ADSUM

O SACERDOS ! QUI ES TU ?

NON ES A TE -  QUIA DE NIHILO.

NON ES AD TE – QUIA MEDIATOR AD DEUM.

NON ES TIBI - QUIA SPONSUS ECCLESIAE.

NON ES TUI - QUIA SERVUS OMNIUM.

QUID ERGO ES?

NIHIL ET OMNIA.

O SACERDOS

 BÀI GIẢNG TRONG CÁC THÁNH LỄ MỞ TAY VÀ TẠ ƠN  CỦA TÂN LINH MỤC PHAOLÔ HUỲNH CHÁNH GIỮA CÁC CỘNG ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI ANH QUỐC MÙA GIÁNG SINH 1991

Lời Cảm Tạ. 

T

hật là vinh dự cho tôi, Khi được người bạn đồng lớp ngày xưa mời giảng lễ Mở tay và tạ ơn cho ngài. Chân thành cảm ơn ngài.

Nói về chính mình bao giờ cũng khó. Càng khó hơn khi Linh Mục nói về Linh Mục. Trong những ngày bận rộn chuẩn bị mừng Đại lễ Giáng sinh, tôi đã vội vàng thu góp những suy tư và nhận định của chính mình trong những năm đầu đời Linh Mục, làm chất liệu cho 4 bài giảng sau đây. Vì là lần đầu tiên nói về thiên chức Linh Mục, nên có thể những suy tư ấy còn non nớt và thiếu sót. Chỉ vì tình bạn, mà tôi đành thả lưới.

Xin chân thành cám ơn Đức Ông, các linh mục, các cụ sáu và tất cả các thầy Việt Nam tại Anh Quốc. Xin chân thành cám ơn Quý thính giả trong tất cả các cộng đoàn từ Manchester phiá bắc cho tới Portsmouth phía cực nam đã lắng nghe trong bầu không khí từng bừng, đồng thời cũng rất bất ổn của những ngày Đại lễ. Cuộc hành trình vừa qua tuy vất vả, nhưng cũng là một ích lợi cho tôi. Vì qua đó, hiểu biết thêm nếp sống và sinh hoạt của người đồng hương trên sứ người. Cũng chân thành cám ơn sự tiếp đón nồng hậu của mọi người. Sự tiếp đón quá nồng hậu khiến tôi có cảm tưởng như đang hành trình trên chính quê hương mình. Theo tôi, chỗ nào có người Việt là chỗ đó tôi có quê hương. Cám ơn chút tình quê trên xứ người.

Vì lời yêu cầu của tân Linh Mục và một số đông thính giả, hôm nay tôi mới in lại các bài giảng đó trong tập này, trước hết như một món quà lưu niệm dành cho tân linh Mục, sau nữa như một lòi đồng vọng dành cho những ai đã nghe, nhưng còn muốn nghĩ tiếp, hoặc như một bức thư ngỏ dành cho những ai muốn chia sẻ thân phận với tân linh Mục đồng thời với tất cả các linh mục khác.

Những bài giảng này trước hết (và sau hết) là những bài giảng của tôi dành cho chính tôi, sau đó mới đến mọi người. Vì thế, những xét mình trong đó là một thứ tự xét, những phê bình trong đó là thứ tự phê, những nhắn nhủ (nếu có) trong đó cũng là một thứ tự nhủ. Chỉ khi được hiểu như thế, tôi mới dám in lại và cho phổ biến những bài giảng đầu đời về chức Linh mục này.

 Cộng hoà Liên Bang Đức, Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa năm 1992.

Lm Giuse Vũ Xuân Huyên.

                            

I. THÂN PHẬN LINH MỤC

 

Anh chị em thân mến trong cùng một Chúa là Cha!

 1. Niềm vui đặt đích 

Đ

ời người hơn kém một trăm năm, nhưng thử hỏi, có mấy cao điểm? Khó mà trả lời. Nhưng có lẽ mọi người đều đồng ý với tôi về điểm này: ngày chịu chức hôm qua và ngày mở tay hôm nay là một trong cao điểm mừng vui nhất trong đời Tân Linh mục Phaolô Huỳnh Chánh. Cao điểm, vì hôm qua là ngày đạt đích: Đường càng dài, càng gian truân khó nhọc, niềm vui của ngày đạt đích lại càng lớn lao. Sau 27 năm tu trì mới tới ngày thự phong Linh mục. Ai dám nói, đó là một con đường bình thường? Ai dám nói, đó là con đường chưa đủ những thử thách gian truân? Cao điểm, vì hôm nay là ngày dâng thánh lễ đầu đời. Trong đời linh Mục, ngài sẽ có dịp dâng rất nhiều Thánh Lễ, nhưng có hai Thánh Lễ sốt sắng nhất, cảm động nhất, hạnh phúc nhất: Đó là lần dâng lễ dầu đời và lần dâng lễ cuối đời.

Tuy là ngày đạt đích, nhưng thực ra là mới bắt đầu thiên chức linh mục. Sau 27 năm chuẩn bị bây giờ là lúc bắt tay vào việc. Nếu quãng đường quá khứ nhiều gian truân, thì quãng đường tương lai cũng sẽ không thiếu những gian khổ. Vì thế  hôm nay chúng ta tụ họp nhau nơi đây, để chung lời cầu nguyện cho cha mới, đồng thời cũng là dịp tốt để chúng ta tìm hiểu thêm về thân phận linh mục. Tìm không qua sách vở, nhưng qua cuộc đời cụ thể của Ngài. 

2. Tâm tình tạ ơn 

C

ha mới bước chân vào tiểu chủng viện Long Xuyên 1964. tới sau biến cố 1975 ngài phải tạm thôi học, Lên đường đi giúp xứ. Và vì không có hộ khẩu thường trú, nên ngài cứ lang thang hết xứ naỳ qua xứ nọ, lần lượt qua 7 xứ đạo khác nhau. Cuối năm 1985 thì bị chính quyền đuổi hẳn về nhà. Trong hoàn cảnh đó, vì không biết bám víu vào đâu nên ngài đã dấn thân hành nghề giáo làng từ năm 1985 đến năm 1987, để có chỗ nương thân hợp pháp. Mãi đến năm 1987 mới vượt biên qua ngả Căm Bốt và đặt chân tới đất Thái lan. Rồi như chúng ta biết: Tháng 5.1988 ngài đã đến Anh Quốc, do sự bảo lãnh của đức tổng Giám Mục birmingham.  Và từ năm 1988 đến nay ngài đã được thụ huấn tại đại chủng viện Oscott, cũng nằm trong thành phố này.

Do đó, thánh lễ mở tay hôm nay cũng mang ý nghĩa của một thánh lễ tạ ơn Tạ ơn Chúa và cám ơn người.

Để có được ngày hôm nay, cha mới đã chịu ơn biết bao nhiều người. Giờ đây, trong giây pfút vinh hạnh nhất của đời ngài, những vị đó lại không có mặt. Đó là một niềm chua xót vô bờ. Nhưng tôi trộm nghĩ, chắc chán những vị đó hôm nay lại chiếm chỗ nhất trong ngăn tim của ngài. Chỉ những chỗ vô hình đó mới là chỗ danh dự không ai có thể thay thế được. Và chỉ những gì ngài không nói lên thành lời trong lúc này, mới là những lời” tâm huyết nhất, để cám ơn và cầu nguyện cho những vị đó trong thánh lễ đầu đời hôm nay.

Và để có được ngày hôm nay - trước hết - cha mới cũng đã chịu Chúa cao dầy. Chính Chúa đã chọn ngài. Đó là một vinh dự cho ngài, cho gia đình, ân nhân, ân sư, bạn hữu... của ngài nhưng hồng ân đó, vinh dự đó được Chúa ban cho ai thì không phải vì người đó mà vì người khác. Kinh Thánh thường nhấn mạnh điểm đó:khi Chúa chọn ai, thì không phải để vinh dự cho người đó mà vì ích lợi cuả người khác. Thí dụ Chúa chọn dân Do thái, không phải để làm vinh danh cho dân do Thái, nhưng để ơn cứu độ của Chúa qua dân đó mà được loan truyền đến muôn dân. Chúa Giêsu cũng chọn 12 môn đệ, không phải để tôn vinh 12 môn đệ đó, nhưng để qua các ngài Chúa loan báo tin mừng cho 12 chi họ is rael. Để diễn tả việc tuyển chọn, kinh Thánh thường dùng thể thủ động Thần Linh (passivum).Đó là một lối kị huý; không dám nêu đích danh Chúa, nhưng chủ từ trong câu phải hiểu là Chúa, mà không là ai khác. Như vậy, ai được Chúa chọn, thì người đó sẽ mang ơn Chúa và mắc nợ anh em mình suốt đời.   

3. Thân phận Linh Mục. 

K

hi chọn ai, Chúa cũng trao cho người đó một trách nhiệm cụ thể. Trách nhiệm đó làm nên thân phận con người được Chúa chọn. Thân phận Linh Mục được phác hoạ rất trung thực trong đoạn văn thuộc Thư gửi tín hữu Do thái, mà cha mới đã chọn làm châm ngôn cho đời mình. Đoạn đó như sau: Vì chưng, mọi thượng tế láy giũa loài người thì được đặt lo việc Thiên Chúa thay cho loài người, để tiến dâng lễ vật và lễ hy sinh tạ tội. Ngài có thể chạnh thương nhũng kẻ u mê lầm lạc, vì chính ngài cũng lâm phải yếu đuối tứ bề. Và vì yếu đuối, thì cũng cho dân, Ngài phải dâng lễ đền tội cho mình. (5,1-3) 

Trong đoạn trên, chúng ta rút ra 3 điểm nổi bật như sau: 

(1) Linh mục là một người được Chúa chọn giữa loài người. 

Giáo dân Việt Nam rất kính trọng các Linh Mục. Đó là một niềm an ủi không nhỏ cho các ngài, khi thi hành chức vụ. Nhưng vì quá kính trọng, nên nhiều khi họ quên rằng linh Mục cũng là một người như mọi người. Một số giáo dân thường có một khuôn mẫu sẵn về các Linh Mục, nên khi vị nào không nằm gọn trong khuôn mẫu đó, sẽ bị họ phê bình: cha mà như thế, cha mà như vậy! Lời phê bình đó có thể vì yêu thương, vì kính trọng quá chăng, nhưng dầu sao cũng hơi khắc nghiệt, vì Linh Mục vẫn là người. Có người than với tôi: ông thầy nọ đã làm Linh Mục rồi mà vẫn cứ như xưa! Tôi thưa với họ: Thưa ông, thưa bà, dù có chịu chức 10 lần đi nữa, thì cha ấy vẫn cứ là người:Thầy Chánh hôm qua, và cha Chánh hôm nay vẫn là một: mồt” vero homò” một người trăm phần trăm. Ơn Chúa có sức biến đổi, nhưng lòng người không dễ biến đổi. Mỗi người chúng ta đều có kinh nhiệm đó nơi chính bản thân mình.nếu chúng ta khó biến đổi, thì xin đừng đòi hỏi người khác phải biến đổi lẹ làng hơn và dễ dàng hơn chúng ta. Những bản thánh ca ca tụng chức Linh Mục thường được viết ra trước khi tác giả làm Linh Mục, nên những hình ảnh trong đó thường rất đẹp nhưng không thực. Đoạn Thánh Thư trên đây cho chúng ta một cái nhìn xác thực hơn: Linh Mục là một người yếu đuối như mọi người yếu đuối. Và vì yếu đuối cũng dễ (đồng thời cũng phải!) chạnh thương những người yếu đuối như ngài bản Vulgatadịch là condolere pssit” bởi chữ ‘cùm’ và chữ ‘dolere’ có nghĩa là: đau khổ với. Đau khổ vói người đau khổ.  Bản dịch của chúng ta dịch là chạnh thương hay là cảm thương. Tục ngữ Latinh cũng có câu: “homo sum; humani uil a me alienum puto có nghĩa là: vì tôi là người, nên tất cả những gì là con người cũng chẳng còn gì là lạ đối với tôi. Nếu thế, thật là một điều may, khi linh mục vẫn mãi là người, vì có giống nhau mới dễ thương nhau. Kẻ yếu đuối mới dễ thương người yếu đuối. 

(2) Linh Mục là người làm việc Chúa. 

Linh Mục là người, nhưng không làm việc người mà làm việc Chúa. Việc Chúa khác việc đời. Dù thế, đôi khi chúng ta vẫn lẫn lộn hoặc hiểu ngầm cả hai chỉ là một. Cũng như các tư tế trong mọi tôn giáo, việc cốt yếu của một Linh Mục là dâng lễ thay cho dân. Dĩ nhiên còn nhiều việc khác, nhưng tựu trung là nhũ6ng việc thánh. Trong tiếng Hy Lạp “archiereus” (nghĩa là “Linh mục thượng phẩm”) có chữ “(h)ieron”. (H)ieron có nghĩa là sư thánh, việc thánh. Linh Mục là người trông coi việc thánh. Ngài lãnh nhận chức thánh, để làm việc thánh. Làm việc thánh, để phụng sụ9 Chúa và phục vụ dân. Linh Mục không hăng say làm việc thánh là Linh Mục thiếu sót, trái lại Linh Mục sốt sắng làm việc đời, là Linh lộn chỗ. Biết phân biệt như thế, chúng ta sẽ không còn đòi hỏi Linh Mục phải làm những việc đời, như làm chính trị, hoặc nhờ vả Linh Mục cầu cạnh chỗ này chỗ kia... Nếu Linh Mục nào không làm được như lời chúng ta yêu cầu, thì xin đừng trách móc ngài, vì đó không phải là nhiệm vụ Chúa trao cho ngài hoặc khả năng chuyên mọn của Ngài. Trong thế giới phức tạp ngày nay, mỗi người thường chỉ chuyên môn được một lãnh vực, không còn ai là “thầy cả” (biết tất cả?) như xưa. Linh Mục là người chuyên môn việc thánh. Ai muốn học đạo thì đến với ngài. Ai muốn tìm Chúa thì đi theo ngài. 

(3) Linh Mục là người làm việc Chúa thay cho dân. 

Người Rôma gọi các tư tế của họ là “pontifex”, có nghĩa là “người bắc cầu”. Đức Giáo Hoàng cũng mang tước hiệu “pontifex maximus”. Tước hiệu này xưa kia dùng để chỉ Thầy cả Thượng phẩm Rôma. Linh Mục là người bắc cầu giữa Chúa và dân. Dù thân phận yếu đuối, khả năng giới hạn, nhưng vẫn được Chúa chọn làm trung gian như chiếc cầu đưa Chúa tới dân và đưa dân về với Chúa. Việc của Linh Mục không phải chỉ là việc riêng tư giữa Chúa và ngài, nhưng còn là việc công ích giữa Chúa và dân. Khi thi hành chức vụ như thế, ngài không còn là một “altar Christus” (một Chúa Kitô khác), một người đóng vai Chúa Kitô (in persona Christi). Những lúc ấy, Linh Mục không thấy mình cao sang trước mặt Chúa, trước mặt dân, mà trái lại – nếu thành thực với  chính mình – ngài sẽ thấy mình lại càng bất xứng. Có lần đứng trên bàn thờ dâng lễ, thấy mình bất xứng, tôi bỗng băn khoăn, không biết Thánh lễ đang dâng có đẹp lòng Chúa hay không. Nhưng khi nhìn xuống dưới, thấy lòng thành kính của dân, tôi đã thầm nhủ rằng: Vì dân, mà không phải  vì tôi, Chúa sẽ cho Thánh lễ tôi đang dâng được đẹp lòng Chúa. Giáo Hội cũng dạy “ecclesia supplet” hoặc “ Christus supplet”: những khi Linh Mục thiếu sót, sẽ được Giáo Hội và Chúa Kitô bù cho. Cho nên những việc do linh Mục cử hành, có phúc hay không, không lệ thuộc sự yếu đuối, khuyết điểm của ngài, mà lệ thuộc lòng nhân từ của Chúa, sự thánh thiện của Giáo Hội và lòng thành kính của dân. Dưới ánh sáng Đức Tin những việc đó luôn là việc thánh. Đừng vì khuyết điểm, lầm lỗi của một Linh Mục, mà thôi nhà thờ, mà ghét Giáo Hội, mà bỏ Chúa. 

(4) Tâm tình hiến dâng 

Chúa chọn ai giữa loài người để làm việc Chúa thay cho loài người, thì Ngài cũng xin người đó dâng hiến hết tâm can. Có như thế, người đó mới trở nên đắc dụng cho Chúa và hữu ích cho anh chị em mình. Tôi xin phép được kể một câu chuyện, để diễn tả phần nào chân lý ấy.

Vào một buổi trưa Hè oi ả, Đức Vua thanh dạo quanh khu vườn thượng uyển của Ngài. Trong khu vườn đó có muôn ngàn kỳ hoa dị thảo, nhưng Ngài gỗng để ý tới một cay tre cao lớn, ẩn khuất trong góc vườn. Qua bao năm dầm mưa giãi nắng, tre đã gìa và cật tre cũng đã dẻo dai. Được Đức Vua chiếu cố, tre bỗng thấy lòng mình hạnh phúc lạ thường.

Nhưng vào một ngày nọ, ngày trọng đại nhất trong đời tre – thực ra tre sống trên đời là để chờ ngày đó – Đức Vua tiến lại gần tre, ngẩng lên, giọng thành khẩn nói với tre rằng: “Tre ơi! ta cần ngươi.” Hớn hở tre thưa lại: “Tâu Đức Vua, xin cữ việc dùng con theo ý ngài!” Giọng thương cảm, Đức Vua cắt nghĩa: “Nhưng để xài được ngươi , buộc lòng ta phải chặt ngươi xuống!” Tre hoảng hồn kinh sợ: “Sao Ngài có thể tàn nhẫn như thế được! Chính Ngài đã trồng con mà. Chính bàn tay Ngài ngày ngàyđã vun xới con, để con thành thân cây cao nhất trong vườn. Con van Ngài, xin Ngài cứ việc dùng con, miễn là đừng có chặt con xuống!” Đức Vua phân  trần: “Nhưng tre ơi, nếu không chặt ngươi xuống, làm sao ta có thể sử dụng ngươi được?” Nghe thấy thế, cả khu vườn yên lặng, gió cũng ngừng thổi. Sau giây phút yên nặng nề, tre cúi đầu thân thưa: Nếu thế, xin Ngài cứ việc chặt con xuống! Nhưng Đức Vua còn nói tiếp: Trước khi chặt ngươi xuống, buộc lòng taphaỉ róc bơt cành  lá của ngươi đi! Tre rùng mình than thở: Trời ơi, sao Ngài lại tàn phá dung nhan của con như thế. Xin ngài vui lòng cứ giữ nguyên cành lá lại cho con! Nhưng Đức Vua phân trần: Nếu không róc cành lá của ngươi đi, làm sao ta có thể sử dụngngươi được? Nghe thấy thế, mặt trời tối sầm lại, các loài ong bướm trong vười cũng hoảng hốt bay đi. Còn lại một mình tre đơn độc, giọng run rẩy tre thân thưa: Nếu thế, xin Ngài cứ việc róc hết cành lá của con đi theo ý Ngài! Đức Vua lại nói tiếp: nhưng để sài được ngươi, buộc lòng ta phải chẻ đôi ngươi ra và khoét sạch tim óc của ngươi đi. Rất tiếc, nếu không làm thế, ta không thể sử dụng ngươi được! Lần này thì tre ngất xỉu. Nhưng khi tỉnh lại, tre đã láy hết chút can đảm còn sót lại mà thì thào: Thưa Ngài, Ngài đã dựng nên con, xin Ngài cứ việc dùng con như ý Ngài. Đầu con đây, tim óc con đây, chân tay con đây!

Thế là Đức Vua bắt tay ngay vào việc: phát bớt cành lá, chặt tre xuống, róc sạch, chẻ đôi, khoét hết tim óc bên trong và biến thân tre thành ống máng dẫn nước. Làm song Ngài đem ống máng đó đến gần một dòng suối thong xanh, khơi cho nước suối chảy vào máng, dẫn nước tới một miếng đất hoang vu, khô chồi duy nhất còn sót lại trong khu vườn thượng uyển của Ngài.

Sau đó ít lâu, người ta thấy có muôn ngàn hoa thơm cỏ lạ lại mọc lên trên miếng đất ấy. Như thế, nhờ tre biết hiến mình mà từ đó khu vườn Đức Vua mới nên tuyệt hảo, chẳng còn khu đất nào là hoang vu như trước nữa. 

5. Tâm tình phó thác. 

Anh chị em thân mến trong cùng một Chúa là Cha!  

Đức Hồng Y Newman, một thần học gia nổi tiếng của Anh Quốc vào thế kỷ 19, sinh tại London và mất tại Birmingham, đồng thời cũng là người được cha mới rất ái mộ, có lần Đức Hồng Y đã cầu nguyện như sau: Lạy Chúa, xin đùng con theo ý Ngài(...)Giống như chiếc đồng hồmặt trời lệ thuộc vào mặt trời thế nào, thì con cũng muốn lệ thuộc vào Chúa như vậy(...) Lạy Chúa, con sẵn sàng theo Chúa trong đêm tối, chỉ xin Chúa cho con có đủ sức thôi.” Chúng ta hãy thêm lời cầu nguyện cho cha mới, để ngài luôn đủ sức theo Chúa đến trọn đời. Khi chọn ai, Chúa cũng luôn hứa bên cạnh người đó. Khi sai Maisen sang Ai Cập giải phóng dân chúng, Chúa đã hứa với Maisen rằng: Ta là Giavê!” theo tôi phải dịch là: Ta là đấng ben con! (xh3, 14) Rồi khi sai tiên tri Giêrêmia, vị tiên tri này liền chối, Lấy lý do vì mình quá trẻ (,trong trường hợp cha Chánh, có lẽ ngài phải láy lý do vì mình quá già!) không biết phải ăn nói làm sao, Chúa cũng đã hứa rằng: Ta sẽ ở cùng con (Jer1,4-9).

Chỉ còn mấy ngày nữa là lễ Giáng Sinh. Chúa Giêsu cũng được các tiên tri gọi là “ Emmanuel” nghĩa là Chúa ở cùng chúng ta”. Sự kiện lịch sủ Chúa Giêsu xuống thế làm người là một bằng chứng cụ thể, minh chứng Chúa đã giữ lời hứa” Ta ở cùng còn” với nhân loại. Chúa Giêsu làlơì hứa của Đức Chúa Cha đã biến thành xương thịt, để giữ trọn lời đã hứa với cha mới, với mỗi người chúng ta và với toàn thể nhân loại. Đó là tin mừng trọng đại. Vì thế, khi được Chúa trao cho xứ mạng gì, chúng ta luôn có lý do để ca tụng Chúa suốt đời: Te Deum laudamus ‘Lạy Chúa, chúng con ngợi khen Chúa!’.Amen                                                         

II. SỨ MỆNH LINH MỤC

 Anh Chị Em thân mến trong cùng một Chúa là Cha! 

S

ống trên đời ai cũng có một sứ mệnh nào đó. Sứ mệnh đối với Thiên Chúa Chúa và Giáo Hội, sứ mệnh đối với quốc gia dân tộc, sứ mệnh đối với gia đình xã hội v.v...Sứ mệnh nào cũng cao cả, địa vị nào cũng quan trọng. Đức Hồng Y Newman, người Anh giáo sau trở lại Công giáo, đã nói như sau: Vị trí của tôi cũng quan trọng chẳng khác nào vị trí của một vị Tổng Lãnh Thiên Thần trên trời.” Sứ mệnh lớn nhỏ, không quan trọng. Quan trọng là mỗi người chúng ta phải sống làm sao để chu toàn sứ mệnh đó. Chu toàn sứ mệnh là đã sống xứng đáng vớiđiạ vị của mình. Nhân dịp cha mới về dâng lễ mở tay trong cộng đoàn, chúng ta hãy dành ít phút để suy tư về sứ mệnh Linh Mục. Khi chịu chức, Linh Mục đã lãnh nhận một sứ mệnh Chúa trao qua tay Giáo Hội. Nhưng sứ mệnh đó là gì? Thiết tưởng, ai trao sứ mệnh cho tân Linh Mục, thì hãy hỏi thẳng vị đó. Hỏi thẳng Chúa qua Phúc Âm và hỏi thẳng Giáo Hội qua các văn kiện của Giáo Hội. Nói một cách khác, nếu Chúa đã sai Linh Mục qua tay Giáo Hội, thì Chúa mong đợi gì nơi Linh Mục.? 

Sự Kiện Lịch Sử 

T

rước hết chúng ta đã đặt vấn đề: Chúa Giêsu có trực tiếp thiết lập chức Linh Mục không? Ngày nay có người cho rằng không (E.Drewermann). Sống trong thế giới tự do, họ có quyền nói gì thì nói, viết gì thì viết.Nhưng chúng ta biết, Chúa Giêsu chọn 12 Tông Đồ và 70 (72) - tuỳ bản kinh Thánh chép tay ngày xưa- môn đệ khác. Họ là ai? Thưa, họ là cộng tác viên của Chúa ngày xưa. Còn Linh Mục là ai? Nếu không phải là cộng tác viên của Chúa ngày nay. Trong sắc lệnh về chức vụ và đời sống của các Linh Mục”cộng đồng Vatican 11đã cho phổ biến giáo huấn như sau: Chính Chúa đã cắt đặt giữa các tín hữu một số thừa tác viên, nhờ chức Thánh họ được trao quyền tế lễ và tha tội trong cộng đoàn tín hữu, và nhân danh Chúa Kitô họ chính thức thi hành chức vụ Linh Mục. Cho loài người. (...) và thi hành chức vụ Thánh rao giảng Phúc Aâm để muôn dân trở nên hiến lễ đẹp lòng Chúa và được Thánh Thần thánh hoá “ (=PO, số 2). Nói tóm lại, Linh Mục là người được Chúa sai đến để phục vụ dân ngài. Chúa Giêsuđã nói: Như Cha Ta đã sai Ta thế nào thì Ta cũng sai các con như vạy.” (Gio 20, 21.) Chính vì thế mà người xưa đã gọi Linh Mục là một Chúa Kitôkhác (alter Chistus). Nghĩa là Linh Mục phải lo giảng điều Chúa đã giảng xưa, làm việc Chúa đã làm xưa, và cố gắng sống như Chúa đã sống xưa.

Giáo Hội minh xác sứ mệnh đó qua 3 nhiệm vụ tối thiểu và cụ thể sau đây: 

(1) Rao giảng Lời Chúa 

C

húng ta biết, Giáo Hội rất dè dặt trong việc cho phép những ai được quyền giảng trong nhà thờ. Ngày nay đôi khi những giáo dân thông thạo về Thần học cũng được mời giảng trong vài trường hợp ngoại lệ, nhưng thông thường đó là nhiệm vụ được trao cho hàng giáo sĩ, từ Phó tế trở lên. Các ngài là những người đã học và được chuẩn bị lâu năm. Đó là một vinh dự đồng thời cũng là một gánh nặng. Gánh nặng, vì khi rao giảng Lời Chúa chính là lúc người phàm làm việc Chúa. Việc đó vượt quá khả năng của loài người. Linh Mục cũng là người, nên không thể vượt qua khả năng hữu hạn của mình. Khó khăn đó là: ưu tiên cho chính mình, khi cho rằng lời mình giảng chỉ để cho dân áp dụng, còn mình được miễn. Dậy người sửa mình, mà mình khỏi sửa... Công đồng gọi chung Linh Mục là người giáo dục về Đức tin. Đức tin không phải là một mớ kiến thức mà có thể dạy lại như dậy học. Đức tin là một ân sủng. Nếu không có ơn Chúa, Việc giảng dậy của Linh Mục cũng thành hoài công.

Lời Chúa là chân lý, chân lý ngàn đời Chân lý không thay đổi, nhưng tâm thực thời đại đổi thay. Cho nên người rao giảng chân lý có lúc gặp thời, có khi gặp hạn. Dù thế, linh Mục vẫn luôn phải trung thành với sứ mệnh mình như trung thành với chính Chúa là Đấng đã sai mình. Thánh phaolô đã khuyên các môn đệ của ngài như sau: Hãy nhấn mạnh khi thuận tiện cũng như khi bất tiện, hãy khiển trách, răn đe, khuyến khích với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm daỵ dỗ.” (2 Tim 4,2). Chúng ta đang sống trong một thời đại, mà giáo huấn của Chúa cũng như Giáo hội không còn hấp dẫn như xưa. Chúng ta chỉ cần nghĩ tới những giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng mới đây về việc điều hoà sinh sản và những phản ứng bên ngoài cũng như bên trong Giáo Hội về vấn đề này thì rõ. Có cả Giám Mục chống đối ngài về việc này (N. Werbs). Đó chỉ là một trường hợp điển hình trong muôn  ngàn trường hợp khác. Chúa sai rao giảng chân lý, nhưng não trạng ngày nay lại cho rằng: Không ai là người đã tìm ra chân lý, hoc nắn gọn chân lý trong tay. Mọi người đều là những người đang đi tìm chân lý, mà chưa ai tim ra cả. Nếu có ai tìm ra, thì họ chỉ mới tìm ra một phần mà chưa phải toàn phần chân lý. Do đó khi ai nói mình đã tìm ra chân lý (ngay cả chân lý Chúa mặc khải !) mà rao truyền hoạc nhắc nhở cho anh chị em, thì liền bị chê cười, châm chọc phản đối. Đó là nguyên nhân của mọi khủng hoảng tinh thần hiện nay.

Thực ra Linh Mục cũng là người sống bằng Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Khi Linh Mục rao giảng chân lý Chúa, tôi có thể ví ngài như một nhân viên quảng cáo: Lo quảng cáo đồ tốt mà chưa có hạnh phúc được thấy đồ mình quảng cáo như thế nào. Linh Mục lo giảng về giáo huấn nước trời mà chân mình còn đạp đất. Linh mục lo về ơn cứu độ, mà chính mình vẫn còn tù hãm. Chúa là nguồn chân thiện mỹ mà Linh Mục mới có can đảm rao giảng lời Ngaì. Rời rồi khi ai tin lời Linh Mục giảng,thì không hẳn vì tin vào Linh Mục đó, mà tin vào chính Chúa Giêsu, là lời nói của Đức Chúa Cha đã mạc lấy bản tính loài người để nói nhân loại. Chúa Giêsu cũng hứa với các tông đồ rằng: Ai nghe các con là nghe ta (Lc. 10,16). 

(2) Cử hành phụng vụ. 

C

húa là Đâng Thánh, nên Ngaì cũng muốn thánh hoá loài người qua các việc thánh, tức là các việc phụng tự. Để thi hành việc đó, Chúa cần người trung gian của Chúa. Linh Mục được hiến thánh nhưng chưa là vị thánh. Ngài vẫn là người. Nên dù được Chúa dùng, dụng cụ ấy cả đời vẫn luôn bât xứnh.

Tuy nhiên, bất xứng cũng là thân phận chung của Giáo Hội, dù là chi thể của Chhúa Kitô. Các thánh giáo phụ ví Giáo Hội như một con đĩ già đã được Chúa cứu chuộc, để biến thành gái trinh. Chính vì biêt thân phận mình như thế nên Giáo Hội luon chủ trương phải được cải cách không ngừng (ecclesia semper reformanda) và phải được thanh tẩy luôn luôn (ecclesia semper purificanda). Thân phận của linh mục là thân phận đại biểu cho thể Giáo hội nơi trần gian.

Thân phận đó tuy bất xứng, nhưng không phải là một lý do cản trở ơn thánh, khi Chúa muốn đổ xuống dân Ngài. Một đồ dùng (chén,khăn...) đã được thánh hiến thì trở thành đồ thánh, dù hình thức bên ngoài và bản chất bên trong trước sau vẫn là một. Dẫn vậy, nó vẫn chu toàn được sứ mệnh của một vật thánh, khi sẵn lòng để cho sử dụng vào việc thánh. Một người được thánh hiến cũng tương tự như thế.

Trong các việc thánh, thì việc dâng lễ là cao trọng hơn hết. Vì Thánh Lễ là trọng tâm và là nền tảng xây cộng đoàn, Đó là một vinh dự đồng thời cũng là một gánh nặng. Gánh nặng, vì thường tình chúng ta có nhớ mới làm, nhưng Chúa dậy: hãy làm mà nhớ đến ta!” Thánh lễ là trung tâm của các bí tích khác. Giáo Hội Tin lành chỉ nhận có 3 hoạc 2 bí tích đó chính Chúa mới chủ động, còn Linh Mục chỉ là đại diện Chúa nhờ. Rõ ràng nhất là trong bí tích giải tội. Ai có quyền tha tội, ngoài Chúa ? Linh Mục nghe tội, rồi xin Chúa và nhân danh Chúa mà tha tội cho hối nhân.

Ngoài việc cử hành các Bí Tích linh mục còn đọc kinh nhật tụng (sách nguyện) mỗi ngày. Ngài đọc không phải chỉ cho mình, mà nhân danh Giáo Hội để cầu nguyện cho tất cả nhân loại. Trong đời sống thường ngày người ta cũng thường xin Linh Mục:” xin cha cầu nguyện cho con!” Lời kinh, việc phụng tự của ngài không phải chỉ ích lợi cho cho riêng ngài mà còn cho người khác nữa.

Chân phước Chevrier đã nói: Le prêtre est un homme mangé” (Linh Mục là mộc người” được đem ra ăn ) Trước khi lãnh chức Linh Mục, tân chức nằm xuống trước bàn thờ. Đó là dấu chỉ tù bỏ mình đi, chết đi để thành của ăn cho người khác. Rồi hằng năm vào ngày thứ sáu tuần thánh, trước khi cử hành nghi lễ, Linh Mục cũng nằm xuống trước bàn thờ. Ngìa phải theo gương Chúa Giêsu: một người chết đi cho toàn dân được sống!” Linh Mục nếu không chết đi, không thể trở thành của ăn nuôi người khác.

(3) Chăm sóc đoàn chiên Chúa. 

L

inh Mục còn được được Chúa trao sứ mệnh chăm sóc đoàn chiên Chúa. Đoàn chiên đó là đoàn chiên của Chúa, mà không phải là đoàn chiên của ai khác.” Hãy trả lại cho Chúa, những gì là của Chúa!” Khi trao quyền cho Thánh Phêrô, Chúa đã nói với ngài rằng: Hãy chăn các con chiên của ta! (Gio 20,15-17). Mà Chúa không nói: Hãy chăn các con chiên của con! Đó là điểm thiết tưởng cần phân biệt. Vì nếu không muốn hoạc không phân biệt được, Linh Mục sẽ có thể biến con chiên của Chúa thành con chó nhà mình. Lạm dụng là phản tinh thần Phúc Âm và làm cho người bị lạm dụng vì sợ mình rồi sợ luôn cả Chúa. Khi yêu Chúa, thì cũng phải yêu con chiên của Chúa. Khi tôn kính Chúa, thì cũng phải kính trọng con chiên của Ngài.

Để chăm sóc con chiên chúa, Linh Mục phải sống gần họ và đi theo họ. Linh Mục không phải là người thống trị mà là người phục vụ theo gương Chúa Giêsu. Chúa nói: Ta đến không phải được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ người ta (Mt 20, 28; Mc 10, 45). Thánh Augustinô cũng nói với giáo dân của ngài:” Tôi làm Giám Mục để phục vụ anh chị em, ngoài ra tôi cũng chỉ là tín hữu như anh chị em thôi” (sermo, 340, 1) Đức Hồng Y Newmann cũng láy khẩu hiệu Giám Mục của ngài là: con tim nói với con tim.” Rồi từ thời Đức Grêgor Cả (590-604) các Đức Giáo Hoàng còn có tước hiệu là” servus servorum Dei”( đầy tó của các đầy tớ Chúa). Cộng đồng cũng dậy rằng:” các ngài linh Mục) không thể phục vụ nhân loại nếu lại sống xa cuộc sống và những hoàn cảnh của con người (...)(tuy nhiên các ngài) không được theo thói thế gian, nhưng sống trong thế gian, giữa loài người.” (Po, số 3). Sống gần gũi con chiên Chúa để phục vụ họ là một hạng phúc đồng thời cũng là một khó khăn. Khó khăn, vì gần quá hoá nhàm. Khó khăn, vì gần quá lâu ngày sẽ” lộ tẩy”.Ai cũng có những lầm lỗi, nhưng ai đứng trên, lâm lỗi của họ sẽ dễ thấy, vì trăm con mắt của kẻ dưới nhìn vào. Lầm lỗicủa ai  cũng có thể tha. Chúng ta thường quyên rằng Linh Mục là người và vẫnmãi  là người.Linh Mục nhân danh Chúa tha tội dễ dàng cho người ta, nhưng người ta không dễ dàng bỏ qua lầm lỗi cho Linh Mục. Ngược lại, vì sống gần gũi, nên Linh Mục cũng thấy hết được những khiyết điểm của con chiên Chúa. Để chung sống hoà thuận, cần phải hiểu thân phận làm người của nhau và rộng lòng tha thứ cho nhau. Chúng ta yêu nhau không hẳn vì chúng ta đáng yêu, nhưng vì chúng ta muốn yêu, Chúa và nhìn thấy hình ảnh Chúa nơi nhau. Trước khi trao quyền cho Thánh Phêrô, Chúa Giêsu đã hỏi Ngài 3 lần, nhưng Chúa không hỏi: Con có mến dàn chiên của ta không, mà Chúa lại hỏi: con có mến ta không?(Gio 20, 15-17) Miến Chúa là điều kiện ắt có và đủ” để Chúa tin tưởng mà trao phó công việc coi sóc daòn chiên Chúa. 

Anh Chị em thân miến trong cùng một Chúa là Cha! 

Khi thi hành sứ vụ Chúa trao phó, Linh Mục không được tìm vinh danh mình, nhưng tìm vinh danh Chúa và góp phần xây dựng Giáo hội. Cộng đồng dậy rằng: khi cầu nguyện và tôn thờ cũng như khi giảng thuyết, khi dâng HY Lễ Thánh Thể và làm các Bi Tích cũng như khi thi hành các tác vụ khác giúp người ta, các Linh Mục đều quy hướng về việc làm vinh danh Chúa hơn, đồng thời giúp con người tiến tới đời sống thiêng liêng. (po, số 2) cộng đồng gọi đó là việc “ xây dựng thân thể Chúa Kitô”(PO,số 80).

Ngôi Lời đã xuống thế làm người và ở với laoì người, để cứu rỗi laoì người Linh Mục cũng được sai đến để sống với doàn chiên Chúa, để cùng nhau tìm đường cứu rỗi. Như Thánh Augustinô đã nói: Thiên Chúa không thể chuộc ta neú không có sự cộng tác của ta. Chúng ta cũng co thể nói: Linh Mục không thể làm tròn sứ mệnh Chúa trao phó neú không có sự cộng tác của doàn chiên Chúa. Hãy cộng tác với các Linh Mục, người đã được Chúa sai đến với Anh chị em. Amen

 

III. NIỀM VUI CỦA LINH MỤC

Anh Chị Em mến trong cùng một Chuá là Cha.! 

T

rong những ngày qua. Nhiều anh chị em cũng như tôi, đã có dịp chung vui với Tân Linh Mục trong dịp chịu chức và mở tay của ngài. Có niềm vui mà không có ai chia sẻ, thì niềm vui đó không vẹn toàn. Niềm vui không trọn vẹn có thể biến thành nỗi buồn. Vì muốn chia sẻ niềm vui mà Chúa đã ban cho mình – cũng như Đức Mẹ xưa đã chia sẻ niềm vui với bà Thánh Elisabét qua bài Kinh ca Ngợi. Sau khi được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế – nên hôm nay Tân Linh Mục đã đến đây để dâng Thánh Lễ trong cộng đoàn của chúng ta giữa niềm vui của những ngày đón mừng đại lễ Giáng Sinh. 

Trong bầu không khí đó, tôi xin phép được chia sẻ một vài suy tư và nhận xét về niềm vui của Linh Mục như sau : 

1.     Niềm vui trong đời sống. 

L

inh Mục là ai? Thưa, Linh Mục là một người được Chúa Chọn giữa loài người để phục vụ loài người trong các việc Chúa và Giáo Hội trao phó. Linh Mục là một người và mãi luôn là người. Đó là một chân lý mà chúng ta thường quên hoạc vì vinh quang (nếu có!) của Linh Mục, mà bị chói mắt nhìn không ra. Chung ta đừng tưởng rằng, sau khi lãnh chức Linh Mục, thì Tân Linh Mục không còn là người nữa, mà là thần thánh hoạc ít ra cũng là siêu nhiên. Không! Tuy cha mới mà vẫn là thầy cũ. Cha Chánh hôm nay cũng vẫn là thầy Chánh hôm qua.

Linh Mục là một người, nhưng lại sống khác người: khác bên ngoài mà cũng khác cả bên trong.

Khác bên ngoài trong cách ăn mặc. Ở Anh Quốc, các Linh Mục vẫn còn mặc đồng phục. Bộ đồng phục là dấu chỉ bề ngoài rõ ràng nhất, xác định người mặc nó không phải là một người như những người khác. Ở những nơi khác, tuy không còn đồng phục, nhưng thường cũng còn một giới hạn nào đó, trong kiểu quần áo, trong mầu quần áo ... làm cho người ta có thể đoán ra. Có thể nói, sự khác biệt có nằm ngay trong cốt cách của các ngài. Thậm chí, ngay cả những người tu xuất chúng ta vẫn có thể phân biệt được, khi nhìn qua bóng dáng họ, hoạc khi có dịp tiếp xúc với họ đôi lần.

Linh Mục khác không phải chỉ trong cách ăn mặc mà còn khác cả trong cách sống: Điểm rõ ràng nhất đó là đời sống dộc thân của ngài. Lối sống này là một trong những điểm tranh luận” sốt déo nhât và” gai mắt” nhất. Hiện nay người ta thường đem đề tài này ra làm phim, viết truyện... mà lị Linh Mục và qua đó công kích Giáo Hội.

Chúng ta biết, Chúa Giê-su đã sống độc thân, nhưng phần lớn các môn đệ Ngài đã lập gia đình. Đó là mẫu chốt của mọi tranh luận. Tuy các Tông Đồ phần lớn không sống độc thân, nhưng Giáo Hội sơ khai đã đề cập tới vấn đề này rất sớm. Căn cứ theo sử liệu, thì ngay từ thế kỷ thứ 4 đã thấy các Hội đồng công nghị (Synođê) đề cập đến vấn đề này, rồi đến thế kỷ thứ  11 thì luật này đã trở thành luật chung cho toàn thể Giáo Hội.

Khi đặt vấn đề “nên giữ hay nên bỏ luật độc thân của Linh Mục,”phần lớn giáo dân Việt Nam sẽ nghĩ là các Linh Mục, đặc biệt tại tây phương, đang tranh đấu lấy vợ”. Đó là một lầm lẫn. Thực ra, trước hiện tình thiếu thốn Linh Mục, nhiều giáo dân nghĩ rằng : Cứ cho phép lấy vợ, thì đương nhiên sẽ có nhiều người xin làm linh Mục. Vì thế, họ đã đứng lên tranh đấu bãi bỏ luật độc thân. Ý kiến đó có vẻ hơi ấu trĩ, Vì vấn đề không đơn giảnnhư thế. Nhiều vị Giám Mục, cũng như Hội đồng Giám Mụcđã lên tiếngvề vấn đề này. Tôi chỉ xin đưa ra hai ý kiến đối chọi nhau : Mới đây Đức Cha J.Gaillot,Giám Mục Evreux, miền Bắc Pháp, gần Paris đã tuyên bố: Trong tương lai ngài sẽ để tự do cho Linh Mục quyết định, có nên cưới vợ hay không, Còn một số Giám Mục Trung Quốc thì cho biết như  sau : Neú Giáo Hội hoàn vũ có bỏ luật độc thân, thì Giáo hội Trung uốc vẫn cứ duy trì. Sau này Giáo Hội sẽ quyết định ra sao, chúng ta chưa biết được. Hãy để Chúa Thánh Thần làm việc!

Tuy độc thân không phải là một điều kiện để được cứu rỗi, như là một điều kiện để theo Chúa (Lc9,61tss.) Các Tông Đồ có gia đình, nhưng khi theo Chúa, các Ngài đã phải từ bỏ gia đình. Vợ con các ngaì, theo phong tục thời đó, Không thể tiếp tục sống trong xã hội mà vắng cha, vắng chồng như thế được. Buộc họ phải cuốn gói về bên ngoại mà sống, Đó là một hy sinh không nhỏ cho đại gia đình, nếu có người theo Chúa. Có gia đình mà Chúa còn bắt bỏ đi như thế, huống chi là người chưa có, thì lập gia đình làm gì. Có người bảo tôi: Cha sướng hơn con, vì cha không có gia đình.”Tôi tin lời đó, vì có thể đó là lời đúc kết của đời họvà rút ra từ chính kinh nghiệmbản thân họ. Nhìn về khía cạnh nhân loại thì như thế. Còn nhìn về khía cạnh siêu nhiên thì hạnh phúc của Linh Mục là hạnh phúc được sống giống Thầy mình là Chúa Giê-su Ki-tô. 

2. Niềm vui trong nhiệm vụ. 

L

inh Mục là người được Chúa chọn để phục vụ đơi. Có trách nhiệm là một gánh nặng, nhưng đồng thời cũng là một niềm vui. Con người tìm ra ý nghĩa của đời mình và vui sống nổi là nhờ có một nhiệm vụ đúng khả năng và một trách nhiệm cụ thể đối với người khác : Cha mẹ hạnh phúc vì lo được cho con, vợ hạnh phúc là lo được cho chồng,  chồng hạnh phúc vì lo được cho vợ... Cũng thế, linh Mục hạnh phúc vì giúp ích được cho anh chị em mình. Đã làm việc, ai cũng gặt hái thành công và thật bại. Nhưng Linh Mục không làm việc một mình mà là làm việc với Chúa va với người khác. Khi làm việc chung, người ta sẽ thấy: nếu thành công, niềm vui sẽ lớn hơn; trái lại nếu thất bại, nỗi buồn sẽ vơi đi. Đã làm việc, lâu ngày sẽ sinh nhàm chán. Nhung trong cái độc điệu nhàm chán thường ngày, chúa vẫn gửi tới cho chúng ta những niềm vui rất bứt ngờ. Tôi có cái kinh nghiệm ``riêng tư này là, sau khi đã dọn mình cẩn thận cho một người nào, rồi nghe tin họ qua đời, tôi thấy lòng mình vui rất lạ.Niềm vui thiêng liêng, vì có cảm tưởng chính mình cũng được theo chân họmà lên Thiên Đàng. Những niềm vui thánh thiện như thế tuy hiếm, nhưng cũng đủ giúp Linh Mục vui đời mục vụ. Vui trong nhiệm vụ là đòi hỏi của Kinh Thánh. Thánh vịnh 100 đã khuyến cáo như sau: Hãy phụng sự Chúa với niềm vui tươi.” (c. 2). Vui trong nhiệm vụ, đó là bằng chứng của lòng tin, tự nó đã là cách giảng đạo. 

Triết gia F. Nietzschevô thần, người Đức, đã công kích các Kitô hữu như sau: Nếu họ tin rằng, họ đã được Chúa cứu độ, sao tôi thấy họ vẫn còn sống buồn như thế! Tôi xin miễn bình luận lời nhận xét của Nietzsche có đúng hay không, nhưng tôi thấy lời đó đáng cho chúng ta suy nghĩ. Trong cả cuốn Phúc Âm chung ta không thấy ghi lại chỗ nào Chúa Giê-su cười, mà chỉ thấy ghi lại hai lần Chúa Giê-su khóc: Ngài khóc trước mộ Lagiarô (Gio 11, 35) và khóc thương thành Giêrusalem (Lc. 19, 41). Xét về khía cạnh nhân loại, có lẽ đó là một thiếu sót của các thánh sử chăng ? Suốt đời thế nào chẳng có lần Chúa Giê-su cười. Chúng ta dám xác quyết điều đó, vì tất cả giáo huấn của Ngài là giáo huấn về sự sống. Phúc Âm là một Tin Mừng, mà không phải là tin buồn. Chúa dy đi dy lại: Hãy vui sống, vì Cha các con trên trời đã quan phòng mọi sự cho các con (Lc 12, 22-34). Do đó, ngày nay chúng ta thấy xuất hiện một vài bức tranh vẽ Chúa Giê-su cười toe toét, cười thoải mái. Những bức tranh ấy tuy khác thường, đôi khi xúc phạm tới tâm tình đạo đức nề nếp của chúng ta, nhưng chúng muốn nói lên một đói khát của con người ngày nay: một thời đại thiếu vắng nụ cười. Người ta mơ ước được cười và có người để cười vời mình. Không có gì có khả năng chinh phục mạnh mẽ cho bằng nụ cười, vì đó là ngôn ngữ của con tim. Linh Mục cũng như giáo dân, khi vui sông và tươi cười, chính là lúc mình giảng đạo không thành lời cho kẻ khác. 

2.     Niềm vui với người khác 

N

iềm vui của Linh Mục không phải chỉ trong cuộc sống tận hiến, trong cuộc đời phục vụ, nhưng còn với nhũng người chung quanh mình. Linh Mục không sống cá nhân, không làm việc riêng rẽ, nhưng luôn trong sự liên đới và hợp tác với anh em Linh Mục khác. Đó không phải chỉ là nhu cầu và hướng mục vụ đòi hỏi, nhưng còn là ý Chúa : Cá nhân chủ nghĩa không hợp với tinh thần tông đồ. Khi gọi, Chúa cũng gọi từng cặp: anh em Phê-rô Simon và Anrê, Gioan và Giacôbê (4, 18-22). Rồi khi sai các Ngài đi rao giảng, Chúa Giêsu cũng sai đi từng cặp một (Lc. 10, 1; Mc. 6, 7). Ngoài ra, chúng ta cũng thấy, trong nghi thức truyền chức, tất cả các Linh Mục hiện diện đều được mời cùng với Đức Giám Mục đặt tay trên đầu Tân Linh Mục là để diễn tả ý hướng hiệp nhất đó. 

Linh Mục tuy sống độc thân, nhưng không phải là người cô độc : Trên thế giới hiện nay có 401.930 Linh Mục, trong số đó có 1 866 Linh Mục tai Việt Nam và hàng trăm Linh Mục Việt Nam tại hải ngoại. Cha Chánh không sống một mình và cũng không làm việc lẻ loi. Ngài cũng không phục vụ cho một Giaó Hội thiểu số. Vì nếu tính từ ngày có Giáo Hội cho tới nay, người ta ước lượng đã có 5 tỷ tin hữu và 5 triệu giáo sĩ, so với con số 120 người không đáng kể trong ngày Chúa thánh Thần Hiện Xuống lúc ban đầu (Tđvc. 1,150. niềm vui của linh Mục cũng có thể do đặc ân và cảm tình mà giáo dân dành cho mình. Một Linh Mục bậc thầy của chúng tôi có dịp qua Anh Quốc cách đây gần 30 năm, đã kể lại rằng: Mỗi lần ngài đi ngang qua ngã tư là có cảnh sát chận xe lại cho ngài qua đường, rồi khi đi xe buýt cũng không tốn tiền nữa.” Nghe vậy, tôi thưa với ngài: thế là cha đã sống vào cái th i oanh liệt nhất của chức Linh Mục.”Ngàynày tuy không còn những đặc ân như thế nữa, nhưng chúng tôi vẫn còn những niềm vui do giáo dân mang lại, như tình nghĩa, sự tin tưởng, sự thông cảm ho c giúp đỡ cách này cách khác... 

Nếu giáo dân tạo niềm vui cho Linh Mục, thì Linh Mục cũng tạo niềm vui cho giáo dân. Khi nghe cha Chánh sẽ chịu chức vào mùa Giáng Sinh năm nay, tôi có viết thư trách ngaì, sao lại xin chịu chức ngay vào dịp Giáng sinh, để bạn bè, nhất là các Linh Mục, ở các nước xa xôi khó đến, vì ai nấy cũng bận việc nhà xứ vào mùa này. Ngài đã viết thư trả lời tôi, lý do là để cho giáo dân Việt Nam tại Anh Quốc có dịp mừng luôn lễ Giáng Sinh cho tiện, rồi ngài kết luận như sau: Thôi lúc linh Mục cũng là kẻ mua vui cho người khác.” Tinh thần đó rất gần gũi với tinh thần của thánh Phaolô. Trong thư Côrintô Ngài đã viết như sau: chúng tôi là người giúp anh chị em vui sông” (2Cor 1, 24). Chỗ khác, ngài còn viết rõ hơn::” Hãy vui với người vui, hãy khóc vời người khóc.” (Rom 12, 15). Cái vui của Linh Mục là làm cho người khác vui, và cái khổ của Linh Mục là thấy người khác khổ. Người ta thấy linh Mục sông cô độc nên tưởng lầm Linh mục cũng cô đơn. Nhưng khi cô đơn, người lại kêu cứu đến Linh Mục. Tôi thấy tức cười, vì như thế người một cô độc lại đi an ủi người có gia đình ! thế mà người ta bớt khổ, còn mình thấy vui.  

Anh chị em thân mến trong cùng một Chúa là Cha!  

Giả sử nếu có Linh Mục nào không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, trong nhiệm vụ hay nơi người khác, thì ngài vẫn có thể tìm thấy niềm vui và sức mạnh nơi Chúa. Chúa mới chính là niềm vui đầu và niềm vui cuối của một Linh Mục. Dù không ai hiểu Linh Mục, thì vẫn còn Chúa hiểu. Chính vì thế, Chúa là sức mạnh kiên cường  của Linh Mục (Neh 8, 10;Jer 15). Làm linh Mục không phải là chọn nghề, mà là chọn Chúa. Nghề có thể mỗi ngày một tệ, nhưng Chúa muốn đời vẫn tốt. Nếu Đấng mình chọn muốn đời vẫn  tốt, thì không có lý do gì mà mà Linh Mục lại mất vui. Xin Ngôi Hai Thiên Chúa là Đấng đã xuống trần gian để đem niềm an vui cho nhân loại, cung ban cho tân Linh Mục của chúng ta niềm an vui thánh thiện trong trọng trách mà Chúa và Giáo Hội vừa trao phó cho ngài. Amen

 

IV.ĐAU KHỔ CỦA LINH MỤC.

 Anh chị em thân mến trong cùng một Chúa là Cha! 

T

rong những ngày qua, tôi được vinh dự đi theo cha mới, để giảng lễ mở tay cho ngài trong các cộng đoàn Việt Nam tại Anh Quốc. Tôi đã có dịp lần lượt đề cập qua các đề tài: (1) thân phận của Linh Mục, (2) sứ mệnh của Linh Mục, (3) niềm vui của Linh Mục, và nay dù muốn dù không, tôi cũng phải noí tới (4) đau khổ của linh Mục. Nói tới đề tài đau khổ tại thủ đô Luân đôn, dường như là không đúng chỗ. Nói tới đau khổ giữa ngày đaị lễ Giáng sinh, dường như là lạc đề. Nhưng ở chốn đô hội, người ta mới nhận diện đau khổ rõ ràng nhất; giữa những ngày Giáng Sinh, Chúa cũng đã thấy mập mờ cây khổ giá. Cuộc đời có hạnh phúc thì cũng có đau khổ. Cả hai chỉ là mặt phải và mặt trái của cùng một cuộc đời. Nói tới niềm vui mà không nói tí đau khổ là thiếu sót. Thiếu sót có thể đưa tới ảo tưởng, ảo tường có thể đưa tới thất vọng, Nói tới đau khổ, không phải để than thân trách phận, nhưng là hiểu nhau để dễ cộng tác với nhau. Nhưng thử hỏi, đau khổ của linh Mục bắt nguồn từ đâu ? Thưa, bắt nguồn từ trọng trách Chúa trao, mà thân phận mình yêú đuối. Thưa, đau khổ đó cũng bắt nguồn từ niềm mong đợi của giáo dân, mà khả năng mình giới hạn. 

1-    Trọng trách Chúa trao mà thân phận mình yếu đui. 

K

hi sai 12 tông đồ, cũng như 70 (72) môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giê-su đã truyền cho các Ngài phải giảng các điều Chúa giảng và phải làm các việc Chúa làm. Nhiệm vụ Chúa trao cho Linh Mục ngày nay vẫn thế, không có gì thay đổivề nội  dung: Giảng điều chúa giảng, và làm việc Chúa làm. Đó là một trách nhiệm nặng nề.

Chúa truyền giảng lời Chúa, nhưng Linh Mục thường xuyên bị cám do biến Lời Chúa thành lời mình, hoc lẫn lộn Lời Chúa cũng là cha. Cái hôn cùa Linh Mục trên sách Phúc Âm sau khi đọc có thể biến thành cái hôn của giuđa trên gương mặt Chúa. Đọc lời Chúa rồi dđi giảng lời mình, đôi khi phản bội hẳn lời Chúa. Mà kẻ phản bội, khi khám phá ra mình phản bội, sẽ đau khổ vô cùng. Nên khi giảng lời Chúa cũng có nghĩa là giảng về chân lý. Giảng chân lý không phải là chuyện đễ, vì tiền giả không dám mua, chân lý không dám bán. Tục ngữ vùng Slovien (Đông Âu) đã khuyên như sau: Trước khi nói thật hay giảng về chân lý, bạn hãy nên nghĩ tới một con đường thoát thân trước đã. Hãy mở một con đường máu trước khi nói. Thế nhưng sau khi giảng về chân lý, Linh Mục không được phép thoát thân mà còn phải ở lại để sống theo lời mình giảng, Chúa giêsu thường dậy điều Ngài sống, và sống điều Ngài dậỵ. Đó là một đau khổ lớn lao nhất cho Ngài. Nhưng dầu sao, đây cũng chỉ là thân phận chung của mọi người, mà linh Mục cũng chẳng hơn gì: nói dễ làm khó. Đã là người thì chưa phải là thánh và không thể là Chúa. Thế mà người đời lại thường hay đa nghi.bộ trưởng Kinh Tế Đức Quốc, Ông J. Moellermannco1 lần đã tuyên bố như sau: Ông ao ước được gặp Đức Giáo Hoàng để hỏi xem Ngài có thực sự tin những điều Ngài giảng hay không, những điều mà ông cho là phi lý. Đức Giáo Hoàng mà còn bị nghi ngờ như thế, huống chi là Linh Mục!

Nhiệm vụ Chúa trao cho Linh Mục là làm việc Chúa, cụ thể là các Bí tích. Nhưng nhiều giáo dân thời nay, nhất là tại Tây phương, đôi khi lãnh nhận Bí Tíchkhông phải vì cầu mong ơn ích của bí tích mà vì cái vẻ long trọng bề ngoài của Bí tích. Rước lễ lần đầu là để ăn mừng một bữa và để được quà tặng của cha mẹ, họ hàng. Đến xin cưới hỏi, để ít nhất một lần trong đời có dịp mặc áo trắng dài tha thướt. Xin lễ an tángđể khỏi mang tiếng bất hiếu với cha mẹ ... Tôi có thể ví Linh Mục thời nay ở xứ này giống như người có nhiệm vụ bán rượu Chúa trao. Nhưng khổ cho Ngài, vì có người không thích mua caí vỏ chai để chưng trong tủ kiếng, vì nó hào nhoáng! Cái muốn bán, khong bán được. Cái chẳng muốn bán, lắm người lại muốn mua. Đó không phải là nỗi khổ dẵn vật tâm linh sao ?

Còn nếu nói chung, thì làm việc Chúa không” nhàn” như việc đòi. Trong hàng giáo sĩ Việt Nam ngày xưa tháy truyền tụng câu này:” ăn cơm Chúa, múa tối ngày!” đó là một nét chấm phá khá trung thực công việc của một Linh Mục, Tu Sĩ tại Việt Nam vào thời xa xưa. Công việc của một Linh Mục, Tu Sĩ tại hải ngoại ngày nay có lẽ còn hơn nhiều. Có lần tôi nửa đùa nửa thật với một số giáo dân Đức như sau: ‘Chỉ khi nào tôi ngủ, thì may ra lúc đó tôi mới được an thân!’ Thế mà trên thực tế, tôi lại có cái kinh nghiệm khôi hài này: Nếu có ai gọi điện thoại ban ngày, mà tôi chậm nhắc ống thì câu hỏi đầu tiên của họ có thể là: sao? Cha đang ngủ à! Còn nếu tình cờ mà họ gặp tôi ngoài đường thì lại hỏi: Sao? Cha đang đi dạo à? Có lẽ họ tưởng suốt ngày tôi rảnh rỗi! Cái đau khổ thêm vào đó, là dù ‘múa tối ngày’ như thế, nhưng chẳng mấy khi thấy được chút thành công, bao nhiêu tổ chức, bao nhiêu hoạt động, mà cuối cùng kết quả cứ như Thánh Phêrô xưa, thức trắng đêm thả lưới mà vẫn không được con cá nào (Lc. 5,5). Có khi tôi dâng lễ ngày thường chỉ có vài người tham dự. Hiện nay tại nhiều nơi, người ta thường than trách rằng thiếu Linh Mục. Nhưng tôi nghĩ tình trạng đoàn chiên không người chăn cũng tang thương như tìng trạng người chăn thiếu đoàn chiên. Tình trạng mục vụ bây giờ chúng ta có thể đau khổ mà ví von rằng: Nhiều nơi không phải chỉ có một con chiên lạc và 99 con còn ở lại như trong Phúc Âm, mà là đã có 99 con lạc và chỉ còn lại 1 con mà thôi. Nhất là bên Giaó Hội Tin Lành, có nơi chỉ còn 1 phần trăm giáo dân tới nhà thờ vaò ngày Chúa Nhật! 

2 - Lòng mong đợi của giáo dân mà khả năng mình giới hạn. 

Đ

au khổ của Linh Mục cũng bắt nguồn từ lòng mong đợi của giáo dân mà khả năng mình giới hạn. Nếu căn cứ theo bản thăm dò ý kiến, người giáo dân hôm nay mong đợi gì nơi Linh mục, có lẽ không ai dám làm Linh Mục, mà có làm rồi, cũng có ngày đảo ngũ. Sự kiện càng ngày càng thiếu ơn kêu gọi có thể là vì nhiều thanh niên ngày nay sợ làm Linh mục. Họ sợ dấn thân. Vì họ không biết sau này mình có thoả mãn nổi lòng mong đợi của của mọi người hay không.

Người ta mong đợi nhiều nơi Linh Mục, vì người ta không phải là Linh mục. Giản dị và dễ hiểu. Tôi chỉ xin nêu ra vài trường hợp cụ thể như sau: Niềm mong đợi đáng sợ nhất có lẽ là: Linh Mục phải là người hoàn hảo, trong khi đó ai cũng biết” nhân vô thập toàn”. Thực chất Linh Mục vẫn là người. Trong một bữa cơm thân mật, một vị cao niên Việt Nam đã nói với tôi:” cha là Chúa mà!” tôi nghe mà giật  mình, vì chưa bao giờ nghe một câu như thế. Thấy tôi trầm ngâm suy nghĩ, vị đó lý luân thêm:” Cha thay quyền Chúa, nên Cha cũng như Chúa.”Lúc đó tôi mới hiểu vị ấy có ý nói gì. Vì quan niệm siêu phàm như thế, nên họ sẽ khó tha thứ, khi thấy Linh Mục phạm một lầm nỗi nào. Thí dụ mấy câu mà chúng ta thường nghe: Ông cha mà lôi thôi, ông cha mà lù khù, ông cha mà khoác lác, ông cha mà tiếu lâm!..Riết rồi người ta không còn để ý tới nhừng gì Linh Mục làm đúng nữa, mà chỉ còn để ý tới những gì ngài làm sai. Xin đan cử một thí dụ: Khi cha dọc Phúc Âm trôi chẩy, thì chả mấy ai để ý, bài Phúc Âm hôm đó nói gì; nhưng nếu cha mà cất hát sai trong Thánh Lễ, thì cả nhà thờ đều biết ngay. Cái gì Linh Mục làm đúng, người ta là chuyện bình thường; cái gì Linh Mục làm sai, người ta coi là chuyện dị thường.

Một niềm mong đợi khác là: Linh Mục phải là người của muôn người. Là một người của muôn người không phải dễ. Vì thí dụ, khi Linh Mục đi với thanh niên, có thể bô lão sẽ tủi phận; Khi đi với phụ nữ, có thể nam giới sẽ nghi nan; khi đi với trẻ con, có thể thanh niên sẽ h n dỗi... Nhiều khi tôi không khỏi phân vân, khi đi thăm giáo dân, nhất là các gia đình Việt nam, vì nếu vợ họ trẻ, tôi sợ mang tiếng vi vợ họ; còn nếu vợ họ già, có thể con gái họ đã lớn... Sống và làm việc sao cho khỏi bị hiểu làm là một điều hơi khó.

Vì là người làm việc cho dân và giữa dân, nên Linh Mục có người yêu mà cũng có người ghét. Linh Mục có bạn, thì Linh Mục cũng có thù. Giống như Chúa Giêsu: Ngài có bạn, thì Ngài cũng có thù. Chúa phán: đầy tớ không hơn chủ. Đi theo Chúa thì thông phần số phận với Chúa. Số phận đó chẳng Linh Mục nào thoát khỏi.

Trong đời Linh Mục ngài sẽ thấy mình được khen và bị chê đủ kiêủ. Cũng một Linh Mục ngài có thể nghe hai lời khên chê hoàn toàn mâu thuẫn nhau. Chỗ này có người khen ‘không ông cha nào tốt bằng ông cha đó’. Khi còn ở Việt Nam thì bị mang tiếng là ‘câp tiến’, ra tới ngoại quốc thì mang tiếng là ‘bảo thủ’. Khi còn ở Việt Nam thì bị kết án là ‘CIA’, ra tới ngoại quốc thì bị kết án là ‘Việt Cộng’. Làm việc cho người Việt nam thì mang tiếng là ‘phóng túng’, làm việc cho người ngoại quốc thì mang tiếng là lù khù’...

Người ta phê bình Linh Mục chưa đã, mà còn muống ngài phải biết hết những lời phê bình của người khác về ngài. Tôi đã gặp những người-Việt cũng như tây- khi họ xem được cuốn sách hay cuốn phim nào chống đối Giáo Hội, hoc bêu xấu linh Mục, Tu sĩ, thì liền khuyên tôi: ‘Cha nên xem ngay cuốn sách hay cuốn phim đó đi’. Họ đâu có biết rằng những loại sách và phim ảnh như thế thì vô số kể. Muốn xem cho hết, có lẽ tôi phải bỏ ra nửa đời người! Hoc khi họ kể chuyện về một Linh Mục khác, nhưng thực lòng là để dậy bảo hay dằn mặt vị linh mục đang ngồi nghe. Còn nếu xét theo việc làm và coi Linh mục không phải là một thiên chức nhưng là một nghề, như quan niệm Tây phương, thì Linh Mục làm một nghề ngược đời. Linh Mục không phải chỉ sống khác đời mà còn hành nghề ngược đời: Những ngày lễ nghỉ, người ta nghỉ việc thì mình lo làm tối mặt, lúc người ta làm việc, thì may ra mình mớ được nghỉ ngơi. Cho nên nhiều khi muốn gặp nhau mà không gặp được. Khi người ta nghỉ ngơi đến thăm mình, thì mình lại không có giờ mà tiếp; đến khi mình nghỉ ngơi đến thăm họ, thì họ lại lo làm. Thiện chí mấy rồi cũng sinh hiểu lầm.

Như chúng ta thấy, trách Chúa trao cho Linh Mục khá nặng nề, mà lòng mong đợi của dân Chúa cũng khó thoả mãn. Để có can đảm dấn thân xuốt đời, Linh Mục cần được Chúa ban ơn và cần có người hiểu mình. Tôi đã đưa ra một vài nhận xét cá nhân, đôi khi chỉ là những kinh nghiệm bản thân cò non nớt, không nhằm ý gì khác, ngoài ý để đôi bên hiểu nhau. Linh Mục có đau khổ của linh Mục, giáo dân có đau khổ của giáo dân. Nhưng nhũng đau khổ đó không phải chỉ có giá trị tiêu cực mà tích cực.Dưới lăng kính” học làm người”, đau khổ có giúp chúng ta trưởng thành. Dưới lăng kính đức tin, đau khổ đó cũng có giá trị cứu độ chúng ta và cứu độ anh chị em chúng ta. 

          3 - Giá trị của đau khổ 

Đ

au khổ giúp chúng ta trưởng thành. Một ngụ ngôn vùng sa mạc Sahara kể rằng: Có một anh chàng độc ác kia, một ngày nọ vào sa mạc, thấy có một cây chà là vừa mới lớn trong một khu rừng chà là xanh tươi bên ốc đảo, anh tinh nghịch nẩy ý đi tìm một hòn đá lớn rồi úp ngay vào lõi của cây chà là đó, cho nó chết chơi! Xong việc, anh bỏ về. Tôi nghiệp cho cây chà là, Nó cố vùng cẫy sao cho tung hòn đá xuống nhưng rồi cũng uổng công, hòn đá vẫn nằm nguyên đó. Cây cha là đành chịu vậy. Nó quyết định đâm rễ cho sau xuống đất và vươn mình cao. Chờ khi nào lớn mạnh rồi sẽ tính. Một thời gian sau, anh chàng tinh nghịch đó trở lại để xem coi cây cha là đã chết hay chưa. Nhưng tìm hoài chẳng thấy, chỉ thấy một cây cao lớn hơn những cây bên cạnh. Cao lớn dị thường. Tò mò, anh tiến lại. Nhưng cây chà là đó uốn mình xuống nói với anh rằng: Cám ơn anh, nhờ phấn đấu để đẩy cho văng hòn đá mà anh đã đặt trên đầu tôi, nên giờ này tôi đã cao lớn và xanh tươi thế này! Một lần nữa xin chân thành cám ơn anh.”

Đau khổ không phải chỉ giúp chúng ta trưởng thành, mà còn có giá trị cứu độ chúng ta. Có lẽ trong dịp chịu chức, nhiều người đã dùng cây thánh giá mà tặng cho cha mới. Tôi đọc được qua những tặng phẩm đó lời nhắn nhủ đi nhắn nhủ lại của Anh Chị Em, tuy âm thầm nhưng cũng rất mãnh liệt, đối với Tân Linh Mục như sau: Linh Mục không thể tách rời thánh giá Chúa Kitô, Xin cha hãy tin vào thánh giá và rao truyền thánh giá (1Cor 1, 23). Xin cha hãy hãnh diện vì thánh giá (Gal 6, 14). Xin cha hãy học hỏi nơi thánh giá và nhất là hãy sống với thánh giá, vì tách rời thánh giá Chúa kitô, linh Mục sẽ bứt xứng với chức vụ mình (Mt 10, 38); vì khi tách rời thánh giá chúa Kitô, sẽ không còn ơn cứu độ và sẽ không có ngày phục sinh. Vì nếu Chúa Kitô đã cứu chuộc nhân loại bằng cây thánh giá, thì Linh Mục cũng không thể thánh hoá mình và thánh hoá anh chị em mình ngoài cây thánh giá. 

Anh Chị em thân mến trong cùng môt Chúa là Cha!  

G

iờ đây chúng ta hãy thầm nguyện cho Tân Linh Mục: Xin cho ngài trọn  đời chỉ biết chọn Chúa(Col 3, 11), để thánh giá không trở nên gánh nặng cho ngài. Thánh giá và gánh nặng theo tôi rất khác nhau: Thánh giá có Chúa, gánh nặng không có Chúa. Khi mất Chúa, thánh giá sẽ trở thành gắnh nặng; trái lại, khi có Chúa, gánh nặng sẽ trở thành thánh gia. Thánh giá cứu độ chúng ta, còn gánh nặng đè bẹp chúng ta. Xin cho Tân Linh Mục trọn đời yêu thánh giá, vì thánh giá chỉ hiểu được bằng con tim, chứ không bằng lý trí. Xin cho Tân Linh Mục trọn đời nhìn thấy Chúa tử nạn trong anh chị em mình (Col 3,11), vì bộ mặt đôi khi khó thương của anh chị em mình cũng chính là bộ mặt thương khó của Chúa trong giờ Ngài tử nạn.

Hãy tiếp tục thêm lời cầu nguyện, cộng tác với Tân Linh Mục để ngài trọn đời sống trọn vẹn lý tưởng cây thánh giá với Chúa Kitô. Xin Chúa Kitô phục sinh qua con đường thánh giá cũng luôn khích lệ mỗi người chúng ta. Xin Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng đã sinh ra trong cơ hàn, đã chịu đau khổ và chịu chết trên cây thánh giá để cứu độ chúng ta, cũng giúp mỗi người chúng ta biết can đảm vác thánh giá là đau khổ của mình, để cứu rỗi chính mình và cứu rỗi anh chị em mình. Amen