Sợi chỉ đỏ :
Lời Chúa trong Chúa nhựt thứ 3
vừa qua loan báo Nước Trời đă đến
gần. Lời Chúa hôm nay cho ta biết thêm Nước
Trời được ưu tiên dành cho những
người bé mọn.
- Bài đọc 1 : Ngôn sứ Xôphônia
tiên báo dân Chúa trong tương lai gồm những
người nghèo hèn bé nhỏ t́m nương ẩn nơi
Chúa.
- Đáp ca : ca tụng việc
Thiên Chúa ưu ái những người khốn khổ.
- Tin Mừng : Đức Giêsu công bố hiến chương Nước Trời "Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo…"
Minh họa
- Mille images 59A
- "Phúc cho anh em" (Mt 5,11)
I. DẪN VÀO THÁNH
LỄ
Chúa nhựt vừa qua, chúng ta đă
nghe Đức Giêsu loan báo "Nước Trời đă
đến gần". Hôm nay, chúng ta sẽ nghe Đức
Giêsu cho biết những ai sẽ được làm công dân
Nước Trời : đó là những người có
tâm hồn nghèo, những người sống hiền ḥa,
những người khao khát sự công chính v.v.
Trong Thánh lễ này, chúng ta hăy xin Chúa
giúp chúng ta tập luyện được những
đức tính ấy.
II. GỢI Ư SÁM
HỐI
- Ḷng chúng ta quá lệ thuộc vào
tiền bạc của cải.
- Chúng ta lo t́m kiếm hạnh phúc
ở nước trần gian hơn là t́m hạnh phúc
Nước Trời.
- Nhiều lúc chúng ta không coi việc
làm công dân Nước Chúa là hạnh phúc, trái lại là
một gánh nặng.
III. LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Xp 2,3 ;
3,12-13
Dưới ách đô hộ của
đế quốc
2. Đáp ca : Tv 145
Những người bị áp
bức, những người đói khát, tù tội, mù ḷa,
lưu lạc tha phương, cô nhi quả phụ v.v. - tóm
lại là những người khốn khổ - không nên
thất vọng, v́ Thiên Chúa sẽ đứng ra bênh vực
và chăm sóc cho họ.
3. Tin Mừng : Mt 5,1-12
Đây là phần đầu của
bảng Hiến chương Nước Trời, trong
đó Đức Giêsu tuyên bố hạnh phúc Nước
Trời được dành cho :
- Những ai có tâm hồn nghèo
- Những ai hiền ḥa
- Những ai lo phiền sầu
khổ
- Những ai khao khát sống
đời công chính
- Những ai xót thương
người
- Những ai có tâm hồn trong
sạch
- Những ai xây dựng ḥa b́nh
- Những ai bị ngược
đăi v́ sống công chính.
8 mối phúc này đều quy về
mối thứ nhất là tâm hồn nghèo và đều
dẫn tới hạnh phúc là được hưởng
Nước Trời.
4. Bài thánh thư : 1 Cr 1,26-31
Bài đọc II của Chúa nhựt
trước cho thấy t́nh trạng chia rẽ của giáo
đoàn Côrintô : họ đă chia thành 4 nhóm chống
đối nhau.
Đoạn hôm nay cho biết lư
do : sở dĩ họ chia rẽ là v́ họ kiêu căng
cho rằng ḿnh khôn ngoan hơn người khác. Thánh Phaolô
lập luận cho họ thấy thứ khôn ngoan mà họ
tự phụ ấy chẳng có chút giá trị ǵ. Ngài tŕnh
bày cho họ biết sự khôn ngoan của Chúa :
những ǵ thế gian cho là điên dại, yếu kém, hèn
mạt th́ Thiên Chúa đă chọn để hạ nhục
những kẻ khôn ngoan.
IV. GỢI Ư
GIẢNG
1. Những lời chúc mừng
Tám lời "phúc thay" trong
đoạn Tin Mừng này không phải là những lời
hứa (Đức Giêsu hứa rằng những ai nghèo
khổ, đói khát, hiền lành… sẽ được
hạnh phúc).
Tám lời này cũng không phải là
những chỉ dẫn để được hạnh
phúc (nếu muốn hạnh phúc th́ phải có tâm hồn
nghèo, phải hiền lành v.v.), mà trước hết đó
là những lời chúc mừng : Đức Giêsu nói
với những người nghèo, đói, bị ức
hiếp v.v. rằng họ đừng buồn rầu
nữa, đừng thất vọng nữa. Trái lại
họ hăy ư thức rằng họ đang rất hạnh
phúc, bởi v́ cho dù người đời bỏ rơi
họ, nhưng họ được một Đấng
rất quyền phép luôn yêu thương họ, đó chính là
Thiên Chúa ; cho dù họ thiếu thốn nhiều
điều mà người đời t́m kiếm, nhưng
họ có được một kho tàng không ǵ quư bằng,
đó là Nước Trời. Họ hăy vui mừng v́
Đức Giêsu đến trần gian để lập
một nước hạnh phúc, mà nước đó Ngài
ưu tiên dành cho họ.
2. Một chương tŕnh hành
động
Bài giảng trên núi mở đầu
bằng những lời chúc phúc. Nghĩa là sứ
điệp của Đức Giêsu chủ yếu là loan báo
hạnh phúc. Nhưng loan báo cho ai, và như thế nào ?
Phải đau đớn nhận
rằng các lời chúc phúc ấy đă bị hiểu sai và
bị lợi dụng làm một thứ thuốc phiện
nhằm ru ngủ nỗi khổ đau và sự nổi
loạn của những người nghèo. Người ta
muốn hiểu chúng như sau : "Hỡi những
người nghèo, các người hạnh phúc lắm v́ các
người được Thiên Chúa yêu thương...
vậy cứ tiếp tục nghèo đi ! Hăy chấp nhận
thân phận của các người, rồi một nào đó
ở trên trời các người sẽ được
hạnh phúc". Nhưng thực ra Đức Giêsu nói
ngược hẳn lại : "Hỡi những
người nghèo, chúng con hạnh phúc, v́ từ nay chúng con
không c̣n nghèo nữa, v́ triều đại của Thiên Chúa
đă đến".
Một vấn nạn : nếu
thực sự ư nghĩa lời chúc phúc của Đức
Giêsu như thế th́... Ngài đă lầm, v́ vẫn luôn c̣n
những người nghèo, và bất công vẫn c̣n
đấy ! Nhưng đặt câu hỏi như
vậy th́ hỡi ôi, những người Kitô hữu chúng
ta đă không làm tṛn bổn phận của ḿnh. Chúng ta
chỉ chờ một ḿnh Đấng Messia thành lập
triều đại Thiên Chúa. Đúng ra Đức Giêsu là
người khánh thành nước Thiên Chúa và giao trách
nhiệm cho chúng ta là các môn đệ của Ngài phải
hoàn thành. Những Kitô hữu đầu tiên đă hiểu
rơ điều ấy : họ để tài sản
của họ thành của chung và không có người nghèo
giữa họ (Cv 4,34). Không thể chỉ công bố suông
những lời chúc phúc mà chẳng làm ǵ cả theo khả
năng ḿnh để cho sự nghèo khổ dưới
mọi h́nh thức bị biến mất.
Công việc của Đức Giêsu
là khánh thành Nước Thiên Chúa. Nếu thế th́ các
lời chúc phúc (và những giáo huấn triển khai các
mối phúc ấy) đối với các Kitô hữu là
một chương tŕnh hành động trong sinh hoạt cụ
thể của họ về chính trị, kinh tế, gia
đ́nh...
Chúng nhắc chúng ta nhớ rằng
động cơ hành động của chúng ta chỉ là
phục vụ tha nhân và trước tiên là những
người nghèo, chứ không bao giờ được là
tiền bạc hoặc quyền lực.
Chúng c̣n ban một ư nghĩa sâu
sắc cho những việc người Kitô hữu làm :
một y sĩ chiến đấu với bệnh tật,
một công nhân đem sản phẩm của ḿnh làm cho
đời sung túc hơn, một giáo viên cố gắng giúp
giới trẻ nên người... tất cả những
người ấy đều có quyền nghĩ rằng
ḿnh đang thực hiện Nước Chúa. (Etienne
Charpentier)
3. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó
Phật Thích Ca mở đầu bài
thuyết pháp đầu tiên tại Bênarét bằng câu :
"Vạn sự sự vô thường, vạn sự
khổ", nghĩa là mọi sự đổi thay không
ngừng nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh, lăo, bệnh,
tử : con người sinh ra, để rồi già
yếu bệnh tật, và cuối cùng phải chết. Rơ
thật cuộc đời chỉ là bể khổ.
Năm trăm năm sau, Đức Kitô
xuất hiện bên đất Pa-lét-tin, dơng dạc tuyên
bố trong bài giảng đầu tiên : "Phúc thay ai có
tâm hồn nghèo khó, v́ Nước Trời là của
họ !" (Mt 5,3)
Một người mang tiếng là
bi quan yếm thế, người kia lại bị coi
như không tưởng, lạc quan quá cỡ. Một bên coi
đời là bể khổ, c̣n một bên lại nh́n
thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn.
Người ta đă tốn khá
nhiều giấy mực và thời giờ sức lực
để nghiên cứu, suy tư, bàn căi về hai bài
giảng đầu tiên của Đức Phật và
của Đức Giêsu. Đă có những luận án tŕnh bày
và so sánh hai bài giảng đó. Tuy nhiên có lẽ chẳng
mấy ai hiểu được chính xác nội dung ư
nghĩa của hai bài giảng có tính cách ngôn sứ ấy.
V́ thực ra, cả Đức Phật lẫn Đức
Giêsu đều không có chủ ư đề ra một lư
thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau
khổ, mà chỉ chia sẻ cho anh em nhân loại của các
Ngài chính kinh nghiệm sống của ḿnh. Kinh nghiệm
của Đức Phật là kinh nghiệm của một
người đă đạt tới Chân Như,
vượt ra ngoài thế giới vô thường của
những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối
kháng ; c̣n kinh nghiệm của Đức Kitô là kinh
nghiệm của một người thấy
được sự tồn tại trong cái mất (x. Mt
10,39) và sự sống trong cái chết (x. Ga 12,24-25)
Đức Phật chỉ nói lên cái
lư do, cái nguyên nhân làm cho người ta khổ, nhưng
Người không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó
chỉ là bể khổ. Đức Kitô cũng không bảo
rằng muốn hạnh phúc th́ phải là kẻ khố rách
áo ôm. Do đó Mát-thêu đă có lư khi thêm ba chữ "có tâm
hồn" vào trong câu nói của Chúa, để xác
định cho rơ cái nghèo nàn nào mới thực sự đem
lại hạnh phúc cho con người.
Trong cuộc đời, xưa
cũng như ngày nay, vào thời con người c̣n ăn
lông ở lỗ, cũng như trong thời ở khách
sạn 5 sao, vẫn luôn luôn diễn ra những cảnh trái
khuấy : nhiều người có đủ mọi
điều kiện để hạnh phúc, mà thực
tế lại đau khổ khôn lường, c̣n những
kẻ xem ra bần cùng tối tăm, lại tràn trề
hạnh phúc.
Thật ra ai cũng biết rằng
nghèo khó không đương nhiên là khổ, đă đành
rằng nghèo và khổ thường đi đôi với
nhau. Trái lại giàu có cũng không tất nhiên đem lại
hạnh phúc cho con người. Vấn đề hạnh
phúc chủ yếu ở cái TÂM. Bởi thế các bậc
thánh hiền, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng
hầu như đều luôn luôn nhất trí trong việc
đề cao đời sống tâm linh.
Chính đó là lư do tại sao
Đức Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền
hậu, dám chấp nhận khổ đau, yêu thích sự
chính trực, thương xót đồng loại, trong
sạch, và biết xây dựng ḥa b́nh. Thực ra tất
cả những đức tính trên đây là những
đức tính của "người nghèo của Thiên
Chúa", của một anawim theo truyền thống Kinh
Thánh. Người nghèo của Thiên Chúa không phải là
người có đời sống vật chất khó
khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn
tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, biết
sống cho Người và cho anh em đồng loại của
ḿnh, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong t́nh
lien đới với anh em đồng loại, thực thi
điều răn trọng nhất là mến Chúa yêu
người.
Nói theo Đông phương chúng ta,
th́ hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện
được sự ḥa điệu giữa ḷng ḿnh
với ḷng Trời, giữa ḷng ḿnh với ḷng
người, nghĩa là sống sao cho hợp ḷng Trời và
lấy ḷng của trăm họ làm ḷng ḿnh, "dĩ bách
tánh tâm vi tâm" (ĐĐK XLIX, 1)
Theo truyền thống Ấn
độ nói chung và Phật giáo nói riêng, hạnh phúc là sukha,
đó là t́nh trạng giống như t́nh trạng của
một bánh xe mà trong đó mọi sự ăn khớp
với nhau : vành xe, ổ trục và các đũa xe
đều tốt và nằm đúng vị trí, ḥa hợp
với các thành phần khác, do đó mà bánh xe chạy trơn
tru. C̣n đau khổ là dukha, đó là t́nh trạng một
bánh xe trục trặc, v́ có những thành phần hư
hỏng hay không ăn khớp với những thành phần
khác.
Nói tóm lại, không ai sướng
khổ một ḿnh hay chỉ tại ḿnh, mà tất cả
chúng ta liên đới và chịu trách nhiệm về
hạnh phúc cũng như đau khổ của nhau. V́
thế mà trong Tám mối phúc thật, Đức Giêsu cho
thấy hạnh phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào
mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với
Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.
(Lm Thiện Cẩm, OP, Công giáo và Dân
tộc, số đặc biệt Giáng sinh 1995)
4. Chuyện minh họa
a/ Bài
học của chó
Ngày nọ, W. Scott ném ḥn đá vào
một con chó lạc để đuổi nó đi.
Nhưng ông hơi mạnh tay, nên con chó bị găy chân. Thay v́
chạy đi, con chó khập khiễng chạy lại bên
ông và liếm lên bàn tay vừa ném nó. W. Scott bảo rằng
ông không bao giờ quên chuyện đó, v́ nó nhắc ông
nhớ đến Bài giảng Trên núi.
b/ Người hạnh phúc nhất
Nhà vua bị bệnh nặng. Quan
ngự y lo lắng, nhưng đành bó tay. Một nhà chiêm
tinh đến bảo vua chỉ khỏi bệnh khi nào
được mặc chiếc áo của một
người hạnh phúc nhất.
Quan
quân đổ xô đi khắp nước để t́m
người hạnh phúc nhất. Cuối cùng th́ họ
cũng t́m được một người hạnh phúc
thực sự. Nhưng khổ thay, người ấy quá
nghèo, chẳng có lấy một chiếc áo !
V. LỜI
NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
CT : Anh chị em thân mến
Đức Giêsu mời gọi
tất cả chúng ta : "Anh em hăy nên hoàn thiện
như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện".
Mà muốn nên hoàn thiện như Chúa Giêsu dạy, nhất
thiết phải sống theo "Tám mối phúc
thật". Với ước mong nên hoàn thiện như
Cha trên trời, chúng ta cùng tha thiết nguyện xin.
1- Đức Giêsu kêu gọi /
"Anh em hăy học với Tôi, v́ Tôi có ḷng hiền hậu
và khiêm nhường" / Chúng ta hiệp lời cầu xin
cho cộng đoàn dân Chúa và các nhà lănh đạo / biết
luôn cư xử hiền ḥa nhân ái / và khiêm tốn với
hết thảy mọi người.
2- Trong đời sống
thường ngày / v́ gương mù gương xấu
của một số kitô hữu / mà nhiều người
đă ĺa xa Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa
thương nâng đỡ họ / và cải hóa chúng ta /
để tất cả cùng nhau xây dụng một thế
giới công b́nh bác ái.
3- "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo
khó" / Sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng
phải là lư tưởng của người kitô hữu
trên khắp trái đất / Chúng ta hiệp lời cầu
xin cho các tín hữu / biết luôn yêu mến tinh thần nghèo
khó của Tin Mừng / và sống tinh thần đó trong
cuộc sống thường ngày.
4- "Phúc thay ai xây dựng ḥa
b́nh" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng
đoàn giáo xứ chúng ta / biết cố gắng sống
bác ái yêu thương / luôn hiệp nhất và đoàn kết
/ nhờ đó trở nên những người kiến
tạo ḥa b́nh.
CT : Lạy Chúa Giêsu, ai trong chúng
con cũng đều mong muốn
được hạnh phúc lâu dài. Nhưng trong thực
tế, hạnh phúc mà chúng con đang có rất mong manh.
Vậy, xin Chúa cho chúng con hiểu rằng hạnh phúc
chỉ thực sự bền vững khi chúng con sống
theo Lời Chúa dạy, đặc biệt Lời Chúa trong
Bài giảng trên núi. Chúa hằng sống và hiển trị
muôn đời.
VI. TRONG THÁNH
LỄ
- Kinh Tiền Tụng : Nên dùng
Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, v́ có nói
tới Giáo Hội, Nước Trời ở trần gian.
- Trước kinh Lạy Cha : Tuy
chúng ta là những người nghèo nàn khốn khổ,
nhưng chúng ta có một người Cha cao sang trên trời.
Chúng ta hăy cùng với Đức Giêsu dâng lên Ngài lời kinh
Lạy Cha mà chính Đức Giêsu đă dạy chúng ta.
VII. GIẢI TÁN
Anh chị em hăy ra về và cố
gắng sống theo tinh thần 8 mối phúc. Chúc anh chị
em b́nh an.
------------------------------------------ -------------------------------
MỖI TUẦN MƯỜI THANG THUỐC
BỔ
“Một nụ cười
bằng mười thang thuốc bổ”
Chúa Nhật IV Thường Niên – Năm A
NỘI DUNG
I.Tia sáng:
v L̉I
BẠN TÂM SỰ
v CUỘC
SỐNG THAM QUAN
II.Thư giăn:
1. 1.
ĐÔI MẮT ANH LÙN
2. 2.
BA ĐỨC ÔNG CHỒNG
3. 3.
MUỐN LY DỊ
4. 4.
ĐI CÔNG TÁC
5. 5.
PHƯƠNG PHÁP MỚI
6. 6.
MỘT NGH̀N KHÔNG BẰNG NĂM TRĂM
7. 7. T̀NH BẠN
ĐÀN ÔNG
III.Nhật kư truyền
giáo của Lm.Piô Ngô Phúc Hậu:
v Ở CUỐI
ĐƯỜNG HẦM
IV.Chuyện ngụ ngôn:
V.Hẹn bạn trên
đỉnh thành công:
v NẮM BẮT THÓI QUEN
VI.T́nh yêu – Hôn nhân – Gia
đ́nh:
v
CÓ THỂ
THÁO GIẢI HÔN PHỐI?
VII.Chuyện phiếm :
Một
nụ cười không làm mất mát ǵ cả, nhưng
lại ban tặng rất nhiều… nó làm giàu có những ai
đón nhận mà không làm nghèo đi người sinh ra nó.
Nụ cười chỉ nở trên môi trong khoảnh
khắc phù du, nhưng kư ức về nó đôi khi tồn
tại cả một đời. Người dù giàu sang
đến đâu đi nữa cũng cần đến
nụ cười, và người nghèo hèn cùng tột
cũng sẽ được nụ cười làm cho
trở nên giàu có.
Nụ
cười nuôi dưỡng hạnh phúc trong gia đ́nh,
gầy dựng thiện ư trong làm ăn và làm lớn
mạnh mối tương giao trong t́nh bạn, mang
đến thư giăn mỗi khi ta mệt mỏi, niềm
hy vọng mỗi khi tuyệt vọng và là ánh sáng mỗi khi
ta tăm tối trong phiền muộn.
Nụ
cười, cũng như t́nh yêu, là cái không thể mua bán
vay mượn, hay thậm chí đánh cắp từ
người khác. Bởi v́, khi đó: nó chỉ là cái khiên
cưỡng và vô nghĩa.
Có những người không bao
giờ nở một nụ cười với bạn.
Họ là những người không c̣n nụ cười
để cho, v́ lẽ đó họ chính là những
người cần nụ cười của bạn
hơn ai hết. Hăy tươi cười với mọi
người! Chúng ta chẳng những không mất ǵ cả,
mà trái lại sẽ nhận được rất nhiều.
Sưu tầm.
I. I. TIA SÁNG :
* Bạn đừng dấu cha linh
hướng những ǵ
kẻ thù nói nhỏ cho bạn.
Lời bạn tâm
sự sẽ là một chiến thắng làm gia tăng
ơn Chúa trong bạn.
Rồi sau đó, bạn được ơn
hướng dẫn và lời cầu nguyện của cha
linh hướng
để bạn tiếp tục chiến
thắng.
* ĐIỀU QUAN TRỌNG TRONG
CUỘC THAM QUAN KHÔNG PHẢI LÀ CHỌN TOA HẠNG 3, 2 HAY
HẠNG 1, MÀ LÀ ĐI TRÊN CHUYẾN TÀU TỐT.
Quả là bất
thường khi một người hành khách chọn
một toa tàu tiện nghi, mà không nghĩ xem tàu sẽ
chạy tới đâu. Điều này thường xảy ra
hằng ngày; một chàng trai tán tỉnh một cô gái, mà không
cần biết nàng sẽ đem lại cho cuộc
đời ḿnh một ư nghĩa nào; thực tế, nàng
chỉ nghĩ đến trang điểm và làm giàu...
Một cô gái đeo đuổi một chàng trai, chàng hứa
hăo hứa huyền, làm nàng phải sa ngă; nhưng đó
lại là một chàng trai lười biếng, chẳng
hiểu biết ǵ, mà chẳng có t́nh, chỉ có một cái
tài là quyến rũ những cô gái ngây thơ... Tôi có
chọn cho ḿnh một hướng đi tốt không? Đâu là
mục đích tôi theo đuổi? Nếu tôi thích là một
người nào, phải chăng đó là một
người tương trợ cho cả hai? Nếu đó
là một cản trở, hỏi tôi có đủ khôn ngoan
để đổi hướng chăng?
Lạy Chúa, con muốn lặp lại với Chúa
là con chỉ mong được bước đi với
Chúa.
II. II. Thư giăn:
1. ĐÔI MẮT ANH LÙN
Trong
một buổi dạ hội ở Paris, có hai vợ
chồng anh lùn được mời đến dự.
Trên đường về, vợ anh lùn hỏi:
-
Anh có ấn tượng ǵ không?
-
Rất ấn tượng. Anh được chiêm
ngưỡng tất cả những cái đầu gối
tuyệt vời nhất Paris. C̣n em?
-
Giữa những đôi chân cứng cáp, em có cảm
tưởng ḿnh đang đứng dưới tháp Epphen!
2. BA ĐỨC ÔNG CHỒNG
Bà
thứ nhất than phiền:
-
Chồng tôi tệ lắm! Ông ta toàn chạy theo những
mụ đàn bà khác. Các chị biết không, tôi cứ nh́n
thấy bất cứ đứa trẻ nào trên phố
lại nghĩ rằng đó là con của ông ấy!
Bà
thứ hai tiếp luôn:
-
Chồng tôi th́ lại khác, cứ luôn luôn thay đổi.
Nhiều khi tôi cứ tự hỏi, ông ta có phải là
bố của mấy đứa con tôi không?
Bà
thứ ba cướp lời:
-
Như thế đă ăn thua ǵ. Chồng tôi c̣n tồi
tệ hơn nhiều. Ông ấy luôn nói dối đến
nỗi tôi không tin rằng ḿnh lại là mẹ của
mấy đứa con trong nhà!
3. MUỐN LY DỊ
-
Thưa ông, tôi muốn ly dị với chồng tôi- Cô gái nói
với luật sư.
-
V́ sao vậy?
-
Thưa ông, v́ suốt mười năm chung sống,
thứ bảy nào tôi cũng làm nhiệm vụ kỳ
lưng hộ anh ta!
-
Nhưng sao chị lại muốn ly dị?
-
V́ thứ bảy vừa rồi, tôi thấy lưng anh
ấy rất sạch!
4. ĐI CÔNG TÁC
-
Sao mặt cậu lại tím bầm lên thế? Dima hỏi
bạn.
-
Tại lăo chồng tớ đấy! Cô bạn trả
lời.
-
Ḿnh tưởng anh ấy đi công tác ở Paris rồi
chứ?
-
À, thảo nào…!
5. PHƯƠNG PHÁP MỚI
-
Chồng cậu có hay về muộn không? Vêra hỏi Galia.
-
Không bao giờ. Galia trả lời.
-
Sao vậy?
-
Ḿnh có phương pháp mới!
-
Hay quá! Phổ biến cho tớ với!
-
Khi anh ấy về muộn, ḿnh nằm trên giường và
hỏi: "Anh đấy ư, Vôlôdia thân yêu?"
-
Sao lại thế?
-
Đơn giản v́ chồng ḿnh tên Andrây!
6. MỘT NGH̀N KHÔNG BẰNG
NĂM TRĂM.
Bà
Ba đi chợ. Bà mua cho chồng năm trăm tiền
rượu đế về trợ hứng cho ông. Đêm
ấy thật hiệu quả. Ông "làm việc"
khỏe hơn ngày thường khiến bà rất thoải
mái.
Hôm
sau, bà Ba đi chợ. Lần này bà quyết định mua
cho ông chồng hẳn một ngh́n đồng tiền
rượu. Nhưng về nhà, ông chồng uống say
rồi lăn quay ra ... kéo gỗ.
Thấy
chồng ngủ say, bà Ba thở dài, chép miệng:
-
Rơ khổ! Một ngh́n không bằng năm trăm!
7.T̀NH BẠN ĐÀN ÔNG
Một
chàng trai thích phiêu lưu. Một hôm, chàng quyết chí đi
chu du thiên hạ. Trước giờ lên đường,
chàng gọi người bạn thân nhất của ḿnh
đến và nói:
-
Tôi giao cho anh chiếc ch́a khóa vàng này. Nó là ch́a khóa dây lưng
quần của vợ tôi. Nếu sau 5 năm, không thấy
tôi trở về, anh có thể sử dụng ...!
Rồi
anh xuống tàu ra khơi. Nhưng vừa đi
được một quăng th́ bỗng thấy có
người đuổi theo. Nh́n kỹ, hóa ra bạn ḿnh.
Chàng trai hỏi:
-
Có chuyện ǵ thế?
-
Không có chuyện ǵ cả - Người bạn đáp - Có
điều… tôi muốn đổi ch́a khóa.
-
Sao vậy?
-
Ch́a này không vừa!
III.
III. NHẬT KƯ TRUYỀN GIÁO :
Trích trong “Nhật kư truyền giáo”
Biên
soạn : Lm. PIÔ NGÔ PHÚC HẬU
Cái Rắn, ngày
25.2.1999
Đức
Cha Mẫn về rồi. Ḿnh nói với chị Giám tỉnh
Bác Ái Vinh Sơn :
-
Chúng ta c̣n một buổi chiều bỏ trống. Nên tranh
thủ đi tham quan thị trấn Sông Đốc, một
thị trấn giàu có nhất của tỉnh Cà Mau.
-
Xa không Cha ?
-
Trên hai mươi cây số. Đặc biệt là hôm nay
vẫn c̣n "trong mùng" (Mùng 10 Tết Kỷ Măo), chúng ta
có thể thấy tàu đánh cá đông ken như cá kèo trong
khạp.
Ḿnh
đếm được mười chín bộ áo màu xanh
dương, đa số ở tuổi tứ tuần già
dặn, dạn dĩ. Có ai đó gào lên để lấn át
tiếng máy nổ :
-
Xin cha làm "guide" (hướng dẫn viên).
Chúng
ta đang đi trên kinh Ba Ngàn. Con kinh này do ông Cố
Đức Cha Mẫn đào vào đầu thập niên ba
mươi. Lúc đó ông Cố làm quản lư hai trăm héc ta
đất nhà Chung ở đây. Con kinh này dài ba ngàn mét, có công
dụng xả phèn và để ông Cố chèo xuồng
về thăm ông già ở Rạch Lùm, sát kế thị
trấn Sông Đốc thuộc xă Khánh Hải, huyện
Trần Văn Thời, quê hương thứ hai của ông
nội Đức Cha Mẫn và là nơi sinh trưởng
của bác Ba Phi …Hết ba ngàn mét, chúng ta sẽ đi vào kinh
Ông Tự, rồi trổ ra Sông Ông Đốc.
-
Tại sao lại gọi là Sông Ông Đốc ?
-
Con sông này dài hơn năm mươi cây số, bắt
đầu từ sông Trẹm, thị trấn Thới B́nh,
và kết thúc ở bờ biển phía Tây Nam. Con sông mang tên
Ông Đốc v́ vào cuối thế kỷ 18, vua Gia Long
đă trốn quân Tây Sơn đến ở Cái Rắn,
đặt hai quan Đốc trấn ở hai điểm:
Ông Đốc Lới đóng quân ở Đốc Lới
(thuộc ấp Tân Ánh bây giờ, và ở cách nhà thờ Cái
Rắn chừng 8 cây số); Ông Đốc Vàng đóng quân
ở Vàm con sông nói trên.
-
Bộ vua Gia Long đă đến ở Cái Rắn hả
cha?
-
Ừ, ông đă đến ở
vùng này và cho đào một cái ao, gọi là Ao Ngự,
ở cách nhà thờ Cái Rắn chừng hai trăm mét.
-
Cha lấy tài liệu ở đâu mà nói rành rẽ dữ
vậy ?
-
Các vị cao niên ở đây kể lại như thế.
Thuyết
minh chán rồi th́ ngồi chơi. Ngó bâng quơ. Nhai kẹo
cà phê nhóp nhép. Đẳng đắng. Ngọt ngọt. Béo
béo. Thơm thơm. Tuyệt!
-
Sắp tới thị trấn Sông Đốc rồi! Các
chị nh́n phía tay phải .
-
Ui da! Tàu đâu mà nhiều thế? Chừng nhiêu cái, cha?
-
Hơn bốn trăm cái. Tàu về ăn Tết, chưa
xuất hành nên mới đông ken như vậy.
-
Mỗi chiếc tàu trị giá chừng mấy chục
triệu?
-
Mấy chục triệu hả? Mấy chục triệu th́
tôi cho chị rờ nó một cái. Những chiếc lớn
đánh cá ở hải phận quốc tế th́ trị giá
từ bốn trăm triệu đến một tỉ
đồng.
-
? !
-
Như vậy có nghĩa là ở Sông Đốc có chừng
bốn trăm tỉ phú,
Đối
với người Sài G̣n th́ chỉ có cảnh tàu bè chen chúc nhau là đáng coi. C̣n
chợ búa th́ họ chỉ liếc qua một cái, rồi
đ̣i về. Trên đường về, có một chị
hơi giống Việt kiều ngồi cùng băng với
ḿnh.
-
Xin lỗi, chị tên chi?
-
Tên con là P.
-
À, biết rồi, chị bay tới bay lui như con cào cào.
Chị ở đâu về?
-
Con th́ nay đây mai đó, nhưng ở Palawan rất
thường.
-
Tôi muốn nghe chuyện Palawan (Philippines)
-
Palawan thiếu nước như ở sa mạc vậy.
Kỹ sư địa chất đi t́m mạch
nước, khoan biết bao nhiêu giếng mà vẫn không
thấy nước. Dân khổ vô cùng !
-
Ở Mêriba, Môsê đă lấy gậy đánh vào vách đá
để lấy nước. C̣n chị th́ sao?
-
Có một ông cha cầm gậy rà trên bản đồ th́
biết chỗ nào có nước. Các kỹ sư cho là
dị đoan, nhưng cùng đường rồi, th́ chúng
con phải điều đội khoan đến đó. Con
kêu các bà phước, và bà con ra ngồi thành ṿng tṛn trên băi
cát, ngước mắt lên trời, đập tay lên cát
để xin nước. Người đạo th́ kêu
Chúa, nguời ngoại th́ con dạy họ: 'Lạy Cha
Trời, lạy Mẹ Đất, xin cho chúng con
nước. 'Cứ gào lên như thế, cứ đập
tay lên cát như thế. Một lần, hai lần, ..hai
mươi lần….
-
Có giống người điên không ?
-
Không biết. Nhưng mà cùng đường rồi th́
phải van xin như thế. Không có nước th́ chết
sao? Và ..cuối cùng th́ có nước thật. Các kỹ
sư sửng sốt….
Cái Rắn, ngày
26.2.1999
Các
chị Bác Ái Vinh Sơn rời Cà Mau đi Cần Thơ vào
lúc 17 giờ 45. Ḿnh lấy xe “honđa ôm” vọt thẳng
về Cái Rắn. Mệt
lắm, nhưng sao thấy không buồn ngủ. Th́ ra
câu chuyện đi t́m nước ở Palawan vẫn c̣n ám
ảnh ḿnh.
Khi
tới cuối đường hầm của cuộc
đời, người ta phải chết hoặc t́m ra
một lối thoát. Khi con dế bị ngộp thở
ở đáy hang, nó phải bỏ ra để nộp ḿnh
cho thằng cu tí. Khi ông Nguyễn Phúc Ánh bị dồn
đến Cái Rắn và Sông Đốc, th́ t́m
đựơc con đường trốn qua Phú Quốc.
Khi chị P. và đồng bào bị chết khô ở
Palawan, th́ đă gào lên như điên và đă có nước.
C̣n ḿnh th́ …đă nhiều lần đi tới cuối
đường hầm, mà không t́m được lối
ra. Chẳng hạn:
1.
Có một người đàn bà dắt hai đứa trẻ thơ,
thất thểu đi vào nhà thờ Cà Mau. Ḿnh mời vô nhà
xứ.
-
Mời chị ngồi. Chị đi đâu vậy?
-
Con ở Trà Vinh qua bên đây để đi xin ăn.
-
Chồng chị đâu?
-
Ổng đi theo vợ bé. Ổng chê con bị lao phổi.
Con qua bên đây đi xin ăn mà không đủ gạo nuôi
con. Cứ đi đựơc chừng hai trăm mét, th́
lại phải ngồi xuống để thở. Bác
sĩ nói là con bị lao tới giai đoạn ba…Xin cha nuôi
giùm con hai đứa con ..con không c̣n sống được
bao lâu nữa ….
-
Hiện chị ở đâu ?
-
Ban ngày đi xin, tối về ngủ ở nhà lồng
chợ.
-
Có ai ngủ ở đó nữa không?
-
Có ba mẹ con của con với ông cùi. Ông cùi nói với con:
"Chị đừng đi xin nữa. Đi không nổi
đâu. Người ta cho tôi nhiều lắm, ăn không
hết. C̣n chị xin không đủ ăn. Để tôi
nuôi cả mẹ lẫn con. Tôi chỉ yêu cầu một
điều thôi là mỗi tuần cho tôi ...một lần."
Hu…Hu…Con biết làm ǵ bây giờ?! Không chiều người
ta, th́ hai đứa con phải đói. Nghe người ta,
th́ …Hu …Hu…
Ḿnh
dốc hết túi tiền cho người đàn bà ấy,
rồi đứng lặng nh́n ba mẹ con thất thểu
đi ra. Bây giờ th́ chắc người đàn bà ấy
đă chết rồi. C̣n hai đứa bé th́ không biết
đă trôi dạt về đâu?
2.
Ông Hai P. mượn tiền để làm mùa. Ḿnh chờ
tới mùa để thấy ông dư ăn. Năm ấy
thất mùa. Nước mặn tràn vào. Lúa trổ cờ
trắng xoá. Gia hạn cho ông một năm nữa. Năm
ấy đứa con gái của ông bị bịnh
động kinh. Ông đến găi tai với ḿnh:
-
Xin ông cha rửa tội cho nó, th́ nó mới hết bịnh.
-
Không phải vậy, bịnh th́ phải vô nhà thương.
-
Vô rồi. Bác sĩ biểu không có bịnh ǵ hết. Đi
thầy pháp ở dưới Năm Căn. Thầy
biểu phải cúng một con heo. Đi thầy pháp ở
tuốt bên U Minh. Hết một con heo nữa. Bịnh
vẫn c̣n nguyên si. "Nó' không cho ăn, nên con tôi bây giờ
xanh như lá cây. Tốn hết mấy cây vàng rồi! Vay
mượn riết rồi, đành bỏ mặc tới
đâu th́ tới.
Ḿnh
giới thiệu con ông với một trạm xá đông y
ở bên Kiên Giang. Sau một tháng, trạm xá gửi trả
lại.
-
Có bớt được chút nào không ?
-
Chút đỉnh à.
Thế
rồi, một ngày kia bà phước báo tin:
-
Con B, tự tử chết rồi.
-
Bằng cách nào?
-
Thắt cổ.
Ḿnh chẳng
biết nói thế nào để an ủi vợ chồng ông
Hai P. Hoạ vô đơn chí! Biểu ông can đảm
chịu đựng ư? Can đảm ǵ nổi. Biểu
ông cầu nguyện ư? Cầu nguyện thế nào?
Cầu nguỵên với ai? Cầu nguyện để làm
ǵ nữa? Ông P. chưa có niềm tin. Ḿnh cảm thấy
bất lực hoàn toàn.
IV.
IV. TRUYỆN NGỤ NGÔN:
Có
một lăo nhà giàu tên là Kutúp-khan tính t́nh rất keo kiệt và
tham lam nổi tiếng khắp vùng. Tuy phải thuê kẻ
ăn người làm, nhưng lăo rất khó chịu khi
thấy họ ăn nhiều và luôn luôn xét nét họ một
cách rất khó chịu. Lăo thường than văn: rơ khổ,
người giàu thật là khổ, tự ḿnh chẳng làm
được việc ǵ, nên phải thuê người giúp
đỡ và hầu hạ, phải cho họ ăn và
thế là tốn kém. Chỉ có anh nghèo là sướng,
chẳng phải hầu hạ ai và cũng chẳng
phải thuê ai hầu hạ, đỡ tốn tiền.
Một
lần Kutúp-khan bị ốm, ăn uống chẳng
thấy ngon. Hắn buộc phải mời thầy
thuốc. Thầy thuốc đến, lăo hỏi:
-Đă
mấy ngày nay tôi không ăn là tại làm sao?
Thầy
thuốc bảo:
-Ông
bị cảm sốt nặng đấy, v́ vậy không
muốn ăn. Không lo, lúc nào khỏi bệnh ông sẽ
ăn ngon miệng và ăn được nhiều thôi.
Kutúp-khan
nghe xong, hắn nghĩ: may cho ḿnh quá! Ḿnh không ăn
được có nghĩa là túi tiền của ḿnh không
bị suy suyển chút nào để mua cái ăn. Nhưng
thật cũng đáng tiếc là sức khoẻ của ta
lại giảm sút.
V.
V. HẸN BẠN TRÊN ĐỈNH THÀNH CÔNG:
Theo bản tiếng Anh: See you at the
top của Zig Ziglar
Biên soạn: ĐC.NGÔ QUANG KIỆT - Quí cha: VŨ SỬU -
DƯƠNG Đ̀NH TẢO -
LÊ XUÂN TÂN – NGUYỄN VĂN DIỄM
PHẦN THỨ NĂM
Thói
quen tốt khó thành song lại giúp ta dễ hoà nhập. Thói
quen xấu dễ thành song lại khiến ta khó hoà nhập.
Hầu như mọi thói xấu đều thấm
nhiễm từ từ và dễ chịu. Thường th́
chúng nhiễm vào ta trước khi ta nhận ra chúng, và ta
chỉ tốn rất ít hoặc không tốn chút công phu nào,
mặc dù ta thường thấy những người
tập hút thuốc lá, uống rượu hoặc ghiền
ma tuư đă phải khó chịu lúc bắt đầu tập
thói quen này. Xét ngay như việc hút thuốc lá, một thói
quen mà nhà tâm lư học Murray Banks cho là dấu hiệu rơ ràng
nhất của mặc cảm tự ti chẳng hạn…
Bạn hẳn vẫn nhớ lúc cầm điếu
thuốc đầu tiên bạn bè đưa cho để
được “nhập bọn” với họ như
thế nào. Toàn bộ con người bạn đă từ
chối, nhưng rồi cũng phải ép ḿnh cầm
lấy v́ quyết tỏ cho bạn bè thấy ḿnh cũng là
một thanh niên như ai vậy. Bạn c̣n nhớ đă
hănh diện tới mức nào khi nhả được khói
thành hàng chuỗi ṿng tṛn nối tiếp nhau, hoặc
lần ém được khói mà không sặc không? Lại c̣n
tác phong "triết gia" khi vừa nói chuyện vừa
nhả khói nữa chứ! Ấy vậy mà sau khi đă có
thể làm tất cả những điều đó một
cách "tự nhiên”, bạn lại không chút e ngại ǵ khi
trở thành một hội viên mới của "làng hút
sách" hay sao? Giá bạn có thể bỏ điếu
thuốc xuống một cách dễ dàng như đă cầm
lên lại chẳng tốt hơn à? Thực ra, nếu c̣n
quan tâm đến hậu quả của việc hút
thuốc, hẳn bạn cũng biết là sau 11 năm theo
dơi trên 27.000 người hút loại thuốc nửa
đầu lọc, nửa thuốc, các bác sĩ tại
một bệnh viện ở Dallas không phát hiện một
ca ung thư nào, nhưng thấy rất nhiều
người bị bệnh thoát tràng.
Để
thấy rơ người hút thuốc là người
trưởng thành hay thiếu trưởng thành, bạn
cứ nh́n vào bảng điều tra của một vài
giới thẩm quyền ở Mỹ là biết ngay. Theo
họ, chỉ có 5 % số người hút thuốc ở
Mỹ đă tập hút sau 22 tuổi mà thôi. Điều này
cho thấy là những người trưởng thành,
biết suy nghĩ đă không tập thói quen này sau khi đă
quan sát kỹ lưỡng những người hút
thuốc. Bạn cũng nên biết thêm là đă có 21
triệu người lớn và 100.000 bác sĩ bỏ hút
thuốc khi biết nó gây ra bệnh ung thư phổi.
Giờ
ta trở lại việc nhiễm thói hút thuốc của
bạn. Dù cơ thể can đảm của bạn đă
nhiều lần mạnh mẽ chống cự, nhưng v́
bạn ép buộc, nên cơ thể bạn đành phải
nhượng bộ. Nó bảo : “Được rồi, tôi
sẽ hút, nhưng tôi không thích đâu". Bạn bảo
nó: "Có sao đâu, rồi mày sẽ thích thôi". Sau
đó, cơ thể bạn nhượng bộ thêm, nó
bảo: "Tôi không hiểu tại sao ḿnh phản
đối, chứ thực sự cũng không đến
nỗi nào". Và bạn cứ thế nhượng bộ
cho đến lúc nghiện. Lúc đó bạn mới bảo
bạn bè là ḿnh thích hút, và c̣n quả quyết là
người ta nên làm một
số điều ḿnh thích. Vả lại, muốn bỏ có
khó ǵ, chính ḿnh đă từng bỏ cả chục lần
đấy thôi, nó đă thành tập quán đâu mà sợ.
Cuối cùng th́ cơ thể hoàn toàn khuất phục khi
bạn đă nghiện hẳn.
VI.
VI.
T̀NH YÊU – HÔN NHÂN – GIA Đ̀NH:
CÓ THỂ THÁO GIẢI HÔN
PHỐI?
Anh
Ba,
Vợ
chồng em cưới nhau năm 1983, sau đó sinh một
bé trai. Năm 1985 v́ gia cảnh khó khăn, anh ấy đi
vượt biên. Trước khi đi, tụi em cam kết
với nhau đồng ư không đi một lượt,
ảnh đi trước, em và con sẽ t́m cách đi sau,
đề pḥng bất trắc. Chồng em đi lọt, em
mừng lắm. Sau 2 năm ở đảo, anh ấy
được đi định cư ở Mỹ. Có công
ăn việc làm, anh ấy thư từ đều
đặn và gởi tiền chu cấp cho mẹ con em,
cũng như để t́m cách đi. Việc đi
đứng của em không thành, em bỏ ư định và
chờ anh ấy băo lănh đoàn tụ. Rồi mỗi ngày
thư từ thưa thớt, tiền bạc gởi về
cũng ít đi, cũng chẳng thấy ảnh làm giấy
bảo lănh cho mẹ con em, mặc dầu đi đă 15
năm rồi. Anh bảo chưa có quốc tịch, chưa
đủ tiền trong nhà băng. Cách đây 5 năm em nghe
người ta đồn anh ấy đă có vợ. Lúc
đầu em không tin nhưng kiểm lại cách thức
lạnh nhạt của ảnh và nhờ một
người quen bên ấy t́m hiểu th́ họ cho biết
anh ấy đă có vợ lâu rồi mặc dầu chưa
làm phép cưới. Em buồn lắm v́ anh ấy đă
đang tâm bỏ mẹ con em. Dầu vậy em vẫn âm
thầm chịu đựng và nuối nấng cho con ăn
học. Mới đây, em nhận được giấy
ở địa phận bên đó gởi về xin trả
lời và xin chữ kư của em để tiến hành
thủ tục giải hôn phối cho anh ấy. Em có nên kư
không? Tại sao tụi em đă làm phép cưới đàng
hoàng, nguyên do tại anh ấy, thế mà Giáo Hội lại
cho anh ấy ly dị? Anh ấy lấy vợ khác, em có
lấy chồng được không?
***
Đây
là vấn đề khó khăn, nan giải cho nhiều gia
đ́nh bị phân ly do chiến tranh, thời cuộc.
Sống cách ly nhau lâu quá, không hy vọng gặp lại.
Tuổi già th́ cứ xồng xộc theo sau, v́ thế
nhiều người chịu không nổi cảnh cô
đơn đă bước thêm bước nữa, mặc
dầu không hợp pháp. Trường hợp phân ly gia
đ́nh ở Việt Nam bây giờ lại phức tạo
hơn v́ những người vợ hay chồng ở
nước ngoài được phép tái lập hôn phối
mới. Thực hư thế nào không biết, nhưng có ảnh,
có giấy chứng nhận gởi về, khiến
những người phối
ngẫu bên này thất vọng, choáng váng mặt mày và
những vị có trách nhiệm cũng thắc mắc
băn khoăn.
Rất
thông cảm với nỗi khổ của em, nhưng trong
trường hợp này một phần cũng do lỗi em.
Vợ chồng không bao giờ nên thực hiện một
lời cam kết mong manh và nguy hiểm như thế.
Đồng ư cho chồng tách ĺa để đi vào cuộc
phiêu lưu vô định, không biết khi nào gặp lại
và có gặp lại được không, trên nguyên tắc,
trái với ư nghĩa của hôn nhân là sống chung yêu
thương. Đồng ư cho chồng tách ĺa như thế c̣n
là tạo nguy hiểm cho hôn nhân, v́ xa mặt cách ḷng. Anh ta
c̣n trẻ, làm sao kiên quyết giữ vững ḷng chung
thuỷ. Rơ ràng điều này đă xảy đến sau
một thời gian anh ấy xa gia đ́nh.
Nhưng
thôi, quay lại vấn đề hiện nay; anh ấy
đă sống với người khác, chắc chắc
chắn là đă có con cái. Và bây giờ lại tiến hành
thủ tục xin huỷ bỏ hôn phối với em
để rồi hợp thức hoá với người
ấy. Như vậy là đă dứt khoát rồi, không c̣n ǵ
đảo ngược lại được nữa,
dầu em có kư hay không kư. Anh không hiểu được
những trường hợp
ở bên kia các giáo phận cho huỷ bỏ hôn phối. Có phaỉ v́ quá dễ dàng hoặc
hồ sơ, lời khai nguỵ tạo. Nhưng theo nguyên
tắc th́ bí tích hôn phối giữa người nam và
người nữ được cử hành đúng
luật. Cả hai người có đầy đủ
tự do và các điều kiện quy định th́ hôn
phối đó không thể tháo gỡ, trừ cái chết.
Trong
trừơng hợp của em, em cứ trả lời
những câu hỏi yêu cầu đúng lương tâm của
ḿnh, nhưng nhất thiết không kư vào chỗ đồng
ư cho tháo gỡ hôn phối. V́ làm thế, là em cố t́nh
tạo điều kiện phá bỏ hôn ước đă
thực hiện cách hợp pháp.
Em
nên giữ lụât của Giáo
Hội, nghĩa là không được tái hôn. Em không thể
lấy việc chồng em làm bậy để làm lư do bào
chữa cho việc em làm sai. Mong em được b́nh an tâm
hồn.
VII.
VII.
CHUYỆN PHIẾM :
HỘI NHỮNG
NGƯỜI THÍCH BUỒN
Sau
khi "Hội những người thích cười"
được cấp giấy phép hoạt động,
một số vị thích buồn cảm thấy bị xă
hội bỏ rơi liền ráo riết vận động
thành lập hội để làm đối trọng.
Người
đầu tiên xin vào hội là một phụ nữ trẻ
xinh đẹp, vừa ly hôn. Cô ta rên rỉ với
trưởng ban thành lập hội:
-
Ôi! Buồn quá! Lăo chồng nhà em bỏ đi mất mặt
với con bồ ranh, chỉ c̣n em với con mèo khoang trong
pḥng trống trải. Không vào th́ em đến chết héo
mất.
Trưởng
ban vận động nhăn nhó như chạm vào vết
đau:
-
Cô tưởng tôi vui lắm đấy phỏng? Hồi c̣n
biên chế nhà nước, biết bao nhiêu đứa qua tay
ḿnh bồi dưỡng lên lương, lên chức, cuối
cùng nó đẩy ḿnh ra ŕa. Buồn đến cháy gan cháy
ruột! Cần phải cộng những nỗi buồn
nhỏ thành những khối buồn lớn mới có
sức mạnh mà đấu tranh với những
điều chướng tai gai mắt. Cô có bằng cử
nhân kinh tế mà chưa xin được việc làm
chứ ǵ. Tốt! Tôi bố trí cô làm chân thư kư.
Tiếp
đến là một nhà thơ trẻ nổi lên như
cồn với những tập thơ “Nỗi buồn thiên
niên kỷ, Buồn ơi, em ở đâu?, Sonnate- buồn,
Buồn vĩ mô...” Trưởng ban vận động
nhếch mép cười buồn:
-
Cậu có năng khiếu buồn đấy nhưng không
được tuyệt vọng, có thế mới hoạt
đông cho hội được. Tớ đề bạt
cậu làm trưởng ban tuyên truyền. Được
chứ? Sau này có thể kiêm Tổng biên tập tờ báo “Buồn
ơi là buồn”.
Một
năm sau, số người vào hội vẫn lèo tèo không
đủ cơ cấu một ban chấp hành, chưa nói
đến thành lập các tiểu ban chuyên môn. Trưởng
ban thở dài đánh thượt:
-
Có lẽ phải hạ thấp tiêu chuẩn buồn
mới mở rộng diện kết nạp hội viên
được. Không lẽ để bọn thích
cười làm mưa, làm gió. Trần gian là bể khổ.
Chúng ta nhất định thắng!
Nhà
thơ trẻ trầm ngâm suy nghĩ rồi hiến kế:
-
Bây giờ buồn đích thực hiếm lắm. Nên chú ư
phát triển tới số buồn rởm, không buồn
cũng làm ra vẻ buồn, mốt mới mà. Em biết
trong giới văn nghệ c̣n khối loại này. Mạnh
dạn kết nạp họ rồi bồi dưỡng cho
họ có đủ tiêu chuẩn buồn thật, anh ạ.
Cô
thư kư đắm đuối nh́n nhà thơ trẻ như
muốn cộng nỗi buồn của cả hai lại,
vội vă nhất trí:
-
Sáng kiến tuyệt vời! Em xin bổ sung một ư
nhỏ: ngoài loại buồn rởm, nên kéo theo vào hội
những người buồn thay.
Trưởng
ban quay lại nh́n vào khuôn mặt tươi trẻ
nhiều lúc gây hậu quả tai hại, làm giảm năng
lượng buồn của người lănh đạo,
hỏi:
-
Đề nghị cô nói cụ thể?
-
Dạ, cụ thể các bác thổi kèn đám ma.
Trưởng
ban và nhà thơ cùng reo lên:
- Đúng
đấy! Đúng đấy! Nếu lỡ ra có hội
viên nào buồn quá mà sang thế giới bên kia, hội
đỡ tiền thuê kèn trống.