|
Chẳng cần phải tranh luận nữa, chức Linh Mục Công giáo đang trong tình
trạng khủng khoảng. Tuy nhiên có nhiều người không đồng ý về những dự
đoán u buồn là chức Linh mục sẽ tàn tạ. Cha Bill Bausch đã viết cuốn "
Cha ơi, hãy lấy lại tinh thần" (Xuất bản lần 23 năm 1991 ), cho rằng
những dấu chỉ "Tất cả đều cho thấy là sinh lại, chứ không lụi tàn, và
trong cuộc sinh lại này, chúng ta được chọn là những bà đỡ". Nhà thần
học nổi tiếng Benard Haring viết :
" Phải phân biệt giữa
khủng hoảng là một biểu hiện xuống dốc và khủng hoảng là một dấu hiệu
phát triển ( hay một cơ hội để có một sự phát sinh mới ). Mười năm sau
Cộng đồng Vatican, một Linh mục Tây Ban Nha phục vụ cho Nam Mỹ, dưới
sự hướng dẫn của tôi, đã viết một luận án tiến sĩ, về khủng hoảng đời
Linh mục không thể chối cãi được. Cha đã kết luận rằng sự khủng hoảng
này rất có thể biến thành một sự khủng hoảng triển nở, nếu sự huấn
luyện và tinh thần Linh mục được hiểu và được khai triển theo mẫu mực
của Hiến chế Mục vụ Công đồng “Giáo hội trong Thế giới hôm nay" (Báo
America 21 / 9 / 1996, trang 19 )
Cuộc khủng hoảng Linh mục có thể đưa đến một hướng khác và theo nhận
xét của những nhân vật đặc biệt kể chuyện trong tập sách này thì hình
như sự thiếu thốn Linh mục trình bày cho chúng ta một cơ hội để triển
nở, để đổi thay, một khám phá quan trọng trong công cuộc mở mang Nước
Chúa.
Trong dư luận tiêu cực về chức Linh mục, ai đã có thể tiên đoán được
kết quả sau cùng của hai cuộc thăm dò dư luận quốc gia năm 1994 : Một
của báo Los Angeles Times và một của Văn Phòng Linh Mục Liên Bang ?
Những cuộc thăm dò này trình bày một hình ảnh Linh mục khác xa với
những cuốn sách, những bài báo đã mô tả Linh Mục là người bất đồng với
Đức Giáo Hoàng, không thích Đức Giám Mục của mình, muốn lập gia đình
và không muốn chọn đời sống Linh mục nữa nếu được chọn lại .
Trong tháng 7 và 9 / 1994, cha Andrew Greenly là một Linh mục Tổng
giáo phận Chicago và là một giáo sư đại học Chicago và Arizona. Ngài
đã viết hai bài cho báo America rút từ những kết luận của hai cuộc
thăm dò trên. Cha Greenly đã khám phá những kết quả trái ngược với
hình ảnh Linh mục Hoa Kỳ thường được vẽ vời. Đây là những kết luận của
Cha :
1. Cuộc khủng hoảng luân lý đời Linh mục được bàn luận nhiều là không
có. .
- 70% nói rằng họ nhất quyết chọn lại đời Linh mục.
- 20% nói họ có lẽ chọn.
2. Độc thân hình như không là vấn đề mà thường cho là vấn đề, song
không có bằng chứng.
- Chỉ 4% nói họ lập gia đình nếu Giáo hội cho phép.
3. Linh mục thường thoả mãn với công việc các Ngài đảm nhận.
4. Phần đông các Linh mục đề cao sự lãnh đạo của Giáo hội.
- 80% ủng hộ công việc của Đức Giám mục mình.
Chúng tôi, tác giả của tập sách này, một là Giáo sĩ, một là giáo dân,
tin rằng tập sách có giá trị khi trình bày đầy đủ chi tiết những điều
mà các Linh mục hạnh phúc nghĩ về ơn gọi của mình. Chúng tôi tin công
việc này có ích cho những ai đang suy nghĩ về ơn gọi Linh mục, cũng
như cho các bậc cha mẹ. Linh mục, tu sĩ và tất cả nhữngd ai nâng đỡ và
ảnh hưởng trong những lựa chọn này, cùng tái xác nhận sự cần thiết của
Linh mục trong vườn nho Chúa.
Để có được tập sách này, chúng tôi đã đi khắp mọi miền nước Mỹ, cả ra
ngoài biên giới và phỏng vấn hơn 40 Linh mục. Câu chuyện của các Ngài
rất thú vị và phong phú, đến nỗi công việc gợi hứng và chép lại những
cuộc phỏng vấn rất dễ dàng so với sự khó khăn chọn lựa lấy 34 chuyện
và bỏ bớt hơn 752.000 lời để xuất bản. Chúng tôi chọn các Linh mục
trong những lãnh thổ khác nhau : Ở 16 tiểu bang, ở thủ đô, Canada và
Tân Tây Lan, trong những thẩm quyền khác nhau : 10 dòng, 24 triều;
trong lứa tuổi khác nhau : 16 chịu chức trước 1960, còn lại là sau
1960; trong sứ vụ khác nhau : quản xứ, phó xứ, Giám mục, quản trị viên,
chuyên viên, hoạt động viên.
Bạn đọc cẩn thận đừng vội cho rằng những gì được trình bày nơi đây là
cố gắng định nghĩa về chức Linh Mục hay ngay cả những gì mà một Linh
mục nào có thể viết nếu Ngài phải viết nhật ký.
Để kích thích và đề xuất những cuộc phỏng vấn, chúng tôi soạn một số
câu hỏi để có thể bao trùm mọi khía cạnh khác nhau của đời Linh mục.
Có vài vị đã theo thứ tự các câu hỏi hơn các vị khác. Vì bản chất của
để tài thảo luận và những nét giống nhau của cuộc sống và công việc,
nên có một số trọng điểm của tập sách. Chúng tôi chọn một số trọng
điểm làm rõ sự khác biệt của nhiệm vụ, tài năng cũng như niềm vui và
thoả mãn trong chức Linh mục.
Những chuyện kể đôi khi gây ngạc nhiên, đôi khi là những gì chúng tôi
mong đợi, song chẳng bao giờ tầm thường. Đây thật là những chuyện phi
thường do những con người tầm thường dấn thân vào những công việc
thiết yếu và khó khăn. Đây là những chuyện biểu lộ lòng ước vọng và
thoả mãn sâu xa được phục vụ Chúa Kitô qua tha nhân.
Những phản ảnh của các vị lột bức màn che lấp đời Linh mục, cho chúng
ta - giáo sĩ và giáo dân - một cơ hội để nghe các Ngài trình bày trung
thực cuộc đời các ngài, có nỗi vui cũng như nỗi buồn. Chúng ta nhận ra
rằng nước thánh không chảy trong mạch máu các ngài, rằng các ngài cũng
như tất cả chúng ta phải đối đầu với cuộc sống bằng những nghi ngại,
khó khăn, thất đảm, đồng thời cũng nhận ra rằng niềm hy vọng vào Chúa
Kitô hằng ngày nâng các Ngài lên.
Chúng ta tự hỏi tại sao các vị lại tình nguyện và tiếp tục sống đời
độc thân, trong khi bản tính tự nhiên là có con cái ? Chúng ta lại hỏi
độc thân có gía trị gì để đem Chúa đến với dân và đem dân đến với Chúa
? Mỗi Linh mục mà chúng tôi phỏng vấn đều nói vấn đề này một cách ngay
thẳng. Để tránh những lập lại không cần thiết, chúng tôi không chọn in
mọi bình luận; thay vào đó chúng tôi chọn những gì là loại biệt hay
những gì tăng thêm chiều kích cho vấn đề. Chúng tôi xin thông báo là
chẳng có một Linh mục nào bày tỏ ước ao lập gia đình, ngay cả khi sự
độc thân được cởi bỏ. Đồng thời những cái nhìn của các ngài về tương
lai sự độc thân rất đáng suy nghĩ và hấp dẫn.
Luôn luôn, cả khi sáng sủa, cả khi mờ tối, Thánh Thần rõ ràng ở trong
các câu chuyện. Chúng tới ngạc nhiên tại sao các vị có thể mở cõi lòng
và nói ra tất cả những gì thâm sâu nơi tim óc các Ngài. Các chuyện vừa
cảm động vừa xây dựng với bao kinh nghiệm thiêng liêng.
Có một đề nghị đặt tên cho tập sách này là " Trèo lên cây" ( Climb a
Tree 0 . Câu chuyện của Tin Mừng Luca kể ông Dakêu, một nhà thu thuế
giàu có từ Giêricô, không thể nhìn thấy Chúa trong đám đông. Vì lùn,
nên ông đã trèo lên cây sung để được nhìn thấy Chúa đi qua. Mỗi Linh
mục là một Dakêu. Theo kiểu nói của cha Francis J. Feeney, Linh mục
với các tài năng khác nhau, “một mình leo lên cái cầu cất và bước trên
những bậc thang hẹp" để có được cái nhìn trong suốt về Chúa Giêsu.
Những Cuộc Đời Ngoài Hạng diễn tả kết quả cuộc leo trèo của các Ngài.
Nếu không có ai muốn đọc những câu chuyện này, chúng tôi nghĩ cố gắng
của chúng tôi hình thành và xuất bản cũng đủ. Khi xuất bản, chúng tôi
cũng tin tưởng là bạn sẽ lướt qua những cuộc đời tích cực của các Linh
mục và có những cơ hội trình bày cuộc khủng hoảng chức Linh mục Công
giáo.
Francis P. Friedl
Rex V . E . Reynolds
" Giảng xong Đức Giêsu bảo ông Simon : Chèo ra chỗ nước sâu mà thả
lưới bắt cá". Ông Simon đáp : " Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt
đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới".
Họ đã làm như vậy và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả
lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp.
Những người này tới, và họ đã đổ lên đuợc hai thuyền đầy cá, đến gần
chìm" ( Lc. 5,4 - 7 )
Một đề tài xuyên suốt hầu hết các câu chuyện trong tập sách này, đó là
Ơn gọi Linh mục phục vụ Giáo xứ, ơn gọi là mục tử. Có lúc có người
nghĩ những thánh vụ khác trong Giáo hội đẹp hơn và có khi quan trọng
hơn là sự phục vụ của một mục tử đoàn chiên. Song linh mục xứ là Linh
mục cơ bản Ngài là người giao tiếp thường xuyên, hướng dẫn và phát
triển cộng đồng đức tin. Ngày ngày, tuần tuần Ngài ở đó. Ngài ở đó để
rửa tội, giải tội, chứng hôn, an ủi người buồn khổ, an táng cho người
qua đời, tham gia vào cuộc sống thường ngày của tín hữu. Linh mục xứ
là máng trực tiếp nhất từ Thiên Chúa và Giáo hội. Nhưng câu chuyện của
6 Limh mục dưới đây nói về một vài đường lối để chu toàn cuộc sống của
một Linh mục xứ.
Đức ông Michael Heras sinh tại El Paso, Texas. Ngài theo học Đại học
Bắc Mỹ ở Roma. Chịu chức Linh mục năm 1984, phục vụ Giáo phận Corpus
Christi, Texas. Hiện nay Ngài là mục tử của Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu
Giúp.
Trong vòng 3 năm, Ngài đã xây dựng lại Giáo xứ : Từ xuống dốc thành
tiến lên. Từ khi ngài về, Giáo xứ lớn rộng gấp đôi và trường học phát
triển cả phẩm lẫn lượng. Những người trong Giáo xứ bảo : Ngài không
chỉ đơn thuần là một mục tử mà còn là người bạn của họ. Các hoạt động
nở rộ. Chiều về, mọi căn nhà trong khuôn viên Giáo xứ đầy người tham
dự những lớp học hỏi Thánh Kinh, dự các giờ cầu nguyện, hay trang trí
nhà thờ tùy theo mùa phụng vụ.
Khám phá ra một mục tử thành công trong xây cất và tạo lập Giáo xứ
không khó. Khám phá ra một mục tử hiện thân từng phút cuộc đời cho
công việc không phải là bất ngờ. Khám phá ra một mục tử hạnh phúc
trong công việc chẳng phải là lạ lùng. Câu chuyện dưới đây giúp chúng
ta tìm ra khuôn mặt của một mục tử có đủ những phẩm tính đó và niềm
vui của Ngài sưởi ấm tâm hồn các thành viên của Giáo xứ. Lời ca ngợi
Giáo
xứ dành cho Ngài đã tăng thêm nghị lực cho Ngài mỗi ngày.
Tôi đựơc giáo dục để trở thành một người Công giáo thuần thành. Ngay
từ tuổi thơ, chúng tôi đã được cha mẹ hướng dẫn đến với Chúa Giêsu,
Đức Mẹ và các thánh. Chúng tôi luôn có những giờ cầu nguyện ở nhà và
không bao giờ bỏ tham dự Thánh lễ. Tấm ảnh trái Tim Chúa Giêsu đặt ở
đầu giường cha mẹ tôi đầy lòng xót thương và trìu mến đến nỗi như chúc
phúc cho gia đình tôi. Tấm ảnh đó bây giờ tôi treo trong nhà xứ để
nhắc nhớ tôi những ngày tháng lớn lên trong gia đình. Hồi 5 tuổi,
thỉnh thoảng tôi ước ao làm Linh mục. Tôi hay lấy bánh mì và
nước Kool - Aid làm lễ với bọn nhóc khu phố, thậm chí cả ngồi toà giải
tội. Tôi học trường Chúa Kitô Vua ở Corpus Christi. Hồi lớp 4, lớp 5,
tôi nghĩ Chúa gọi tôi.
Thời kỳ gay cấn nhất là ở chủng viện, vì phải phấn đấu để vượt qua sự
chống đối của cha tôi. Cha tôi lấy làm mắc cỡ, rối trí và tức giận vì
ơn gọi của tôi mãi tới ngày tôi chịu chức Linh mục. Tại sao vậy ? Tôi
nghĩ đó là vì sự duy trì dòng giống, một truyền thống xã hội. Càng lớn
lên tôi càng hiểu. Cha tôi muốn có cháu chắc nối dõi. Dường như người
cho rằng tôi bị lừa đảo, bị quyến dụ chứ không phải là lý tưởng của
tôi. Thật tuyệt, má tôi đã thận trọng nâng đỡ tôi. Mãi về sau người đã
hỏi : " Con có được hạnh phúc không ?". Tôi không nhận được sự nâng đỡ
toàn lực của mẹ tôi. Đám mây mù đó bao phủ suốt đời ở chủng viện. Tôi
đã thưa với cha mẹ : " Con không thể sống cuộc sống của con vì cha mẹ
và cha mẹ cũng chẳng thể sống cuộc sống của con vì con". Tuy nhiên
thiếu sự nâng đỡ, quyết định của tôi trở nên thật khó khăn. Để thực
hiện quyết định này, tôi phải cố gắng làm việc, làm hết sức mình. Điều
để tôi có thể đi tới cùng là lòng yêu thương và nâng đỡ của cha mẹ thì
tôi nào đâu có có ? Vậy là tôi phải tìm nơi đời sống thiêng liêng.
Cha tôi từ chối dự lễ thụ phong của tôi. Người còn khoá cửa không cho
má và em tôi đi. Các ngài phải lén lút đi lối sau. Khi tôi cử hành lễ
tạ ơn vào " ngày hiền phụ" mà cha tôi cũng không đến. Thật là khó khăn
cho tôi. Sau một năm rưỡi, tôi được sai làm Cha sở Giáo xứ Mẹ Vô Nhiễm
ở Gregory, một tỉnh nhỏ về phía bắc. Người dân xứ bắt đầu tiếp xúc với
cha tôi. Họ cầu nguyện. Họ mời người tham dự các buổi họp mặt. Họ mời
người vào hội Vinh Sơn. Dần dần người trở nên khoan dung. Người không
nói chuyện với tôi, song tôi được phép nói với người. Tôi thường nói :
" Cha, con yêu cha, tại sao cha không nói chuyện với con ?". Tuy chậm
song chắc, người bắt đầu khởi động.
Rồi vào một ngày tháng 11, tôi không thể quên. Tôi dậy muộn. Tóc tai
rối bù. Tôi đã có cuộc hợp Hội đồng Giáo xứ. Đức Cha Gracida gọi tôi
ra khỏi phòng họp và nói : " Cha Michael, cha là một vị Linh mục trung
tín, trung với tôi và với Đức Thánh Cha. Cha hăng hái làm việc. Tôi
vừa nhận được tin : Đức Thánh Cha phong tước Đức Ông cho Cha". Tôi ngỡ
ngàng, lễ phong vào ngày Lễ Mẹ Vô Nhiễm 8 - 12. Cha tôi đã đi lễ, đã
rước lễ, đã quì và đã cầu nguyện. Người còn mỉm cười. Năm tháng sau
người qua đời. Hiện nay tôi gặp một vài khó khăn về việc điều hành,
không phải là chuyện cá nhân, song rất tế nhị. Tôi tin cha tôi đang
bầu cử giúp tôi có những quyết định sáng suốt về những khó khăn này.
Ngày nay tôi rất biết ơn về chuyện người thay hướng đổi lòng.
Tôi được sai đến Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp". Giáo xứ có vấn đề,
nhưng tôi không rõ vấn để gì. Chừng 1.100 gia đình ghi danh, nhưng chỉ
có 1. 500 người dự lễ cuối tuần. Trường học thì thiếu tài chánh. Có
những vụ kiện chống lại nhân viên Giáo xứ. Giáo xứ nợ 633.000 đô la.
Dân chúng từng nhóm rời xa. Chỉ còn 4 lễ cuối tuần. Năm trước trường
học mất đi 35 gia đình. Đây là một địa điểm Cha sở cố gắng tránh dây
mình vào, song tôi thấy đó là một sự thách đố. Mặc dầu đây là một Giáo
xứ đa số nói tiếng Tây Ban Nha, nhưng chẳng có gì quan tâm đến họ.
Ngày nay chúng tôi có 7 thánh lễ cuối tuấn. Chúng tôi có một nhóm tình
nguyện hoạt động cho người nói tiếng Tây Ban Nha. Gần 2.500 gia đình
ghi tên gia nhập giáo xứ và suýt soát 4.000 người dự lễ. Ngân sách
tăng lên 110.000 đô la một năm và nợ nần giảm được 30%. Nhà trường có
nhiều tiền hơn và hằng năm thâu nhận các học sinh mới. Chúng tôi có đủ
tiền để giúp đỡ những giáo xứ khác. Chẳng hạn giúp một giáo xứ bị tàn
phá bởi trái bom phát nổ ở Oklahoma : 5.000 đô la, thực phẩm, kẹo bánh,
quần áo …
Công việc cính của Giáo xứ là gia đình. Chúng tôi có một nhóm
trẻ học hỏi Kinh Thánh. Chúng tôi quan tâm làm việc với nhóm để khơi
dậy sự hiệp nhất và liên kết gia đình. Ơn gọi sẽ gia tăng, nếu chúng
tôi tiếp tục thăng tiến các gia đình thêm vững mạnh.
Trong công việc đôi khi tôi cũng gặp những lúc rất nhiêu khê, nhưng
với sự giúp đỡ của giáo dân đã trở nên tốt. Sự kiên nhẫn, tử tế,
tế nhị, quảng đại, hiểu biết của giáo dân tạo cho Cha sở một kinh
nghiệm rất quý. Tâm hồn tôi được thanh thản trong đời Linh mục đến nỗi
tôi không cần tìm bất cứ sự gì khác. Tôi có thể gần gũi với người giáo
dân của tôi từ đầu đến cuối đời họ, cả những lúc cao điểm. Linh mục
trở thành một yếu tố trong sự hình thành đời họ. Dường như tôi đã được
sinh ra để làm Linh mục. Tôi muốn hiến đời tôi cho họ. Tôi gặp nhiều
khúc khuỷu cuộc đời, dầu đôi khi đen tối, nhưng tất cả trở thành những
lúc thú vị lạ lùng.
Khi hiệp nhất, giáo dân có thể làm được mọi sự. Đảm nhận Giáo xứ đầu
đời Linh mục, tôi phải đứng về phía Giáo hội chống lại một luật của
thành phố bán rượu cho trẻ dưới vị thành niên. Rõ ràng đó là một đại
hoạ cho cộng đoàn Pima. Giáo dân đã cương quyết phản đối. Kết quả đạo
luật bị bãi bỏ. Điều đó chứng tỏ rằng Giáo hội có một vị trí năng động,
tích cực trong xã hội. Nay ở Corpus Christi, một thành phố 400.000 dân,
chúng tôi đã bắt phải đóng cửa một bệnh xá phá thai, nhờ áp lực liên
lỉ của phong trào bảo vệ sự sống. Toà nhà này đang treo bảng bán.
Giảng huấn
cực kỳ quan trọng trong mục vụ Giáo xứ. Tôi dùng nhiều giờ để soạn
từng bài giảng. Tôi cầu nguyện, tôi toát mồ hôi, tôi căng thẳng. Tôi
đánh máy phát cho giáo dân khi giảng, tôi không thích nhìn vào bản văn,
mà muốn nhìn thẳng vào khuôn mặt họ. Tôi cầu xin Chúa ! " Xin Chúa
đừng làm ngừng lại những điều Chúa muốn con nói cho dân". Đôi khi bài
giảng của tôi rất dở, song đôi khi giáo dân cho là hay.
Tôi thường được bạn bè Linh mục làm cho tiến bộ hơn và tôi
thích làm việc chung. Chẳng lâu đâu, một trong những người bạn Linh
mục thân nhất của tôi gặp phải khó khăn vì một nữ giới. Chúng tôi coi
nhau như anh em. Chúng tôi thảo luận lâu giờ. Tâm hồn Ngài bị xé ra
hằng trăm mảnh bởi sự giao tiếp đó và Ngài rất khổ. Chẳng thể bảo Ngài
: " Tôi hiểu, chúng ta là những chàng độc thân đáng thương, song cần
sự dứt khoát”. Tôi xác định vậy, nhưng sợ làm Ngài khó chịu. Nhưng rồi,
tôi đã nói với Ngài rằng đây là lúc phải chôn nó xuống và làm lại cuộc
đời. Và xin Ngài đi xưng tội. Ngài đã làm như tôi nói. Ngài xúc động
không thể cầm mình được và Ngài đã khóc. Ngài về xứ. Ngài làm lại mọi
sự. Bây giờ Ngài là một Linh mục đáng kính. Ngài đang giữ một nhiệm vụ
quan trọng. Điều này chẳng xảy ra nếu tôi nói với Ngài đừng bận tâm,
chúng ta đều gặp khó khăn giống nhau. Ngài đã đi tìm sự an ủi. Tôi đã
cho Ngài sự an ủi. Nhưng Ngài cũng muốn tìm một sự thực tế và tôi cũng
phải cùng Ngài đương đầu như thế đó.
Độc thân
vừa là đặc sủng, vừa là động lực bác ái của mục tử. Tôi có thể nói dối,
nếu tôi không nhận rằng : tôi cũng muốn hưởng một sự giao tiếp thân
mật ấm áp. Song đó là sự thất bại. Nên tôi phải chú tâm và dồn năng
lực của tôi cho giáo dân tôi. Nhờ vậy tôi đã có thể làm được nhiều
việc.
Cha linh hướng và giải tội của tôi có đặt trên bàn giấy một cuốn sách,
trong đó có câu hỏi này : " Ngày nào đẹp nhất trong năm ?". Sách cũng
gợi ý có thể là ngày sinh nhật của bạn, ngày lễ Giáng sinh hay là vài
ngày đặc biệt nào đó ? Song câu trả lời là “Ngày hôm nay. Hôm qua đã
qua đi. Ngày mai thì chưa chắc đã tới. Chỉ có ngày hôm nay mới có giá
trị". Hôm nay có phải là thời điểm tốt để làm Linh mục không ? Câu trả
lời của tôi là phải, hôm nay. Tôi không thể sống lại với quá khứ và
cũng sẽ chẳng sống với tương lai. Hôm nay là thời gian. Chúa đang ban
cho tôi, là thời điểm tốt để sống, và rất tốt để làm Linh mục.
Mười năm sau khi làm quản xứ, tôi rút ra được 2 kết luận : ' Thứ nhất
là : Chúa yêu dân Người. Dầu tôi bất xứng, yếu đuối, thất bại, Chúa
vẫn giao tiếp với họ qua tôi. Nếu Chúa yêu họ như vậy, thì sao Chúa
lại chẳng yêu tôi như vậy ? Thứ hai là : muốn là một Linh mục tốt,
điều cần nhất là yêu và ở trong tình yêu với Chúa và với dân Chúa. Nếu
tôi sống được như vậy, tôi không thể đi trệch đường, Kitô giáo là hình
thức lành mạnh và tình yêu giữ chúng ta được lành mạnh.
Cha Toma Anglim sinh ngày 15/ 11/ 1928 tại Conty Clare, Ái Nhĩ Lan;
thụ phong Linh mục năm 1954, phục vụ Giáo phận Thánh Augustinô, tiểu
bang Florida. Ngài có lòng sùng kính đặc biệt Thánh Phanxicô Xaviê.
Chúng ta chẳng biết là Ngài được sai đến một Giáo xứ mang tên vị thánh
mà Ngài kính sao ?
Cha là một con người vui tính, đạo đức sâu xa, nhiều khả năng, thực tế
và hiểu biết về những đổi thay của công đồng Vaticanô II. Cha chu toàn
đều đặn kinh nguyện hằng ngày. Hiện Ngài dựng một nhà nguyện trên tầng
lầu của nhà xứ, để hằng ngày đến cầu nguyện hằng giờ, hầu được đổi mới
mà đảm nhận một Giáo xứ rất nhiều công việc.
Chúng ta có thể nói về con người Linh mục này bằng cách kể ra những
đoàn thể mà Ngài phục vụ : gia đình, giới trẻ, người già, bà mẹ không
hôn phối, sắc tộc, Linh mục bạn, và cả với Chúa trên nhà nguyện. Câu
chuyện của Cha là câu chuyện của người mục tử hôm nay. Đây là chứng từ
đầy thuyết phục rằng sống đời Linh mục chẳng có thời nào tốt hơn thời
bây giờ .
Tôi lớn lên trong một ngôi làng quê nhỏ của Feakle ở Ái Nhĩ Lan. Cha
mẹ tôi rất nghèo. Cha tôi là công chức. Mẹ tôi chỉ là nội trợ. Bà rất
đạo đức nên đã giáo dục con cái có một đức tin căn bản. Đời sống của
làng tập trung quanh nhà thờ. Chúa nhật chẳng có ai đi làm. Mọi người
đều mặc áo đẹp nhất chẳng những để đi lễ mà còn mặc suốt ngày.
Độ 15 tuổi, tôi suy nghĩ về lý tưởng ngày mai. Thời đó ở Ái Nhĩ
Lan, Linh mục được coi là quà tặng của Thiên Chúa. Tôi đã theo học 7
năm ở chủng viện Munget, do các Cha dòng Tên điều khiển. Các tuyển
sinh đến thăm chủng viện từ khắp nơi tới : Úc, Anh, Mỹ, Khi Đức Cha
O’Donovan, từ Giáo phận Thánh Augustinô đến Munget nói chuyện. Ngài
khuyến dụ tôi và một bạn lớp khác đăng ký gia nhập Giáo phận của Ngài.
Sự chọn lựa này tôi chẳng bao giờ hối tiếc.
Năm thứ hai Đại chủng viện, tôi bắt đầu nghi ngại về ơn gọi của tôi,
Tính tôi nhút nhát, nên khi nghĩ đến việc đứng trên toà giảng mà giảng
làm tôi sợ. Tôi nói với Cha linh hướng tôi phải bỏ ơn gọi. Sau khi
nghe tôi trình bày lý do, Ngài bảo : “Những lý do của thầy không chính
đáng". Ngài bảo tôi phải vâng lời. Tôi vâng lời và không xuất tu nữa.
Từ đó, tôi không còn thắc mắc về ơn gọi. Song tôi vẫn luôn nhắc lại sự
chọn lựa này để yêu mến chức Linh mục.
Năm 1958 Giáo phận thánh Augustinô được chia. Miami trở thành Giáo
phận mới. Đức Cha Colman Carroll, Giám mục Miami, kiếm tìm các Linh
mục để thiết lập các Giáo xứ mới. Ngài chỉ định tôi làm quản xứ của
giáo xứ đầu tiên mới lập, xứ Đức Mẹ Mân Côi ở Perrine. Chẳng bao lâu
Giáo xứ trở thành điểm nóng. Trong cuộc khủng hoảng hoả tiễn ở Cuba,
hàng trăm xe quân sự đổ về xa lộ gần nhà thờ. Ai nấy sợ cuộc tấn công
nguyên tử. Ngày cuối tuần hôm đó tôi giải tội từ 7 giờ chiều, mãi tới
nửa đêm mới hết người.
Năm 1966 Cha sở xứ thánh Phanxicô Xaviê, đồng thời là khoa truởng của
một phân khoa bị rơi từ một ngọn núi ở Colorado và qua đời. Đức Cha
bảo tôi thay thế. Tôi không thích rời miền biển phía Tây này, nhưng
tôi phải vâng lời, và tôi đã ở đây gần 30 năm. Năm 1983 Giáo phận
Venice, Florida được thiết lập, xứ Thánh Phanxicộ Xaviê thuộc Giáo
phận mới. Tôi được mời làm Tổng đại diện. Tôi giữ công việc này hơn
10 năm.
Khi mới đến, xứ Phanxicô Xaviê không lớn, nay thì lớn rồi. Đã có 3.600
gia đình nhập xứ, còn 1.000 thì chưa. Ngôi trường nhỏ bé đã trở thành
lớn nhất Giáo phận với 640 học sinh. Nhiều người già cả cần sự giúp đỡ
cả về tinh thần lẫn vật chất. Chúng tôi đã xây ngôi nhà Phanxicô gồm
60 phòng cho họ. Chúng tôi không xin tiền già, nên không thuộc quyền
điều hành của chính phủ. Tiền thuê nhà cho phép nợ. Thật là hữu ích
cho họ. Giá thuê vừa phải, vừa túi với những người có lợi tức cố định.
Ngôi nhà có một nhà nguyện. Họ có thể dự lễ mỗi sáng. Ba Linh mục và
hai ba nữ tu cũng hưu ở đây. Tuổi đã xế chiều, được sống trong môi
trưòng đạo đức rất là quan trọng.
Chúng tôi cũng xây được một ngôi nhà cho các bà mẹ không kết hôn. Được
chừng 15 năm rồi. Người điều hành và thư ký thì trả lương, còn lại thì
tình nguyện phục vụ. Các bà ở đây đã sinh hơn 50 con.
Có một số người từ Haiti đến. Đức Cha bảo cần có một nhà thờ và trung
tâm giúp họ trước khi họ hoà nhập chung vào xã hội Mỹ. Nên chúng tôi
đã mua lại một nhà thờ Tin Lành bỏ trống, cách nhà xứ vài dẫy nhà.
Trong số 4 Linh mục, có một Linh mục người Haiti vừa được chịu chức.
Ngài điều hành những người Haiti này.
Theo nhận xét của tôi, nhiệm vụ đầu tiên và cơ bản nhất của Linh mục
là rao giảng Lời Chúa. Để làm tốt nhiệm vụ này, phải là một
người có chiều kích thiêng liêng. Giảng dạy là phần quan trọng đời mục
vụ của tôi. Mỗi bài giảng tôi điều soạn cẩn thận. Rõ ràng là giáo dân
thích thú. Họ đã nói với tôi như vậy. Phần quan trọng của bài giảng,
mà thường bị quên lãng, là Linh mục phải sống những gì mình giảng. Nếu
giáo dân thấy đời sống Linh mục trái với những lời Ngài giảng, thì cho
dầu là một nhà giảng thuyết lợi khẩu, cũng mất hết tác dụng. Ngài cần
giảng về Phúc Âm và dân chúng thấy là Ngài đáng sống sứ điệp ấy. Tôi
được thụ phong là vì lý tưởng này. Nhiệm vụ của tôi là giúp giáo dân
nên thánh. Tôi không thể chu toàn nhiệm vụ này, nếu tôi không nên
thánh. Để đạt được điều này thì phải có nhiều giờ cầu nguyện.
Gia đình có các con nhỏ cũng cần sự nâng đỡ đặc biệt. Một phần tư
trong số học sinh của chúng tôi có cha mà không có mẹ hay ngược lại.
Chúng tôi có một người suốt ngày lo cho các em và những gia đình này.
Khi con cái của học được chuẩn bị rước lễ lần đầu, chúng tôi xin cha
mẹ cũng theo con cái đến. Hai tối qua, có hàng trăm cha hay mẹ đã đến.
Ngày nay có phải là thời khó khăn cho các Linh mục ? Tôi không
tin là khó như thời các Thánh Tông Đồ và thời Chúa Giêsu. Không ai bị
yêu cầu sống cảnh khó khăn như Chúa Giêsu. Nếu có thì thật tốt, bởi vì
các ngài được đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Xã hội chúng ta thấm
nhiễm sắc dục. Truyền hình, phát thanh, báo chí và cuộc cách mạng tình
dục đòi hỏi Linh mục phải có đời sống thiêng liêng vững chắc. Nếu
không sẽ phải đầu hàng ra đi.
Một cảnh rất đau lòng xảy ra khi tôi làm Cha sở xứ Thánh Tâm ở Lake
Worth. Một thanh niên đã bắn mẹ anh và cả vợ anh, rồi leo lên tháp đại
học Texas xả súng vừa bãi vào các sinh viên. Anh đã sát hại 16 người
tất cả. Gia đình anh thuộc Giáo xứ tôi. Anh của anh lại là giảng viên
giáo lý. Gia đình yêu cầu làm lễ an táng cho mẹ và con trong nhà thờ.
Giới truyền thông tường thuật đầy đủ chi tiết thảm cảnh. kể cả việc có
thể không được làm lễ an táng trong nhà thờ. Trong khi đó Đức Cha và
tôi đang cùng thảo luận về lời yêu cầu của gia đình cùng các hệ luỵ
của nó. Công việc giải phẩu cho biết chàng thanh niên có một khối u
trong não, ý kiến của bác sĩ cho rằng khối u đã tác động vào những
hành vi này của anh. Chúng tôi quyết định làm lễ an táng trong nhà thờ.
Điện thoại từ các nhân viên truyền thông tràn ngập đến với tôi. Họ bảo
làm sao có thể làm lễ cho một tên sát nhân. Chừng 200 đại diện truyền
thông tụ họp chung quanh nhà thờ. Chúng tôi không cho họ vào nhà thờ.
Chúng tôi viết một bản văn giải thích tại sao chúng tôi làm lễ an táng
cho người thanh niên. Chúng tôi nhận hằng trăm lá thư, nhiều lá chỉ
trích quyết định của chúng tôi. Làm sao có thể làm cho giới truyền
thông và công luận hiểu rằng lòng thương cảm là cần thiết cho lễ an
táng và Thiên Chúa mới là thẩm phán cuối cùng ? Tôi đã không dập tắt
được nỗi khổ này, nhưng tôi chẳng bao giờ hối tiếc quyết định này, một
quyết định đem lại sự nâng đỡ và an ủi cho những người trong gia đình
bất hạnh.
Ngày chịu chức Linh mục của tôi tuy đơn sơ, nhưng vui biết bao ! Ngày
đó hạnh phúc gấp đôi, bởi vì lễ phong chức đuợc tổ chức tại một địa
điểm lịch sử, Đền Đức Mẹ Leche tại xứ Thánh Augustinô, Glorida, nơi
thánh lễ đầu tiên ở Mỹ được cử hành ở nơi đây vào năm 1565. Đối với
một người Ái Nhĩ Lan, trở về quê mà dâng Thánh lễ đầu tay với gia đình
là một niềm vui đặc biệt không thể nào quên.
Mỗi lần sửa soạn cho lễ hôn phối, lễ rửa tội, lễ an táng là dịp vui
chẳng những cho bản thân tôi, mà cả cho đôi tân hôn, cho cha mẹ và cho
các gia đình.
Tôi tin chắc rằng tay tôi đã được chạm vào cuộc sống của phần đông
giáo dân và đã có ảnh hưởng trên Giáo xứ, một tế bào của Giáo hội Mỹ.
Liên kết với giáo dân là điều ích lợi cho Giáo xứ Phanxicô
Xaviê, khi xảy ra cuộc đấu tranh với Bộ Giao thông. Họ muốn làm một
nhịp cầu khác bắc qua sông Caloosahatchee khiến lấy mất đường 110 của
chỗ đậu xe của Giáo xứ và cắt mất đường vào trường học. Như thế là rõ
ràng bóp Giáo xứ chết nghẹt và chúng tôi phải dời đi chỗ khác. Quan
toà nói với chúng tôi rằng sự phản đối của chúng tôi chỉ là công dã
tràng, Bộ Giao thông chẳng đổi ý đâu. Chúng tôi viết thư, có chữ ký hỗ
trợ của những quan chức chính phủ ở trong Giáo xứ. Chúng tôi đi gặp
thống đốc tiểu ban và chúng tôi cầu nguyện. Cuối cùng chúng tôi đã
thắng cuộc. Bộ Giao thông thiết kế một dự án mới, không còn lấy đất
của chúng tôi.
Tôi thường xuyên cổ võ ơn gọi trong các bài giảng và nói chuyện với
các em có khả năng, tư cách. Chúng phải trực diện với những khó khăn
của ngày nay khi chấp nhận ơn gọi. Người trẻ Ba Lan bị cấm đoán đến
nhà thờ suốt 30 năm, mà họ vẫn cứ đi. Vừa đây tôi chứng kiến được sự
đổi mới việc huấn luyện trong chủng viện. Tôi rất hy vọng. Tôi thật sự
nghĩ rằng Giáo hội đang trải qua một giai đoạn thanh luyện. 50 đến 100
năm sau sẽ thấy một Giáo hội mới, một quyết tâm mới, một hàng Linh mục
mà dân Chúa sẽ rất tựu hào. Tôi chẳng thấy có giai đoạn nào mà thời cơ
ưu đãi các Linh mục lớn hơn. Mỗi người ngày nay đang tìm một đường
hướng thiêng liêng. Nếu chúng ta là Linh mục thánh thì chúng ta sẽ mở
được cửa để kêu gọi sự trợ giúp. Ngày nay các chủ chiên thường được
thánh hoá bởi chiên. Đó không phải điều xấu, mà là sự hỗ tương.
Hãy kể tôi như là một trong những Linh mục hạnh phúc. Tôi chẳng muốn
cái gì khác ngoài chức Linh mục. Phải thú thực tôi thường cảm thấy
căng thẳng trong nhiệm vụ chủ chăn của một Giáo xứ lớn, với một ngôi
trường lớn nhất Giáo phận, yểm trợ cho căn nhà các bà mẹ không kết hôn,
phục vụ trong chức vụ Tổng đại diện, điều hành các dự án, các uỷ ban
phát triển, cùng chương trình học bổng của Giáo phận. Tuy nhiên khi
đến nhà nguyện của tôi, làm một vài động tác hô hấp và một suy gẫm
ngắn, tôi đi ra với một sự thoải mái, dẩu tuổi đã 70 .
Tôi xin gửi tặng các Linh mục đọc sách này một lời : “Hãy cảm ơn Chúa
trong từng giây cuộc đời, vì bạn đã được làm Linh mục. Nếu bạn không
cảm thấy hạnh phúc trong ơn gọi, thì bạn cũng có thể hạnh phúc. Tất cả
những gì bạn làm là làm một vài sửa sai. Nếu bạn quá bận rộn đến nỗi
không thể cầu nguyện thì bạn bận rộn quá. Nếu cần, bạn hãy lấy sổ hẹn
ra, ghi một giờ cầu nguyện và đừng để ai gặp vào lúc đó. Đó là thời
giờ bạn gặp gỡ Chúa. Đó là thời giờ bạn sẽ được đổ đầy. Phúc biết bao
sự tràn đầy đó đến với dân Chúa ! Mỗi sự khó khăn chúng ta phải giải
quyết trên hai gối quỳ. Hãy đọc các thư của thánh Phaolô, Phêrô và
Giacôbê. Các Ngài đã chia sẻ với bạn bè các Ngài sự liên lạc của các
ngài với Chúa. Chúng ta đang có mặt món quà quí giá. Chúng ta cần giữ
gìn vì phần rỗi chúng ta và vì phần rỗi dân Chúa.
Đức Ông Richard Moyer sinh ngày 12/01/1932 tại Sandusky, Ohio. Ngài
chịu chức để phục vụ giáo phận Tueson, Arizona. Nay Ngài là Cha sở xứ
Đức Mẹ Vui Mừng.
Đức Ông là Cha sở của một Giáo xứ mới và đang phát triển. Ngài nắm giữ
nhiều chức vụ quan trọng của Giáo phận. Kho
nghị lực của Ngài ngoài sức tưởng tuợng. Ngài là tuyên uý Hải quân, là
nhạc sĩ tài năng, là chuyên viên tài chính, dấn thân vào một trong
những chương trình giới trẻ thành công nhất, “Giới trẻ sự sống", một
chương trình lan rộng ra một vài Giáo phận khác. Chúng ta không thể
chờ mong một Cha sở của một xứ lớn, một Tổng đại diện, một chuyên viên
tài chánh, dấn thân vào mục vụ giới trẻ. Song đây là câu chuyện của vị
Linh mục đầy chức vụ như vậy.
Khi cha mẹ tôi cưới nhau, cha tôi chưa phải là người Công giáo. Chỉ
vài năm sau, ngài mới gia nhập Giáo hội. Ngài là gương mẫu tuyệt vời
của đời tôi : Một con người trung tín, cần mẫn, biết lo lắng mọi nhu
cầu của con cái trong thời khủng hoảng kinh tế. Ngài qua đời năm 1960,
thọ 64 tuổi, vì đau tim, vừa khi tôi bước chân vào chủng viện : má tôi
tái hôn với một người goá vợ. Tôi đã chứng hôn trong lễ hôn phối này.
Chồng mẹ tôi có một người con trai đang học ở chủng viện và 5 năm sau
lễ hôn phối của mẹ tôi và dượng, tôi đã giảng ngày lễ đầu tay của
người em này,
Tôi đã theo học truờng thánh Giuse và trung học trường Sandusky, tốt
nghiệp năm 1950. Chẳng nhớ lắm về những gì tôi đã làm, song tôi nhớ
tôi đã chơi âm nhạc cách tài tử một thời gian và thay thế cho người
đánh đàn dương cầm ở nhà thờ quê tôi. Tôi cũng làm thư ký kiểm soát
cho cửa hàng A & P. Tôi không đủ tiền theo học đại học. Chiến tranh
Triều Tiên bùng nổ, tôi quyết định hai việc : đi thăm một vài bạn đồng
hương và kiếm một việc làm nào đó hơn là nhập ngũ. Tháng 2 - 1951 tôi
làm một cuộc du hành tới Arizona với hai người bạn và thăm em tôi
đang làm ở Yuma. Tôi đâm ra thích Ariona và biết rằng một ngày nào đó
mình sẽ chọn sống tiểu bang này. Khi trở lại Ohio, tôi đăng ký vào hải
quân và được gửi vào trại huấn luyện ở Đại Hồ. Tôi ở đó hai năm và vừa
làm thư ký vừa đánh đàn cho phòng tuyên uý. Khi đó tôi suy nghĩ chín
chắn về ơn gọi như một loại kinh nghiệm trở về.
Trong hải quân, tôi thấy được hai hạng người : một là sống vừa bãi,
coi thường luân lý đạo đức; hai là một số người đạo đức gắn bó với
Chúa. Tôi cảm phục nhóm thứ hai. Người ở lưng chừng không nhiều. Hoặc
hướng thượng họăc là lao mình vào rượu chè, trai gái, cờ bạc. Tôi cố
gắng đi theo lối sống và quyết định đầy ý thức phải vươn cao. Khi tôi
chia sẻ với các cha tuyên uý ý tưởng muốn làm Linh mục, các ngài đã
cho tôi nhiều khuyến khích. Tôi đã cho cha mẹ tôi biết lý tưởng đó,
các ngài đã nâng đỡ tôi. Ở nhà, tôi có người bạn gái mà tôi định kết
hôn. Tôi đến thăm nàng và nói rằng tôi có những chọn lựa khác. Nàng
nói : nàng biết quá mà. Những thuỷ thủ bao giờ cũng có một bạn gái ở
mỗi hải cảng. Tôi nói là nàng không nhìn tôi đúng và tôi tiết lộ lý
tưởng Linh mục của tôi cho nàng biết. Nàng ngỡ ngàng, song trong cách
nào đó, tôi nghĩ nàng sung sướng.
Năm 1953, sau thời gian ở Đại Hồ, tôi được về chiến hạm USS Coral Sea
hoạt động ở Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và biển Caribê. Tôi đã đi Âu
Châu hai lần cùng với hạm đội 6, hạm đội đã tham gia vào thế chiến hai.
Tôi có nhiều dịp du lịch và thăm những địa điểm trong Kinh Thánh:
Roma, Hi Lạp và các thành phố mà thánh Phaolô đã đặt chân trong những
hành trình truyền giáo. Một trong những ảnh hưởng mạnh nhất đến ơn gọi
của tôi là cha tuyên uý chiến hạm Coral Sea, Đức Ông Richard Holmes,
một con người tuyệt vời.
Trong năm cuối chủng viện, tư tưởng của nhà thần học dòng Đaminh,
Edward Schillebeek được giới thiệu. Các bí tích trở nên thân thiết,
năng động và có tính cách cá nhân. Nhận thức này, một trào lưu tư
tưởng, khác cách trình bày kiểu máy móc tự động, đã đổi thay đời tôi.
Bài sai đầu tiên của tôi là được sai đến xứ thánh Phanxicô Xaviê ở
Yuma. Thật là hạnh phúc. Cha sở là cha Henry Miller. Ngài là típ người
sẵn sàng thảo luận với bạn về những mặt mạnh của bạn, dựa vào đó để
bạn quyết định và để bạn làm. Năm 1967 Đức Giám mục sai tôi tới xứ
Thánh Phêrô và Phaolô ở Tueson, rồi sau đó là phụ tá giám đốc cơ quan
bác ái. Khi Giáo phận Phoenix được thiết lập, tôi làm giám đốc cơ quan
bác ái của giáo phận. Năm 1982 Đức Cha O’Brien chỉ định tôi làm Cha sở
xứ Thánh Giê-rôm. Một Giáo xứ đã cho tôi niềm vui cuộc đời, chẳng bao
lâu Đức Cha đặt tôi làm Tổng đại diện.
Năm 1984 Đức Cha sai tôi tới miền Bắc Arizona và đặt tôi làm giám quản
miền này. Hai năm sau kiêm nhiệm Cha sở xứ Thánh Gioan Vianê ở Sedona.
Tôi thoả mãn với công việc giám quản, song chỉ làm Cha sở thì thích
hơn. Năm 1988 tôi được sai về Nhà thờ Chánh toà với công việc chưởng
khế.
Ít lâu sau tới Chính toà, Đức Cha đặt tôi làm quản lý. Năm 1993 Đức
Cha cho tôi cơ hội quản trị xứ Đức Mẹ Vui Mừng, nếu tôi vẫn phụ trách
tài chánh cho Giáo phận. Sau đó tôi được làm Cha sở luôn. Hiện nay tôi
giữ 3 trọng trách : Cha sở, Tổng đại diện và quản lý. Từ văn phòng
Giáo xứ tôi dùng máy vi tính nối mạng để có thể làm đuợc nhiều việc
cho hai nhiệm vụ sau .
32 năm tôi cố gắng truyền đạt cho dân biết Chúa Giêsu là thật và mỗi
người có thể thiết lập sự liên lạc với Chúa như liên lạc với bất cứ ai.
Quan niệm này đã tăng nghị lực cho tôi trong những ngày đầu đời Linh
mục.
Tôi đã cử hành thánh lễ tư gia lần đầu với những học sinh lớp 6 sau
khi chúng đã học hỏi về bí tích Thánh Thể 6 tuần. Tôi xin chúng vẽ
trên giấy những gì chúng đã thâu lượm. Sau tôi đã dùng những tấm giáy
này như những tài liệu để tìm hiểu thánh lễ. Những gì chúng diễn tả
qua hình vẽ rất hấp dẫn. Tôi đã dùng các em để dạy các giáo lý viên
trong khoá huấn luyện hằng năm của Giáo phận. Những gì chúng làm thật
lạ lùng, giống như Chúa Giêsu giảng dạy trong đền thờ khi Người 12
tuổi.
Khi học về mỗi bí tích chúng tôi kết thúc bằng một cử hành mà cả nhóm
đều tham gia. Chẳng hạn, khi học về bí tích Rửa tội, thì có một trong
các người mẹ của các em trong lớp có thai. Các em làm giấy báo tin và
làm áo trắng rửa tội. Em bé sẽ là em bé của chúng và gia đình em bé sẽ
là gia đình của chúng. Chúng học cách đón một ai đó vào gia đình Chúa
bằng kinh nghiệm thì tốt hơn là chỉ lý thuyết trong lớp.
Cảm nhận của tôi về nhu cầu của dân chúng là những người từ 24 - 45
tuổi rất cần sự săn sóc của Linh mục. Họ gặp khủng hoảng khi xảy ra
những biến động lớn : chẳng hạn chiến tranh VN, cuộc cách mạng tình
dục, giá trị đạo đức xuống dốc. Họ là nhóm người mà số đông nhất là
các bà mẹ lao động. Họ bị mất mát nhiều và niềm tin cuộc sống bị lung
lay. Chúng tôi cần tìm ra những đường lối để lôi kéo họ tham gia vào
các chương trình huấn luyện hầu tăng cường đức tin cho họ. Nhiều cha
mẹ ngày nay đức tin yếu kém khó mà truyền lại cho con cái. Dâng lễ đối
với họ không quan trọng, chúng tôi có một số người tín hữu đến thăm
bất thường, vì họ đến khi họ có nhu cầu cho họ hay con cái họ thôi.
Giới trẻ
cũng cần sự giúp đỡ, Chúng phải đương đầu với những thử thách lớn lao
hơn khi chúng ta vào tuổi họ. Sự hoạt động liên tục của tôi với giới
trẻ cho biết rằng : Nếu chúng ta cho họ những gì vững chắc, nếu chúng
ta mở cho họ biết đức tin là tất cả, thì họ đáp ứng rất tích cực.
Năm 1978 Cha Dale Fushek được bổ nhiệm về Giáo xứ Thánh Giê-rôm ngay
sau khi chịu chức : Cha có một tài năng đặc biệt về giới trẻ. Cha đã
lập hội " Giới trẻ Công giáo hoạt động". Tôi và Cha cùng tổ chức những
cuộc tĩnh tâm cho giới trẻ. Năm 1985 Cha là Cha sở xứ Thánh Timôthê ở
Mesa. Ở đó Cha lập ra phong trào “Giới trẻ sự sống" Phong trào đã lan
ra 350 xứ khắp nước Mỹ. Tôi đã tham gia vào phong trào này và tôi vẫn
tiếp tục giúp trong các khoá huấn luyện mùa hè. Trong vòng 5 - 6 năm
qua, tôi đã huấn luyện hơn 800 mục vụ viên và linh mục chuyên lo cho
giới trẻ. Ở Giáo xứ tôi cũng có phong trào này.
Trọng tâm của phong trào là Bí tích Thánh Thể và Thánh lễ. Từ
1.500 đến 1.700 thường xuyên đến dự những thánh lễ giới trẻ ở nhà thờ
thánh Antôn. Không phải hoàn toàn là giới trẻ, cũng có một vài phụ
huynh hay anh chị của họ. Âm nhạc và bài giảng kích thích họ. Họ giúp
lễ, đọc sách, dâng lễ, hát. Phần nhiều phong trào dựa trên các linh
mục đồng lứa tuổi và với sự hỗ trợ của nhóm cốt cán kinh nghiệm của
phong trào “Giới trẻ sự sống". Mỗi nhóm nhiều nhất là 30 hội viên. Sau
thánh lễ là sinh hoạt tối. Một vài tối nói về xã hội, vài tối về giáo
dục, vài tối về những vấn đề có định hướng liên quan đến những vấn đề
mà giới trẻ phải trực diện, chẳng hạn : Luân lý, phá thai, căng thẳng
của thanh niên. Chúng tôi cố gắng triển khai những vấn đề của địa
phương. Những khủng hoảng thời đại cần mau chóng có những hướng dẫn
trong sinh hoạt tối. Thánh lễ kéo dài chừng 1giờ rưỡi. Sau đó là họp
1g30 nữa. Người trẻ gặp nhau vào mỗi Chúa nhật, nhiều ơn gọi đã xuất
phát từ phong trào. Năm qua có 30 bạn đăng ký ở xứ thánh Antôn. Họ
được các bạn trẻ khác dẫn đến, có sự đồng ý của cha mẹ.
Các giáo xứ tham gia làm sao ? Hầu hết các giáo xứ đều có phong trào
“Giới trẻ sự sống". Một vài xứ không có khả năng tập họp hằng tuần,
một tháng có một lần. Giáo xứ tôi có vài thanh niên, nên chưa lập được
phong trào. Tuy nhiên chúng tôi có thánh lễ cho giới trẻ. Chúng tôi
mời họ đọc sách thánh, hát và tham gia các mục vụ của giáo xứ. Phần
nhiều được thực hiện trong những dịp tĩnh tâm. Chúng tôi cố gắng tổ
chức một năm hai lần. Chúng tôi tổ chức trên núi hay ở vưòn bách thảo.
Không có những vui chơi giải trí. Mỗi lần tối đa là 192 bạn. Nhiều
kinh nghiệm về những đổi thay cuộc sống được trao đổi ở đây. Cha Dale
là vị sáng lập phong trào. Tôi chỉ âm thầm tham gia và điều hành vài
buổi tĩnh tâm ba ngày. Bạn chẳng cần phải buộc các bạn trẻ tham dự,
hoàn toàn tình nguyện.
Tôi chịu khó giải tội, nhất là cho các bạn trẻ. Tôi thấy nơi
giới trẻ có nhiều nét đặc biệt hơn các bạn trẻ thời tôi. Các bạn trẻ
ngày nay sẵn sàng chia sẻ cuộc sống với bạn. Họ dễ chấp nhận đề nghị
và dễ dàng thay đổi. Thật rất là giàu kinh nghiệm khi tôi lắng nghe,
khích lệ, đặt vấn đề và chấp nhận họ.
Mặc dầu có vài bạn bè của tôi đã bỏ lý tưởng Linh mục, song tôi
không bao giờ nghĩ sẽ làm thế. Trước hết, tôi đã thề hứa, tôi không
coi nhẹ lời thề. Thứ đến, đó là nếp sống phong phú và đặc ân. Lạ lùng
biết bao là được trở nên một yếu tố quan trọng của cuộc đời của biết
bao dân chúng, không phải của một người. Đời Linh mục cho đức tin tôi
sống động. Tôi đã chứng kiến nhiều người vượt qua được những khủng
hoảng, những thảm cảnh và đức tin của họ vẫn là sức chống đỡ trong
cuộc sống. Khi chúng ta đến với những người đau khổ, chúng ta rất có
ảnh hưởng, trên đời họ.
Mối liên lạc mà tôi thể hiện với tư cách Linh mục quả thật là đẹp. Khi
chúng ta xây một ngôi nhà, sau khi hoàn thành chúng ta thấy được kết
quả của việc làm. Còn khi chúng ta làm việc với dân chúng, chúng ta
không bao giờ thấy hết, chỉ trừ khi họ đến kể lại cho chúng ta. Thế
nhưng chúng ta xây dựng được một sự liên lạc hỗ tương và hữu ích. Khi
tôi là một người làm công tác xã hội, tôi thường dẫn người ta tới một
địa điểm tham vấn nào đó, rồi đưa họ tới vị Linh mục. Tôi vào chủng
viện, vì tôi muốn là người không chỉ dừng ở ngưỡng cửa bí tích, mà còn
muốn đưa người ta tới một Đấng khác. Tôi muốn tham gia vào tiến trình
vòng tròn đầy đặn đó.
Thánh Danh Giêsu ở Medina, Minnesota lúc đầu vào năm 1865 chỉ là một
xứ nhỏ của những người di cư gốc Đức, ngày nay đã có 8.000 giáo dân.
Linh mục quản xứ, Cha Arnold Weber, được nổi danh khắp miền Trung Tây
là một nhà lãnh đạo tài năng, nhà giảng thuyết lợi khẩu và là nhà
phụng vụ tuyệt vời. Giáo dân đã quay video những thánh lễ của Cha và
sao ra, nhiều bản để gửi tặng những bệnh nhân, những người tàn tật
không thể đến nhà thờ. Trong mỗi thánh lễ, đến phần dâng lễ, các thiếu
nhi dâng thực phẩm cho những người nghèo. Năm 1995 giá trị thực phẩm
đó lên tới 40.000 đô. Chương trình này và những hoạt động khác làm cho
Giáo xứ Thánh Tên Giêsu nổi tiếng là một cộng đoàn sinh động, tích cực
đóng góp và đầy đức tin.
Xét theo bề ngoài, những gì mà mỗi Cha sở làm đã vẽ nên khuôn mặt ngài
là Linh mục, đồng thời tăng thêm ý nghĩa cho chức Linh mục. Trong câu
chuyện của cha Weber, chúng ta khám phá thấy một Linh mục đã tăng thêm
nghị lực cho Giáo xứ qua việc gặp gỡ những người thiếu thốn và khuyến
khích Giáo xứ giúp đỡ những người cần trợ giúp.
Cha Arnold sinh năm 1925 trong một gia đình nổi tiếng Đức và lớn lên
trong một nông trại. Một nửa trong số 12 người con gia đình Weber đi
tu dòng : 4 chị em là nữ tu Bênêdictô, Ngài và người em nữa là Linh
mục Bênêdictô. Ngài chịu chức năm 1952.
Đời Linh mục của tôi luôn là niềm vui cho tôi. Tôi coi bổn phận chính
của Linh mục là phục vụ Giáo xứ. Người giáo dân không tìm kiếm nơi
chúng ta sự thông minh xuất chúng, mà là sự thánh thiện. Họ muốn chúng
ta có đức tin, tình yêu và kính trọng họ.
Nông trại của gia đình tôi gần Giáo xứ thánh Martinô, một tỉnh
nhỏ, 100% là người Công giáo. Ơn gọi Linh mục và tu dòng rất nhiều.
Tỉnh này chỉ có 200 gia đình, mà có gần 75 nữ tu và 25 Linh mục.
Bước vào bậc trung học, cha tôi gửi tôi đến học ở tu viện Bênêdictô
Thánh Gioan. 13 trong số 35 người trong lớp tôi là Linh mục. Sau khi
thụ phong, tôi được sai đến dạy trường thánh Gioan chuẩn bị lên đại
học. Ngay khi đó tôi được cộng tác với Cha giám đốc ơn gọi cho tu viện.
Năm 1970 trường trung học Benilde ở Minneapolis sắp bị đóng cửa vì
thiếu tu sĩ quản trị. Đức Cha xin nhà dòng thánh Gioan điều hành.
Chúng tôi đã nhận và tôi dạy ở đó 3 năm.
Tôi phục vụ một Giáo xứ ở Hồ Detroit 4 năm, rồi trở về Benilde. Lúc đó
có nhiều vấn đề nổi cộm xảy ra trong Giáo xứ Thánh Tên Giêsu ở Medina
và tôi được yêu cầu đến đó. Trong những ngày đó tôi còn nhiều nghị lực
để vừa trông coi Giáo xứ Thánh Tên vừa quản trị trường Benilde. Mãi
đến năm 1980 tôi mới được hoàn toàn dành thời giờ cho Giáo xứ. Khi mới
đến Giáo xứ rất chia rẽ. Tôi đã nhận được 20 lá thư muốn có sự gặp gỡ
để bàn về những vấn đề đã gây nên chia rẽ. Tôi bằng lòng gặp tất cả
những người đã viết thư. Tuần sau tôi lại đổi ý. Trong bài giảng, tôi
nói : tôi muốn gặp, song với 2 điều kiện : một là bất cứ ai đến với
tôi không được chỉ trích nhóm khác, hai là mỗi người chỉ kể cho tôi
nghe những vấn đề riêng của họ thôi. Không ai được thổi phồng.
Khi làm việc về Ơn gọi. Tôi quen với cha Andrew Greeley, một
nhà biên soạn và một nhà xã hội học. Ngài thường viết cho tạp chí dòng
Bênêdictô " Orate Fratres" ( anh em hãy cầu nguyện ). Ngài đã đưa ra
nhiều định nghĩa rất hay về chức Linh mục. “Linh mục là người phục vụ".
Trở nên người phục vụ mà dân chúng tìm đến thì vừa biết tha thứ vừa
phải hạ mình. Nếu chúng ta không được như vậy, giáo dân không đến với
chúng ta. Nếu chúng ta sống xa dân chúng, chúng ta không thể đến với
họ. Chúng ta không cần sao chép lại một thế giới hợp tác bằng những
giờ giấc bàn giấy. Tôi phải vất vả tìm thế giới ấy để làm việc trong
40 giờ một tuần. Tôi đã đọc nhiều về các Linh mục làm việc quá tải,
song chẳng có vấn đề gì xảy ra. Chúng ta phải là những Linh mục hăng
say làm việc. Dĩ nhiên là một Linh mục dòng, tôi không chờ đợi các
Linh mục Giáo phận theo giờ khắc của tôi.
Những người trẻ hỏi tôi : Tiêu chuẩn nào là một Linh mục. Tôi
trả lời rằng : " Bạn cần 2 điều : một cái xương biết cười, một cái
xương cột sống. Nếu không có hai cái đó bạn không thể là Linh mục. Nếu
văn hoá của chúng ta khác với những biểu tượng của các Linh mục. Nếu
bạn không biết cười bạn sẽ bị căng thẳng khi gặp các vấn đề gai góc và
không thể giảng Tin Mừng được. Còn nếu bạn không có xương sống, thì
bạn sẽ sớm ngã quỵ dưới nền văn hoá chung quanh"
Hàng giáo sĩ chúng ta cần cột sống. Đôi khi chúng ta phải tấn công vào
những vấn đề gây cấn của thế giới chúng ta, bằng các bài giảng hay
bằng tờ báo nhỏ Chủ nhật. Chúng ta tránh nói về những vụ ly hôn, có lẽ
vì chúng ta sợ đụng chạm đến những người ly hôn trong Giáo xứ. Song
những người bị ly hôn chỉ muốn chúng ta cảm thông họ thôi. Chúng ta là
Linh mục cần cả hai : Lý tưởng cao thượng và sự cảm thông. Những năm
qua chúng ta đã có một lý tưởng nhưng không có sự cảm thông. Bây giờ
thì chúng ta lại coi thường lý tưởng mà hoàn toàn chỉ có thương cảm.
Chúng ta cần cả hai. Chúng ta không thể để thương cảm mà phá huỷ lý
tưởng. Đó là những gì đang xảy ra về những vấn đề phá thai, ly hôn và
sống chung chưa phép cưói - đã mất hết lý tưởng. Nếu chúng ta chỉ kêu
gọi sự thông cảm thì chúng ta đang đáng mất giáo huấn của sứ điệp Chúa
Kitô. Trái lại, nếu chúng ta rao giảng sứ điệp. Tin Mừng mà không biết
người chúng ta đang nói, thì chúng ta sẽ chỉ tác động đến những con
người vô tâm. Như vậy, chúng ta gửi sứ điệp với sự cảm thông; không hề
lên án. Theo cá nhân tôi, được cả hai thật là khó. Tôi phải học nhiều
ở các dụ ngôn : để cỏ lùng và lúa mọc bên nhau; một vài hạt giống gieo
trên đất tốt, vài hạt trên sỏi đá. Nhiệm vụ của chúng ta không thành
công, song trung thành.
Một trong những điều làm cho đời Linh mục của tôi dễ dàng thành công
hơn là uỷ quyền cho giáo dân, phải tin vào bí tích Rửa tội. Bất
cứ cộng đoàn nào muốn vững mạnh trong phụng vụ và trong công tác xã
hội, thì cần hiểu bí tích Rửa tội đã trao quyền cho giáo dân như thế
nào. Một vài Linh mục đã không trao, mà còn độc quyền. Có một thời tôi
nghĩ tôi chỉ là một thành viên trong bất cứ quyết định nào của Giáo xứ
đào luyện kiểu người Đức của tôi khiến tôi có đường lối này. Bây giờ
tôi không chỉ trao quyền mà còn tin cậy giáo dân sẽ làm tốt công việc
như tôi, nếu không hơn tôi, Ngày nay mà độc tài sẽ đánh mất tất cả
những gì Vaticanô II chủ trương.
Công việc quan trong nhất đời Linh mục của tôi là tập trung vào bí
tích Thánh Thể. Công việc quan trọng nhất trong việc dạy dỗ là
bài giảng. Tôi mất 7 đến 10 giờ để soạn các bài giảng Chúa nhật.
Sự lớn mạnh của Giáo xứ một phần nhờ bài giảng. Giáo dân của tôi đến
từ 75 địa chỉ khác nhau. Họ đến vì phụng vụ và vì bài giảng. Khi tôi
bắt đầu ở đây, cách nay đã 16 năm, có 250 gia đình, nay là 2.500 gia
đình với 8.000 giáo dân, ngày nay giáo dân tôi không đòi hỏi gì, trừ
phụng vụ, thánh nhạc và bài giảng cho tốt. Chẳng hạn, mỗi Chúa nhật
tôi không đề cập đến chiến tranh, đến hạn chế sinh sản, không cho đó
là những đề tài quan trọng. Thật ra chúng chẳng nuôi dân. Phụng vụ
Chúa nhật đòi hỏi giảng Phúc Âm. Chủ tịch hội Serra đã làm cuộc điều
tra xem hội viên của họ mong gì nơi Linh mục. Thảy họ đều trả lời là
lòng thương yêu và sự am hiểu thần học.
Dân đói của ăn thiêng liêng. Một rong những mối phúc tuyệt vời là "
Phúc cho ai đói khát điều chính trực, vì họ sẽ được no đủ". Nếu đó là
sự thật, thì những ai không đói khát thì lòng họ trống rỗng rồi. Khi
tôi hướng dẫn, tôi khám phá đa số trống rỗng. Phần lớn trong tâm là
đặt trong lãnh vực hoạt động xã hội. Tôi cần nhiều thời gian để giúp
họ dấn thân cá nhân với Chúa Giêsu và sự cứu độ bằng Đức tin. Cũng
giúp đừng quên đoạn Tin Mừng Matthêu 25 :" Vì TA đói các ngươi
đã cho ăn. Ta khát các ngươi đã cho uống. Ta khách lạ các ngươi đã
tiếp rước. Ta mình trần các ngươi đã cho mặc. Ta ốm đau các ngươi đã
chăm lo. Ta ngồi tù các ngươi thăm viếng" ( 35 - 36 )
Giáo xứ chúng tôi đặc biệt lưu ý đến Lời Chúa này. Chúng tôi vừa quyên
giúp một Giáo xứ nội thành số tiền đạt tới 600.000 đô, chúng tôi cũng
cung cấp cho họ mỗi năm 60.000 đô trong vòng 10 năm để ngôi trường của
họ được hoạt động. Khi xảy ra vụ bom nổ ở Oklahoma, Tổng giáo phận
chúng tôi gửi tiền trợ giúp. 14% tổng số tiền do Giáo xứ chúng tôi.
Chúng tôi có chương trình xe bán bánh kẹo. Chúng tôi giúp những người
lang thang hè phố làm và đem bán. Qua chương trình này tiền giúp năm
nay là 75.000 đô. Lợi tức của Giáo xứ là 3.000.000 đô. 24% làm công
việc bác ái. Chúng tôi có 350 trẻ em học trường chúng tôi. Giúp các
bạn trẻ học trường trung học Benilde. Mỗi học bổng là 1.200 đô. Tiền
thu được trong lễ hội sắp tới, chúng tôi sẽ cắt ra 35.000 đô làm việc
bác ái . Trong Giáo xứ có gần 500 người cần có người đi chợ giúp.
Chúng tôi mở chương trình góp vốn, bằng cách bán những chi phiếu này
cho các tiệm địa phương. Tiền lãi dùng để góp vào chương trình xã hội.
Chúng tôi có chừng 10 dự án xã hội.
Về phương diện tinh thần giáo dân ngày nay không mạnh. Họ cần cứu chữa.
Khi tôi mới chịu chức, có một người chết. Chúng tôi đã không có thánh
lễ an ủi họ. Nay thì trước khi chôn. Chúng tôi sắp xếp để an ủi người
còn sống. Dĩ nhiên cũng có người cực đoan nói rằng đó là ý Chúa, thế
nhưng lòng thương cảm vẫn là cần. Mảnh bằng của tôi là cố vấn cho hôn
nhân. Tôi giúp việc này trung bình 20 giờ một tuần. Tôi kêu gọi đức
tin và sức mạnh ý chí của họ tôi rất ngạc nhiên là có nhiều người có
đủ khả năng để giải quyết các vấn để của họ, nếu họ chỉ cần dựa trên
hai điều : đức tin và sự phán đoán.
Theo ý tôi, Giáo xứ cần thay đổi những thực hành đạo đức. Tôi
không khuyến khích những lối sùng mộ cá nhân, song tôi cũng không bỏ.
Chúng tôi có tổ chức chầu Thánh Thể từ 2 giờ sáng đến 9 giờ tối, 5
ngày một tuần. Giáo dân lần chuỗi sau thánh lễ hằng ngày. Vài người
trong nhóm Medjugorje muốn thái quá, song những cuộc hành hương cũng
phát sinh kết quả. Ở đây tôi giúp cho một nhóm 30 người trẻ tĩnh tâm.
Khi tôi trở lại, ba trong số ấy đã gia nhập đoàn Hoà Bình, một vào
chủng viện. Người ta hỏi tôi có tin Medjugorje không ? Câu trả lời của
tôi là : ý kiến về các cuộc hiện ra không phải là nhiệm vụ của tôi là
: ý kiến về các cuộc hiện ra không phải là nhiệm vụ của tôi. Tôi biết
rằng những người tôi đem họ đến đó, không phải là những người cầu
nguyện, nay thì họ thích cầu nguyện. Tôi đã gửi một cô gái bị thần
kinh tới đó, nay cô đã lập gia đình, có 4 con và không cần đi bác sĩ
nữa. Như vậy đối với tôi, vấn đề khôn phải là Đức Mẹ đã hiện ra hay
không, mà là vấn đề Medjugorjo có biến đổi người ta để cầu nguyện
không ? Đức Thánh Cha đã đề cập về vấn đề này, Ngài nói : hiện tượng
không thể xấu, nếu kết quả là tốt.
Một trong những niềm vui của đời Linh mục là thấy người ta trở
lại với Giáo hội trước khi chết. Ở hồ Detroit, tôi biết một gia đình
có 7 người con, cha họ rượu chè say sưa. Từ mẹ đến con không thèm nói
chuyện với ông. Tôi đến thăm ông ở bệnh viện. Ông gần chết. Tôi nói :
“Người ta cho tôi biết ông chẳng còn nhiều thời gian nữa, Thật là tốt
nếu ông làm hoà với gia đình". Ông trả lời: “Vâng, nhưng gia đình tôi
không muốn đến với tôi". Tôi mời vợ ông. Vợ ông bằng lòng. Tối hôm đó
cả gia đình tới bệnh viện. Tôi rời căn phòng đi ra. Một giờ sau tôi
trở lại, vợ và các con đang ôm ông. Tất cả đều xin lỗi. Ông chết một
cách hạnh phúc.
Trong những năm làm Linh mục, 5 năm sau cùng là nặng nề nhất, nhưng
cũng có gía và vui nhất. Tôi là Linh mục duy nhất trong xứ. Tôi phải
cử hành mọi Thánh lễ. Cuối tuần có 5, đôi khi 7 nếu có hai hôn lễ.
Trung bình có 80 hôn lễ một năm và 250 nghi lễ rửa tội. Khi những
người tôi làm phép hôn phối sinh đứa con đầu, họ muốn tôi rửa tội. Tôi
phải xin họ nhường việc rửa tội cho các Thầy Sáu. Mặc dầu tôi phục vụ
8.000 giáo dân, tôi vẫn không bị căng thẳng. Tôi không có ngày nghỉ.
Thường là làm việc cả 7 ngày trong tuần. Một năm tôi du hành một lần.
Tôi sắp xếp thời giờ, không nhờ vả ai làm thế công việc của tôi. Tôi
không cảm thấy là quá cẩn thận, bởi vì tôi nghĩ đó là điều giáo dân
tôi muốn.
Tôi thường nói với bất cứ bạn nào suy nghĩ về ơn gọi rằng :
trong thời buổi này họ đang chọn một sự chọn lựa tốt nhất. Trong đời
tôi không có bao giờ có nhiều thách thức như bây giờ. Có phải lúc này
đi vào thế giới vi tính là tốt ? Nhưng cái không chắc chắn thì nhiều.
Tuy nhiên người ta dấn thân vào, và người ta khám phá ra đó là một
thách thức cao đẹp. Làm Linh mục ngày nay là một thách thức lớn lao,
bởi vì chúng ta đang sống trong một xã hội cần nhiều sự trở về. Giúp
cho dân quyết dịnh tín thác vào Chúa Giêsu thì cần nhiều tiếng gọi bàn
thờ. Nó cũng đòi hỏi một sự đổi thay hệ thống giá trị. Tôi không biết
ai làm tốt hơn trong lãnh vực này bằng Linh mục.
Cha Bill Trinekens sinh tại Hoà Lan năm 1932, chịu chức năm 1961, là
Linh mục Giáo phận Calary, Canada. Ngài là Cha sở xứ Thánh Luca ở
Calary, Alberta, Canada.
Thuở thơ ấu ở Hoà Lan, Cha và gia đình Cha đã thất kinh qua những gì
mà những người Mỹ không cảm nghiệm được một nước bị chiếm đóng, Đức
quốc xã đã xâm chiếm đất nước của Cha. Việc làm, thức ăn, trường học
đều thiếu thốn. Sau một thời gian dài vật lộn để giúp đỡ gia đình sau
cái chết của người cha và gắng công hơn nữa để có được nền học vấn căn
bản. Trinekens di cư sang Canada và học làm Linh mục. Mặc dầu những
thử thách đầu đời đã hình thành Cha nên người rồi, chẳng cần chức Linh
mục, song Cha vẫn khiêm nhưòng bảo vệ sự trưởng thành đó là để cho
chức Linh mục mà Cha yêu quí.
Tôi được sinh ra trong một tỉnh nhỏ nông nghiệp. Thế chiến II gần kết
thúc, tôi 13 tuổi thì cha tôi qua đời. Sau khi cha tôi qua đời, chúng
tôi rời đến một trang trại nhỏ ở ngoại ô. Lối sống của chúng tôi thay
đổi. Chúng tôi sống gần một phi trường quân sự bị Đức chiếm đóng. Họ
đóng quân ở trường học. Trong thời gian chiến tranh chúng tôi được học
rất ít. Đôi lần người Đức cho phép học, thì chúng tôi phải học trong
những quán ăn, của tiệm hay nhà kho. Một vài thầy dạy dưới hầm, khi
người Đức không cho phép học. Vì vậy khi kết thúc chiến tranh, vài
người chúng tôi biết đọc, biết viết sơ sơ.
Sau chiến tranh tôi vào nội trú một năm. Những năm tháng ở đó, tôi cảm
thấy đần biết bao, kém xa các bạn lớp. Song có một người bạn rất tốt
đã cho tôi núp bóng. Anh đã giúp tôi học toán, hùng biện. Sau đó tôi
ra ngoài học : 4 năm văn phạm và trung học. Cuối cùng tôi đã thành đạt.
Ý tưởng làm Linh mục
tôi đã ấp ủ khi còn nhỏ. Nhìn lại, tôi thấy rằng cha mẹ tôi đã có công
nhiều với ơn gọi của tôi, vì các ngài yêu mến Giáo hội và Linh mục.
Cha sở chúng tôi là cầu nối. Ngài là Linh mục tốt, đạo đức, có tinh
thần cầu nguyện, tích cực và mẫn cảm. Ngài không chỉ ảnh hưởng trên
tôi, mà còn trên một số nam nữ để đi tu. Vóc dáng nhỏ nhắn như cái
tỉnh lỵ của tôi, song Cha đã có cái nhìn rộng rãi, đầu tư vào việc
giáo dục thanh thiếu niên, đặc biệt những em muốn đi tu. Ngài giúp cả
tinh thần lẫn vật chất.
Ngài hướng dẫn chúng tôi đi theo ơn gọi, không phải ngồi chờ mà phải
hoạt động. Khi quyết định thì biết bao vấn đề xảy đến. Ngài qua đời,
mọi người đều thương nhớ đến dự lễ an táng thật đông.
Được chung quanh khích lệ, tôi quyết định vào nhà tập. Đây là nơi kém
may mắn nhất đời tôi. Tôi chỉ ở được có hai tháng. Vào thời điểm này
cha tôi chết. Người để lại một gia đình đông đúc : Em nhỏ nhất mới có
ba tháng. Lợi tức thì ít. Hai chị đầu, một anh và tôi thay phiên nhau
làm việc để nâng đỡ gia đình. Còn các em khác tiếp tục đi học. 22 tuổi
tôi dự định cưới một cô gái, song tôi đình lại, vì phải làm để giúp đỡ
gia đình. Ba em trai nhỏ coi tôi như là cha, đi đâu cũng theo. Sau
cùng cô gái nói với tôi : " Anh nên quyết định là chồng em hay là cha
của các em trai em gái của anh".
Trong đầu tôi mang hai áp lực đó, lại còn áp lực thứ ba là tôi ước ao
học làm Linh mục. Cha sở bảo tôi : " Nếu con thực sự muốn làm Linh mục,
con đừng cắm dùi ở đây. Bao lâu con còn cầm chân nơi đây, con sẽ còn
được gọi là cha của gia đình con". Vì thế tôi di cư sang Canada và học
6 năm ở chủng viện Thánh Giuse tại Edniston.
Cái nhìn về địa vị Cha sở của tôi là trước tiên tôi phải là người
hiệp nhất. Tôi đem họ về và giữ họ lại với nhau. Tôi phải cẩn thận
đừng bao giờ gây ra những đụng chạm. Hơn nữa, tôi còn là người giải
quyết những đụng độ xảy ra bất cứ ở nơi đâu có những nhóm hướng đi
khác nhau. Tôi cần giúp họ ngồi với nhau. để mỗi khi họ đi dâng lễ, họ
là một nhóm, một lòng, một ý. Tôi thấy thế giới của Linh mục hơn hay
khác xa với thời tôi còn nhỏ. Địa vị Linh mục đã thay đổi. Địa vị
không còn. Cha sở đáng kính của tỉnh tôi và tôi chia sẻ với nhau cùng
địa vị. Chúng tôi chỉ là những nhà hiệp nhất.
Mỗi Linh mục có một ơn tông đồ đặc biệt đáp ứng với tài năng riêng của
mình. Tôi thích làm việc ở một Giáo xứ thành phố. Tôi thích làm việc
với người trẻ và thích giảng .
Tôi đã làm tốt để các nhóm ngồi với nhau. Thanh niên và các gia
đình trẻ bị ném vào một xã hội bắt họ phải mua cái này, làm cái
này, giữ cái này, những sự liên lạc thân quen thì xã hội không để ý đủ.
Mối giây ràng buộc vợ chồng lỏng lẻo, không tiến triển như nó đòi hỏi.
Vì thế nhiều học sinh trung học xuất thân từ những gia đình đổ vỡ, có
nhiều em lang thang. Như vậy sự dấn thân và lưu tâm của chúng tôi cần
tập trung cho người trẻ. Nếu chúng ta có người trẻ, chúng ta sẽ có
tương lai.
Giảng
là cơ hội tuyệt vời để liên kết dân lại. Trong Giáo xứ tôi có 2.400
gia đình; chừng 3.000 thành viên đến dự lễ cuối tuần. Có ai khác có
cái tai của 3.000 người trên cùng một căn bản ? Khi tôi nói với họ,
tôi nên nói cái đáng phải nói. Những phút giảng là những phút cao điểm
của cả một tuần. Tôi sẽ chẳng có lúc nào khác để ảnh hưởng trên con số
đông như vậy, mà chỉ bằng một vài lời.
Song là nhà giảng thuyết, tôi phải có lòng thương cảm và hiểu biết
những vấn đề mà giáo dân tôi phải đương đầu. Vừa rồi một bạn trẻ đến
thăm tôi, vị mục tử của anh đã giảng một bài nẩy lửa, cứng như đá
chống lại việc ly dị. Người bạn này đã nói với tôi: “Tôi đã lập gia
đình được 7 năm, có ba con, vợ tôi bị bệnh tâm thần. Bà ra ngoài, bà
đem cả các con theo. Tôi cần vài tia hy vọng để có thể làm gì giải
quyết được vấn đề khó khăn của tôi. Thế mà tôi chỉ được nghe những mạt
sát về ly dị, không có một chút cảm thông và hiểu biết về hoàn cảnh
của tôi".
Những người có vấn đề về gia đình, có khó khăn về việc làm hay sức
khoẻ rất cần một người nào đó đem hy vọng lại cho họ. Khi chúng ta có
hy vọng, chúng ta sẽ có bình an.
Chẳng có gì, vững bền lâu dài trong thời đại của chúng ta. Đặc biệt là
khó khăn cho các bạn trẻ để cố gắng tìm một sự dấn thân liên lỉ. Khi
chúng ta đảm nhận một nhiệm vụ, cần thiết chúng ta chỉ nhắm vào đích,
mà bỏ lại sau một số việc. Song ngày nay chúng ta lại chỉ có một ngón
tay mà việc thì vô kể. Chúng ta muốn mọi cái tốt, mọi cái dễ chịu. Xã
hội ngày nay không khuyến khích chúng ta bỏ mọi sự. Cái kiểu môi
trường đó chẳng gợi hứng cho con người làm giao kèo suốt đời với chức
Linh mục. Khi một người quyết định lấy vợ, thì có cả 10.000 có khác họ
không được cưới. Như vậy khi chúng ta quyết định làm một điều gì, thì
chúng ta phải để lại sau vô số những việc khác. Khi tôi chọn đời sống
độc thân tức là tôi phải để những cái khác sang bên, kể cả việc
tiếp xúc thân mật với một phụ nữ, cũng như con cái từ đó mà có. Bất cứ
một sự thề hứa nào cũng đòi hỏi sự đấu tranh. Tôi luôn nhắc nhở tôi :
là người độc thân, và tôi muốn theo đuổi quyết tâm này cho hết phần
còn lại đời tôi .
Khi tôi chịu chức, tôi chấp nhận sự kiện này là sẽ phục vụ sự sống,
song trong phục vụ có phấn đấu ? Có phấn đấu là tốt, Một sự dấn thân
mà dễ dàng thì chẳng phải là dấn thân. Niềm vui đến khi ở giữa dòng
gió xoắn. Cuối đời nhìn lại mà thấy tôi phạm lỗi từ bỏ đời Linh mục
thì sẽ buồn biết bao ! Lúc ấy tôi sẽ bảo tôi : " Bao năm miệt mài học
hành để được chịu chức, bây giờ tôi đã để trôi vào ống cống". Thường
chúng ta quên rằng bất cứ lời thề hứa nào cùng đòi hy sinh, sự cống
hiến hết mình. Nó không thể chỉ là một lời thề có giới hạn. Chúng ta
phải lập lại lời hứa mỗi sáng.
Có nhiều lần tôi đã nghĩ xếp va ly đi về. Phần đông bạn lớp tôi đã bỏ.
Một vài người đã viết thư bảo họ không hạnh phúc. Họ nhầm lẫn. Buồn
biết bao ! Một trong những khó khăn gặp phải khi muốn đem những Linh
mục đó trở về là : nhiều người trong số bỏ đi đã già. Người trẻ Giáo
xứ lại cần những Linh mục trẻ để họ quan hệ.
Niềm vui mà hằng ngày tôi cảm nghiệm được là sự phục vụ tôi đang cho
có giá. Vui biết mấy khi nghe giáo dân nói : “Tôi rất sung sướng có
Cha ở bên". Hay " Tôi vui mừng thấy Cha tĩnh tâm trở về". Mới đây trog
lúc sửa soạn cho hôn lễ, một cô phù dâu xin đuợc nói chuyện với tôi.
Cô nói : " Tôi đã xưng tội với Cha gần một năm rồi. Đời sống tôi trước
đó rất bê bối. Cha đã giúp tôi. Tôi đã làm đúng những gì Cha bảo và
chấp nhận những giá trị mà Chúa Kitô để lại cho chúng ta. Tôi đổi đời
hoàn toàn. Bây giờ tôi rất hạnh phúc. Hôm nay tôi đã thoát khỏi nghiện
ngập và những thói xấu quấy nhiễu tôi". Một sự kiện nhỏ, nhưng đáng
giá.
Tại sao hôm nay tôi còn đứng vững ? Tôi tin là tôi có đức tin mạnh vào
Chúa. Hầng ngày tôi cảm ơn Chúa về đức tin của tôi. Một điều khác hằng
ngày củng cố và dễ dàng giúp tôi đứng vững là sức mạnh lòng thương
của giáo dân dành cho Linh mục. Liên lạc mật thiết với dân xứ là
một món quà vô giá Linh mục đến với Giáo xứ gần giống như lên một
chiếc tàu qua đời sống phục vụ và giảng dạy. Ngài bỏ cái này cái khác,
song Ngài cũng chất cái khác lên. Từ giáo dân Ngài nhận được rất nhiều.
Khi ngài rời cảng, hành lý Ngài lại đầy.
Nếu không có Linh mục,
khi gặp khủng hoảng giáo dân sẽ đi đâu ? Thường những người trở lại
với tôi sau một thời gian lâu khi họ tham vấn với tôi, họ đã nói với
tôi : “Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không được nói chuyện
với Cha". Một hai người cho rằng những hy sinh mà chúng ta kêu gọi họ
làm rất có giá trị. Chức Linh mục có gía trị rất lớn trong xã hội, dầu
ngày nay chúng ta vẫn nhận được những bêu xấu của báo chí.
Chức Linh mục kích thích chung quanh tôi song cũng biến tôi thành một
người khác tôi. Và đó là điều sung sướng Linh mục bây giờ hoàn toàn
khác lúc tôi còn là cậu bé. Không còn phải là tiếng gọi đầy mộng mơ
của năm xưa, mà hoàn toàn thực tế. Chúng ta giống như các Ngôn sứ thời
Cựu Ước. Nhiều người trong chúng ta bị bách hại. Nhiều người mất mạng
sống. Chúng ta là những dụng cụ Thiên Chúa dùng để đem sự thật cho dân,
rõ ràng và vững chắc nếu có thể được. Nếu Linh mục nào đó đang đi tìm
một cuộc picnic, hãy để Ngài lấy rổ của Ngài và đi xuống sông. Ngài
không thể tìm điều đó trong chức Linh mục. Song Ngài sẽ khám phá ra
rằng: linh mục là một đời sống tuyệt diệu, một đời sống chứa chan niềm
vui. Ngài cũng khám phá ra rằng : Ngài có thể là một ảnh hưởng tốt cho
hàng trăm, hàng ngàn người dân .
Cha William Bausch là một Cha sở tài năng và khéo léo, một văn sĩ, một
người kể chuyện tuyệt vời và là nhà giảng thuyết. Những bài giảng của
Cha hấp dẫn đến nỗi giáo dân đã ghi âm và cho xuất bản. Tinh thần trẻ
trung của Cha là phần đóng góp đáng kể đến nỗi Cha xin về hưu sớm vào
tuổi 67 năm 1996. Có lần Cha được báo " Người tường thuật Công giáo
Quốc gia" mô tả là một con người có năng lực của một đứa bé 5 tuổi
thích sô - cô - la" và coi Giáo xứ Cha đã bỏ về hưu, xứ Đức Mẹ Maria,
ở Colts Neck, New Jersey là " mô hình cộng tác về mục vụ và phụng vụ
sau Công đồng Vaticanô II".
Bất cứ Linh mục nào hướng dẫn phát triển một Giáo xứ kiểu mẫu theo
tinh thần Vaticanô II phải là một vị mục tử chẳng những có cái nhìn
hiện tại mà cho cả tương lai. Đó là Cha Bausch, sinh ngày 03-3-1929
tại Janesburg, New Jersey. Cha là Linh mục Giáo phận Trenton, chịu
chức năm 1955.
Ngay từ lớp ba tôi đã hay nói. Để giúp tôi giữ im lặng, sơ Francos
Carmel đã di chuyển bàn học tôi gần bàn của Sơ, gần như vậy mà tôi vẫn
nói chuyện ào ào. Sơ đã giúp tôi thích thú làm vị truyền giáo, đặc
biệt truyền giáo ở Trung Quốc. Đất nước này đã làm tôi say mê chỉ với
một lý do đơn giản là nó ở tận cùng xa tắp bên kia thế giới.
Sau hai năm trung học, tôi quyết định vào Chủng viện. tôi được nhận
vào trường Thánh Charles ở Cantonville, Maryland. Thời ấy đi đến đó
phải mất 8, 9 giờ. Một tuần sau tôi bị trả về nhà. Cha Giám đốc - Cha
Gleason, thấy tôi không biết tiếng La tinh. Bài thi sơ khởi tôi được
16 điểm, kể cả 10 điểm vì tôi đọc đúng tên tôi . Các Ngài cho tôi về.
Khi tôi bấm chuông, mẹ tôi rất buồn như muốn đứng tim, song cả nhà ủi
an tôi.
Sau năm thứ ba trung học, tôi lại xin vào Cantonville. Các Ngài nhận,
song chỉ coi là học sinh dự bị. Như vậy, ở đây tôi là một học sinh 17
tuổi, học một năm tiếng La tinh với những học sinh 13 tuổi. Năm sau
tôi được xếp vào một lớp nổi tiếng dành cho những người chậm hiểu. Tôi
có nhiều thời giờ. Thời giờ đã giúp tôi thành người may mắn. Tôi khám
phá ở tầng lầu trên cùng có một thư viện. Thế là tôi đọc như ngấu
nghiến. Đó là bắt đầu tiến trình tự học, cái đã như là một đại hoạ
trong đời tôi, thì nay đã biến về phía sau trường học. Tôi được phần
thường.
Chúng ta là những Linh mục triều. Chúng ta cống hiến cho dân biết bắt
liên lạc trong một thế giới cắt đứt liên lạc. Mọi liên lạc dễ
dàng bị cắt đứt. Chúng ta đang nối họ lại với điều còn lớn lao hơn bản
thân họ - đó là Giáo phận, là Giáo hội hoàn cầu, là cộng đoàn đông đảo
các thánh và là cộng đoàn có cả chiều ngang lẫn chiều dọc, cả tự nhiên
lẫn siêu nhiên. Chúng ta cống hiến cho họ một dấu hiệu bí tích luôn
luôn lớn lao hơn những gì họ trông thấy.
Một bản thăm dò mới đây cho hay 75% người Công giáo yêu mến đức tin
của họ. Họ không có ý tưởng rời xa Giáo hội. Tôi nghĩ sự thiết
thân này một phần nhờ các Linh mục đã ở đó nối kết họ, cộng tác với họ,
giúp họ biết họ được liên kết. Đó là một điều các Linh mục cần làm.
Điều khác là chúng ta có thể nói thoải mái về những thực tại thiêng
liêng. Dân chúng đói Chúa. Hãy nhìn những cuốn sách viết về các Thiên
Thần, về đời sau. Các kệ sách trong nhà sách đầy dẫy. Và dân chúng
đang mua. Các Linh mục ở đó chỉ cho họ đến với Phúc Âm đích thực, cử
hành với họ các bí tích, dầu với những người Công giáo dửng dưng cũng
vẫn đầy ý nghĩa. Truyền thông xã hội chỉ cống hiến cho họ chiều kích
xà xà mặt đất, chiều kích trần tục. Còn Linh mục cống hiến cho họ một
chiều kích khác .
Có một nhóm người ngày nay rất cần Linh mục là trung niên.
Nhiều người đã không có ý niệm về Công đồng Vaticanô II. Họ không có
những từ ngữ mà người Công Giáo lớn tuổi hơn dùng làm bảo chứng. Chẳng
hạn, họ không có ý niệm về tuần 9 ngày, về chuỗi Mân Côi. Họ coi họ là
Kitô hữu lớn hơn là Công giáo. Do đó lý lịch Công Giáo là vấn đề lớn
với họ. Nhiều người không còn đi nhà thờ. Tuy họ tử tế và chân thực.
Hãy nghĩ điều này : hàng trăm hàng ngàn trẻ em lớp tuổi 13 sẽ lang
thang tới Taizé, tới tu viện Weston. Những em Công giáo lớp tuổi này
cũng đang mua những sách thần học nông cạn. Chúng đói cái gì đó và
chúng dễ dàng theo những chuyện nhảm nhí. Chúng cần cả mục vụ lẫn điều
kiện cho mục vụ, bởi vì tính tự nhiên của chúng đòi hỏi.
Vì một vài lý do tôi đã không cổ võ ơn gọi nhiều trong mấy năm
vừa khi chịu chức. Tôi không nắm chắc lý do, song có lẽ tinh thần tôi
bị dao động bởi các Linh mục bỏ ra đời. Và có lẽ tôi cũng cảm thấy
buồn vì những xì - căng - đan của hàng giáo sĩ. Tôi không chắc là có
ai đã vào chủng viện vì đọc sách của tôi, song tôi biết có một vài
Linh mục rẽ trái đã đọc, đặc biệt cuốn " Take Heart. Father" ( Cha,
hãy lấy lại tinh thần )
Lời thề
của Linh mục có giá trị minh chứng hùng hồn cho xã hội. Trong nền văn
hoá ngày nay, mối liên hệ của chúng ta rất mong manh : 40% ly dị con
cái sống không có cha. Người ta không giữ lời. Các công ty sa thải
công nhân đã phá huỷ sự trung tín của mình. Các Linh mục hạnh phúc
sống với lời thề của mình sẽ nói cho dân chúng biết rằng : thề hứa
không phải là không thể được, nó rất có giá trị. Các cặp vợ chồng lấy
nhau 50, 60 năm cũng là dấu chỉ bí tích cho xã hội. Hãy nhìn đám dân
đứng vỗ tay mừng những đôi vợ chồng kỷ niệm lễ vàng, lễ bạc. Người ta
cảm thấy lòng chân thực đang mời gọi, dầu họ có thể không được trung
tín như vậy.
Tôi rất hạnh phúc và rất đầy đủ trong cuộc sống Linh mục đến nỗi không
thể mơ tưởng đến một lối sống khác. Như vậy, tôi không cần một tín
nhiệm nào cho việc tôi giữ lời thề hứa. Đó là một kinh nghiệm tuyệt
vời không chỉ có tính cách xây dựng, mà còn có cơ hội để thực hiện lý
tưởng cuộc đời. Theo tôi lời thề trở nên khó khăn khi xảy ra những lúc
cuộc đời xuống dốc. Song tôi có biết bao sự nâng đỡ, sự tín nhiệm của
giáo dân tôi phục vụ, đến nỗi những lúc đó trở thành ít ỏi.
Thật thú vị có một điều làm ngăn cản hay ít ra giới hạn các bác sĩ,
nhà báo, luật sư và những nghề nghiệp khác hướng về cuộc sống thiêng
liêng. Đơn giản chỉ vì họ được nhìn như những nhà khoa học. Nếu họ đề
cập đến những lãnh vực thiêng liêng, họ sẽ vượt qua biên giới nghề
nghiệp. Vì thế họ chờ mong một Linh mục nói về siêu nhiên. Nếu vị Linh
mục đó có khả năng, họ sẽ kính trọng sự chuyên môn của Limh mục.
Đời Linh mục của tôi có những niềm vui khó tưởng tượng. Trong đó là
niềm vui được đi dạy dỗ, được thấy các Giáo xứ sống động, đặc biệt là
Giáo xứ Đức Bà ở Colts Neck. Ngay cả bây giờ tôi đến ở đâu, tôi vẫn
thấy Giáo xứ năng động. Người ta từ khắp nơi đổ về để uống cho thoả
thuê những gì nơi đây. Trở thành một dụng cụ nuôi dạy Giáo xứ về tinh
thần cũng như vật chất là một niềm vui vĩ đại. Chỉ có Limh mục mới làm
được như vậy. Mỗi Thứ Năm Tuần thánh khi lập lại lời hứa, tôi sung
sướng nhắc nhủ tôi rằng : tôi là cha không phải của một người, là
chồng không phải của một người, mà là của mọi người. Phần thưởng của
Linh mục là sự thân tình, là biết được những điều kín của người, là
biết họ tín nhiệm mình không bao giờ tiết lộ những điều ấy, là biết
rằng mình là một thành viên không nói của gia đình họ.
Thật sự tôi tin, tôi còn biết nữa, giáo dân tín nhiệm Linh mục trong
những điều mà mình không tiết lộ cho ai khác. Họ tín thác, dĩ nhiên,
nếu Linh mục trung thực. Tất cả chúng ta mang cả triệu điều kín ẩn của
dân chúng. Một trong những niềm vui trọng đại của chúng ta là được tế
lễ với người dân mà chúng ta biết. Chúng ta ngồi trên ghế chủ tế và
nhìn xem họ. Chúng ta biết trong họ có người là đồng tình luyến ái, có
người có đứa con trai tự tử, có người sẽ chết vì ung thư, có người
đang gặp khó khăn về hôn nhân ..Song họ ở đó, dầu bao thánh giá đè
nặng, họ vẫn hát, vẫn cầu nguyện, vẫn là họ, chứ không phải là tổng số
những cá nhân. Từ cung thánh nhìn xuống, tôi có một kinh nghiệm rất
mạnh về sự hiện diện lạ lùng của Chúa Kitô. Khi họ lên ruớc Chúa, tôi
có thể thấy Chúa ở đó, dầu tôi biết những điều kín của họ. Thật là
phần thưởng cao quý cho tôi. Tôi đã chia sẻ những điều kín nhiệm của
họ. Tôi thuộc về gia đình họ. Đôi khi tôi được có cái cảm nghiệm lớn
lao này là thấy rõ hơn những gì hiện diện, thấy sâu hơn những gì ở đó.
Những giây phút ấy đẹp biết mấy. Tôi say mê. Những giây phút này chỉ
có Linh mục mới có được .
Dĩ nhiên đời Linh mục cũng có những buổi chiều ảm đạm. Theo tôi
nghĩ, một trong những điều khó nhất mà Linh mục phải vác là thiếu sự
tín nhiệm của bề trên. Vài năm sau khi chịu chức, tôi được đổi về Giáo
xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Maple Shade, New Jersey. Sự chuyển đổi này
là một cuộc lưu đày, bởi vì tôi đã viết một bài đăng trong tạp chí "
Ave Maria" nói về những bước chân chậm chạp đổi thay sau Công đồng,
Giáo phận không bằng lòng, các Ngài định phạt tôi. Cha sở nhiệm sở đầu
tiên của tôi đã bào chữa cho tôi. Nhờ vậy, tôi chỉ còn chịu hình phạt
là bị đổi đi rất xa mãi tận ranh giới Giáo phận. Mặc dầu bị bề trên xử
như vậy, tôi vẫn vui trong chức Linh mục. Chẳng có gì làm hạ sút tinh
thần, vì tôi thấy có nhiều sự đóng góp tốt đẹp của tôi cho xã hội. Tôi
đã đấu tranh cho nhiều việc. Một năm một lần Đức Cha gọi tôi và cảnh
cáo tôi. Rồi Ngài bảo tôi không được điều khiển một vài xưởng làm nữa.
Tôi trở về Giáo xứ, làm những gì tôi cảm thấy tốt nhất. Tờ báo Giáo
phận bị cấm không được có tên tôi. Tôi giải quyết vấn đề khó khăn của
tôi đơn giản là không bàn hỏi với các Ngài nữa. Tôi không tự hào giải
pháp này, nhưng bắt buộc vậy. Nét đẹp cuộc đời tôi là giáo dân các
Giáo xứ. Họ là những người cộng tác của tôi. Lời thề hứa Linh mục
không phải là sự thách đố đối với tôi, song là một người bạn đồng hành
làm sung mãn đời tôi .
Tôi cũng có những thất vọng. Mới chịu chức tôi rất lý tưởng. Rồi tôi
bị cảnh cáo. Một bà người Italia sắp chết vì ung thư, bà cưới hỏi bất
hợp pháp. Gần chết bà hỏi tôi có được phép chôn cất trong nghĩa địa
Công giáo không. Tôi viết thơ xin phép Toà Giám mục thì được trả lời
là không. Đối với người Italia, chôn trong nghĩa địa Công giáo là như
được ơn cứu rỗi, nếu không là bị luận phạt. Tôi không chấp nhận ý kiến
của Toà Giám mục. Bà được yên nghỉ trong một mảnh đất của nghĩa địa
Giáo xứ.
Độc thân
là vấn đề của hầu hết các Linh mục. Tuy nhiên với cá nhân tôi, tôi
phải nói là một điều tốt cho tôi, cả về phương diện thực tế và thiêng
liêng. Tôi muốn là người hoạt động. Như thế xét theo công bình, tôi
không thể có vợ, có con. Tôi không theo đuổi cái lối sống rầy rà này.
Xét theo phương diện thiêng liêng, độc thân có thể làm cho Linh mục
trở thành một phần tử trong cuộc sống dân chúng. Tôi trở thành cha, mẹ,
anh, chị của họ. Chiều kích này, sự hiện diện này và thực tế tôi ở đây
không sổ công tác, giúp tôi kiến tạo được mối dây thân tình. Dĩ nhiên
nó sẽ không đến, nếu không có phấn đấu.
Ý kiến riêng của tôi về tương lai của việc độc thân là tôi không bao
giờ muốn hoàn toàn bị bãi bỏ. Đây là một đặc ân. Hứa độc thân có nhiều
điều để nói với xã hội kỳ quặc này. Tuy nhiên, vì là đặc ân, nên cũng
khó biến thành luật. Ngay Chúa cũng nói rằng : “Ai hiểu được thì hiểu"
( Mt 19, 12 )
Để tôi nói với các bạn về điểm mấu chốt đời tôi. Cho nó là sự ngạc
nhiên hay là sự thức tỉnh tùy bạn. Chừng 6 năm sau chịu chức, gia đình
Crowley đến nói về phong trào “Gia đình Công giáo" Các cặp vợ
chồng và gia đình gặp gỡ tại nhà của họ, có thủ bản và Kinh Thánh. Vì
Linh mục có thể tới dự, song không đuợc phát biểu, trừ 5 phút cuối.
Ngồi đó lắng nghe các gia đình bàn thảo về những khó khăn, như rượu
chè đến 2 giờ sáng, con cái nghiện ngập, lo lắng vì thất nghiệp. Tất
cả khiến tôi cảm nghiệm được cuộc sống yên ổn mà tôi đang hưởng. Tôi
học được bài học tôn trọng giáo dân và ca ngợi đặc ân, quà tặng, tinh
thần của họ. " Gia đình Công giáo" đã lột được cái màn mắt của tôi,
giúp tôi thấy được nghị lực, vẻ đẹp của giáo dân khi sống giữa những
vấn đề lớn lao. Từ chỗ đó tôi cũng nhận ra là họ có thể dạy tôi. Đó là
điều tôi nhấn mạnh là cần có sự cộng tác và chia sẻ với nhau.
Tôi cũng có thể có những giây phút rất cảm động với các Linh mục khác.
Tôi vừa nhận được lá thư của một Đức Ông ở Anh. Ngài đã đọc sách “Cha,
hãy lấy lại tinh thần" của tôi. Ngài nói Ngài đang có ý định rời bỏ
chức Linh mục. Nhưng sau khi đọc cuốn sách, Ngài đã bỏ ý định, Ngài ở
lại. Một Linh mục khác ở Nashville cũng nói tương tự như vậy. Tôi cũng
viết cuốn "Xưng tội, đó là Chúa". Tôi đã nhận được lá thư đầy nghị lực
của một nữ tu. Chị nói cuốn sách đã đem chị trở về Toà giải tội.
Tôi đã chịu chức được hơn 40 năm. Tôi tin là tôi đã thấy sự thay đổi
căn bản của địa vị Linh mục. Trong những năm đầu. Linh mục bận rộn
công việc xã hội; nay thì trong việc huấn luyện. Linh mục năm
1955 là người nuôi dưỡng. Ngài ban các bí tích, thăm viếng người đau,
an ủi người chết. Vì lý do thiếu ơn gọi và vì sự quan tâm của Vaticanô
II trong sắc lệnh. “Tông đồ giáo dân". Bây giờ chúng ra nuôi dưỡng
những người nuôi dưỡng, mục vụ cho những người mục vụ. Tình trạng đã
khác hẳn xưa.
Tưong lai của Hội Thánh ?
Tôi đã nói nhiều về vấn đề này. Tôi đã viết cuốn “Giáo xứ cho ngàn năm
tới". Dựa trên những gì đã thấy, tôi tiên đoán :
* Có chiều hướng giáo dân hoá, công việc là chia sẻ và cộng tác. Chỉ
thị từ trên xuống sẽ giảm đi.
* Giáo Hội sẽ đặt nền vững hơn vào Bí tích Rửa tội và đặc sủng hơn là
văn phòng. Đặc sủng hơn văn phòng sẽ giúp hoàn thành nhiệm vụ.
* Giáo Hội sẽ được diễn tả bằng giao tiếp hơn bằng con số và thể chế.
Chúng ta sẽ có nhiều cộng đoàn giao ước và tình nguyện hơn. Trong quá
khứ chúng ta được gọi để vâng lời. Trong tương lai là để quyết tâm.
* Trong xã hội đa cực, đa văn hoá, Giáo Hội của ngàn năm tới sẽ phát
biểu từ sự yếu ớt hơn là quyền lực. Sự thật căn cốt mà chúng ta sống
là Kitô giáo ngày càng là một tôn giáo tình nguyện.
* Giáo xứ của ngàn năm tới quan tâm đến truyền thống khôn ngoan hơn là
trí thức.
* Giáo xứ sẽ giảm bớt chiều hướng chương trình ( program oriented ) và
chiều hướng tinh thần ( spiritually - oriented ) được tăng thêm.
* Giáo xứ sẽ quan tâm đến việc giáo dục liên thế hệ hơn là chỉ giáo
dục trẻ em. Chúng ta không đặt mọi quả trứng chung một rổ.
* Giáo xứ sẽ tồn tại như nó phải có, đúng với truyền thống Giáo hội.
Chúng ta sẽ là cộng đoàn của Giáo hội, chứ không còn là đơn vị biệt
lập, tự trị. Ở đó chức Linh mục sẽ tìm lại tầm quan trọng mạnh mẽ nhất.
Linh mục sẽ là dấu chỉ bí tích của Giáo phận rộng lớn, của Giáo hội
hoàn vũ, liên kết chúng ta thành một dấu chỉ đến độ chúng ta không trở
thành một Giáo hội biệt lập.
Hôm nay là thời điểm tốt để làm Linh mục ?
Đúng và không.
Không, vì công chúng công kích, những xì - căng - đan, truyền thông
chống Công giáo.
Đúng, vì đây là câu trả lời đích thực, vì dân chúng đang bắt đầu đặt
những vấn đề của họ trong chiều hướng vĩnh cửu.
Đúng, vì cuộc thăm dò của viện Gallup mới đây cho biết sự quan tâm của
dân chúng về tôn giáo có tổ chức và về Linh mục đã tăng 10 % . Cũng
đúng, vì đây là thời thử thách, thời chuyển tiếp. Chúng ta đang thắp
lại tinh thần của Giáo Hội sơ khởi, trở về thời Tông đồ, ở đó Giáo Hội
làm việc từ sự yếu đuối của mình.
Và sau cùng đúng, vì chúng ta đang sinh, đang đỡ đẻ cho một Giáo Hội
mới. Chúng ta được kêu mời phục vụ như là đồ đệ. Rõ ràng đó là niềm
vui làm Linh mục hôm nay. Chúng ta đang bắt đầu trở lại giặt lưới.
Chúng ta đang đối diện với những thách thức mà trước đây không có, trừ
50 năm đầu của Giáo Hội.
Đây là sứ điệp của tôi cho những ai đang suy nghĩ về chức Linh mục :
“Hãy nhảy lên tàu ! Đây là thời đại đầy hứng thú. Bạn sẽ gặp nhiều khó
khăn, sẽ đối diện với sự bắt bớ, song những cuộc chiến thắng sẽ vĩ đại"
Chúa Nhật IV Phục Sinh
NGÀY ƠN GỌI QUỐC TẾ
CÁC ANH HÃY
THEO TÔI
( P. 155 - 186 )
Người bảo các ông : ' Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh
thành những kẻ lưới người như lưới cá". Lập tức hai ông bỏ chài lưới
mà đi theo Người". ( Mt, 4, 19 )
Phêrô và người anh là Andrê đã bỏ lưới mà theo Đức Giêsu. Bỏ lập tức
những gì các Ngài đang làm mà theo Đức Giêsu. Nhiều người Công giáo
nghĩ rằng những người đón nhận ơn gọi Linh mục cũng giống như
Thánh Phêrô và các tông đồ tiên khởi : rõ ràng, quả quyết, lập tức. Có
trường hợp như thế, nhưng không phải luôn luôn, có những người phải
vật lộn với câu đáp trả của mình mới vào chủng viện, ngay cả sau khi
chịu chức. Êlia, Ngôn sứ vĩ đại, đã buồn chán và quỵ ngã với ơn gọi.
Ông vào sa mạc, nằm dưới gốc cây, xin Chúa cho được chết, Thiên Chúa
đã sai một Thiên Thần đến bảo chỗi dậy, ăn uống và tiếp tục đến núi
Horeb, kẻo không còn đủ thời gian để hoàn thành công việc của Thiên
Chúa ( I. Vua. 19, 4 - 8 ) Đoạn sách này chia sẻ những câu chuyện của
bốn Linh mục kể lại những kinh nghiệm khi phải phấn đấu để đáp lại lời
mời gọi của Thiên Chúa.
Benjamin là đứa con út và yêu dấu của Giacóp ( Sáng Thế 34, 16 - 20 )
" Benjamin" cũng là từ tình cảm để gọi các tân Linh mục của hàng giáo
sĩ. Cha Ned Blick sinh tại Hutchison, Kansas, tháng 6 - 1964 là một
trong hai "Benjamin" của tập sách này, Ngài thụ phong ngày 23 - 05 -
1992, chỉ mới bốn năm khi được phỏng vấn. Ngài đang phục vụ giáo phận
Wichita .
Con đuờng tới chức Linh mục của cha vòng vo chứ không thẳng tuột, sự
phấn đấu của Ngài để có quyết định làm Linh mục, thậm chí cho tới gần
ngày chịu chức, rất là hữu ích cho những ai gặp khó khăn khi nhận định
và đáp trả ơn gọi làm Linh mục.
Cha Blick rất thành thật khi kể chuyện mình sau bốn năm làm Linh mục.
Ngài thành thật nói về sự độc thân, về sự cần thiết để quyết tâm và
đặc biệt về niềm vui của đời Linh mục. Ngài nhiệt tâm khích lệ những
ai suy nghĩ về chức Linh mục.
Bảy người con của gia đình tôi được lớn lên trong nền tảng Công giáo
vững chắc. Chúng tôi đọc kinh gia đình, lần chuỗi hằng ngày và trên xe
đi nghỉ hè cũng lần chuỗi. Hạt giống ơn gọi của tôi được vun trồng đầu
tiên và đứng hàng đầu ở trong gia đình. Cha mẹ tôi không nói về khả
năng học làm Linh mục của tôi, song bạn có thể hiểu được là các ngài
sung sướng biết bao, nếu tôi chọn làm Linh mục. Các ngài không bao giờ
nói xấu về bất cứ một Linh mục nào và cũng chẳng cho phép chúng tôi
nói xấu. Các anh em chúng tôi thường chơi cút bắt ở sân và thường nói
với nhau về những ước muốn tương lai. Một trong anh em tôi muốn làm
bác sĩ. Còn tôi muốn làm Linh mục. Chúng tôi coi hai lý tưởng này là
hai sứ mệnh cao cả nhất : một chữa lành phần xác, một chữa lành phần
hồn. Cả hai chúng tôi đã đi tới đích ước mong.
Ba người con của các mợ tôi là nữ tu. Mỗi lần viếng thăm, tôi đều cảm
nhận các chị vui sống đời tu. Các chị rất bình an và hạnh phúc. Một
cậu tôi là Linh mục dòng Bênêđictô ở Shawnee, Oklahoma. Cậu tôi giống
như " Ông già No- en", vui vẻ và cười luôn.
Còn một ảnh hưởng nữa cho ơn gọi của tôi là nền giáo dục Công giáo.
Suốt những năm trung học, tôi đã học những trường của các giáo xứ. Nhờ
đó tôi được dâng lễ trước khi vào lớp. Tôi là cậu giúp lễ. Khi ở cấp
I, chúng tôi được yêu cầu vẽ một hình ảnh diễn tả điều mình ước muốn,
tôi đã vẽ hình ảnh Linh mục. Đôi khi tôi nói với người ta là tôi chẳng
bao giờ có quyết định nghiêm túc làm Linh mục, chỉ khi lên cấp II mới
có .
Học trung học, tôi gặp một lô bạn gái và ước vọng của tôi chùng xuống
đôi chút. Suốt những năm đó, tôi đã nói với cậu tôi, Linh mục dòng
Bênêdictô, về sự lưỡng lự của tôi. Cậu tôi bảo : "Cứ mở ngỏ những chọn
lựa. Đừng quan tâm đến việc chọn lựa những loại hình cuộc sống. Điều
cần là bằng cấp". Tôi coi đó là ý kiến hay, tôi tiếp tục học lên đại
học. Ngay sau khi tốt nghiệp, ý tuởng Linh mục lại đến với tôi và tôi
vào chủng viện ở Núi Đức Mẹ, Emmitsburg, Maryland. Hồi học đại học,
tôi có một bạn gái. Tôi vẫn tiếp tục liên lạc với cô ta. Tôi ở chủng
viện đúng được một kỳ học. Tôi ra làm việc : lái một trong những xe
chở bia của cha tôi. Rồi tôi vào lại đại học, học làm kỹ sư.
Không bao lâu tôi thấy rằng nghề kỹ sư không hợp với tôi. Tôi lại bắt
đầu nghĩ về chức Linh mục. Vì thế, tôi vào đại học để học Triết. Sau
cùng tôi nghĩ là phải bỏ lối sống thử nghiệm này. Tôi quyết định dứt
khoát. Lần thứ hai tôi làm đơn lên văn phòng ơn gọi. Tôi nói với Cha
giám đốc chủng viện, tôi sẵn sàng và tôi được chấp nhận. Tuy nhiên tôi
vẫn còn do dự, không dứt khoát. Tôi tình nguyện giúp các sơ trường
Thánh Giuse, những người dạy các em tàn tật. Một sơ nói với các em là
tôi sẽ trở lại chủng viện. Tôi xin sơ giữ bí mật, vì tôi lại còn lưỡng
lự. Tôi vào nhà nguyện suy nghĩ cầu nguyện. Đây là một trong những
buổi cầu nguyện khó nhất trong đời. Có một sơ, rất đạo đức, đi vào và
quì bên cạnh tôi. Sơ cầm tay tôi và hỏi xem có vấn đề gì thế. Tôi nói
là tôi có bạn gái và tôi đang lưỡng lự có nên vào lại chủng viện không.
Tôi chưa bao giờ gặp ai hiểu ý nghĩ và nhu cầu của tôi bằng sơ. Cầu
nguyện với tôi và sơ đã khóc . Sơ bảo : “Nếu anh không học làm Linh
mục, thì ai sẽ học. Lúc đó tôi cảm thấy tôi đã có câu trả lời, câu trả
lời chắc chắn hơn bao giờ hết. Sự chắc chắn này cũng chỉ kéo dài được
đúng hai tuần lễ.
Bạn có tin không ? Tôi vẫn còn áy náy nghi ngại. Chủng viện gần khai
giảng. Tôi gọi điện thoại cho Cha giám đốc. Tôi nói cho ngài biết sự
lưỡng lự của tôi. Tôi chưa muốn vào chủng viện. Tôi lại muốn bỏ cuộc.
Ngài bảo tôi ở nhà và cho tôi một tuần suy nghĩ. Đến bây giờ tôi vẫn
cảm phục sự kiên nhẫn và sự hiểu biết của các ngài, Các ngài có thể
viết giấy để loại tôi, song các ngài đã không làm. Cuối cùng tôi vào
chủng viện. Tôi cảm thấy bình an. Và từ đó con đường cứ xuôi chảy.
Đúng, hầu như xuôi chảy. Bạn hãy tưởng tương cái gì đã đến với tôi vào
đêm trước khi tôi chịu chức ? Nửa đêm tôi thức dậy. Tôi lo âu về bước
nhảy lớn mà tôi sẽ nhảy sáng ngày. Tôi nhìn cuốn Kinh Thánh
trên bàn. Tôi mở Thánh Kinh. Mắt tôi nhắm lại. Tôi để ngón tay vào
giữa trang. Tôi gặp câu của ngôn sứ Giêrêmia : " Khốn cho cái ngày
tôi được sinh ra. Có lẽ ngày mẹ tôi sinh ra tôi không bao giờ được
chúc phúc". Câu đó làm tôi thức suốt đêm. Có một lúc tôi nghĩ tôi
phải trốn chạy. Rồi tôi lại nghĩ : nếu tôi trốn, mẹ tôi sẽ tìm tôi và
bắt tôi trở về. Dù nghĩ gì đi nữa thì mẹ tôi đã gửi thiệp mời đi khắp
nơi rồi. Tôi đành rũ bỏ mọi nghi ngại và chẳng còn tìm câu Kinh Thánh
nào chỉ dẫn cho mình nữa. Tôi nghĩ mọi cuộc vật lộn đó sẽ trở nên hữu
ích cho tôi sau này. Bạn sẽ chẳng bao giờ chắc chắn mãi đến khi Đức
Giám mục đặt tay trên đầu bạn. Đôi khi Thánh Thần, như Người làm nơi
Samuel, gọi hoài, gọi hoài.
Làm Linh mục mới đuợc bốn năm, tôi không thể chia sẻ nhiều kinh nghiệm
kỳ thú của đời Linh mục như một Linh mục thật là tuyệt vời. Ba
năm tôi phục vụ giáo xứ Thánh Phanxicô Assisi ở miền tây Witchia, một
giáo xứ lớn với 2.400 gia đình. Hiện nay tôi đang phục vụ giáo xứ
Thánh Tôma Aquinô miền. Đông Witchita với 2.400 gia đình và một
trường học.
Tôi đang dạy học và chuẩn bị cho các đôi hôn nhân. Tôi thích công việc
này, có lẽ vì tôi đã và đang gắn bó mật thiết với gia đình tôi. Chúng
tôi có một lớp nhập môn Kitô giáo cho chương trình huấn luyện người
lớn và sẽ kết thúc vào lễ Phục Sinh. Tôi còn cộng tác vào trường học
của giáo xứ và dạy giáo lý cho các trường công lập. Phần đông học sinh
giáo xứ theo học trường Công giáo suốt những năm trung học. Trường
trung học là liên giáo xứ. Tôi dạy mọi lớp của truờng. Tôi thăm các
gia đình và các bênh viện. Công việc tuy bận rộn, nhưng tôi yêu thích.
Thường trong giờ ăn trưa, học sinh hỏi tôi " Tại sao cha làm Linh
mục ?" Cha là một người thanh niên bình thường ? Tôi không có
nhiều thời gian để giải nghĩa cận kẽ những động lực của tôi. Đôi khi
tôi bảo tôi có cái nhìn lạc quan trong bi quan hoặc là tôi đã thua
cuộc. Thật vậy, ở đại học tôi đã có bạn gái " Nếu cô vào nhà dòng, tôi
sẽ vào chủng viện". Nàng thắng cuộc. Đôi khi tôi còn nói : tôi đã cầu
nguyện nhiều để xin Chúa giúp cho tôi biết tôi làm gì để thực sự hữu
ích cho đời tôi và Người đã đáp lại lời cầu của tôi. Tôi còn nói với
học sinh : tôi có thể nào mà kêu mời một người trong bệnh viện đã bỏ
Giáo hội quay trở về, nếu tôi không là Linh mục ? Tôi tự nói với tôi :
" Tôi đã vừa cứu được một linh hồn". Dĩ nhiên có vẻ hơi phóng đại,
song điều đó diễn tả cái tôi cảm nghiệm sau sự việc đó. Ít ra tôi có
thể nói chiều này tôi đã làm một việc hữu ích, một việc mà tôi không
thể làm được nếu tôi là nhân viên ngân hàng hay là luật sư. Thật ra họ
cũng có thể giúp cho người ta trở về với Giáo hội, song tôi có nhiều
dịp hơn họ.
Tôi thường nói cho các học sinh biết giá trị ơn gọi Linh mục. Tôi nghĩ
nếu tôi khua chiêng gõ mõ, tôi sẽ tin được ơn gọi. Trong giáo phận tôi
có 90 Linh mục và có 20 chủng sinh. Chúng tôi đã bắt đầu có lớp học
cuối tuần về ơn gọi. Mỗi năm có 40 hay 50 thanh niên tham dự. Năm nay
chúng tôi sẽ có khoảng 5 đến 10 người vào chủng viện.
Tôi cũng cho họ biết tầm quan trọng của Lời thề. Nếu họ hoàn
toàn muốn thì hãy làm Linh mục. Các bạn trẻ hiểu và tôn trọng lời thề
hứa. Tôi thích làm việc với giới trẻ và chỉ cho họ thấy rằng : trong
xã hội thiếu thốn giá trị, chúng ta có thể bỏ mọi sự, song có một cuộc
sống hạnh phúc. Tôi tự gọi tôi là Linh mục sân chơi. Tôi có thể có
nhiều việc làm trong sân chơi chỉ trong một giờ hơn là thời gian còn
lại trong ngày.
Từ khi tôi chịu chức, tôi ngạc nhiên, đúng hơn là sửng sốt khi thấy
những việc đòi hỏi tôi cố gắng một chút mà có ảnh hưởng lớn trên dân
chúng. Tôi thăm viếng họ ở bệnh viện và họ đã không quên. Tôi chỉ đơn
giản gọi điện thoại mà người tôi gọi lại rất biết ơn. Tôi cho một học
sinh biết thời khó khăn của Giáo hội, thế mà cha mẹ em xúc động vì tôi
đã lưu tâm đến con cái của họ. Tôi chẳng nghĩ rằng bằng những việc nhỏ
như thế mà lại có ảnh hưởng lớn. Tại sao những việc đó lại đáng quan
tâm đối với các Linh mục ? Có lẽ tại vì chúng ta đụng đầu tới chiều
kích tâm linh của dân chúng, trong khi các nghề khác thì không.
Người ta cần nhu cầu tâm linh sâu xa. Khi họ gặp được nhu cầu này, họ
sẽ đáp lại dẫu không tương xứng.
Một hạnh phúc đặc biệt cho tôi là bữa tiệc chia tay của giáo xứ Thánh
Phanxicô Assisi để đi nhận giáo xứ thánh Tôma. Số người giáo xứ đến
nói với tôi là họ thật sự nhớ tôi và cảm nhận những gì tôi làm cho họ.
Đó là mọt xác tín đậm đà bạn không thể tin. Dẫu tôi chỉ ở đó có ba năm.
Tình bạn Linh mục cùng đem lại niềm vui. Chúng tôi có một nhóm
Linh mục cùng nhau ăn trưa, xem xi nê, đi xe đạp, du hành đến các hồ.
Khi quyết định làm Linh mục, tôi sợ bị cô đơn. Song tôi chẳng bao giờ
cô đơn, bởi vì tôi có sự nâng đỡ của các Linh mục trong nhóm và của
những bạn thân trong xứ.
Đặc biệt độc thân chẳng phải là chuyện dễ dàng đối với tôi. Tôi
đặt giá trị cao về gia đình, vì thế tôi thường ước muốn có một gia
đình tư riêng cho mình. Thỉnh thoảng lời hứa sống độc thân trở nên
gánh nặng, song không trở nên sự cản trở cho công việc. Mọi người nghĩ
: trong đoạn đường nào đó của Linh mục sẽ có một cuộc chiến đấu, hoặc
trước hay sau khi chịu chức. Tôi may mắn và hạnh phúc đã có cuộc chiến
đấu đó. Tôi đã vượt qua và nay mọi sự trở nên tốt đẹp trơn tru. Đối
với tôi, đời sống độc thân là một diễm phúc. Tôi thích lý tưởng hiến
thân cho Chúa và cho Giáo Hội. Món quà đặc biệt này là một chuyện tình
lãng mạn với đầy ý nghĩa. Hiện nay độc thân đòi Linh mục phải vào nhà
nguyện để lấp lại chỗ hổng cuộc đời. Lỗ hổng này được lấp đầy bởi sự
thân mật với Thiên Chúa. Nói cách khác, đòi hỏi này không chỉ có thể
mà còn thúc đẩy tôi phải giao tiếp thân mật với Chúa. Tôi nói theo
chiều hướng tích cực. Tôi biết sẽ có nhiều bất đồng của cả Linh mục
lẫn giáo dân, song tôi tin độc thân sẽ tồn tại lâu dài và phải tồn tại.
Tôi chẳng tin độc thân là chướng ngại của ơn gọi.
Quả lắc đang lắc khỏi chiều “tự do yêu" của thời đại và đã đến thời
người ta quan tâm đến công việc của Linh mục. Cách đây vài năm tôi đến
Medjugore và giúp đỡ một sơ leo lên Đồi Hiện Ra. Chị thuộc dòng Chúa
Chiên Lành. Ơn đặc sủng của dòng là cầu cho Linh mục. Chị nói chuyện,
chị hỏi về đời sống cầu nguyện của tôi. Chị nói : “Linh mục có nhiều
giờ để chơi banh, câu cá, chơi gôn, mà lại không có giờ cầu nguyện sao
? Cha phải cầu nguyện vào giờ đó hằng ngày". Tôi cho rằng chị đã đọc
được tâm hồn của tôi. Rồi chị tiếp : “Cha phải làm nhiều điều tốt. Cha
là con người của đôi mắt Thiên Chúa. Mỗi khi thức giấc, Cha phải nhắc
nhủ mình như thế" Người ta thích sơ biết cách đem lại lòng nhiệt thành
cho đời Linh mục. Chị đã bắt tôi suy nghĩ nhiều và giúp tôi cầu nguyện
thêm chút nữa.
Đời Linh mục tôi không hoàn toàn hoàn hảo. Tôi có những ngày hắc ám.
Cha tôi là một người lạc quan về thời tiết. Một bạn tôi sắp sửa chịu
chức. Anh đến nhà tôi. Cha tôi bảo : " Linh mục là cuộc sống cao cả".
Rồi tôi nghe má tôi từ dưới nhà vọng lên : “Nhưng cũng là một cuộc
sống gian khó". Giữa hai điều có một chân lý này : Linh mục là cuộc
sống để tạ ơn Chúa hằng ngày.
Cha Andy Umberg là một Linh mục tương đối “mới" Ngày sinh năm 1963 tại
Cincinnati. Thụ phong Linh mục năm 1991, phục vụ giáo phận Cincinnati.
Ngài là Linh mục phụ tá giáo xứ thánh Đaminh ba năm, rồi được sai làm
Viện trưởng Giáo hoàng học viện Josephinum, Ohio.
Cha Umberg không phải là một trong những người lập tức theo Đức Kitô
sau khi nghe tiếng gọi Linh mục. Ngài quan sát cửa hàng ơn gọi một
thời gian. Ngài là một người trẻ biết phân tích giá trị, xác tín đời
sống độc thân và coi đó là một uỷ nhiệm.
Tôi thuộc loại Linh mục trẻ mà được uỷ nhiệm chức lớn. Tôi mơ ước
những điều mà thế hệ trước tôi từng mơ ước. Thể hiện mơ ước, tôi bắt
đầu vào vườn trẻ năm 1968. Phong trào Hippi tiếp tục phát triển và lý
tưởng của Công đồng Vatican II được đâm rể. Có lộn xộn và phản chứng.
Tuy nhiên việc giáo dục đức tin hồi thơ ấu bởi cha mẹ và những lớp
giáo lý trong trường rất là vững chắc. Từ năm 1970 - 1977 việc huấn
luyện tôn giáo ở nhà trường dễ bị tan vỡ. Quả vậy, giáo lý dù là
điều rất nhỏ đã được dạy theo hình thức. Sách Giáo lý quả là một đại
hoạ. Người ta đề cập nhiều về tình yêu tha nhân, mà ít về tình yêu
Thiên Chúa. Ngay thời đó, tôi cảm thấy có gì sai, có gì thiếu sót
trong vấn đề luân lý xã hội. Đã có nhiều cái chẳng có tín lý. Tuy
nhiên vẫn có một số giảng viên can đảm và xác tín về chương trình giáo
lý. Tôi muốn biết hơn về Chúa Giêsu. Dường như quan điểm về thế giới
của tôi khác và những gì tôi đang học trường, có thể vì cha tôi và vì
lối sống của người. Tôi có cuộc sống nghiêm túc và bởi vậy bị những
người không muốn sống như thế cho là lạc lõng. Đây là thời đại vàng
son của TV và tôi bị ảnh hưởng, đặc biệt là những sản phẩm của Norman
Lear.
Những lý tưởng từ đó được đưa vào đầu óc tôi và bắt đầu ảnh hưởng đến
đức tin của tôi. Tôi có thái độ chống lại quyền lực, thái độ đó ảnh
hưởng đến cả việc sống đạo. Gia đình tôi đi lễ mỗi Chúa Nhật và Lễ
Trọng. Không có ai trong gia đình đặt vấn đề này, tôi lại có. Vì một
vài lý do và vì sự phản loạn của tôi, tôi đã không đi lễ. Tôi hiểu đi
lễ là rất quan trọng, dầu tôi không phải là cậu giúp lễ ( có lẽ vì tôi
sống xa nhà xứ và vì tôi ham mê thể thao nên ít còn thời gian cho
những vấn đề khác ).
Năm đầu ở trường Công giáo cấp III tôi lại đi lễ hàng ngày, một trong
những giáo sư của tôi là một Cha Dòng Tên rất đạo đức. Ngài khuyến
khích lòng sùng mộ Thánh Tâm và phê bình một vài xu hướng thần học
hiện đại. Năm thứ hai tôi coi là việc buồn tẻ và không siêng đi lễ nữa.
Tôi bắt đầu nghĩ đến vấn đề hôn nhân. Trên TV nói nhiều về tình dục và
tôi nghĩ giải pháp thích đáng duy nhất là phải có kinh nghiệm mới dám
đi tới hôn nhân. Tôi theo giải pháp này. Năm thứ ba tôi làm việc ở
quán bán thức ăn ăn liền. một tuần 35 giờ và ít học hành. Một trong
những anh em của tôi cũng theo tôi. Chúng tôi xin cha tôi năm thứ IV
học trường công. Thật ngạc nhiên cha tôi đã bằng lòng. Trường gần sân
nhà của chúng tôi, thay vì phải mất 40 phút xe buýt mới đến trường
Công giáo. Một trong những lý do thay trường là tôi chán việc dạy
giáo lý. Các giảng viên chế nhạo tôn giáo, các sơ và đôi khi các
Linh mục. Rồi tôi cũng thấy ở trường công cũng chẳng tốt hơn, các học
sinh rất là nông cạn. Đây là thời kỳ hoàn toàn vật chất, thời mốt quần
"din Jordache". Các bạn lớp nghĩ tôi là thằng phản loạn chống lại lối
sống của họ. Tuy nhiên tôi đã uống bia và đến các dạ hội.
Tôi cũng có những khó khăn riêng. Tôi trở nên chống đối. Tôi thích văn
chương, văn chương thời đó có dấu ấn mạnh thường đuợc viết bởi các nhà
văn vô thần của thế kỷ 20. Tôi không thể hiểu được tại sao những người
Công giáo tốt lại viết về vật chất nặng nề như thế. Kết cục tôi thấy
không có mối giây thông giao giữa đời sống trí thức và đức tin. Môn
tôi thích học là ngôn ngữ. Tôi nghĩ nó phù hợp với cái nghề tôi đang
dự định trong đầu, tôi muốn làm đầu bếp. Chương trình học ở trường
công còn hơn một năm nữa, tôi rời trường và vào học trường nấu ăn.
Tại sao tôi lại theo đuổi nghề này ? Tôi thích nấu ăn và muốn ăn ngon.
Tôi muốn trở thành đầu bếp, có nhà hàng, lập gia đình khi tôi có khả
năng cung cấp và có nhiều con, Lúc ấy tôi không còn ý định làm Linh
mục, mặc dầu lý tưởng đã ám ảnh tôi ngay từ nhỏ. Tôi không muốn sống
độc thân và tôi cùng chẳng muốn mất giờ trong việc học hành.
Sau khi tốt nghiệp, tôi ghi tên vào trường kỹ thuật - không phải là
một trường nấu ăn danh tiếng - chỉ là một trường thường. Sáng đầu tiên,
lái xe trên xa lộ, tôi nghĩ. " Đây là bắt đầu nghề của tôi. Trong hai
năm nữa tôi sẽ là một đầu bếp, bốn năm tôi có nhà hàng rồi lập gia
đình. Giáo hội không muốn tôi làm Linh mục, như vậy tôi sẽ được bình
an"
Tôi lại khám phá sự nông
cạn của các sinh viên. Luân lý của họ đã bỏ những gì đáng ước mơ. Họ
không bao giờ nói chuyện một cách nghiêm chỉnh. Bỗng nhiên ước mơ làm
đầu bếp mất hấp lực. Tôi quan tâm đến văn chương Âu Châu, nhạc Đức và
những món ăn sáng tạo. Nhưng tôi đã không tìm được thú vị trong trường
và trong những nhà hàng tôi thực tập. Cũng chẳng còn thú vị sáng tạo,
chỉ còn sản xuất và kiếm tiền.
Tôi thấy nấu ăn chẳng còn thích hợp với tôi nữa. Tôi phải trở lại học
và lấy bằng cấp. Nhưng để làm gì ? Ý tưởng Linh mục lại đến với tôi.
Tôi lần chuỗi 3 ngày và làm tuần 9 ngày cầu nguyện thánh
Giacôbê để tìm ra câu đáp. Rồi cha tôi bị bệnh tim. Một cú xốc nhắc
nhở tôi : thời giờ rất vắn vỏi. Sự vắn vỏi của cuộc sống trên trái đất
định hình nhiều tới những quyết định của tôi. Kết cục đó là một trong
những điều dẫn tôi tới chức Linh mục. Tôi tiếp tục suy nghĩ rằng nếu
tôi chỉ có 60, 70 năm sống, tôi nên sống tốt, vì tôi chẳng còn cơ hội
nào khác. Tôi còn muốn lậo gia đình, nhưng hình như Linh mục là điều
Chúa muốn gọi tôi đi tới. Tôi quyết định : tôi không thể từ chối như
trước nữa. Nếu quả thật tôi tin Thiên Chúa và Ngài tiếp tục gõ đầu tôi
thì làm sao tôi có thể quay lưng lại với lời mời gọi của Ngài ? Ít ra
tôi phải thử.
Từ khi tôi không còn ý tưởng chạy trốn, thì lại có một nỗi khó khăn là
lý tưởng Linh mục bị rao bán, ngay cả bởi một vài người trong
hàng giáo sĩ. Nhiều kiểu mẫu khác nhau của Giáo hội được trình bày,
trong số đó có vài kiểu mẫu cho là chức Linh mục đang giẫy chết. Chức
Linh mục không và sẽ không bao giờ giẫy chết. chức Linh mục chỉ đổi
thay. Chúa Thánh Thần đã nói với chúng ta ở đâu có sự đổi thay thì sự
đổi thay sẽ hướng dẫn chúng ta. Trẻ con quan sát người lớn và tìm xem
ai đang sống hạnh phúc. Khi chúng thấy có một số người sống rất hạnh
phúc với ơn gọi đặc biệt của mình, thì chúng sẽ gắn bó với ơn gọi đó.
Tôi muốn chỉ cho chúng khía cạnh tích cực của chức Linh mục. Là cha mẹ
thì phải cố gắng tạo niềm vui cho đứa con đang chán nản của mình. Tôi
phục vụ như là một cha mẹ đạo đức để giúp những người trẻ. Trẻ con cho
tôi một đôi giầy trượt tuyết và tôi có cơ hội để sử dụng. Tôi cố gắng
lưu tâm đến âm nhạc mà chúng thích, chỉ cho chúng là tôi thích thú
những thú vui hợp pháp của chúng.
Thiên Chúa đã chúc phúc tôi, trao cho tôi nhiều việc quan trọng và
nhiều bạn bè tuyệt vời. Trong công việc đầu tiên của tôi, tôi được
Cha sở và dân chúng đối xử tử tế và khen ngợi, vì thế tôi không còn cô
đơn. Tất cả mọi người trong xóm đều có vợ, tôi cảm thấy thiếu một cái
gì và bắt đầu cảm thấy buồn buồn. Tôi quyết định đúng không ? Rồi tôi
tìm sự nâng đỡ của bạn bè, đặc biệt nơi một vài Linh mục. Các ngài
giúp tôi lối thoát. Các Ngài nói : đừng phủ nhận khổ đau và cô đơn và
cũng đừng bỏ quan tâm đến tình cảm của mình. Tôi miệt mài trong cầu
nguyện và đọc Sách Thánh. Những khoảnh khắc cô đơn đã đến, rồi đã biến
mất. Lúc đầu chúng làm tôi quay cuồng, nhưng mỗi lần tôi đều nghĩ ra
một chiến thuật tốt hơn để kiềm chế, nên bây giờ tôi làm chủ được.
Độc thân,
sống chân thực đời độc thân, là món quà Thiên Chúa ban cho Linh mục và
cho thế giới. Đó là một tuyên xưng với xã hội hưỏng thụ rằng : một
người có thể mạnh khoẻ và quân bình trong kiềm chế. Tôi tin lời hứa
độc thân làm cho dân chúng nhìn đúng đắn về chức Linh mục, giúp cho họ
bắt chước sống những lời hứa của họ trong đời. Khó thật nhưng mọi sự
đáng giá đều khó. Độc thân Linh mục gợi hứng cho những người có gia
đình trung thành với nhau và cho người còn độc thân giữ lời mình hứa.
Lời hứa độc thân nói lên rằng : chúng ta liệu tính đặt hết tin tưởng
vào lý tưởng được ăn cả ngã về không. Nó nói lên rằng chúng ta là Linh
mục không phải vì nhữngngì là linh mục mà có như tiếng tăm, danh dự,
trọng kính. Nó biểu trưng về những gì chúng ta tin vào đời sau .
Nếu độc thân được tuỳ ý chọn và Linh mục đã chọn, thì dân chúng có thể
nói “Tôi đoán Cha đúng là không muốn lập gia đình". Dân chúng không
còn tin Linh mục chấp nhận độc thân vì lợi ích thiêng liêng. Nếu Giáo
hội thay đổi luật, độc thân được coi như một món đồ trả giá, và đòi
hỏi Linh mục một giá quá đắt, ngay cả là vì Nước Trời. Sự chọn lựa của
tôi nói lên sứ vụ của tôi không phải là việc làm thêm, trái lại sứ vụ
hoàn toàn vì lời thề hứa. Khi tôi bị cám dỗ lười biếng, phung phí thời
giờ, tôi tự bảo tôi " Anh đã bỏ dự tính lập gia đình, sao anh còn ngồi
chơi ?" Độc thân giúp tôi thi hành nghiêm chỉnh sứ vụ và giúp tôi nhớ
rằng sứ vụ của tôi là rao giảng Tin Mừng. Mỗi Linh mục ở trong địa vị
đều đóng góp cho xã hội. Theo nhận xét của tôi, một trong những món
quà ý nghĩa nhất là sự độc thân của tôi. Đó là sự đóng góp hàng đầu.
Vì nó biểu trưng cho sự hy sinh, lòng nhiệt thành và sự đoan quyết. Nó
sẽ khích lệ sự đoan quyết của dân chúng đối với hôn nhân, đức tin và
với bạn bè.
Có nhiều lối đến với chức Linh mục. Người thì được lôi cuốn bởi phụng
vụ, người thì bởi danh giá, ngưòi khác chỉ đơn giản là ước muốn phục
vụ. Cha Donald, dòng Đaminh, được sinh ra để làm thầy dạy. Rồi từ
thời cấp sách đến trường, ngài chẳng muốn gì khác là chức Linh mục.
Trong tâm trí ngài, đường lối tốt nhất để làm thầy dạy là Linh mục.
Ngài không ngừng theo đuổi đích đó với hai chiều : vừa là Linh mục vừa
là thầy dạy. Từ năm 1985 - 1994 lúc mới độ 40, ngài đã là Bề trên tỉnh
dòng Abertô. Hiện nay ngài dạy ở học viện Aquinô, St. Louis.
Cha cũng là một soạn giả nổi danh. Năm 1970 ngài viết cuốn “Tình dục
người độc thân" khảo sát một đề tài mà thời ấy người ta ít chạm đến.
Cuốn thứ hai là " Quyền năng của tình yêu", một khảo luận về tu đức
Kitô giáo. Tiếp theo là 4 cuốn bàn về Kitô học. Cha cũng xuất bản một
cuốn bàn về chức Linh mục và một nhựt ký về diễn trình thần học hiện
nay các tỉnh dòng xuất bản các lá thư của Ngài gửi các anh chị em
trong dòng khi Ngài làm bề trên tỉnh dòng.
Một vài người phát biểu rất vắn gọn, song rất lôi cuốn về mầu nhiệm
Phục sinh chưa được khám phá của đời Linh mục : niềm vui và khổ đau
liên kết với nhau chặt chẽ làm sao. Dầu Cha là một học giả toàn bích,
ngài vẫn nhấn mạnh rằng người ta chẳng muốn tìm người biết về Thiên
Chúa, mà muốn tìm người biết Thiên Chúa.
Cha Goergen sinh năm 1943 trong một trang trại gần Remsen lowa và chịu
chức năm 1975.
Ngay từ buổi đầu, tôi luôn thích thú học hành. Bởi vì khi còn nhỏ tôi
bị bệnh suyễn, nên tôi phải học thì tốt hơn làm nông. Dạy học là một
lối sống thích thú và khi lớn lên tôi luôn ước muốn làm Linh mục để
tôi có thể đi dạy. Trong những năm đại học, tôi thích triết học. Có lẽ
tôi có thể dạy môn này. Rồi tôi bắt đầu học thần học, tôi cũng thấy nó
hấp dẫn. Có lẽ vì thế mà tôi gắn bó với nó. Là một thành viên dòng
Đaminh, thì giảng dạy và đặc biệt thần học là những điều tôi phải làm.
Tôi được Đức Cha tỉnh Sioux nhận là chủng sinh. Tôi vào chủng viện Núi
Thánh Bênađô ở Dubupue, để trở thành Linh mục Giáo phận. Tuy nhiên vì
một sự hiểu lầm, tôi bị đuổi. Tôi ở nhà một thời gian, song vẫn còn
muốn làm Linh mục. Tôi làm đơn xin một vài giáo phận và đều bị từ chối.
Sau một năm rưỡi tôi xin nhập dòng Đaminh Dòng đã nhận.
Tôi luôn tin vào Chúa quan phòng. Khi tôi tóm kết đời tôi, tôi thường
dùng câu này : Chúa = 4, Goergen = 0. Nhiều điều tôi dự định đều không
thể hiện được, đều thể hiện trái với tôi muốn. Nếu tôi được làm Linh
mục giáo phận, thì tôi đã không được phép tham dự vào nhiều loại mục
vụ mà tôi có khả năng. Nếu tôi được làm việc cho giáo phận tỉnh Sioux
thì chỉ định làm Hiệu trưởng một trường trung học và vào thời điểm đó
thì rất là tù túng. Như vậy tôi đã khám phá ra ơn gọi qua những bước
thăng trầm, song cũng qua kiên trì. Dọc đường đi tôi có thể bỏ vài
chặng, nhưng tôi không bỏ và như vậy tôi đã kết thúc đích xác nơi chốn
tôi phải trụ lại. Tôi không bao giờ nghĩ mình được chọn là Giám tỉnh,
thế mà điều ấy đã xẩy ra vào đúng nơi, đúng lúc. Tôi đã được bầu.
Chuyện đời tôi đã một điển hình của mầu nhiệm Phục Sinh. Chỉ qua đau
khổ mới tới hạnh phúc. Thứ Sáu Tuần thánh phải đi trước Chúa nhật Phục
Sinh.
Tôi thực sự tin rằng trong thế giới hôm nay lời hứa tạm thời
cũng có giá trị. Nhưng lời hứa vĩnh cửu còn có giá trị mạnh hơn để cho
xã hội biết rằng nó không đuợc đánh mất. Tôi thường dùng kiểu nói
tương tự này : quan trọng cho xã hội nếu có một số y sĩ và một số nhà
nông. Song không nhất thiết mọi người phải chọn những nghề này. Tuy
nhiên xã hội sẽ không được lành mạnh nếu thiếu vắng họ. Cũng vậy,
không cần mọi người là Linh mục hay tu sĩ, song xã hội sẽ lành mạnh
hơn nếu có những người dấn thân vào những chọn lựa này. Và những chọn
lựa này đòi hỏi một lời thề hứa lâu dài. Lời thề ngắn hạn không minh
chứng cho được chiều sâu của những giá trị cuộc sống. Chúng ta đều có
những lời hứa tạm thời trong một vài lãnh vực. Song sẽ ra sao nếu
chúng ta nói chúng ta làm giáo sư Vật lý trong vòng 4 năm, 4 năm tới
chúng ta sẽ là những nhà sư Phật giáo, rồi 4 năm sau nữa chúng ta sẽ
gia nhập quân đội ? Đời sống có thể giàu kinh nghiệm, nhưng tôi không
bao giờ có lúc nào để nói được điều như điều đã trải qua lúc vui lúc
buồn của mầu nhiệm Phục Sinh. Vì vậy nếu tôi nói tôi sẽ cưới Jane 3
năm, 3 năm sau cưới Sue và 3 năm nữa cưới Mary, tôi sẽ chẳng bao giờ
thấu hiểu được mối tình đầu và chiều sâu của nó.
Nhiều người thường có những lời thề lâu dài vào một điều gì đó. Có vậy
nó mới giúp có được bằng chứng, ý nghĩa và trọng tâm mà đời người nhắm
tới, lời hứa dài bạn không đơn giản là chịu đựng một việc nặng nhọc
phá hại tôi. Song đích thực là một lời tuyên xưng rằng : đây là điều
tôi đang hiến mạng sống mình. Vào tuổi 80, có thể là buồn tủi, nhìn
lại cuộc đời thốt lên : “Tiếc rằng tôi đã hy sinh phục vụ cho nhân
loại, đã dạy học, đã làm Linh mục, đã lập gia đình …" Nhưng còn buồn
hơn nữa vào tuổi đó tôi phải thốt lên : “Thật sự tôi chẳng bao giờ hy
sinh cho một điều gì hay cho một ai đó một cách sâu xa, để biết có
đáng giá hay không hoặc có giá trị gì". Chính trong tâm tình đó mà tôi
nghĩ lời hứa dài lâu không thể lỗi thời. Nó không đòi hỏi bắt cứ ai,
bất cứ lãnh vực nào trong cuộc sống. Nhưng chỉ có những người hoàn
toàn hy sinh cho một cái gì đó mới có thể khám phá ra ý nghĩa của cuộc
đời và cái gì phải dâng hiến.
Điều gì đã gìn giữ tôi
trong chức Linh mục, trong khi vô số bạn dòng đã bỏ cuộc ? Khi bị loại
khỏi chủng viện, tôi cố gắng xin vào địa phận khác hay một dòng nào đó,
thì ông Mimi Vermon, một nhà hoạt động xã hội ở Dubuque, đã nói với
tôi : " Có lẽ ơn gọi của anh mãi mãi là Linh mục, hãy kiên trì xin cho
được, để cho những ai đang ở đó hiểu rằng có một cái gì đáng giá mới
xin vào đó". Một nhận xét chính đáng, Linh mục bỏ cuộc bởi vì họ không
khám phá ra cái gì đáng giá để hiến thân. Sau khi tôi bị loại ra khỏi
chủng viện, tôi buồn tủi và nghiêm chỉnh suy nghĩ về hôn nhân. Cả khi
tôi được nhập dòng Đaminh, tôi cũng chưa chắc về quyết định của tôi,
nhưng tôi phải ở đó để xem quyết định của tôi sai hay đúng. Tôi nghĩ
Thiên Chúa đã giữ tôi trong chức Linh mục.. Một điều nữa bảo vệ lý
tưởng Linh mục tôi là tình đồng bạn. Thiên Chúa đã làm việc
trong đời tôi không chỉ qua lời cầu nguyện, mà còn qua món quà tình
bạn tôi khám phá giữa anh em trong dòng. Tôi cũng còn được nâng đỡ của
gia đình tôi. Vì tôi là đứa con trai độc nhất, nên có nhiều ray rứt
khi không gánh vác gia đình. Nhưng chính trong cuộc chiến đấu và chọn
lựa cuối cùng, cả hai cha mẹ tôi đều nâng đỡ và ủng hộ.
Trải qua những năm tháng, nhìn những đổi thay trong xã hội, trong Giáo
hội và cả trong chức Linh mục, tôi đã có vài phản ảnh và viết về địa
vị của Linh mục. Xét chung thì vẫn như ngày nay và mãi mãi như thế
Linh mục là người phục vụ và hướng dẫn tinh thần dân chúng.
Ngài được gọi trong cách nào đó để kích thích, đáp trả và vận động
những nhu cầu thiêng liêng trong cuộc sống người dân. Chúng ta cũng
biết địa vị của Linh mục triều và dòng có phần nào khác nhau. Linh mục
triều, ít là những người ở trong giáo xứ, quan tâm đến việc xây dựng
cộng đoàn bằng những việc mục vụ ở địa phương. Còn Linh mục dòng, qua
kinh nghiệm của tôi, liên quan đến sứ vụ đặc biệt của mỗi dòng. Địa vị
của Linh mục dòng Đaminh là rao giảng, dạy học, huấn luyện thần học,
truyền giáo và liên đới với người nghèo. Dòng Tên, Biển Đức và các
dòng khác cũng có địa vị bặc biệt tuỳ thuộc vào mục đích của vị sáng
lập. Tôi không thấy có gì đổi thay căn bản trong những năm qua, mặc
dầu chắc chắn có sự thay đổi tận rễ đường lối hoạt động. Tôi thấy tôi
vẫn là giáo sư, là người rao giảng. Dạy dỗ đến với tôi cách tự nhiên.
Hồi lớp 4 , tôi đã muốn là thầy giáo lớp 4, lớp 5 là thầy giáo lớp 5,
trung học là giáo viên Vật lý hay La tinh. Sau này là viết lách.
Đòi Linh mục có cả nỗi đau và sự vinh dự. Một vài nổi đau, quả
thật phần nhiều, xuất phát từ sự lãnh đạo. Người lãnh đạo đi vào mầu
nhiệm kỷ luật, vào chiều sâu. Nói cách khác người lãnh đạo đi vào
chiều sâu của mầu nhiệm Phục sinh. Điều đó gây ra cả nổi đau và niềm
vui. Tôi tin rằng, đối với hầu hết mọi ơn gọi, cuộc sống đưa đến đau
khổ hơn là mình tưởng hồi nhỏ. Thật cả trong chức Linh mục và cả trong
hôn nhân. Nhưng cả hai bậc sống đều có những phần thưởng mà mình chẳng
ngờ. Nỗi đau đặc biệt của tôi là thấy sự xung đột ý thức trong Giáo
hội, bị sự xung đột ý thức của xã hội đời làm cho tôi thêm trầm trọng.
Đôi khi khiến cho lời cam kết sâu xa nhất của một ngưòi bị coi là " tả"
hay " hữu" hơn là vì Tin Mừng.
Tôi ngạc nhiên là mỗi sứ vụ của tôi đảm nhận, chẳng có sứ vụ nào tôi
chọn lựa, tôi đều vâng lời đón nhận, song thành công ngoài sự
tin tưởng và đem lại hữu ích cho tôi. Tôi chọn làm Linh mục triều thì
lại là Linh mục dòng Đaminh. Khi là tập sinh, tôi dự định làm việc xã
hội với cộng đồng cả nam lẫn nữ, thì tôi đuợc sai đến sống với người
nghèo ở Chicago. Một ngày trước khi dời đi, Cha Giám tỉnh nói với tôi
: " Anh không thể làm việc đó nữa" Ngài không muốn tôi dây mình với vụ
tranh chấp với Đức Hồng Y Cody. Như vậy tôi đi dạy Học viện Aquinô ở
Dubuque. Nếu không theo lệnh Bề trên, có lẽ tôi chẳng bao giờ được dạy
học và viết sách. Khoảng năm 1981 tôi được mời dạy học ở Đại học Công
giáo. Một số Giám mục cản trở việc chỉ định này, vì các ngài không
thích tác phẩm đầu tay của tôi. " Tính dục người độc thân". Nếu tôi cứ
đến dạy, có lẽ tôi sẽ bị cản trở vả chẳng bao giờ là Giám tỉnh. Khi
làm Giám tỉnh, tôi đã có thể đi những nơi như Trung Mỹ, Bolivia,
Nigeria, những nơi chúng tôi có thừa sai và được tiếp xúc với một thế
giới rộng lớn hơn. Một kinh nghiệm rất định hình cho đời tôi. Như vậy
những gì tôi chọn lựa đều không được phép làm. Nhưng những gì tôi vâng
lời chấp nhận đều trở nên sự chúc phúc và cơ thội cho tôi phát triển.
Tôi đã đi tới Ấn Độ, tôi nhận được những kinh nghiệm không chỉ nơi
thực tế của người nghèo, mà còn cả chiều sâu thiêng liêng của nền văn
hoá khác. Nó giúp tôi có cái nhìn khác về tính dục của xã hội Âu Mỹ.
Như vậy Thiên Chúa ban ơn cho tôi qua nhiều đường lối. Những ơn phúc
này tôi thường nhận được khi bực mình không được làm những gì mà mình
nghĩ là tốt với mình. Linh mục là một kinh nghiệm vui sướng. Một câu
nói của Thánh PhaoLô tôi cho là thú vị “Điều mắt chẳng hề thấy, tai
chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó điều Thiên Chúa đã
dọn sẵn cho những ai yêu mến Người" ( I Cr 2,9 ). Tôi thường áp dụng
châm ngôn này cho tương lai, song đó cũng là chân lý của cuộc sống.
Một trong những cơ hội cá nhân để làm giàu cho cuộc sống Linh mục là
sự may mắn tôi phải dẫn tôi vào cuộc sống "linh hồn". Hãy để
tôi giải thích điều tôi muốn nói qua cái từ này. Trong xã hội thế tục,
chúng ta thường không phản tỉnh. Nhu cầu bảo tồn sự sống và làm ăn
mạnh đến nỗi cái mà chúng ta gọi là tính hồn phai mờ trong căn bản.
Chúng ta thường nói xác và hồn. Đó không phải là điều tôi muốn, khi
nói về tính hồn. Điều tôi muốn nói là chiều kích của nội tâm, của sự
hiện hữu xa xôi, của cái làm nên bản thể thực của tôi. Trong xã hội
trần tục và tiêu thụ, người ta thường đánh mất liên lạc với chiều nội
tâm. Hiện nay người ta thường không nghĩ có cái gì sâu hơn trong chúng
ta ngoài cuộc sống tâm thức. Thánh Kinh phân biệt rõ giữa " tâm thức"
( Poyche ) và " khí" ( Prenna ) hay là tâm thần. Chiều sâu của hồn tôi
gọi là tâm thần. Ngày nay người ta không phân biệt được việc tham vấn
tâm lý và sự hướng dẫn thiêng liêng và sự hướng dẫn thiêng liêng cũng
bị coi là hình thức tâm bệnh. Nhưng có một cấp độ sâu hơn cái mà chúng
ta gọi là nhiệm vụ tôn giáo là bảo vệ cho người ta liên lạc với chiều
kích của chính mình - chiều kích tâm linh, chiều kích linh khí. Ngày
nay chúng ta sống trong nền văn hoá tâm bệnh và vì thế người ta đánh
mất tâm thần của họ. Như vậy có giúp cho bạn hiểu rõ không ? Vâng, xin
nói vắn gọn là trong cuộc sống Linh mục hằng ngày tôi có cơ hội để cứu
lấy linh hồn, để cảm nghiệm được tâm linh của tôi.
Khi tôi là Dubuque, tôi quen nghỉ cuối tuần ở Đan viện New Melleray
với một Tu viện trưởng Xitô. Rồi tôi có vài cuộc tĩnh tâm dài ngày. Ba
lần với các Cha dòng Tên. Tôi lại gặp gỡ Đức Kitô nơi Đan viện Sa Mạc
ở miền Bắc New Mexico trong những cuộc tĩnh tâm 30 ngày đến 40 ngày.
Tôi cũng đến Ấn Độ. Sống một tuần ở thiền viện Công giáo và một tuần ở
thiền viện Ấn giáo. Những cơ hội này giúp tôi đạt tới độ nâng đỡ chính
mình và cảm nghiệm được chiều sâu của tâm hồn.
Người ngày nay không đi tìm những người hiểu biết nhiều về Thiên Chúa.
Họ đi tìm những người gặp gỡ Thiên Chúa, vì những người này là chứng
nhân của sự gặp gỡ với thế giới thần thiêng, những người đã nắm được
thần linh. Mỗi Linh mục được kêu mời để trở nên loại người này.
Một trong những phần thưởng khi làm Linh mục, đó là đặc ân tuyệt vời
khi có những người để chúng ta đi vào cuộc đời của họ và gây cho họ bị
thuơng tích. Một trong những điều tôi học hỏi được khi làm việc với
dân chúng trong mức độ thân mật như thế thì cả Linh mục lẫn người Linh
mục hướng dẫn cảm thấy có hai nhu cầu bức thiết : một là sự tha thứ và
hai là niềm hy vọng.
Quyền lực
đối với các Linh mục dòng không phải là vấn đề quan trọng như các Linh
mục triều. Các Giám mục là bề trên mãi tới 75 tuổi, chứ các bề trên
dòng thay đổi thường xuyên. Nếu một bề trên nào có vấn đề với mình thì
chỉ cần chờ đợi ít lâu thôi vì bề trên đó sẽ đổi. Tôi cũng có vấn đề
với Toà Thánh khi tôi viết cuốn “Tính dục người độc thân" năm 1975.
Cuốn sách được đông đảo đón nhận và cũng là được duyệt lại kỹ càng,
nhưng năm 1980 Bề trên Giám tỉnh của tôi nhận được sự yêu cầu của
Vatican xem lại tính cách chính thống của nó. Nhà dòng đã đứng về phe
tôi và vấn đề được giải quyết bằng một cuộc tra vấn nhẹ nhàng. nếu
ngày nay tôi viết thì không có vấn đề. Nhưng vào thời điểm đó chưa có
ai viết về lãnh vực này.
Hôn nhân có thể làm hưng phấn đời sống tinh thần của một số Linh mục,
nhưng nó cũng làm ngăn trở nhiệm vụ chính yếu của Linh mục. Độc
thân mở được nhiều cánh cửa cho tôi có khả năng phục vụ một thế
giới rộng lớn hơn. Tôi được hạnh phúc vì không bị ràng buộc vào những
vấn đề cụ thể của đời sống hôn nhân. Tôi có thể đi tĩnh tâm cả 40 ngày
hay đi du hành thăm các thiền viện hay ẩn mình suốt ngày. Trên lý
thuyết thì trong hôn nhân cũng có thể làm được như thế, nhưng không
thường xuyên. Độc thân cũng làm tôi giàu thêm trong những giao tiếp.
Độc thân là câu hỏi hắc búa cho người thời đại. Nhưng nếu bạn quan sát
những người độc thân Ấn giáo trong các thiền viện hay nhìn vào kinh
nghiệm của ông Gandhi và vào những truyền thống tôn giáo khác trên thế
giới, bạn sẽ thấy những người độc thân làm cho đời họ có ý nghĩa cao
cả, vì độc thân giúp họ tự do. Theo tôi, độc thân trở nên khó khăn vì
chúng ta không coi nó là một sự chọn lựa hoàn toàn tự do. Độc thân ban
cho tôi sự tự do để tiếp tục hình thành và tái hình thành cuộc đời tôi.
Điều đó là đúng trong mức độ nào đó. Tôi không nhìn độc thân như một
sự tù hãm. Đó là cơ hội, chứ không phải là cái dây thòng lọng.
Hồi mới 40 tuổi, tôi nhìn lại đời tu sĩ và tự hỏi : “Đây có phải là
tất cả cái phải có không ?" Đúng, đây là tất cả cái phải có. Song bây
giờ tôi phải học lại “cái là" và thấy rằng có sự lớn lao hơn cái mắt
tôi thấy. Lúc đau khổ chúng ta nhìn nó đen hơn. Có thể là đen nhưng
không đen hơn. Đời sống là cái bạn tạo ra từ màu đen đó. Trong thân
thể của Chuá Kitô có nhiều khả năng, chúng ta nên sử dụng tất cả. Tôi
không có thành kiến với Linh mục lập gia đình, cũng không nhận lại
những ai đã bỏ về lập gia đình, nhưng câu hỏi chân thực sẽ luôn luôn
là “Chiều sâu của họ là cái gì". Phẩm chất của họ là cái gì ?" Tôi ủng
hộ việc cho phép các Hội đồng Giám mục quốc gia có trách nhiệm hơn để
đáp ứng những nhu cầu của Giáo hội mình. Cái tốt ở Ấn Độ chưa chắc là
tốt ở Ecuado.
Những đòi hỏi
đối với các Linh mục sẽ càng gia tăng. Chúng ta sẽ phải đối đầu với
khoảng cách càng lớn giữa giàu và nghèo, cũng như với một xã hội đa
văn hoá hơn. Chúng ta cũng sẽ chạm trán với sự khác biệt ngày càng lớn
của dân chúng. Có vài người cho rằng sẽ có một sự chia rẽ trong Giáo
hội. Điều đó không thể tiên đoán trước được. Song tôi tin Chúa Thánh
Thần là nguyên uỷ của sự hiệp nhất cũng như của sự khác biệt.
Đôi khi tôi ảo tưởng. Tôi nghĩ tôi có thể xoay đổi thế giới. Nên nhiều
mục tiêu của tôi đã tiêu tan. Song tôi tin tôi đang nối nhịp cầu với
cuộc sống một số người. Tôi làm đời họ được thêm phong phú, bớt đau
khổ và có ý nghĩa hơn trước. Vài năm trước có một cuốn phim nhan đề là
“Julia", kể chuyện hai cô gái Đức sống với nhau như là bạn, rồi xa
nhau. Khi thăm nhau họ kể lại những thảm cảnh bọn Phát xít gây ra và
nhắc nhớ lại đôi chút hậu quả họ phải lãnh nhận trong chế độ đó. Một
trong hai cô nói một câu khiến tôi nhớ lại câu tôi nói : “Tôi đã không
làm đủ" Cô nói : “Hôm nay chúng ta phải làm cái mà hôm nay chúng ta
phải làm cái mà chúng ta cần làm" Tôi vào thư viện. Tôi nhớ lại câu
nói của cô gái, tôi tự bảo mình “Mày sẽ chẳng thể đọc hết được những
cuốn sách đó, nếu mày đọc hơn ngày hôm qua một cuốn, thế là tốt rồi."
Chúng ta đang sống trong thời đại được diễn tả trong “Chuyện của hai
thành phố" tốt nhất và xấu nhất của mọi thời đại. Có những xung đột về
ý thức hệ, thiếu hưóng đi, rồi loạn đáng kể. Song đây là thời đại
mạo hiểm. Nếu chúng ta mở rộng cánh tay để làm cuộc mạo hiểm, thì
chúng ta cũng phải mở rộng với cả những gì chẳng tiên đoán được. Linh
mục ngày nay đòi hỏi phải tự tin nhiều. Chúng ta chẳng thể ý vào những
cấu trúc mà sống. Hãy nhìn vào những cái chúng ta đang có : mềm dẻo
hơn, đa diện hơn những năm trước và có nhiều cơ hội để tự hình thành,
để thăng tiến. Đời Linh mục không còn được trơn tru nữa. Tôi tin cả
đống đau khổ tương ứng với cả kho niềm vui. Nếu chúng ta cắt đi khả
năng đau khổ thì cũng cắt mất khả năng vui sướng. Những khả năng đóng
góp của Linh mục ngày nay cho xã hội không bao giờ vơi cạn.
Cha Jim Krings sinh năm 1945 tại St. Louis và chịu chức vào năm 1971.
Cha ở xứ thánh Cronan và làm tuyên uý cho dưỡng đường St. Mary.
Trọn vẹn lời thề đối với cha là quan trọng. Sự liên lạc của cha với
gia đình cha thật thân thiết. Khi nói về người em gái hay John người
em trai tài ba, cha có thể khóc. Sự săn sóc của gia đình với John tự
nó đã là một mẩu chuyện đáng kể.
Cái gì xảy ra cho những Linh mục bỏ nhiệm vụ một thời gian để xét lại
lời thề và để đánh giá lại mục đích cuộc đời ? Có vị đã có công ăn
việc làm thuận lợi nhà học hành đàng hoàng, có vị đã lập gia đình.
Chuyện cha Krings thuộc loại Linh mục có thể trở lại.
Năm nay tôi kỷ niệm 25 năm Linh mục. 10 năm qua tôi bị ung thư hơi
nặng và khá sợ hãi. Tôi đâu mong được mừng ngày sinh nhật thứ 50 hay
lễ ngân khánh. Tôi sẽ kể sau .
Sau khi sinh tôi một thời gian vắn, mẹ tôi sinh đôi. Đứa đầu, Joseph,
sinh ra chết liền. Không nghĩ là sinh đôi, nên các bác sĩ đã không kịp
để cứu chữa đứa thứ hai, John và nó bị chấn thương bộ não. Khi chẩn
đoán, não bị tê liệt, sau đó má tôi lại sẩy thai. Khi tôi học lớp 6 má
tôi sinh em gái Annie. Sau những khó khăn của John, mất mát Joseph và
sẩy thai, chúng tôi vui mừng chờ đón Annie. Nó quả thật là người em
tuyệt vời và đã trở thành một trong những người bạn thân nhất của tôi.
Khi tôi còn học cấp I, cha James Finley, một Linh mục trong giáo xứ
đã ảnh hưởng đến tôi. Cha là một người dễ thương và bác ái. Có lần
cha nói với tôi rằng khả năng trí thức của cha khó mà theo nổi ở chủng
viện. Tuy nhiên cha rất dịu hiền, tử tế, tốt lành như một Linh mục mà
bạn tìm ra bất cứ nơi đâu. Cuộc sống tốt lành của cha là một điều
tuyệt vời lôi cuốn và ngăn cản tôi khỏi những địa vị chính trị, xã hội
và thần học. Một ngày kia từ trường về nhà, tôi nói với mẹ tôi : con
muốn làm Linh mục như cha Finley.
Ba má
tôi là sự gợi hứng cho tôi. Các ngài luôn vui vẻ dẹp bỏ mọi nhu cầu
riêng mình để săn sóc con cái, đặc biệt là John. Khi John còn bé, các
bác sĩ đã bảo em khó mà sống đến 15 tuổi. Qua 15 các bác sĩ lại bảo
khó mà sống đến 20 tuổi. Đến 20 lại bảo khó mà sống đến 30. Nay chú em
đã 47 tuổi. Tôi hy vọng chú sẽ sống đến 50 tuổi. Chú đã sống ngoài dự
đoán. Rõ ràng là do sự chăm sóc không thể tưởng nổi của cha mẹ. Bây
giờ chú đang ở dưỡng đường Nữ Vương Maria.
John vào dưỡng đường lúc tôi chịu chức. Đó là một bước rất khó khăn
đối với cha mẹ tôi. Ôi một năm cho các ngài. Các ngài vui vì tôi là
Linh mục, đồng thời cũng buồn vì phải đưa John ra khỏi nhà. Tôi biết
tôi không thể hiểu hoàn toàn nổi buồn đau của các ngài, song thật là
một gánh nặng khi gửi John vào dưỡng đường. Tuy nhiên tôi biết John
nếu còn sống ở gia đình thì thế giới của chú rất là nhỏ bé. Đó chỉ là
cha mẹ và truyền hình. Bây giờ chú đã vượt qua cú sốc bị đem đến dưỡng
đường. Chú đang hạnh phúc, cười nhiều, có thể làm cho mình hiểu và
đuợc sự săn sóc chu đáo. Có lẽ vì chú là người nhỏ tuổi hơn so với
những người bị rối loạn tâm trí, nên chú đuợc mọi người chú ý. Từ năm
1971 đời chú nở hoa. Thế giới chú rộng hơn. Có nhiều người chăm lo cho
chú.
Nhà hưu của các Linh mục, Nữ Vương Cleri, toạ lạc trên sân dưỡng đường.
Mỗi lần cha mẹ tôi đến thăm John đều đem John tới nhà hưu, một vài cha
đã biết chú. Khi chú còn ở nhà các ngài đã đến thăm chú. Thật hạnh
phúc cho chú và chúng tôi. Chú là đường dẫn tới nhà hưu. Nếu không có
John, cha tôi và tôi ít khi có dịp đến thăm các ngài. Bây giờ được
thăm thường xuyên. Các ngài cùng đến thăm chú và chúc lành cho chú.
John biết rất rõ những khó khăn cả phần thân thể bất toại, nhưng cũng
rõ về tôi. Khi John chừng một tuổi và tôi 4 tuổi, tôi biết lưu tâm mức
phát triển của người em bệnh tật. Tôi thấy chú bị mặc cảm, dầu khó
khăn cũng cố gắng muốn nói, muốn đi. Tôi luôn ở bên cạnh chú, khi chú
đuợc đưa đến nhà thương giải phẫu. Nhưng còn nhỏ tôi không hiểu được
hết. Chú là em tôi. Đến hôm nay tôi vẫn buồn khi thấy người ta bị
đối xử bất công, dù đó là người đồng tính luyến ái, là dân da đen,
là Do Thái hay bất cứ ai khác bất đồng ý kiến. Khi bạn lớn lên mà thấy
em bạn bị bỏ rơi, bị lợi dụng, bị nhạo cười, chắc sẽ tạo trong lòng
bạn sự giận dữ đến độ chẳng khoan dung.
Bài học thứ hai tôi rút ra đuợc ngay khi còn nhỏ từ truờng hợp của
John là lòng cảm thông, tôi thường thay tã cho John tớí khi
John lớn. Những bạn thân của tôi rất cảm thông với John. Chúng tôi đẩy
John trên xe lăn đến trường để xem các trò chơi, chúng tôi làm thế,
một phần là do tôi, để nói cho John biết chú vẫn bình thường. Khi lớn
lên tôi biết người ta đã làm những điều rất cảm kích dù làm những việc
vật quanh nhà. Dù khóc. Dù rửa chén. Dù giặt quần áo.
Cách thứ ba mà hoàn cảnh của John ảnh hưởng đến đời tôi là vì lưu tâm
đến những gì John cần, gia đình tôi không thể có nhiều giờ dành cho
tôi và tôi phải tự săn sóc lấy. Việc tập đi và học hỏi của tôi
đều bị hạn chế bởi sự săn sóc của John. Tôi nhớ còn nhỏ tôi thích ở
một mình, thích tự chơi, thích yên tĩnh. Chính vì thế mà tôi khám phá
lòng tốt của Thiên Chúa.
Thích sống cô đơn
của thời nhỏ khiến lớn lên tôi vẫn thích. Sau 10 năm chịu chức tôi
muốn xin vào ẩn tu ở tu viện Ara, Missouri. Một năm hai lần tôi đã
tĩnh tâm ở đó 4, 5 ngày. Tôi đã muốn nghỉ việc một năm để sống ở đó.
Nhìn lại tôi mới biết sai lầm. Tôi bàn với Đức Tổng Giám mục May và
vài vị linh hướng, các ngài đều thắc mắc về dự tính của tôi. Các ngài
bảo " Cha thích những cuộc tĩnh tâm, nhưng một năm trong đan viện thì
lâu quá". Đức Tổng thì vui vẻ chấp nhận lời xin của tôi. Đầu tháng 7,
tôi đến Ara. Mới có một tuần tôi đã thấy khổ sở. Đến tuần thứ hai thì
tôi chán nản. Trở về, tôi thật mắc cỡ vì đã thất bại. Khắp Tổng giáo
phận đều chế nhạo tôi là vị “ẩn tu hai tuần". Một người bạn tốt, cha
Bob Krawinkel, mời tôi đến ở với ngài. Tôi bắt đầu nhận ra rằng tôi là
con người hoạt động. Tôi đã bị ám ảnh và đi trệch đuờng. Tôi đã không
lắng nghe tiếng Chúa qua các vị linh hướng.
Khi tôi dạy học ở trưòng cấp III, tôi làm việc với một bà tuyên uý cho
câu lạc bộ. Trong khi tôi ở đan viện cũng như sau đó tình bạn giữa
chúng tôi vẫn tiếp tục. Tôi không cảm thấy hạnh phúc với một số vấn đề
của Tổng giáo phận và của Giáo hội. Bà cũng đang sửa soạn vào dòng
Mary Knoll, song cũng chán và cảm thấy Giáo hội bỏ rơi. Bởi chán nản
cuộc sống và bởi hấp dẫn nhau, chúng tôi đã yêu nhau. Khi tôi ở giáo
xứ Saint Cronan thì bà sống ở miền Tây, đang điều hành một ngôi nhà
dành cho những cô gái bị lạm dụng và điều khiển những cuộc họp, những
buổi tĩnh tâm. Tôi quyết định bỏ chức Linh mục đến sống ở đó và
giúp những cô gái đó, đồng thời cùng với người bạn tìm hiểu mối tình
đó và xem chúng tôi có thực yêu nhau không.
Tôi đã viết thư cho Bề trên, Đức Tổng John May vào 12/ 1985, với ý
định rời bỏ vào tháng Giêng. Đó không phải là một lá thứ tử tế và lịch
thiệp. Tôi viết tôi sẽ nghỉ và đi Washington làm việc. Cuối thư tôi
viết : “Nếu Đức Cha muốn nói chuyện với con về bất cứ vấn đề gì,
con sẳn sàng". Ngài gọi tôi, không qua vị thư ký, mà đích thân ngài.
Ngài nói ngài muốn gặp tôi. Cuộc gặp gỡ thật không ngờ. Ngài ngồi đó
với lá thư và nói : " Cha Jim, tôi muốn hỏi cha một câu. Cha có một
người đàn bà trong tâm trí phải không ?" Tôi hỏi lại : “Sao Đức Cha
biết ?". Ngài trả lời : “Đó là sự thường tình". Đức Tổng nói thêm :
“Cha, phần đông ra đi mà không trở lại. Song tôi nghĩ cha thì không.
Tôi sẽ viết thư cho cha và vẫn giữ tên cha trong sổ bảo hiểm của các
Linh mục". Tôi rất xúc động trước sự tử tế và hiểu biết của ngài. Tôi
đi miền Tây và tôi gửi cho ngài vài chữ. Ngài trả lời ngay. Bất cứ khi
nào tôi viết thư, hôm sau là ngài hồi âm. Sau 5, 6 tháng tôi viết thư
cho ngài là tôi đã bị mất việc làm và muốn bàn về việc trở lại. Ngài
trả lời : “Tốt lắm, tôi luôn đón chờ cha trở về khi nào cha muốn".
Quyết định cắt đứt mối tình với bà ta đã đến với tôi trong một cuộc
tĩnh tâm. Tôi đã bị đau. Tôi muốn chạy trốn mà không trốn được. Tôi bị
khó thở và bệnh trạng thêm nặng. Bác sĩ khám bệnh bảo tôi bị viêm phổi.
Tuy nhiên chẳng có thuốc nào chữa khỏi. Tôi cảm thấy có điều gì nghiêm
trọng. Tôi đi tĩnh tâm gần Seatle với một người bạn. Tôi cầu nguyện và
thấy Thiên Chúa đang hướng dẫn mình. Một ngày kia ngồi đàng sau nhà
tĩnh tâm, cảm thấy sức khoẻ tệ hơn, tôi nghĩ mình sắp chết. Tôi nhớ rõ
ràng tôi đã tự hỏi “Jim, mày muốn chết cách nào ?". Rõ ràng tôi muốn
trở lại St. Louis chết với tư cách một Linh mục qui hồi. Tôi bắt đầu
tiến trình trở lại St. Louis.
Tôi đến St. Louis và đến nhà thương Barnes khám nghiệm. Suốt một hay
hai ngày Đức Tổng gọi phôn cho tôi và đến thăm tôi. Ngài nói “Qũi bảo
hiểm Linh mục thanh toán phí tổn bệnh viện cho cha, vì cha không đủ
khả năng thanh toán. Cha hãy giảm những tiếp xúc để giữ gìn sức khoẻ".
Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi tuyệt vời. Tôi hỏi ngài có nghi thức
nào cho một Linh mục qui hồi không. Ngài nói : “Ồ, tôi không biết. Cha
là người đã muốn bỏ làm Linh mục. Nếu cha muốn bắt đầu lại, tôi nghĩ
cha cứ bắt đầu". Tôi hỏi xem tôi có thể cử hành Thánh Lễ ngay được
không. Ngài bảo : “Dĩ nhiên là được, khi cha đã sẵn sàng với nhiệm vụ”.
Tôi không bao giờ được đối xử tử tế hơn. Bởi đó, tôi thường có thành
kiến với những người điều hành giáo phận đều sai.
Bác sĩ quyết định mổ lá phổi của tôi. Tôi được gửi đến nhà thương Do
Thái để khám nghiệm. Ngày thứ năm họ lấy chút phổi để khám nghiệm,
sáng thứ sáu sẽ có kết quả. Giữa trưa thứ sáu vẫn chưa được thông báo
kết quả, tôi đoán là kết quả xấu, cha Bob Krawinkel đến thăm tôi. Nửa
tá bác sĩ đến đứng chung quanh giường tôi. Tôi sợ hãi. Tôi xin cha Bob
ở lại. Các bác sĩ đồng ý. Họ cho tôi biết tôi bị ung thư phổi. Nghe
tin, tôi kinh hoàng. Nước mắt chảy trên má cha Bob và tôi. Tôi nhớ là
các bác sĩ cho tôi hay tôi sẽ chết sớm. Tôi sẽ báo tin cho cha mẹ tôi
làm sao ? Cha Bob tình nguyện làm công việc này. Tôi bớt sợ hãi. Cha
Bob thật tốt và can đảm.
Khám nghiệm ngày thứ sáu. Thứ hai bác sĩ Peter Weiss đến. Ông nói về
nhiều lựa chọn có thể làm. Ông nói : “Chưa làm gì, thì chúng tôi cố
gắng nghiên cứu." Peter, bác sĩ Do Thái, nói : “Khi chúng tôi bắt đầu
chữa, lời cầu nguyện của cha, của gia đình, của cộng đồng và bè
bạn cha sẽ quan trọng như thuốc men tôi cho. Thuốc sẽ đem lại ít hiệu
quả nếu cha không cầu nguyện".
Tôi được chữa, kết quả thật lạ lùng. Tuy nhiên hồi phục chậm chạp,
song không còn triệu chứng ung thư nữa. Bác sĩ công khai cho là phép
lạ. Một ngày kia, tôi viếng văn phòng của ông, tôi nhắc lại việc ông
đã cho tôi niềm hy vọng. Ông nhắc lại : " Đúng, cha đã kinh ngạc ngay
cả những hy vọng lạc quan nhất của tôi mà cha được cứu chữa".
Sức khoẻ bình thường được hồi phục, việc dùng thuốc giảm, tôi bắt đầu
nghĩ về nhiệm vụ tới. Một vài trường cấp III địa phương mời tôi, song
tôi không muốn dạy học nữa. Tôi quyết định nhận lời mời của Trung Tâm
Huấn Luyện Mục Vụ thường xuyên ở Saint Mary, Đức Tổng đồng ý, vì tôi
đã có kinh nghiệm về bệnh tật, thật đúng lúc khi tôi làm việc ở đây.
Tôi làm tuyên uý ở đây từ năm 1988.
Mấy năm sau Đức Tổng u não. Tôi cảm thấy vinh dự khi được ngài tiếp
trong phòng ngài. Chúng tôi nói chuyện về bệnh ung thư của ngài, về
những gì mà ngài phải đối phó. Tôi chia sẻ với ngài những lo sợ lúc
tôi bị ung thư phổi. Rồi ngài được đưa tới dưỡng đường nơi em John ở.
Ngài hầu như bị hôn mê. Các cử động hầu như hết. Nhưng tôi nhớ là khi
tôi đưa em John tới, tôi nói chú là em tôi. Tay phải ngài không thể cử
động, ngài giơ tay trái và chúc lành cho chú.
Độc thân
rõ ràng là vấn đề đối với tôi trong một thời gian ngắn. Tôi chỉ có thể
nói với tôi, song tôi nghĩ : khả năng gắn bó với bất cứ ai và cách
lành mạnh nhất là sống với một số bạn bè tốt. Tôi đã thiếu may mắn
hạnh phúc và kém lôi kéo ép buộc, vì tôi không có kiểu giao tiếp thân
mật. Khi kiểm điểm lại, tôi thấy tôi không có một giao tiếp thân mật
với ai. Tôi không muốn mở tâm hồn tôi cho một ai. Khi tôi nói chuyện
với chị và anh rể tôi về người đàn bà ở Washington, tới nói rằng bà ta
không muốn đến đây và tôi cũng chẳng muốn đến đó. Cả hai chúng tôi đều
có những thiên kiến, hôn nhân như vậy thì không tốt. Anh tôi nói đúng.
Tôi không có gì tỏ ra thích hợp với đời sống hôn nhân. Như vậy những
liên lạc với đàn bà chỉ dẫn tôi đi lạc, trệch hướng. Như người uống
rượu nói nó không thể uống nữa, tôi khiêm tốn thú nhận rằng tôi không
thể để mình vào hoàn cảnh mà một đàn bà nào đó muốn là trung tâm của
đời tôi. Bởi đó tôi đã cắt đứt liên lạc và làm tổn thưong đến bà ta.
Tham vấn tâm lý hướng dẫn tôi hiểu độc thân như tôi diễn tả.
Tôi thích đoạn Kinh Thánh mô tả có nhiều tài năng ở nhiều người. Tôi
không bao giờ là và ước là Linh mục quản xứ. Tôi thích được làm việc ở
trường học mặc dầu kiến thức tôi hạn hẹp. Tôi thích làm tuyên uý nhà
thương, thích viết, dạy các lớp Kinh Thánh tôi cảm thấy hứng thú. Tôi
cảm nhận có may mắn để làm nhiều việc. Tôi cũng thích có cơ hội để
sống trầm lặng. Mấy năm nay tôi còn thích thú đi nghỉ hè bằng xe đạp ở
Ái Nhĩ Lan, Nga và Pháp.
Tôi có nhiều kinh nghiệm về những thảm cảnh. Năm nọ khi tôi dạy học ở
Dubourg, xảy ra một nhà giáo và 7 học sinh bị tai nạn xe hơi chết, một
vụ tàn sát và ung thư, tôi được chọn để báo tin vụ thứ nhất. Làm cách
nào ? Nhờ đó tôi có kinh nghiệm cho những vụ sau. Làm việc ở nhà
thương tôi có kinh nghiệm về nhiều cái chết.
Tôi yêu mến
Công đồng Vatican II, song tôi nghĩ từ đó chúng ta mất vài điều : tất
cả sự sống lại, mồ trống, nền thần học hợp thời là đẹp, nhưng những lễ
an táng cũng có thương tiếc, buồn bã. Sự chuyên biệt của tôi trong
lãnh vực sự chết là khả năng để tôi tỏ bày cảm thông, cùng chịu đau
khổ với họ. Thật thú vị được hiện diện với họ trong giờ chết. Không
kinh hoàng bằng nghe tin qua điện thoại. Có ai gọi và nói : “Người đó
người đó đã chết" thì dễ làm cho mình dễ bị xốc hơn là ở với họ, chứng
kiến họ ra đi. Kinh nghiệm tôi cho thấy họ chưa thực sự ra đi, trái
tim họ ngưng đập, phổi họ ngưng thở, nhưng tinh thần vẫn còn đó.
Khi tôi chịu chức, tôi nghĩ đời Linh mục thật dễ dàng, tôi ngạc nhiên
là sao phải khó quyết định, nay tôi mới nhận ra đời Linh mục là khó.
Luôn luôn là thánh giá . Tôi có cảm tưởng chúng ta chỉ hạnh phúc
khi chúng ta trung thành vác thánh giá. Thánh giá là đau khổ. Nên khó
khăn để quyết định, để gặp gỡ đúng là thánh giá.
Những lúc khó khăn trong đời Linh mục chính là lúc vui bắt ngờ. Niềm
vui lớn nhất của tôi bây giờ là vẫn còn sống. Dịp kỷ niệm 25 năm Linh
mục, tôi dâng thánh lễ ở giáo xứ. Tôi mời một vài gia đình giúp đỡ tôi
tới dự. Tôi tổ chức bữa tiệc ở sân chơi đá cầu. Bốn trăm người đến
chúc mừng tôi và xem các cầu thủ chơi. Thật là vui. Tên tôi được ghi
trên bảng điểm.
Tôi tin tôi đã có nhiều ảnh hưởng trong cuộc sống nhiều người, vì sự
bất toàn của tôi, tôi nghĩ tôi không thể gây được ảnh hưởng nhiều như
tôi nghĩ. Có vài học sinh của tôi đã quyết định dời bỏ Mc. Donnel
Doughlas để giúp ích người khác. Chúng học hỏi trong lớp về công bình
của tôi. Tại giáo xứ Saint Cronan, cha sở cũ, cha sở hiện nay và tôi
tạo cho những người Công giáo bất hợp pháp một chỗ đứng. Chúng ta là
người Công giáo Rôma, chúng ta trung thành với giáo huấn của Giáo hội.
Còn những nhà hoạt động chính trị, nữ quyền, đồng tính luyến ái cũng
phải tìm được mái ấm cho niềm tin của họ và vẫn liên kết với Rôma, với
Giáo hội hoàn vũ. Đây là những người họ có thể rời bỏ Giáo hội lâu,
nếu chúng ta không cho họ một chỗ đứng trong giáo xứ.
Có một bạn trẻ giáo xứ tỏ ra muốn làm Linh mục. Tôi nói chuyện với gia
đình của anh. Gia đình anh tỏ ra thận trọng vì thời gian, song tôi vẫn
tiếp tục thảo luận với Sam về ơn gọi. Nếu bạn trẻ này có ơn gọi mà gặp
được sự cảm thông, sự trìu mến, suy nghĩ và chân thực, thì anh sẽ vào
chủng viện.
Tôi có thể nói được rằng thật bất ngờ khi khám phá ra đời Linh mục
tuyệt diệu. Tôi được Thiên Chúa hướng dẫn qua những giao tiếp khó khăn,
qua bệnh hoạn để tới một sự tự do thú vị. Những lo lắng về sứ vụ của
tôi tất cả đã chết nơi giường bệnh.
|