CHÚA NHỰT XXV

CHỦ ĐỀ : Ḷng tốt của Thiên Chúa

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Thiên Chúa khuyến khích tội nhân trở về với Ngài, đừng sợ Ngài trừng phạt. Chắc chắn Ngài sẽ tha thứ, bởi v́ "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi"

- Đáp ca : "Chúa tốt lành với tất cả mọi người"

- Tin Mừng : Ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm giờ cuối cùng cũng một đồng bằng với những người thợ làm từ sáng sớm.

Minh họa

- Mille images 86 D

- "Những người vào làm trước nhất tưởng sẽ lănh được nhiều hơn…" (Mt 20,10)

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Nếu chúng ta t́m hiểu kỹ về Thiên Chúa, chúng ta sẽ gặp nhiều bất ngờ. Thiên Chúa mà ta tưởng rằng đă hiểu rất rơ lại không như ta tưởng ; suy nghĩ của Ngài nhiều khi không giống suy nghĩ của chúng ta ; cách đối xử của Ngài cũng lắm bất ngờ.

Trong Thánh lễ này, chúng ta hăy xin Chúa giúp chúng ta hiểu Ngài hơn, và nhất là biết suy nghĩ và cư xử như Ngài.

II. GỢI Ư SÁM HỐI

- Chúng ta ít lo t́m hiểu Chúa nên đă không sống như Ngài.

- Cách chúng ta đối xử với người khác dựa trên quyền lợi bản thân hơn là dựa trên ḷng tốt.

- Nhiều khi thấy một người khác được điều ǵ tốt, thay v́ vui mừng, chúng ta lại khó chịu.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc I (Is 55,6-9) :

Kẻ có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên trốn lánh Ngài. Mà càng trốn lánh Thiên Chúa th́ càng lún sâu trong tội.

Qua lời ngôn sứ Isaia, Thiên Chúa khuyến khích họ cứ an tâm trở về. "Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi" : Ngài không nghĩ đến trừng phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Người không bắt tội mà chỉ thứ tha.

2. Đáp ca (Tv 144) :

Tv này ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa, sự vĩ đại này chính là tấm ḷng của Ngài : nhân hậu, từ bi, kiên nhẫn, xót thương và tốt lành với tất cả mọi người…

3. Tin Mừng (Mt 20,1-16a) :

Dụ ngôn này phản ảnh hai cách suy nghĩ :

- Cách suy nghĩ của đám thợ làm vườn nho là suy nghĩ theo công bằng : kẻ làm ít giờ lẽ ra phải được lănh ít hơn người làm nhiều giờ. Đây cũng là suy nghĩ của loài người chúng ta.

- Cách suy nghĩ của ông chủ vườn nho : vẫn trả đủ lương cho những người làm nhiều giờ, nhưng v́ ḷng tốt nên cũng trả cho người thợ làm giờ cuối cùng đủ một đồng. Đây là cách suy nghĩ của Thiên Chúa.

4. Bài đọc II (Pl 1,20c.24-27) (Chủ đề phụ) :

* Trong các Chúa nhựt XXV-XXVIII, bài đọc II được trích từ thư Phaolô gởi tín hữu Philipphê. (Xin xem bài giới thiệu tổng quát về Thư Philipphê, ngay sau bài này)

Đây là bức thư Phaolô viết trong khi bị cầm tù. Trong thời gian Phaolô ở từ, tín hữu Philipphê đă thường xuyên thăm viếng, trợ giúp và c̣n phái người tới chăm sóc cho Phaolô.

Trong đoạn thư này, Phaolô nghĩ đến hai t́nh huống :

- Một là ông sẽ được tha tự do : khi đó ông sẽ tiếp tục rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, và Ngài sẽ được vẻ vang.

- Hai là ông bị xử tử : cái chết của ông v́ Tin Mừng cũng sẽ làm vẻ vang Đức Kitô.

V́ thế Phaolô kết luận : "Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô cũng sẽ được vẻ vang nơi tôi"

IV. GỢI Ư GIẢNG

1. Tư tưởng của Thiên Chúa không giống tư tưởng loài người

Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán : món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào ? bao nhiêu th́ đúng, bao nhiêu th́ sai ?

Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà c̣n cho cả Thiên Chúa nữa : tôi đă làm ǵ và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn ǵ và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.

Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con. Ngài chỉ có thương yêu và chỉ dùng ḷng tốt để đối xử. Đối với từng đứa con, Ngài không xét xem nó đă làm được ǵ, nó đáng được bao nhiêu. Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái ǵ là tốt nhất…

Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của ḿnh áp đặt lên suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông đừng làm người cha yêu thương mà hăy làm một người buôn bán vô t́nh.

2. Công b́nh và thương xót

Nhiều người đọc xong dụ ngôn này đă nghĩ rằng Thiên Chúa đối xử không công b́nh v́ Ngài đă trả cùng một đồng cho những người làm việc suốt ngày và người chỉ làm có một giờ.

Thực ra chẳng có ǵ là không công b́nh cả : V́ ông chủ đă thỏa thuận với thợ về tiền công mỗi ngày là một đồng, nên nếu ông trả không đủ một đồng th́ mới bất công. Nói cho đúng hơn : đối với những người làm suốt ngày th́ ông chủ công b́nh ; c̣n đối với người làm chỉ có một giờ th́ ông chủ đă đối xử hơn mức công b́nh : ông đối xử theo ḷng thương xót.

Xem ra, đ̣i hỏi công b́nh là điều hợp lư. Nhưng xét theo thực tế, chúng ta không chịu nổi nếu Chúa cứ theo công b́nh à đối xử với chúng ta, đúng như lời Thánh vịnh "Nếu Chúa chấp tội th́ ai nào đứng vững được". Cho nên, xét cho cùng th́ chúng ta cần đến ḷng thương xót của Chúa hơn là đến đức công b́nh của Ngài.

Vả lại, đối xử công b́nh là đối xử bằng lư, c̣n đối xử với ḷng thương xót là đối xử theo t́nh. Mỉa mai thay, bất chính như con người th́ hay đ̣i đối xử bằng lư, c̣n công chính như Thiên Chúa lại thích đối xử bằng t́nh.

Flor McCarthy đă chứng kiến một cảnh tượng tương tự với dụ ngôn này và cho biết ông đă thay đổi cách suy nghĩ ra sao sau khi chứng kiến nó : có lần ông đến Cape Town nước Nam Phi. Đó là một buổi sáng mùa hè. Ông thấy một đám đông đứng ngoài đường không làm ǵ cả. Ban đầu ông nghĩ rằng đó là những kẻ lười biếng, đang khi những người khác lo làm ăn th́ những người này đứng đó chẳng làm ǵ cả. Đến trưa ông vẫn c̣n thấy đám người ấy vẫn đứng đó, mồ hôi đă nhễ nhại ướt đẫm lưng áo. Hỏi kỹ th́ mới biết họ là những người thất nghiệp. Họ đứng chờ ngoài nắng, hy vọng có ai đến thuê họ đi làm chăng. Măi tới chiều ông vẫn thấy đám người đó. Và khi hết ngày, họ lủi thủi ra về, trông rất tội nghiệp. Hôm đó McCarthy rất hối hận v́ đă vội kết án những con người tội nghiệp ấy. Và ông đă soạn một lời cầu nguyện như sau :

"Tư tưởng của Ta không giống tư tưởng các ngươi

và đường lối Ta không giống đường lối các ngươi"

"Như trời xanh cao hơn đất bao nhiêu

th́ đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu"

Lạy Chúa

Tư tưởng chúng con rất nông cạn, đường lối chúng con rất hẹp ḥi

Bởi v́ trí óc chúng con nghèo nàn và con tim chúng con chật chội.

Xin Chúa mở rộng trí óc và con tim chúng con

để chúng con suy nghĩ giống Chúa hơn, và hành động giống Chúa hơn.

Xin giúp chúng con đừng bực bội v́ ḷng tốt của Chúa đối với người khác

Xin giúp chúng con ư đừng cho rằng chúng con đáng được Chúa thưởng công

Xin giúp chúng con ư thức rằng chúng con cần đến ḷng thương xót hơn là đức công b́nh của Chúa. Amen.

3. Giờ thứ 11

Cuối đoạn Tin Mừng này có một câu bất ngờ : "Kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết".

Trong Tin Mừng có nhiều thí dụ minh họa : Một chàng thanh niên giàu có và đạo đức hỏi Đức Giêsu : tôi đă giữ các giới răn từ thuở nhỏ, vậy tôi phải làm ǵ thêm để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ? Lần kia Phêrô áy náy tŕnh với Chúa : Thưa Thầy, này chúng con đă bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy th́ sao ? Bồn chồn hơn nữa, hai người con Ông Dêbêđê nghĩ rằng ḿnh thuộc số môn đệ đi theo Thầy trước hết cho nên xin Thầy dành cho ḿnh hai chỗ tả hữu trong Nước của Ngài… Nhưng, đối với những "kẻ trước hết" ấy, Đức Giêsu đă không dành hai chỗ tả hữu ưu tiên, Ngài lại ban chúng cho hai tên trộm cướp. Đúng vậy, hai "kẻ sau hết" này đă ở hai bên tả hữu của Thập giá.

Nói "trước hết" và "sau hết" là tính theo thời gian. Nhưng liên hệ với Chúa không tính bằng thời gian mà bằng sự gắn bó t́nh yêu.

4. Hăy có một năo trạng mới

Điểm sâu sắc nhất của dụ ngôn những người thợ vườn nho là đặt đối lập nhau hai năo trạng :

a/ Năo trạng của những thợ làm nhiều giờ là óc tính toán : làm ǵ cũng là để tính công, công càng nhiều th́ phải được hưởng càng nhiều.

Đây là năo trạng của đa số tín hữu chúng ta. Chúng ta tính toán ḿnh đă giữ đạo bao nhiêu năm, đọc kinh dự lễ bao nhiều lần, làm việc lành phúc đức bao nhiêu việc v.v.

Với năo trạng ấy, chúng ta chăm chăm nh́n đến những việc ḿnh đă làm và cứ bo bo nh́n vào sổ thu của ḿnh. Chúng ta nghĩ rằng khi đến cuối đời (hết ngày làm việc), tŕnh quyển sổ thu đó cho Chúa th́ chắc chắn Ngài sẽ mở kho tàng ơn cứu độ và thanh toán ṣng phẳng cho chúng ta.

Nhưng trong năo trạng ấy, ta là ai, Thiên Chúa là ai, liên hệ giữa Thiên Chúa và ta là ǵ ? Ta chỉ là người làm công, Thiên Chúa là người thuê mướn, liên hệ hai bên là hợp đồng làm ăn.

Sống đạo theo năo trạng này thật là nặng nhọc và vô t́nh vô nghĩa.

b/ Thực ra, Thiên Chúa đâu có tự coi là người thuê mướn và cũng đâu có coi chúng ta là người làm công.

Thiên Chúa yêu thương chúng ta theo hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Người th́ hoàn cảnh này (đứng trước vườn nho từ sáng sớm), người th́ hoàn cảnh khác (đứng trước vườn nho khi đă gần hết ngày), nhưng người nào cũng được Thiên Chúa thương và ban cho ơn cứu độ (được vào vườn nho, được lănh một đồng).

Năo trạng thoải mái và hạnh phúc nhất là cảm nhận t́nh thương ấy và đáp lại t́nh thương bằng cách tận tâm tận lực canh tác vườn nho, không tính toán làm lâu hay làm mau, làm được nhiều hay làm được ít, chịu cực khổ nhiều hay ít.

Cần phải thay đổi năo trạng : sống đạo không bằng tính toán mà bằng cả tấm ḷng.

5. Chuyện minh họa

Đây là diễn tiến một cuộc chạy đua 3000 mét.

Lúc bắt đầu, những tay đua chạy san sát nhau thành một nhóm rất đông. Một lúc sau, một nhóm nhỏ đă tách rời đám đông và chạy phía trước. C̣n vài chục mét nữa th́ một người vọt lên rất nhanh và tới đích.

Khán giả vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Một số người ôm những bó hoa tới tặng nhà vô địch. Các phóng viên xách Camera và máy chụp h́nh tới, vừa bấm máy, vừa thu h́nh, vừa phỏng vấn. Những người hâm mộ tới xin chữ kư. Một số hăng thương mại đến đề nghị kư hợp đồng với nhà vô địch.

Cuối cùng, ông chủ tịch Ban Tổ chức xuất hiện. Người ta mời nhà vô địch lên đứng trên một chiếc bục cao, người hạng nh́ đứng trên bục bên phải thấp hơn một chút, và người hạnh ba bục bên trái thấp hơn chút nữa. Người ta mang đến 3 chiếc huy chương để ông chủ tịch đeo vào cổ họ.

Nhưng ông chủ tịch ngỏ ư muốn gặp 3 người tới đích cuối cùng. Ban tổ chức không hiểu, nhưng vẫn làm theo lời ông. Khi họ tới, ông tươi cười trao chiếc huy chương vàng cho người hạng chót, chiếc huy chương bạc thuộc về người áp chót, và chiếc huy chương đồng cho người kế tiếp.

Nhà vô địch bực bội phản đối :

- Như thế là không công b́nh !

- Tại sao ? Ông chủ tịch hỏi lại.

- Tôi hạng nhất, tôi phải được thưởng.

- Th́ anh đă được thưởng rồi. Này nhé khán giả đă vỗ tay hoan hô anh, báo chí đă chụp h́nh anh, những người hâm mộ đă tặng hoa cho anh, những hăng thương mại đă kư hợp đồng với anh… Anh đă được thưởng quá nhiều rồi. Bây giờ anh hăy nghĩ tới những người chạy sau chót : họ cũng cố gắng như anh, vất vả không kém ǵ anh, và cũng chạy hết đoạn đường 3000 mét như anh. Anh thử nghĩ xem có công b́nh không khi anh th́ được tất cả c̣n họ th́ chẳng được ǵ ?

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa là t́nh yêu. Người yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Chúa Giêsu đă giao cho hàng Linh mục sứ mạng rao giảng Tin Mừng / và cử hành các bí tích mà phục vụ dân Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các ngài luôn trung thành / khôn ngoan và nhân hậu.

2- Trên thế giới ngày nay / h́nh như ḷng khoan dung không c̣n ngự trị trong các sinh hoạt trần thế / do đó con người vẫn c̣n điên cuồng tàn sát lẫn nhau / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho ḷng khoan dung ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt trong đời sống con người.

3- Hiện tại có biết bao người đang âm thầm hy sinh cả cuộc đời trên cánh đồng truyền giáo / để giới thiệu Chúa cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa giữ ǵn / và nâng đỡ những anh chị em ấy / giữa muôn vàn thử thách trong đời sống chứng nhân của ḿnh.

4- Tính ganh tị làm cho con người trở nên mù quáng / hẹp ḥi / ích kỷ / thậm chí vu khống để bôi nhoi danh dự / để hạ người khác xuống / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết can đảm sửa chữa tận gốc tật xấu kinh niên này.

CT : Lạy Chúa Giêsu, xin dạy chúng con biết sống như Chúa : luôn cư xử quảng đại và khoan dung với hết thảy mọi người, nhờ đó chúng con sẽ nên hoàn thiện như Chúa Cha trên trời. Chúa hằng sống và hiển trị…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta đây, kẻ th́ biết Chúa vào giờ thứ nhất, người th́ chỉ mới biết Ngài vào giờ thứ 11. Nhưng Chúa đă thương tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta làm con trong nhà Ngài. Vậy tất cả chúng ta hăy tŕu mến dâng lên Ngài lời kinh mà chính Chúa Giêsu đă dạy.

VII. GIẢI TÁN

Thiên Chúa đối xử với mọi người bằng ḷng tốt. Xin Chúa giúp anh chị em ra về cũng đối xử bằng ḷng tốt với mọi người.

---------------------------------------

Bài đọc thêm 3

THƯ PHILIPPHÊ

A. Giáo đoàn Philíp

1. Philíp là một thành phố trong tỉnh Makêđoan, được thành lập bởi vua Philíp, cha của Alexandre đại đế (đế quốc hy lạp), do đó thành này mang tên Philíp. Đến năm 42 công nguyên nó thành thuộc địa của đế quốc Rôma. Thuộc địa này rất thịnh vượng. Được làm công dân của Philíp th́ cũng đương nhiên được quyền công dân Rôma. Dân thành này hănh diện v́ ḿnh là công dân Rôma, họ nói tiếng Latin và ăn mặc theo kiểu rôma (đây là bối cảnh của 3,20-21 : Phaolô bảo các tín hữu hăy hănh diện v́ được làm công dân Nước Thiên Chúa). Đa số dân cư là lính tráng rôma, do đó nếp sống và việc quản trị hành chánh ở đây mang đậm sắc thái rôma (x. Cv 16,21). Cũng có những người do thái nhưng rất ít đến nỗi họ không có hội đường (x. Cv 16,3), và đây cũng là lư do khiến trong thư này Phaolô rất ít trích dẫn Cựu Ước.

2. Năm 50, trong cuộc du hành truyền giáo thứ 2, Phaolô đă đến Philíp. Cùng đi có Sila, Timôtêô và Luca. Họ đă thành lập được giáo đoàn mà đa số tín hữu là người lương trở lại (Cv 16,12-40). V́ không có hội đường nên Phaolô không rao giảng tại hội đường như thói quen. Các cuộc nhóm họp của tín hữu cũng tổ chức tại tư gia. H́nh như cuộc nhóm họp đầu tiên tổ chức tại nhà Bà Lyđya một tín hữu làm nghề buôn bán vải điều (Cv 16,14-15)

3. Giáo đoàn này xem ra rất được Phaolô quư mến nên ông thường trở lại thăm viếng. Sau khi thành lập xong giáo đoàn, Phaolô ra đi, để Luca ở lại cai quản. Đến năm 57, Phaolô trở lại. Năm sau, trên đường từ Côrintô đi Giêrusalem, Phaolô lại ghé thăm. Cũng có lẽ v́ quư mến giáo đoàn này nên mặc dù có lập trường không nhận trợ giúp vật chất của ai, Phaolô đă bằng ḷng để họ giúp đỡ ḿnh (Pl 4,16 2Cr 11,8-9)

B. MỤC ĐÍCH :

Mục đích của thư này là cám ơn sự giúp đỡ của tín hữu Philíp. Nhưng ngoài ra cũng có một số mục đích khác :

- Thông tin về hoàn cảnh sống hiện tại của Phaolô (1,12-26 ; 4,10-19).

- Khuyến khích tín hữu can đảm, kiên tŕ và nhất là vẫn vui vẻ lạc quan trong thời gian thử thách (1,27-30 ; 4,4).

- Khuyên bảo họ hai điều quan trọng là khiêm tốn và đoàn kết (2,1-11 ; 4,2-5).

- Gởi gắm Timôtêô và Êpaphrôđitô cho giáo đoàn Philíp (2,19-30).

- Cảnh cáo tín hữu về hiểm nguy của khuynh hướng vụ luật (do những người do thái thủ cựu) và khuynh hướng phóng túng (chương 3).

C. NỘI DUNG

- Khuyến khích và dạy dỗ :1,1-3,1

- Khiển trách 3,2-4,1

- Tiếp tục khuyến khích và dạy dỗ : 4,2-9

- Cám ơn sự giúp đỡ 4,10-20

D. NHẬN ĐỊNH

Điểm đặc biệt nhất của thư này là "niềm vui" : kitô hữu hăy vui luôn, cho dù hoàn cảnh có thế nào đi nữa cũng vẫn vui.

- Đặc tính của niềm vui này : Không chóng qua nhưng bền bỉ : "Yến tiệc nào không có lúc tàn" (Qohelet). Niềm vui tự nhiên sẽ tàn khi cuộc vui kết thúc. Nhưng niềm vui siêu nhiên trong thư này th́ vẫn tồn tại. Ngay cả khi tín hữu phải sống trong hoàn cảnh hết sức khổ sở, họ vẫn vui. Thậm chí ngay khi đối diện với cái chết họ vẫn cứ vui. Cụ thể là Phaolô khi ấy đang bị cầm tù và không biết mạng sống sẽ ra sao nhưng ông vẫn vui.

- Nguồn gốc của niềm vui này : a/ Xác tín rằng Thiên Chúa có thể biến một điều xem ra bất lợi trở thành có lợi (2,5-11). Bằng chứng hiển nhiên nhất là cái chết của Đức Giêsu trên Thập giá đă trở thành nguồn ơn cứu độ. b/ Tự nhủ rằng cù sướng hay khổ, dù sống hay chết cũng được, miễn sao cho Tin Mừng được rao giảng (1,12-18).