Sợi
chỉ đỏ :
-
Bài đọc I : Thiên Chúa khuyến khích tội nhân
trở về với Ngài, đừng sợ Ngài trừng
phạt. Chắc chắn Ngài sẽ tha thứ, bởi v́
"Tư tưởng của Ta không phải là tư
tưởng của các ngươi"
-
Đáp ca : "Chúa tốt lành với tất cả
mọi người"
-
Tin Mừng : Ông chủ vườn nho trả
lương cho người thợ làm giờ cuối cùng
cũng một đồng bằng với những
người thợ làm từ sáng sớm.
Minh
họa
-
Mille
images 86 D
-
"Những người vào làm trước nhất
tưởng sẽ lănh được nhiều hơn…"
(Mt 20,10)
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Anh
chị em thân mến
Nếu
chúng ta t́m hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ
gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng
rằng đă hiểu rất rơ lại không như ta
tưởng ; suy nghĩ của Ngài nhiều khi không
giống suy nghĩ của chúng ta ; cách đối
xử của Ngài cũng lắm bất ngờ.
Trong
Thánh lễ này, chúng ta hăy xin Chúa giúp chúng ta hiểu Ngài
hơn, và nhất là biết suy nghĩ và cư xử
như Ngài.
II. GỢI Ư SÁM HỐI
-
Chúng ta ít lo t́m hiểu Chúa nên đă không sống như Ngài.
-
Cách chúng ta đối xử với người khác dựa
trên quyền lợi bản thân hơn là dựa trên ḷng
tốt.
-
Nhiều khi thấy một người khác được
điều ǵ tốt, thay v́ vui mừng, chúng ta lại khó
chịu.
III. LỜI CHÚA
1.
Bài đọc I (Is 55,6-9) :
Kẻ
có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên
trốn lánh Ngài. Mà càng trốn lánh Thiên Chúa th́ càng lún sâu trong
tội.
Qua
lời ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa khuyến khích họ cứ
an tâm trở về. "Tư tưởng của Ta không
phải là tư tưởng của các
ngươi" : Ngài không nghĩ đến trừng
phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Người
không bắt tội mà chỉ thứ tha.
2.
Đáp ca (Tv 144) :
Tv
này ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa,
sự vĩ đại này chính là tấm ḷng của
Ngài : nhân hậu, từ bi, kiên nhẫn, xót thương
và tốt lành với tất cả mọi người…
3.
Tin Mừng (Mt 20,1-16a) :
Dụ
ngôn này phản ảnh hai cách suy nghĩ :
-
Cách suy nghĩ của đám thợ làm vườn nho là suy
nghĩ theo công bằng : kẻ làm ít giờ lẽ ra
phải được lănh ít hơn người làm
nhiều giờ. Đây cũng là suy nghĩ của loài
người chúng ta.
-
Cách suy nghĩ của ông chủ vườn nho : vẫn
trả đủ lương cho những người làm
nhiều giờ, nhưng v́ ḷng tốt nên cũng trả cho
người thợ làm giờ cuối cùng đủ
một đồng. Đây là cách suy nghĩ của Thiên Chúa.
4.
Bài đọc II (Pl 1,20c.24-27) (Chủ đề
phụ) :
*
Trong các Chúa nhựt XXV-XXVIII, bài đọc II
được trích từ thư Phaolô gởi tín hữu
Philipphê. (Xin xem bài giới thiệu tổng quát về
Thư Philipphê, ngay sau bài này)
Đây
là bức thư Phaolô viết trong khi bị cầm tù. Trong
thời gian Phaolô ở từ, tín hữu Philipphê đă
thường xuyên thăm viếng, trợ giúp và c̣n phái
người tới chăm sóc cho Phaolô.
Trong
đoạn thư này, Phaolô nghĩ đến hai t́nh
huống :
-
Một là ông sẽ được tha tự do : khi
đó ông sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng
Đức Giêsu Kitô, và Ngài sẽ được vẻ vang.
-
Hai là ông bị xử tử : cái chết của ông v́
Tin Mừng cũng sẽ làm vẻ vang Đức Kitô.
V́
thế Phaolô kết luận : "Dù tôi sống hay tôi
chết, Đức Kitô cũng sẽ được
vẻ vang nơi tôi"
IV. GỢI Ư GIẢNG
1.
Tư tưởng của Thiên Chúa không giống tư
tưởng loài người
Loài
người chúng ta suy nghĩ giống như một
người buôn bán : món hàng trị giá thế nào,
vậy phải mua thế nào, bán thế nào ? bao nhiêu th́
đúng, bao nhiêu th́ sai ?
Chúng
ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong
đối xử với người khác, mà c̣n cho cả
Thiên Chúa nữa : tôi đă làm ǵ và làm bao nhiêu, cho nên Thiên
Chúa phải ban cho tôi ơn ǵ và ban bao nhiêu. Chúng ta cho
rằng như thế là công bằng.
Nhưng
Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn
làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha,
yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và
chỉ dùng ḷng tốt để đối xử.
Đối với từng đứa con, Ngài không xét xem nó
đă làm được ǵ, nó đáng được bao
nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc
như thế nào, ban cho nó cái ǵ là tốt nhất…
Khi
lẩm bẩm trách, những người thợ làm
nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của ḿnh áp
đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn
ông đừng làm người cha yêu thương mà hăy làm
một người buôn bán vô t́nh.
2.
Công b́nh và thương xót
Nhiều
người đọc xong dụ ngôn này đă nghĩ
rằng Thiên Chúa đối xử không công b́nh v́ Ngài đă
trả cùng một đồng cho những người làm
việc suốt ngày và người chỉ làm có một
giờ.
Thực
ra chẳng có ǵ là không công b́nh cả : V́ ông chủ
đă thỏa thuận với thợ về tiền công
mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không
đủ một đồng th́ mới bất công. Nói cho
đúng hơn : đối với những người
làm suốt ngày th́ ông chủ công b́nh ; c̣n đối
với người làm chỉ có một giờ th́ ông
chủ đă đối xử hơn mức công b́nh :
ông đối xử theo ḷng thương xót.
Xem
ra, đ̣i hỏi công b́nh là điều hợp lư. Nhưng
xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu
Chúa cứ theo công b́nh à đối xử với chúng ta,
đúng như lời Thánh vịnh "Nếu Chúa chấp
tội th́ ai nào đứng vững được". Cho
nên, xét cho cùng th́ chúng ta cần đến ḷng thương
xót của Chúa hơn là đến đức công b́nh
của Ngài.
Vả
lại, đối xử công b́nh là đối xử
bằng lư, c̣n đối xử với ḷng thương xót
là đối xử theo t́nh. Mỉa mai thay, bất chính
như con người th́ hay đ̣i đối xử
bằng lư, c̣n công chính như Thiên Chúa lại thích
đối xử bằng t́nh.
Flor
McCarthy đă chứng kiến một cảnh tượng
tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông
đă thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng
kiến nó : có lần ông đến Cape Town nước
Nam Phi. Đó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một
đám đông đứng ngoài đường không làm ǵ
cả. Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những
kẻ lười biếng, đang khi những
người khác lo làm ăn th́ những người này
đứng đó chẳng làm ǵ cả. Đến trưa
ông vẫn c̣n thấy đám người ấy vẫn
đứng đó, mồ hôi đă nhễ nhại
ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ th́ mới biết
họ là những người thất nghiệp. Họ
đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến
thuê họ đi làm chăng. Măi tới chiều ông vẫn
thấy đám người đó. Và khi hết ngày, họ
lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm
đó McCarthy rất hối hận v́ đă vội kết
án những con người tội nghiệp ấy. Và ông
đă soạn một lời cầu nguyện như
sau :
"Tư
tưởng của Ta không giống tư tưởng các
ngươi
và
đường lối Ta không giống đường
lối các ngươi"
"Như
trời xanh cao hơn đất bao nhiêu
th́
đường lối Ta cũng cao hơn đường
lối các ngươi bấy nhiêu"
Lạy
Chúa
Tư
tưởng chúng con rất nông cạn, đường
lối chúng con rất hẹp ḥi
Bởi
v́ trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.
Xin
Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con
để
chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động
giống Chúa hơn.
Xin
giúp chúng con đừng bực bội v́ ḷng tốt của
Chúa đối với người khác
Xin
giúp chúng con ư đừng cho rằng chúng con đáng
được Chúa thưởng công
Xin
giúp chúng con ư thức rằng chúng con cần đến ḷng
thương xót hơn là đức công b́nh của Chúa. Amen.
3.
Giờ thứ 11
Cuối
đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ :
"Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và
kẻ trước hết sẽ nên sau hết".
Trong
Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa : Một
chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi
Đức Giêsu : tôi đă giữ các giới răn
từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm ǵ thêm
để được sự sống đời
đời làm gia nghiệp ? Lần kia Phêrô áy náy tŕnh
với Chúa : Thưa Thầy, này chúng con đă bỏ
mọi sự mà theo Thầy, vậy th́ sao ? Bồn
chồn hơn nữa, hai người con Ông Dêbêđê
nghĩ rằng ḿnh thuộc số môn đệ đi theo
Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho ḿnh hai
chỗ tả hữu trong Nước của Ngài… Nhưng,
đối với những "kẻ trước
hết" ấy, Đức Giêsu đă không dành hai chỗ
tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên
trộm cướp. Đúng vậy, hai "kẻ sau
hết" này đă ở hai bên tả hữu của
Thập giá.
Nói
"trước hết" và "sau hết" là tính
theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính
bằng thời gian mà bằng sự gắn bó t́nh yêu.
4.
Hăy có một năo trạng mới
Điểm
sâu sắc nhất của dụ ngôn những người
thợ vườn nho là đặt đối lập nhau
hai năo trạng :
a/
Năo trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc
tính toán : làm ǵ cũng là để tính công, công càng
nhiều th́ phải được hưởng càng
nhiều.
Đây
là năo trạng của đa số tín hữu chúng ta. Chúng ta
tính toán ḿnh đă giữ đạo bao nhiêu năm,
đọc kinh dự lễ bao nhiều lần, làm việc
lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.
Với
năo trạng ấy, chúng ta chăm chăm nh́n đến
những việc ḿnh đă làm và cứ bo bo nh́n vào sổ thu
của ḿnh. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối
đời (hết ngày làm việc), tŕnh quyển sổ thu
đó cho Chúa th́ chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng
ơn cứu độ và thanh toán ṣng phẳng cho chúng ta.
Nhưng
trong năo trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa là ai, liên hệ
giữa Thiên Chúa và ta là ǵ ? Ta chỉ là người làm
công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai
bên là hợp đồng làm ăn.
Sống
đạo theo năo trạng này thật là nặng nhọc và
vô t́nh vô nghĩa.
b/
Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê
mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm
công.
Thiên
Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh của mỗi
người chúng ta. Người th́ hoàn cảnh này
(đứng trước vườn nho từ sáng sớm),
người th́ hoàn cảnh khác (đứng trước
vườn nho khi đă gần hết ngày), nhưng
người nào cũng được Thiên Chúa thương
và ban cho ơn cứu độ (được vào
vườn nho, được lănh một đồng).
Năo
trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm
nhận t́nh thương ấy và đáp lại t́nh
thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác
vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm
được nhiều hay làm được ít, chịu
cực khổ nhiều hay ít.
Cần
phải thay đổi năo trạng : sống đạo
không bằng tính toán mà bằng cả tấm ḷng.
5.
Chuyện minh họa
Đây
là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.
Lúc
bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau
thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm
nhỏ đă tách rời đám đông và chạy phía
trước. C̣n vài chục mét nữa th́ một
người vọt lên rất nhanh và tới đích.
Khán
giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số
người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô
địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp h́nh tới,
vừa bấm máy, vừa thu h́nh, vừa phỏng vấn.
Những người hâm mộ tới xin chữ kư. Một
số hăng thương mại đến đề
nghị kư hợp đồng với nhà vô địch.
Cuối
cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện.
Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên
một chiếc bục cao, người hạng nh́
đứng trên bục bên phải thấp hơn một
chút, và người hạnh ba bục bên trái thấp hơn
chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy
chương để ông chủ tịch đeo vào cổ
họ.
Nhưng
ông chủ tịch ngỏ ư muốn gặp 3 người
tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu,
nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông
tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho
người hạng chót, chiếc huy chương bạc
thuộc về người áp chót, và chiếc huy
chương đồng cho người kế tiếp.
Nhà
vô địch bực bội phản đối :
-
Như thế là không công b́nh !
-
Tại sao ? Ông chủ tịch hỏi lại.
-
Tôi hạng nhất, tôi phải được
thưởng.
-
Th́ anh đă được thưởng rồi. Này nhé khán
giả đă vỗ tay hoan hô anh, báo chí đă chụp h́nh
anh, những người hâm mộ đă tặng hoa cho anh,
những hăng thương mại đă kư hợp
đồng với anh… Anh đă được
thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hăy nghĩ
tới những người chạy sau chót : họ
cũng cố gắng như anh, vất vả không kém ǵ
anh, và cũng chạy hết đoạn đường
3000 mét như anh. Anh thử nghĩ xem có công b́nh không khi anh
th́ được tất cả c̣n họ th́ chẳng
được ǵ ?
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI
NGƯỜI
CT :
Anh chị em thân mến
Thiên
Chúa là t́nh yêu. Người yêu thương và muốn cứu
độ hết thảy mọi người. Chúng ta cùng
cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.
1-
Chúa Giêsu đă giao cho hàng Linh mục sứ mạng rao
giảng Tin Mừng / và cử hành các bí tích mà phục
vụ dân Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các ngài
luôn trung thành / khôn ngoan và nhân hậu.
2-
Trên thế giới ngày nay / h́nh như ḷng khoan dung không c̣n
ngự trị trong các sinh hoạt trần thế / do đó
con người vẫn c̣n điên cuồng tàn sát lẫn nhau
/ Chúng ta hiệp lời cầu xin cho ḷng khoan dung ảnh
hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời
sống con người.
3-
Hiện tại có biết bao người đang âm thầm
hy sinh cả cuộc đời trên cánh đồng
truyền giáo / để giới thiệu Chúa cho những
anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp
lời cầu xin Chúa giữ ǵn / và nâng đỡ những
anh chị em ấy / giữa muôn vàn thử thách trong
đời sống chứng nhân của ḿnh.
4-
Tính ganh tị làm cho con người trở nên mù quáng /
hẹp ḥi / ích kỷ / thậm chí vu khống để bôi
nhoi danh dự / để hạ người khác xuống /
Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo
xứ chúng ta / biết can đảm sửa chữa
tận gốc tật xấu kinh niên này.
CT :
Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết sống như
Chúa : luôn cư xử quảng đại và khoan dung
với hết thảy mọi người, nhờ đó
chúng con sẽ nên hoàn thiện như Chúa Cha trên trời. Chúa
hằng sống và hiển trị…
VI. TRONG THÁNH LỄ
-
Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đây, kẻ th́
biết Chúa vào giờ thứ nhất, người th́
chỉ mới biết Ngài vào giờ thứ 11. Nhưng Chúa
đă thương tất cả chúng ta, cho tất cả
chúng ta làm con trong nhà Ngài. Vậy tất cả chúng ta hăy tŕu
mến dâng lên Ngài lời kinh mà chính Chúa Giêsu đă dạy.
VII. GIẢI TÁN
Thiên
Chúa đối xử với mọi người bằng
ḷng tốt. Xin Chúa giúp anh chị em ra về cũng
đối xử bằng ḷng tốt với mọi
người.
---------------------------------------
1.
Philíp là một thành phố trong tỉnh Makêđoan,
được thành lập bởi vua Philíp, cha của
Alexandre đại đế (đế quốc hy lạp),
do đó thành này mang tên Philíp. Đến năm 42 công nguyên nó
thành thuộc địa của đế quốc Rôma.
Thuộc địa này rất thịnh vượng.
Được làm công dân của Philíp th́ cũng
đương nhiên được quyền công dân Rôma. Dân
thành này hănh diện v́ ḿnh là công dân Rôma, họ nói tiếng
Latin và ăn mặc theo kiểu rôma (đây là bối
cảnh của 3,20-21 : Phaolô bảo các tín hữu hăy hănh
diện v́ được làm công dân Nước Thiên Chúa).
Đa số dân cư là lính tráng rôma, do đó nếp
sống và việc quản trị hành chánh ở đây mang
đậm sắc thái rôma (x. Cv 16,21). Cũng có những người
do thái nhưng rất ít đến nỗi họ không có
hội đường (x. Cv 16,3), và đây cũng là lư do
khiến trong thư này Phaolô rất ít trích dẫn Cựu
Ước.
2.
Năm 50, trong cuộc du hành truyền giáo thứ 2, Phaolô
đă đến Philíp. Cùng đi có Sila, Timôtêô và Luca. Họ
đă thành lập được giáo đoàn mà đa số
tín hữu là người lương trở lại (Cv
16,12-40). V́ không có hội đường nên Phaolô không rao
giảng tại hội đường như thói quen. Các
cuộc nhóm họp của tín hữu cũng tổ chức
tại tư gia. H́nh như cuộc nhóm họp đầu
tiên tổ chức tại nhà Bà Lyđya một tín hữu
làm nghề buôn bán vải điều (Cv 16,14-15)
3.
Giáo đoàn này xem ra rất được Phaolô quư mến
nên ông thường trở lại thăm viếng. Sau khi
thành lập xong giáo đoàn, Phaolô ra đi, để Luca
ở lại cai quản. Đến năm 57, Phaolô trở
lại. Năm sau, trên đường từ Côrintô đi
Giêrusalem, Phaolô lại ghé thăm. Cũng có lẽ v́ quư
mến giáo đoàn này nên mặc dù có lập trường
không nhận trợ giúp vật chất của ai, Phaolô
đă bằng ḷng để họ giúp đỡ ḿnh (Pl 4,16
2Cr 11,8-9)
B. MỤC ĐÍCH :
Mục
đích của thư này là cám ơn sự giúp đỡ
của tín hữu Philíp. Nhưng ngoài ra cũng có một
số mục đích khác :
-
Thông tin về hoàn cảnh sống hiện tại của
Phaolô (1,12-26 ; 4,10-19).
-
Khuyến khích tín hữu can đảm, kiên tŕ và nhất là
vẫn vui vẻ lạc quan trong thời gian thử thách
(1,27-30 ; 4,4).
-
Khuyên bảo họ hai điều quan trọng là khiêm
tốn và đoàn kết (2,1-11 ; 4,2-5).
-
Gởi gắm Timôtêô và Êpaphrôđitô cho giáo đoàn Philíp
(2,19-30).
-
Cảnh cáo tín hữu về hiểm nguy của khuynh
hướng vụ luật (do những người do thái
thủ cựu) và khuynh hướng phóng túng (chương
3).
C. NỘI DUNG
-
Khuyến khích và dạy dỗ :1,1-3,1
-
Khiển trách 3,2-4,1
-
Tiếp tục khuyến khích và dạy dỗ : 4,2-9
-
Cám ơn sự giúp đỡ 4,10-20
D. NHẬN ĐỊNH
Điểm
đặc biệt nhất của thư này là "niềm
vui" : kitô hữu hăy vui luôn, cho dù hoàn cảnh có
thế nào đi nữa cũng vẫn vui.
-
Đặc tính của niềm vui này : Không chóng qua
nhưng bền bỉ : "Yến tiệc nào không có
lúc tàn" (Qohelet). Niềm vui tự nhiên sẽ tàn khi
cuộc vui kết thúc. Nhưng niềm vui siêu nhiên trong
thư này th́ vẫn tồn tại. Ngay cả khi tín hữu
phải sống trong hoàn cảnh hết sức khổ
sở, họ vẫn vui. Thậm chí ngay khi đối
diện với cái chết họ vẫn cứ vui. Cụ
thể là Phaolô khi ấy đang bị cầm tù và không
biết mạng sống sẽ ra sao nhưng ông vẫn vui.
-
Nguồn gốc của niềm vui này : a/ Xác tín rằng
Thiên Chúa có thể biến một điều xem ra bất
lợi trở thành có lợi (2,5-11). Bằng chứng
hiển nhiên nhất là cái chết của Đức Giêsu
trên Thập giá đă trở thành nguồn ơn cứu
độ. b/ Tự nhủ rằng cù sướng hay
khổ, dù sống hay chết cũng được,
miễn sao cho Tin Mừng được rao giảng
(1,12-18).