
c̣n ích kỷ, cần được Chúa Thánh Thần ban cho
chúng ta t́nh bác ái huynh đệ.
- Chúng ta
c̣n hoài nghi, cần được Chúa Thánh Thần ban cho
chúng ta ḷng tin tưởng cậy trông.
- Chúng ta
c̣n yếu tin, cần được Chúa Thánh Thần giúp
cho đức tin chúng ta vững mạnh thêm.
III. LỜI CHÚA
1. Bài
đọc I : Cv 4,32-35
Trong hai
tác phẩm của ḿnh là sách Tin Mừng và sách Công vụ,
Thánh Luca thường viết những bảng toát yếu
để thỉnh thoảng tóm lược lại
những điểm chính của những đoạn mà Ngài
đang viết. Trong phần thứ nhất của sách Công
vụ (1,12—5,42) mô tả cách sống
của các tín hữu trong giáo đoàn Giêrusalem tiên khởi, có
3 bảng toát yếu tóm lại những nét chính của
cuộc sống này (2,42-47 ; 4,32-35 ; 5,12-16). Đoạn được chọn hôm nay là
bảng toát yếu thứ hai. Ngoài những nét chung
với 2 bảng toát yếu kia, nét riêng biệt của
bảng này là việc để của riêng thành của chung :
- Đây
không phải là một quy định có tính bó buộc (xem Cv
5,3-4 lời Phêrô nói với Khanania :
"Khi đất c̣n đó, nó chẳng là của anh
sao ? Bán đi rồi th́ anh chẳng có quyền sử
dụng tiền bán đó sao ?"),
nhưng là việc làm tự nguyện để thực thi
cách cụ thể giới luật yêu thương, v́ yêu
thương không phải chỉ bằng t́nh cảm hay
bằng lời mà c̣n phải bằng hành động cụ
thể.
- Thể
thức : các tín hữu bán những
bất động sản như ruộng đất, nhà
cửa rồi đem tiền giao cho Hội Thánh giữ.
Hội thánh phân phối lại cho các tín hữu theo nhu cầu từng người. Như thế, có kẻ góp ít (hoặc không góp ǵ) mà
được hưởng nhiều và có kẻ góp
nhiều mà được hưởng ít. Nhưng không ai phân b́, v́ họ đă ư thức
việc chia xẻ cho nhau.
- Kết
quả là trong giáo đoàn không có ai phải túng thiếu.
2. Đáp
ca :
Tv 117
(như Chúa
nhật I Ps)
Thánh
vịnh này là tâm t́nh của người đă cảm
nghiệm được t́nh thương và quyền
năng của Thiên Chúa. Quyền
năng và t́nh thương ấy đă chiến thắng
tất cả, cho dù là khổ đau, là chết chóc. Tác giả muốn sống măi để có thể
ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.
3. Bài
Tin Mừng : Ga 20,19-30
Đoạn
này tường thuật hai cuộc hiện ra của
Đức Giêsu phục sinh với các tông đồ cách nhau
8 ngày :
- Trong
lần hiện ra thứ nhất, Đức Giêsu cho các ông thấy
tay và cạnh sườn Ngài (tức là
thấy những vết thương Ngài đă chịu trong
cuộc chịu nạn). Khi thấy những
dấu chứng đó, các tông đồ đă tin rằng
người đang ở trước mặt họ là
Thầy họ nên họ vui mừng. Sau đó,
Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các ông và sai các ông đi
(nhưng chưa nói là đi đâu và đi để làm ǵ).
Nhưng lần đó không có mặt Tôma.
Khi Tôma trở về và được các tông đồ kia thuật lại th́ ông không tin. Ông đ̣i điều kiện là phải thấy
(chẳng những thấy mà c̣n sờ) những
thương tích của Đức Giêsu th́ mới tin.
- 8 ngày
sau, Đức Giêsu hiện ra lần thứ hai. Lần này có mặt Tôma. Đức Giêsu
bảo riêng Tôma hăy đưa tay ông ra
chạm trực tiếp vào các vết thương của
Ngài. Nhưng khi đó Tôma không c̣n bảo
lưu yêu cầu thấy của ḿnh nữa. Ông tuyên xưng đức tin ngay. Ông gọi Đức Giêsu là "Chúa" và là
"Thiên Chúa". Tôma đă vươn tới mức
độ cao của đức tin :
tin mà không cần thấy.
Như
thế đoạn Tin Mừng này tŕnh bày hai mức
độ tin : mức độ
thấp là tin v́ thấy, nghĩa là tin dựa vào bằng
chứng ; mức độ cao là tin mà không cần
thấy, nghĩa là tin không dựa trên bằng chứng mà
dựa trên t́nh yêu.
Đức
Giêsu đánh giá mức độ thứ hai là cao hơn, và
kêu gọi chúng ta – qua lời nói với Tôma - hăy cố
vươn lên mức độ cao ấy :
"Tôma, v́ con đă xem thấy Thầy nên con tin. Nhưng phúc cho kẻ nào không thấy mà tin".
4. Bài
đọc II : 1 Ga 5,1-6
Lư do
khiến thánh Gioan viết bức thư
này là để giúp tín hữu khỏi bị lây nhiễm
những tư tưởng sai lệch của thuyết
ngộ đạo.
Nói
một cách rất tóm lược, thuyết ngộ
đạo chủ trương rằng chỉ cần
biết ("ngộ") th́ được cứu
độ. Đành rằng "biết"
là một điều rất quan trọng (trong quyển Tin
Mừng thứ tư, thánh Gioan cũng rất nhấn
mạnh vào sự "biết" này), nhưng sai lầm
của thuyết này là do quá đề cao sự "biết"
nên bỏ đi hai điều khác cũng quan trọng không
kém, đó là tin và yêu. Trong đoạn thư này, thánh Gioan
lưu ư tín hữu về hai điều ấy :
- Tín
hữu là người đă tin rằng Đức Giêsu là
Kitô. Mà tin vào Đức Giêsu Kitô th́ cũng
phải yêu mến Đấng đă sinh ra Đức Giêsu
Kitô, tức là Thiên Chúa.
- Mà làm
sao để biết ḿnh yêu mến Thiên Chúa ?
Thưa là qua cách sống cụ thể là thực hành các
giới răn của Ngài.
IV. GỢI Ư GIẢNG
* 1. Hành
tŕnh của Tôma
Hành tŕnh
của Tôma đi qua ba giai đoạn :
vắng mặt – hồ nghi – và tuyên xưng đức tin.
Đó cũng là hành tŕnh đức tin của kitô hữu
chúng ta.
- Khi
Đức Giêsu hiện ra lần thứ nhất, Tôma không
có mặt, cho nên ông không tin. Ông đ̣i thấy
bằng chứng rồi mới tin. Thế
nhưng nếu có bằng chứng rồi th́ đă là
chuyện hiển nhiên, đâu c̣n phải là đức tin
nữa. Đức tin không thuộc phạm vi khoa học hay lư luận, nên không dựa
trên bằng chứng.
-
Nhưng đức tin không phải là mù quáng. Tuy không đ̣i
bằng chứng nhưng phải có lư do. Lư do để tin
là lời làm chứng của những người có uy tín. Tôma chưa tin khi nghe lời thuật của các
bạn, nhưng khi nghe lời của Đức Giêsu th́ ông
tin ngay. Sau này ông c̣n trở thành nhân chứng
để cho nhiều người khác cùng tin nữa.
Tin theo lời làm chứng của ai đó bao hàm một t́nh
cảm với người đó : v́
ḿnh có t́nh cảm với người đó nên khi
người ấy nói th́ ḿnh tin. Điều
này làm nên giá trị của sự tin vào lời chứng, cho
nên Đức Giêsu nói "Phúc cho kẻ không thấy mà
tin".
- Lư do để tin c̣n là những dấu chỉ.
Dấu chỉ Đức Giêsu cho Tôma là
những thương tích của Ngài. Chỉ
cần thấy những dấu chỉ ấy, ông không
đ̣i đụng chạm và sờ mó nữa, ông tin ngay.
Ngày nay chúng ta không thấy Chúa, nhưng chúng ta có những
dấu chỉ Ngài ban, đó là các bí tích, các biến cố
và gương sống quảng đại của các tín
hữu nhiệt thành. Chính chúng ta cũng
phải là những dấu chỉ cho người khác
nhận biết Chúa.
* 2. Hạnh
phúc của tín hữu Giêrusalem
Các
tín hữu Giêrusalem đă thể hiện đức tin
bằng việc chia xẻ, không phải chia xẻ những
cái ḿnh dư thừa mà chia xẻ chính tiền bạc và tài
sản của ḿnh. "Đồng
tiền liền khúc ruột", chia xẻ tất cả
tiền bạc của ḿnh là chia xẻ chính sự sống
của ḿnh.
Kết
quả của chia xẻ như thế là trong Hội Thánh
không có ai bị túng thiếu và mọi người
đều hạnh phúc.
Gương
của các tín hữu Giêrusalem cho chúng ta hiểu
được rằng : một
đức tin sống động sẽ biến thành t́nh
yêu. Và khi sống đức tin và t́nh yêu
như thế th́ người ta sẽ hạnh phúc, v́ khi
đó người ta sống sự sống của chính
Thiên Chúa, Đấng luôn yêu thương và chia xẻ.
* 3. Dấu
chỉ của yêu thương
Làm sao
biết được người đó thực sự
yêu thương ta ?
- Có
phải v́ người đó luôn quấn quít bên ta ? Chưa chắc.
- Có
phải v́ người đó thường tặng quà cho ta ? Chưa chắc.
- Có
phải v́ người đó đề nghị sống
chung với ta ? Chưa
chắc.
Người
thương ta thật là người tế nhị
biết ư của ta và luôn làm theo ư ta.
Đó là
điều Thánh Gioan nói : "Cứ
dấu này chúng ta nhận biết rằng chúng ta yêu mến
Thiên Chúa, là chúng ta thực hành các giới răn của
Ngài".
* 4. Phúc cho ai không thấy mà tin
Bài Tin Mừng
này khiến tôi phải suy nghĩ rất nhiều.
Điều thứ nhất khiến
tôi suy nghĩ là điều kiện mà Tôma đặt ra : "Nếu tôi không thấy dấu
đinh ở tay Ngài, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ
đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài
th́ tôi không tin". Mặc dù xem ra Đức
Giêsu không tán thành thái độ của Tôma, nhưng trong thâm
tâm tôi, tôi vẫn tán thành, bởi v́ đó là thái độ
của người chín chắn, cẩn thận, không
nhẹ dạ. Trong những giao tế xă
hội, tôi vẫn giữ thái độ cẩn thận
ấy. Chẳng hạn khi tôi đi mua hàng, tôi không
thể chỉ dựa vào những lời quảng cáo
của người bán hàng để rồi mau chóng tin theo mà bỏ tiền ra mua ngay một món hàng
mà tôi chưa thử. Huống chi câu chuyện mà Tôma nghe các
bạn thuật lại là một chuyện "động
trời" chưa bao giờ xảy ra :
một người chết sống lại ! Đ̣i hỏi phải kiểm nghiệm xong
rồi mới tin là một đ̣i hỏi hợp lư.
Nhưng khi tôi tán thành với Tôma,
phải chăng là tôi không tán thành với Đức Giêsu ? Ngài đ̣i tôi "không
thấy mà tin". Phải chăng Ngài đ̣i hỏi
một điều không hợp lư ?
Suy nghĩ thêm,
tôi mới hiểu rằng Đức Giêsu không coi nhẹ
sự hợp lư, nhưng Ngài đề cao sự hợp
t́nh. Trong tương quan
giữa những người yêu thương nhau, không nên
cái ǵ cũng đối xử với nhau bằng lư, mà
phải đối xử với nhau bằng t́nh. Thí
dụ cha mẹ nói với đứa con rằng "Con
đừng thọc tay vào ổ điện nhé, điện
giật chết đấy !"
Nếu đứa con không tin, đ̣i thử nghiệm xong
rồi mới tin th́ nó sẽ ra sao ? Nó phải tin cha mẹ chứ, v́ nó biết cha
mẹ yêu thương nó. V́ Đức
Giêsu yêu tôi nên Ngài có quyền đ̣i hỏi cao hơn sự
hợp lư, Ngài có quyền đ̣i hỏi sự hợp t́nh.
Tôi cũng suy nghĩ về chữ
"Phúc" trong câu Đức Giêsu nói với Tôma : "Phúc cho những ai không thấy
mà tin". Đọc Tin Mừng theo Thánh
Matthêu, tôi đă biết có tám mối phúc. Bây
giờ tôi biết thêm mối phúc thứ chín nữa.
Tại sao không thấy mà tin th́ có phúc ?
Tôi nghĩ rằng hạnh phúc thường
đi đôi với t́nh yêu. Khi yêu ai th́ người ta
dễ tin vào người ấy. Tin thể
hiện Yêu, và chính v́ yêu nên hạnh phúc. Đến
đây tôi khám phá một dây liên hệ giữa ba điều : Yêu – Tin – và Hạnh phúc.
Và kết luận tôi rút ra
được từ bài Tin Mừng này là :
- Trong tương quan với những
người không thân thiết lắm, tôi có thể cẩn
thận đ̣i hỏi sự hợp lư.
- Nhưng trong tương quan với
những người thân yêu, tôi phải cư xử sao cho
hợp t́nh.
- Nhất là trong tương quan
với Chúa, tôi phải tin Ngài để chứng tỏ là
tôi yêu Ngài. Và nếu tôi tin yêu Ngài như
thế th́ tôi là người hạnh phúc.
* 5. Thấy
bằng trái tim
Cha Anthony de Mello kể một câu
chuyện về vị tu sĩ Hồi Giáo Nasruddin như sau :
Một ngày
nọ, nhà của thầy bốc cháy. Để được an toàn,
thầy vội trèo lên mái nhà. Các bạn
hữu tụ tập bên dưới rất lo lắng, v́
mạng sống Thầy chỉ c̣n "ngàn cân treo sợi tóc". Họ liền
căng một tấm thảm, giữ lấy bốn góc
rồi giơ cao và hô lớn :
- Nhảy đi, Thầy nhảy
xuống đi !
Thầy Nasruddin nói :
- Không được, tôi không nhảy
đâu. Thế nào các anh cũng rút tấm thảm đi,
để biến tôi thành một tṛ hề !
- Ôi, Thầy ơi !
Không phải tṛ đùa đâu, Thầy nhảy mau đi !
Thầy Nasruddin vẫn ngoan cố :
- Không ! Tôi chẳng tin ai cả. Cứ
trải thảm xuống đất đi, tôi sẽ
nhảy.
*
Tin là chấp
nhận bấp bênh, là chấp nhận có thể bị
lừa dối. Nhưng
không thể sống mà không tin. Người ta không
thể nói : "Có
thấy mới tin". Trên
đời này có biết bao điều chúng ta không thấy
mà vẫn tin. Chẳng ai thấy rơ ḷng dạ con
người, nhưng họ vẫn tin vào t́nh yêu, t́nh vợ
chồng, t́nh bạn, t́nh làng xóm… Người ta cũng không
thể nói : "Tôi
chỉ tin vào Chúa nếu có bằng chứng". Paul Misraki nói : "Nếu bạn chỉ
đợi có bằng chứng mới tin, th́ đức tin
đă trở thành khoa học rồi".
Khủng
hoảng lớn nhất của thế giới ngày nay là
khủng hoảng niềm tin. Người tín hữu Kitô luôn
được mời gọi hăy giữ vững niềm
tin.
- Tin vào Thiên Chúa và tin vào con
người.
- Tin vào thế giới do Người
tạo nên.
- Tin vào cuộc đời mà
Người gởi ta đến.
- Tin vào vẻ đẹp và hạnh
phúc Người tặng ban.
"Phúc cho ai
không thấy mà tin" (Ga.20,28). Người tín hữu Kitô
là những người không thấy mà tin. Họ không thấy Chúa bằng con mắt
thường, nhưng họ thấy Người bằng
con mắt đức tin. Họ không thấy Chúa
bằng giác quan, nhưng họ thấy Người với
cả trái tim. Thiên Chúa muốn cho giác quan
chúng ta ra tăm tối, để niềm tin
được ăn rễ sâu trong
Người.
Miguel de Unamuno viết :
"Tôi tin vào Thiên Chúa như tin vào một người
bạn, v́ tôi cảm nhận được hơi thở
t́nh yêu của Người, cảm nhận được
bàn tay vô h́nh và khả giác của Người tác
động đến tôi".
Nhà sinh vật học Jean Henry Fabre sau
87 năm khảo sát và suy tư đă phải thốt lên : "Tôi
không thể nói rằng tôi tin vào Thiên Chúa, mà là tôi trông
thấy Người". Thấy Chúa là Cha rất nhân từ hằng yêu
thương chăm sóc con người, và thấy mọi
người là anh em với nhau. Cha Michel Quoist có viết : "Tin
Chúa, không phải là hướng mắt về Người
để chiêm ngưỡng, nhưng đồng thời
cũng là nh́n vào trần gian với ánh mắt của
Đức Kitô".
*
Lạy Chúa, xin
cho chúng con được thấy Chúa đi ngang qua cuộc
đời chúng con, để chúng con tin Chúa đang sống
động, hiện diện, thật gần, ngay bên cạnh
chúng con, trong cuộc sống và trong người anh em. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đă yêu")
* 6. Mảnh
suy tư
- Điều
cốt yếu thường không nh́n thấy
được.
- Thế giới hữu h́nh chỉ là
một phần của thế giới rộng lớn
hơn bao gồm nhiều điều vô h́nh.
- Nhiều khi thị giác, thính giác và xúc
giác lại là trở ngại cho cảm xúc và suy nghĩ.
- Đôi khi
cần phải tin th́ mới thấy được.
- Tối quá người ta không
thấy, nhưng sáng quá người ta cũng chẳng
thấy.
V. Lời nguyện cho mọi người
Chủ tế : Anh chị em thân mến, thánh Tôma đă đ̣i
đụng chạm đến Đức Giêsu Phục sinh
để có dấu hiệu chắc chắn nâng đỡ
niêm tin của ḿnh. Niềm tin của chúng ta cũng c̣n
yếu kém lắm, chúng ta hăy sốt sắng nguyện xin :
1. Xin cho Hội
thánh Chúa ngày nay / là những người chỉ gặp
Đức Giêsu trong đức tin / luôn vững tin vào
Chúa Phục sinh / để nâng đỡ niềm tin cho
nhiều người khác.
2. Xin cho những
người c̣n "cứng ḷng tin" trên khắc thế
giới / có được cơ hội gặp gỡ
Đức Giêsu để dẹp bỏ thành kiến và mặc
cảm / mà đón nhận t́nh thương cứu
độ của Người.
3. Xin cho những
người đang gặp khủng hoảng về
đức tin / hoặc đánh mất niềm tin v́
gặp nhiều gian nan thử thách / t́m được
những người biết cảm thông và chia sẻ
niềm tin cho họ.
4. Xin cho mọi
người trong họ đạo chúng ta biết nêu
gương sáng về đức tin cho nhau / bằng
việc sống đức tin và truyền bá đức tin
cho người khác.
Chủ tế : Lạy Đức Giêsu, Chúa đă phán rằng :
"Phúc cho ai không thấy mà tin". Xin cho chúng con là
những người không được thấy Chúa,
cũng luôn vững vàng tin rằng Chúa đă sống lại
và ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận
thế. Chúa là đáng hằng sống và
hiển trị muôn đời.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Trước
kinh Lạy Cha : Nhờ Đức Kitô,
với Đức Kitô và trong Đức Kitô, chúng ta đă
trở thành con Thiên Chúa. Vậy chúng ta cũng
hăy cùng với Ngài và trong Ngài dâng lên Thiên Chúa lời kinh
Lạy Cha.
- Chúc
b́nh an :
Sau khi sống lại, Đức Giêsu đă ban b́nh an cho các
môn đệ. Giờ đây chúng ta cũng hăy
chúc cho nhau được b́nh an.
VII. GIẢI TÁN
Anh
chị em hăy nhớ lời Đức Giêsu nói trong bài Tin
Mừng hôm nay "Như Cha đă sai Thầy, Thầy
cũng sai các con". Chúa sai anh
chị em đi, anh chị em hăy đi b́nh an.