LỄ THĂNG THIÊN
CHỦ ĐỀ :
CHUYỂN
SANG MỘT GIAI ĐOẠN MỚI
"Anh
em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo"
(Mc 16,15)
Minh
họa
- "Anh em hãy đi khắp tứ
phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài
thọ tạo" (Mc 16,15)
Sợi
chỉ đỏ :
- Bài
đọc I (Cv 1,1-11) : Những lời dạy
cuối cùng của Đức Giêsu trước khi
thăng thiên.
- Đáp
ca (Tv 46) : Chúa lên trời, tiếng hò reo dậy
đất ; Chúa lên trời, nhịp kèn sáo trổi cao.
- Tin Mừng (Mc 16,15-20) :
Trước khi lên trời, Đức Giêsu sai các môn
đệ đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng.
- Bài
đọc II (Êp 1,17-23) : Thánh Phaolô giải thích ý
nghĩa việc Đức Giêsu "lên trời" :
"Thiên Chúa đã tôn Đức Kitô lên"
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Anh chị em thân mến
Việc
Đức Giêsu thăng thiên đánh dấu một
bước ngoặc trong việc loan báo Tin Mừng.
Trước đây, loan báo Tin Mừng chủ yếu là
việc của Đức Giêsu. Nhưng từ đây,
việc này chủ yếu là của Giáo Hội, với
sự hỗ trợ đắc lực của Đức
Giêsu và Chúa Thánh Thần. Bởi đó, khi từ biệt các
môn đệ, Đức Giêsu đã trao sứ mạng
"Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa
cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần".
Hôm nay,
sứ mạng này được trao cho thế hệ chúng
ta. Vậy chúng ta hãy cầu xin Chúa hỗ trợ để
chúng ta chu toàn sứ mạng Chúa trao.
II. GỢI Ý SÁM HỐI
- Chúng ta
có lỗi vì hay quên rằng Đức Giêsu là Đấng
đang sống và đã được Chúa Cha trao cho toàn
quyền. Do lỗi này nên chúng ta dễ chán nản và không
cậy dựa vào Ngài.
- Chúng ta
có lỗi vì chỉ hướng về trời mà quên trách
nhiệm xây dựng thế giới của mình.
- Chúng ta
có lỗi vì ít quan tâm loan báo Tin Mừng.
III. LỜI CHÚA
1. Bài
đọc I : Cv 1,1-11 : Tường thuật
việc Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm lễ Ngũ
Tuần.
- Vâng theo
lời căn dặn của Đức Giêsu phục sinh,
các tông đồ tụ họp trong nhà Tiệc Ly để
chờ đón nhận điều Ngài đã hứa.
- Sáng ngày
lễ Ngũ tuần, Đức Giêsu thực hiện
lời hứa ấy : Chúa Thánh Thần đã ngự
xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi
lửa. Lưỡi tượng trưng cho lời nói.
Lửa tượng trưng tình yêu và lòng nhiệt thành.
Nhờ Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã nhiệt
thành rao giảng Tin Mừng, làm chứng cho Đức Giêsu.
2. Đáp ca (Tv 46)
Đây là một Tv ca tụng
vương quyền của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã
chiến thắng cái chết, Ngài xứng đáng đón
nhận vương quyền. Và vương quyền này
đã mở rộng khắp nơi nhờ công tác loan báo Tin
Mừng của Giáo Hội.
3. Tin Mừng (Mc 16,15-20)
Những lời cuối cùng của
Đức Giêsu với các môn đệ :
- Sai các ông đi loan Tin Mừng :
"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo".
- Hứa hỗ trợ đặc
biệt cho các ông : "Nhân danh Thầy họ sẽ
trừ quỷ, nói các thứ tiếng mới lạ,
cầm rắn trong tay, và nếu có uống phải chất
độc thì cũng không bị hại ; họ
đặt tay trên những người bệnh và bệnh
nhân sẽ được lành mạnh". Những
"dấu lạ" mà Đức Giêsu hứa có thể
mang 2 nghĩa : a/ Nghĩa bóng : Chúa giúp các ông
chiến thắng thế lực của sự dữ ;
b/ Nghĩa đen : các ông sẽ thật sự làm
được những phép lạ
Các môn đệ vâng lời Thầy,
đi khắp nơi loan Tin Mừng, và những lời Chúa
hứa đã thành sự thật : "Có Chúa cùng
hoạt động với các ông, và củng cố lời
giảng dạy bằng những phép lạ kèm theo"
4. Bài đọc II (Êp 4,1-13)
"Thánh tông đồ gợi ý cho
chúng ta một cách nhìn về sự kiện Chúa lên trời
ngự bên hữu Chúa Cha. Rực rỡ vinh quang Thiên Chúa,
sự hiện diện của Đức Kitô phục sinh
từ nay sẽ mang những chiều kích vĩnh hằng và
vũ trụ, vượt khỏi khuôn khổ không gian và
thời gian, nghĩa là bây giờ và mãi mãi Chúa vẫn
hiện diện bên cạnh chúng ta để ban ơn
cứu độ cho chúng ta" (CgvDt, số đặc
biệt giáng sinh ’93)
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Quê hương thiên đàng và
cuộc hành trình dương thế
Sách Tông đồ công vụ kể
rằng khi Đức Giêsu từ từ lên trời thì các
môn đệ ngước mắt trông theo, và cứ ngây
ngất đứng nhìn về trời như thế, mãi cho
đến khi có hai thiên thần từ đám mây hiện ra
nhắc cho các ông thì các ông mới hoàn hồn trở
lại. Tại sao các môn đệ ngây ngất như
vậy ? Chắc hẳn là vì cảnh thiên đàng rất
là hấp dẫn.
. Cũng như một lần kia, 3
tông đồ Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng được
thoáng thấy một chút vinh quang thiên đàng khi Đức
Giêsu biến hình trên núi. Ba ông
đó cũng say sưa ngây ngất đến nỗi xin
Chúa cho mình cất lều ở lại mãi trên ngọn núi
đó.
. Còn Thánh Phaolô sau khi được
Chúa cho ngất trí chiêm ngưỡng cảnh thiên đàng
trong một khoảng khắc ngắn ngủi, đã mô
tả lại kinh nghiệm ấy trong bức thư II
gửi tín hữu Côrintô như sau "Mắt chưa
từng thấy, tai chưa từng nghe..."
. Ở Lộ Đức năm 1858,
một người từ trời xuống là Đức
Mẹ Maria đã hiện ra cho thánh nữ Bernadette. Sau đó
thánh nữ đi tu. Một lần kia có một em bé
đơn sơ hỏi thánh nữ "Thưa Ma sơ, Ma
sơ đã được thấy Đức Mẹ,
chắc là Đức Mẹ đẹp lắm
nhỉ ?" Thánh nữ trả lời với em bé bằng
một lời diễn tả cũng rất đơn
sơ "Đẹp lắm con ạ, đẹp
đến nỗi ai đã thấy được một
lần thì chỉ mong chết để lại được
thấy nữa".
. Còn ở
Đó là một vài tia sáng yếu
ớt giúp chúng ta thoáng thấy một phần nào cảnh
tượng thiên đàng. Những chứng nhân vừa
kể chỉ thoáng thấy một vài tia sáng yếu ớt
ấy là đã say sưa ngây ngất, chỉ muốn
sớm chết đi để được
hưởng thiên đàng, huống chi khi thực sự
hưởng thiên đàng và hưởng trọn vẹn còn
hạnh phúc ngất ngây đến chừng nào !
Khi về trời, Đức Giêsu
đã hứa rằng Ngài về trời là để
dọn chỗ cho chúng ta, thiên đàng hạnh phúc vô biên
ấy sẽ là quê hương vĩnh viễn của chúng
ta.
Thế nhưng không phải vì quê
hương vĩnh viễn ấy của chúng ta hạnh
phúc vô biên mà ta chỉ biết ngóng trông quê trời và sao lãng
nhiệm vụ ở trần thế. Tất cả
những chứng nhân vừa kể trên, sau một thoáng giây
chiêm ngưỡng thiên đàng đều được
nhắc nhở phải trở lại với nhiệm
vụ trần thế :
. Hai thiên thần đã hiện ra
từ đám mây nhắc nhở các môn đệ
"Hỡi những người xứ Galilê sao còn mãi mê
đứng đó nhìn trời, hãy trở lại Giêrusalem và
bắt đầu nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng mà
Chúa đã giao phó..."
. Còn 3 ông Phêrô, Gioan và Giacôbê, sau
những giây phút say sưa trên núi Tabôrê, đã
được Chúa thức tỉnh dẫn xuống núi
để tiếp tục nhiệm vụ.
. Thánh nữ Bernadette, cũng như
Nữ Tu Luxia sau khi được thấy Đức
Mẹ thì được Đức Mẹ giao nhiệm
vụ ở trần gian, Đức Mẹ còn cho biết trước ;
chúng con sẽ phải đau khổ nhiều.
Nghĩa là làm sao ? Nghĩa là :
Thiên đàng là quê hương vĩnh viễn của chúng ta,
nhưng trần thế chính là con đường dẫn
tới quê hương hạnh phúc đó. Chỉ
đứng đó mà ngóng nhìn thiên đàng thì có lẽ không bao
giờ ta tới thiên đàng được. Muốn tới
được thiên đàng thì trước hết phải
đi hết con đường dương thế
bằng cách chu toàn những nhiệm vụ của mình
ở đời này.
Trong khi chờ đợi tới ngày
hưởng phúc Thiên Đàng, chúng ta vẫn còn phải
tiếp tục sống ở trần gian này. Mà trần gian
thì vẫn còn biết bao đau khổ : Khổ về
vật chất như nghèo đói, bệnh tật ;
khổ về tinh thần như ganh ghét hận thù
đố kỵ nhau. Mà nguồn gốc của tất
cả những khổ sở vật chất và tinh thần
ấy là vì người ta còn tội lỗi, người ta
còn chưa thực hành theo những Lời Chúa dạy.
Chuẩn bị đi về quê trời là hết sức
cố gắng góp phần xoá đi bớt những đau
khổ đó ở trần gian như : chia sớt cho
những người túng thiếu, chăm sóc những
kẻ bệnh tật, ủi an những người
đau khổ, hoà giải những kẻ bất thuận
với nhau, giúp cho người ta tránh bớt tội lỗi,
làm cho người ta biết Chúa và thực hành những
Lời Chúa dạy.
"Hỡi những người
xứ Galilê, sao còn cứ đứng đó mãi nhìn
trời..." Khi các thiên thần nhắc cho các môn
đệ trở về với nhiệm vụ hằng
ngày, thì cũng là nhắc các ông làm những việc vừa
kể trên. Những việc đó chính là nội dung của
việc rao giảng Tin Mừng mà Đức Giêsu cũng
đã căn dặn một lần nữa cho các môn
đệ trước khi Người về trời
"Chúng con hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin
Mừng cho nhân loại".
Trong ngày lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta
đã để ra ít phút ngước nhìn lên quê trời
để nhìn ngắm hạnh phúc vô biên mà Chúa sẽ ban cho
chúng ta. Những phút đó thật là quý giá, là niềm vui, là
nguồn an ủi, là sự khích lệ cho chúng ta. Nhưng
chúng ta sẽ không thụ động mãi mê chiêm ngắm
hạnh phúc tương lai ấy. "Hỡi những
người xứ Galilê, sao còn đứng mãi nhìn
trời..." Chúa nhắc chúng ta hãy quay về với
bổn phận của chúng ta trong cuộc hành trình nơi
dương thế : Làm cho cuộc đời này
bớt đau khổ hơn, giúp cho người đời
biết thương nhau hơn, và góp phần cho cuộc
sống này tươi đẹp hơn. Đó chính là
bổn phận hiện tại của chúng ta trong khi
chờ đến ngày ta được về quê trời
hưởng hạnh phúc vô cùng với Chúa.
* 2. "Củng cố lời
giảng bằng những dấu lạ kèm theo"
Việc loan Tin Mừng sẽ có
sức thuyết phục hơn nếu có những dấu
lạ kèm theo. Những dấu lạ này không hẳn là các
phép lạ lớn lao, mà còn là cách sống có sức thu hút
của chúng ta.
* 3. Con
đường về Trời
Thủ lãnh của một bộ
tộc kia nằm hấp hối trên giường. Ông cho
gọi ba người có thể thay thế ông và nói :
- Ta phải chọn một
người kế tục. Các ngươi hãy leo lên
đỉnh núi linh thiêng của chúng ta, và mang về cho
bộ tộc một món quà quí giá nhất.
Người thứ nhất trở
về đem theo một thỏi vàng lớn. Người
thứ hai mang về viên ngọc vô giá. Còn người
thứ ba trở về với hai bàn tay trắng. Hết
sức ngạc nhiên, vị tù trưởng mới
hỏi :
- Món quà quí giá của ngươi
đâu ?
Người này điềm tĩnh
trả lời :
- Khi tôi lên tới đỉnh núi, tôi
thấy ở phía bên kia một vùng đất phì nhiêu màu
mỡ, tại đó dân chúng có thể hưởng một
cuộc sống sung túc tốt đẹp.
Người tù trưởng nói :
- Ngươi sẽ nối nghiệp
ta. Ngươi đã mang về món quà quí giá nhất :
Một viễn tượng tương lai tốt
đẹp.
*
Đó cũng là viễn tượng
Đức Giêsu mời gọi chúng ta đem lại cho
thế giới qua bài Tin mừng hôm nay : "Các con hãy đi khắp thế
gian, rao giảng Tin mừng cho mọi tạo vật" (Mc.16,15)
Chúa về trời là về với Chúa
Cha – Cuộc đời chúng ta là một cuộc hành trình, mà
đích đến nằm ở phía bên kia. Trời là
đích xa xôi nhưng chi phối những bước chân
gần gũi. Những bước chân đi đến
với anh em, những bước chân đi vào lòng thế
giới, những bước chân đi loan báo Tin mừng.
- Tin mừng chính là Thiên Chúa yêu
thương con người.
- Tin mừng chính là ai tin và chịu phép
rửa sẽ được cứu độ.
- Tin mừng chính là có Chúa cùng hoạt
động với những dấu lạ kèm theo.
Vậy người tín hữu Kitô không
chỉ ngước mắt nhìn trời, nhưng hăng say
đi loan báo Tin mừng, vì trái đất còn mênh mông
những đồng lúa chín vàng.
Chúa về trời, nên Người
đã mượn miệng lưỡi chúng ta để rao
giảng, mượn đôi tay chúng ta để thi ân,
mượn đôi chân chúng ta để đi đến
với người cùng khổ.
Chúa về trời nhưng
người vẫn hiện diện và hoạt động
trong cuộc sống chứng nhân của mỗi
người tín hữu.
Chúa về trời, nhưng
Người vẫn thực hiện những dấu lạ
trong cuộc đời những con người biết
sống tận tình cho tha nhân.
Chúa về trời, nhưng
Người vẫn canh cánh bên lòng một ước
mơ : "Lạy Cha, con muốn rằng con ở
đâu thì những người Cha ban cho con cũng sẽ
ở đấy với con" (Ga.17,24).
Đã ước mơ thì lúc nào
cũng nghĩ tới điều mình mơ ước.
Nếu Chúa đã ước mơ ở cùng chúng ta trên
trời thì bao lâu chúng ta chưa về trời với Chúa,
là bấy lâu trong lòng Chúa còn hình bóng chúng ta.
Đã ước mơ bao giờ
cũng mong đạt được điều mơ
ước. Nếu Chúa đã mong chúng ta có mặt nơi Chúa
ngự, thì không lẽ gì chúng ta không hiện diện ở
đó.
*
Lạy Chúa, con
đường lên trời là con đường hẹp,
con đường về trời là con đường yêu
thương. Xin cho tất cả mọi nẻo đường
chúng con đi, đều dẫn chúng con về quê trời.
Ước gì qua cuộc sống chúng con, người ta
nhận ra Nước Trời đang tỏ hiện. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")
* 4. Những cách giảng đạo
Ngày xưa, một đạo sĩ
gọi 6 người đệ tử của mình lại và
bảo họ hãy đi khắp nơi chiêu mộ môn
đệ. Một thời gian sau, tất cả đều
trở về.
- Người thứ nhất trở
về với 500 môn đệ. Khi được hỏi
bằng cách nào anh chiêu mộ được số môn
đệ đông như thế, anh trả lời :
"Con rảo khắp mọi nơi nghèo nàn và hứa
sẽ chu cấp mọi nhu cầu cần thiết cho ai
theo đạo của chúng ta"
- Người thứ hai đem về
400 môn đệ. Anh nói : "Con hứa ai theo
đạo thì sẽ được phúc thiên đàng".
- Người thứ ba đem về
300 môn đệ. Anh nói : "Con đe dọa rằng
nếu ai không theo đạo thì sẽ bị phạt trong
hỏa ngục. Thế nhưng người ta không tin
lắm. Cho đến một hôm con đã nguyền rủa
một con chó điên khiến nó chết liền tại
chỗ. Thấy thế những người này đã theo
con".
- Người thứ tư đem
về 200 môn đệ. Anh nói : "Con tìm đến
những người đơn sơ ít học và dùng
nhiều lý luận khiến họ say mê và đi theo".
- Người thứ năm đem
về 100 môn đệ. Anh nói : "Đây là những
người trẻ. Họ đang chờ một
người lãnh đạo họ. Con đã thuyết
phục họ đi theo con và họ đã theo. Con nghĩ
rằng nếu mình không chiêu mộ họ thì cũng có
những messia giả đến chiêu dụ họ mà
thôi".
- Người thứ sáu chỉ đem
về 12 môn đệ. Anh giải thích : "Con không
thể gieo những hạt giống ngay mà phải chờ,
vì đang là mùa đông, phải đợi đến lúc tuyết
tan thì đất mới mềm và gieo mới
được. Thế là con chờ. Đang lúc chờ
như thế, con kết bạn với một số
người. Con cố gắng sống cho họ thấy
cách sống của đạo chúng ta. Và con cũng chia
xẻ cuộc sống của họ. Đang khi chia xẻ
cuộc sống như thế, con khám phá rằng họ
rất coi trọng tự do đến nỗi nếu
tước mất tự do của họ thì cũng là
tước đi phẩm giá của họ. Con cũng
học được nơi họ những điều
tốt, chẳng hạn họ rất quảng đại
và không sợ hy sinh. Con thành thật nói cho họ biết cái
giá phải trả nếu muốn theo đạo chúng ta,
nhưng con nhấn mạnh rằng nếu họ theo
đạo chúng ta thì họ có thể làm được
nhiều điếu tốt cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Xem ra
những điều con nói đã làm họ cảm
động. Tuy nhiên khi đến lúc phải quyết
định thì chỉ có 12 người này chịu theo
con".
Vị đạo sĩ khen
người thứ sáu này.
Năm người trước đã
giảng đạo bằng cách khai thác sự yếu
đuối và sợ hãi của người ta. Những cách
đó thật quá dễ, nhưng lại xâm phạm
đến tự do nên người ta có theo đạo
cũng vì miễn cưỡng. Còn người thứ sáu
thì biết kêu gọi thiện chí bằng cách kết
bạn với người ta và thuyết phục họ
bằng chính gương sống của mình. Cách này tuy
chậm và khó nhưng kết quả sẽ vững chắc
và lâu bền. (Viết theo Flor McCarthy)
* 5. Chúng ta là dụng cụ Chúa dùng
"Hãy đi rao giảng Tin Mừng
cho mọi dân tộc", đó là mệnh lệnh của
Chúa khi Ngài từ biệt chúng ta.
Bây giờ Ngài không còn có ai trên thế
gian ngoài chúng ta.
Ngài không còn tay để nâng
người sa ngã ngoài tay của chúng ta.
Ngài không còn chân để đi tìm
kẻ hư mất ngoài chân của chúng ta.
Ngài không còn mắt để nhìn
những giọt lệ khổ đau âm thầm ngoài
mắt của chúng ta.
Ngài không còn lưỡi để an
ủi kẻ buồn sầu ngoài lưỡi của chúng
ta.
Ngài không còn trái tim để yêu
thương những người không được yêu
thương ngoài trái tim của chúng ta.
Lạy Chúa xin thương xót chúng con
là những môn đệ nhút nhát và sợ sệt của
Chúa. Xin ban cho chúng con lòng can đảm để làm
chứng cho Chúa giữa thế gian, hầu Tin Mừng
được rao giảng và người ta tìm
được đường vào Nước của Chúa.
(Flor McCarthy)
* 6. Loan Tin Mừng cho mọi loài
thọï tạo
Trong bài Tin Mừng này, có một câu mà
nếu đọc kỹ từng lời thì ý nghĩa
rất lạ. Đức Giêsu bảo "Hãy loan báo Tin
Mừng cho mọi loài thọ tạo".
- "Thọ tạo" nghĩa là
được Thiên Chúa tạo dựng nên. Mọi loài
thọ tạo là tất cả những gì đã
được Thiên Chúa tạo dựng nên. Không phải
chỉ là loài người, mà còn là loài động vật,
loài thực vật, đất đai, sông núi, bầu
trời, tinh tú… Tóm lại là tất cả.
- Trong tất cả mọi loài đó,
chỉ có loài người là vừa nghe vừa hiểu
vừa cảm được. Cho nên loan báo Tin Mừng cho
loài người thì có thể. Còn loan báo Tin Mừng cho
những loài khác, thì làm sao mà làm được ? Tôi
nghĩ ra rằng tuy những loài ấy không thể đón
nhận Tin Mừng theo cách của loài người đón
nhận, nhưng chúng cũng có thể hưởng nhờ
lợi ích của những giá trị Tin Mừng. Chính vì
thế mà có những lời hô hào làm đẹp thiên nhiên,
bảo vệ sinh vật, giữ sạch bầu khí
quyển v.v.
- Rốt cuộc, loan báo Tin Mừng mang
một chiều kích rất bao la. Loan báo Tin Mừng là
sống vui bằng niềm tin của mình giữa mọi
người khác, giữa thiên nhiên và giữa vũ
trụ ; đồng thời làm cho tất cả chung
quanh mình đều tốt đẹp, vui tươi.
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế : Anh chị em thân mến, mầu nhiệm
Đức Giêsu về trời được tôn vinh bên Chúa
Cha, luôn luôn là điều khích lệ và nâng đỡ cho
mọi Kitô hữu còn đang tại thế. Chúng ta cùng nhau
dâng lên Chúa những lời nguyện sau đây :
1. Chúng ta cầu
xin Chúa cho mọi người Kitô hữu / biết luôn
làm vinh danh Đức Giêsu Phục sinh / trong khi thì hành
những trách nhiệm trần thế nơi gia đình và xã
hội.
2. Chúng ta cầu
xin Chúa cho nhiều người trên thế giới /
đang mất dần ý thức về Thiên Chúa hoặc
cố tình dửng dưng với Thiên Chúa /
được nhận biết Thiên Chúa là Cha và là nguồn
hạnh phúc của họ.
3. Chúng ta cầu
xin Chúa cho nhiều anh chị em chung quan chúng ta / đang
gặp nhiều khó khăn thử thách trong việc xây
dựng đời sống cá nhân, gia đình và xã hội /
được luôn kiên trì và hy vọng rằng /
Đức Giêsu Phục sinh và lên trời là bảo
đảm cho hạnh phúc thật của họ.
4. Chúng ta cầu
xin Chúa cho nhiều anh chị em chung quanh chúng ta / đang
gặp nhiều khó khăn thử thách trong việc xây
dựng đời sống cá nhân, gia đình và xã hội /
được luôn kiên trì và hy vọng rằng / Đức
Giêsu Phục sinh và lên trời là bảo đảm cho
hạnh phúc thật của họ.
5. Chúng ta cầu
xin Chúa cho cộng đồng xứ đạo chúng ta
đã tin Đức Giêsu Phục sinh về trời / thì
cũng luôn sống theo niềm tin đó / để cũng
được sống lại và lên trời như Chúa.
Chủ tế : Lạy Chúa là Cha toàn năng, Chúa đã cho
Đức Giêsu Kitô phục sinh và về trời, xin giúp
chúng con biết sống theo lối sống của
Người, để mai sau cũng được
hưởng vinh quang với Người. Chúng con cầu xin
nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.
VI. TRONG THÁNH LỄ
- Kinh
Tiền Tụng riêng cho lễ Thăng Thiên
- Trước
kinh Lạy Cha : Đức Giêsu phục sinh đang
ở bên cạnh Chúa Cha để làm trung gian cho chúng ta.
Chúng ta hãy nhờ Ngài và với Ngài dâng lên Chúa Cha lời kinh
Lạy Cha.
- Trước
lúc rước lễ : Chúng ta sắp rước
Đức Giêsu vào lòng. Hãy xin Ngài thêm sức giúp chúng ta chu
toàn sứ mạng Ngài trối lại cho chúng ta tiếp
nối. "Đây Chiên Thiên Chúa…"
VII. GIẢI TÁN
Hôm nay
Đức Giêsu lặp lại với anh chị em lời
Ngài đã bảo các môn đệ ngày xưa : "Anh em
hãy đi đến với muôn dân…", "Anh em hãy làm
chứng cho Thầy". Chúc anh chị em bình an.