Đôi ḍng ghi nhớ
về
Tú Gàn (ngày 27.9.2002)
Một người
Việt Nan vừa ra đi đă được rất
nhiều người và nhiều giới trên khắp
thế giới tiển đưa với ḷng thương
tiếc, trong đó có 174 phái đoàn ngoại giao các
nước, đó là Đức Hồng Y Nguyễn Văn
Thuận. Từ trước đến nay, chưa một
người Việt Nam nào được vinh dự như
vậy. Tại sao?
Cha lại đi thêm
một quảng đường,
Chông gai, mịt mù và vô
định.
Trên đường cha
gặp lắm lữ khách,
Cha đă xem tất
cả là bạn,
Xem mọi biến
cố là kinh nghiệm quư báu,
V́ tất cả là
hồng ân...
Đó là những
lời Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đă
viết cách đây 26 năm, lúc ngài bị nhà cầm
quyền Cộng Sản bắt từ Sàig̣n đưa ra quản
thúc tại giáo xứ Cây Vong, Nha Trang. Phải chăng
đây là những lời tiên tri về cuộc đời
của ngài và hướng sống mà ngài đă chọn?
1.- BƯỚC GẬP
GHỀNH VÀO ĐỜI
Tôi gặp Linh mục
Nguyễn Văn Thuận lần đầu tiên vào tháng 8
năm 1953 khi ngài đến nhận chức Phó xứ giáo
xứ Tam Ṭa thuộc thành phố Đồng Hới,
tỉnh Quảng B́nh, sau khi ngài vừa chịu chức linh
mục tại Huế vào tháng 6. Lúc đó, chúng tôi đang
về nghĩ hè tại đây. Giáo xứ Tam Ṭa là
một giáo xứ lớn nhất ở Đồng Hới,
thường có 3 linh mục coi sóc. Tôi nhớ năm 1953,
tại giáo xứ này đă có các linh mục sau đây: Lm.
Nguyễn Văn Tâm: Chính xứ; Lm. Trần văn Cần,
Phó xứ I; và Lm. Đỗ Bá Ái: Phó xứ II. Ngoài ra, c̣n có
thêm một linh mục người Pháp làm tuyên úy quân
đội, đó là linh mục Georges Neyroud. H́nh ảnh
của linh mục Nguyễn Văn Thuận hồi đó là
h́nh ảnh của một người cao và gầy, ốm
yếu, ăn nói nhỏ nhẹ và hay nói đùa. Ngài ở
trong một căn nhà ngang, nằm ngoài dăy lầu chính dành
cho các linh mục khác. Nh́n h́nh ảnh của ngài lúc đó,
không ai nghĩ rằng con người này ngày sau sẽ trở
thành một Hồng Y, giữ một chức vụ quan
trọng tại Ṭa Thánh Vatican.
Khuôn viên nhà cha xứ Tam
Ṭa là một khu vườn tuyệt đẹp và rộng
mênh mong, nằm ngay trên bờ sông Nhật Lệ, nh́n về
phía đàng xa kia là biển. Chúng tôi thường tới sinh
hoạt hướng đạo tại đó. Vào những
buổi chiều trăng lên, nhất là vào mùa Hạ và mùa
Thu, chúng tôi hay đến ngồi quanh cái bàn đá sát bờ
sông để thưởng trăng. Đôi khi Linh mục
Nguyễn Văn Thuận ra tṛ chuyện với chúng tôi. Bây
giờ khung cảnh đó chỉ c̣n trong trí nhờ, v́ toàn
thể thành phố Đồng Hới đă bị máy bay
Mỹ san bằng trong chiến tranh. Sau khi đi tù về,
tôi trở lại Đồng Hới năm 1987, không
thấy c̣n ḥn đá nào chồng trên ḥn đá nào. Tôi không
thể tưởng tượng được ngôi
trường mà tôi đă học lúc c̣n nhỏ nằm ở
khu nào.
Trong các sinh hoạt, Linh
mục Nguyễn Văn Thuận luôn cố gắng đi
theo chúng tôi, nhưng h́nh như ngài không thể theo kịp v́
sức khỏe quá yếu. Chỉ khoảng 8 tháng sau, ngài
phải rời Tam Ṭa để vào Huế chữa bệnh.
Sau cuộc di cư vào
tháng 8 năm 1954, tôi vào Huế t́m thăm ngài th́ ngài đang
nằm trong bệnh viện, trông rất xanh xao và gầy
yếu. Nhưng rồi nhờ một “phương
thuốc nhiệm mầu”, sức khỏe của ngài
bổng nhiên phục hồi lại, tướng mạo
phương phi hẵn lên. Ngài được cử làm Phó
xứ Thánh Francois Xavier, thường được
gọi là nhà thờ Nhà Nước, lúc đó đang do linh
mục Darbon người Pháp làm chánh xứ. Năm 1956 ngài
được đi Roma học và đến năm 1959
ngài đậu Tiến Sĩ Luật Khoa về Giáo
Luật. Từ đó, cuộc đời của ngài đi
lên, nhưng chông gai cũng quá nhiều.
2.- NHỮNG KƯ ỨC
VỀ QUẢNG B̀NH
Tuy ở Quảng B́nh
chỉ có 8 tháng và sau đó hiệp định Genève
được kư kết ngày 20.7.1954 phân chia đất
nước, Quảng B́nh thuộc về miền Bắc,
nhưng ngài nói với tôi rằng Quảng B́nh luôn in sâu trong
tâm khảm của ngài. Điều này cũng dễ hiểu.
Quê ngoại của ngài ở làng Đại Phong, huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh, một làng quê chỉ
cách thành phố Đồng Hới khoảng 30 cây số.
Nơi đây, gia đ́nh cụ Ngô Đ́nh Khả đă sinh
ra, lớn lên và gặp biến cố kinh hoàng năm Ất
Dậu (1885) do Văn Thân gây ra. Những người
sống sót, một phần chạy về Đồng
Hới kết hợp với các giáo dân chạy loạn
khác, thành lập giáo xứ Tam Ṭa, một phần chạy
vào Huế lập cư ở vùng Băi Dâu.
Sở dĩ gọi là Tam
Ṭa, v́ nơi đây trước kia có Tam Pháp Ṭa do Nhà
Nguyễn thành lập. Tam Pháp Ṭa là một ṭa án cao nhất
gồm có đại diện Bộ H́nh, Đô Sát Viện và
Đại Lư Tự, xét xử các vụ án quan trọng.
Ở trong thành nội Huế cũng có một Tam Ṭa gióng
hệt như thế.
Khi Linh mục Nguyễn
Văn Thuận đến Tam Ṭa th́ gia đ́nh cụ Ngô
Đ́nh Quyền, anh của cụ Ngô Đ́nh Khả,
đang sinh sống tại đó, và bà Ngô Đ́nh Thị Tiến,
em của cụ Ngô Đ́nh Khả, đang làm Bề Trên Ḍng
Mến Thánh Giá tại đây. Thân mẫu của ngài là bà Ngô
Đ́nh Thị Hiệp, em của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, năm nay vừa mừng thọ 100
tuổi, hiện đang sống ở Úc, đă kể cho
ngài nghe nhiều lần về biến cố năm Ất
Dậu tại làng Đại Phong, nên ngài khó quên
được.
Sau này, khi in xong cuốn
“Những bí ẩn đàng sau cuộc chiến Việt
Nam”, Quyển I, trong đó có nói về ḍng họ của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, tôi có gởi biếu
ngài. Khi đến Orange County, thấy tôi đứng ở
xa, ngài đă chạy tới ôm chầm lấy tôi và hỏi:
“Chú mi lấy tài liệu ở mô mà viết đầy
đủ như rứa?” Hồi c̣n nhỏ, ngài
thường gọi tôi bằng “chú mi”. Khi tôi có chút
địa vị trong xă hội, ngài không gọi bằng
“chú mi” nữa mà gọi bằng tên, nhưng thỉnh
thoảng cũng quen miệng kêu “chú mi”!
Đối với tôi,
viết về gia đ́nh họ Ngô không khó lắm. Hồi
nhỏ, tôi thường nghe những người lớn
trong làng kể nhiều lần về biến cố kinh
hoàng xẩy ra năm Ất Dậu cho các giáo xứ tại
Quảng B́nh, trong đó có làng Đại Phong và gia đ́nh
cụ Ngô Đ́nh Khả. V́ thế, sau khi tham khảo tài
liệu trong các văn khố, tôi hỏi lại một
số người lớn tuổi trong làng c̣n sống sót,
họ đă kể thêm cho tôi nghe nhiều chi tiết
hữu ích và thích thú. Sau này, Đức Hồng Y Nguyễn
Văn Thuận có kể cho tôi thêm nhiều chi tiết quan
trọng mà thân mẫu ngài đă kể lại, để
tôi có thể viết đầy đủ hơn.
3.- BƯỚC ĐƯỜNG
ĐI LÊN
Dưới chế
độ Ngô Đ́nh Diệm, Linh mục Nguyễn Văn
Thuận tuy thuộc ḍng họ Ngô, có bằng tiến sĩ
luật, làm giáo sư rồi giám đốc chủng viện
ở Huế, nhưng ít ai chú ư đến ngài, v́ ngài
thuộc về bên ngoại và trên ngài c̣n có nhiều vị
quyền thế khác. Lúc đó tôi cũng đang là một
sinh viên luật khoa, nên chưa có cơ hội tham gia vào
đời sống chính trị. Sau này, khi Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ, những
biến loạn liên tiếp xẩy ra tại miền Trung,
vai tṛ của ngài bổng trở nên quan trọng.
Ngày 9.4.1966 Tướng Tôn
Thất Đính được cử làm Tư Lệnh
Vùng I thay thế Tướng Nguyễn Văn Chuân với
nhiệm vụ giải quyết các vụ biến loạn
miền Trung. Nhưng khi đến Huế, Tướng
Đính chẳng những không giải quyết
được ǵ mà c̣n đứng về phe Thượng
Tọa Thích Trí Quang, làm cho t́nh h́nh rối loạn tăng
thêm. Nhóm “Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng”
do Việt Cộng tổ chức và lănh đạo, đă
nấp dưới danh nghĩa Phật Giáo, lộng hành
tại Huế và Đà Nẵng, muốn bắt ai th́
bắt, muốn giết ai th́ giết, chẳng coi chính
quyền và luật pháp ra ǵ cả. Giữa các giáo xứ
tại Huế và Lực Lượng Tranh Thủ Cách
Mạng đang dàn trận để đánh nhau. Lực
Lượng đă đánh chiếm giáo xứ Giạ Lê (Phù
Lương). Nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo
giữa Linh mục Nguyễn Văn Thuận, lúc đó
đang giữa chức Tổng Đại Diện Giáo
Phận Huế, với Thượng Tọa Thích Trí Quang,
cuộc chiến đẩm máu giữa hai bên đă không
xẩy ra. Từ đó, uy tín của ngài cứ lên dần.
Khi nghe tin quân đội và cảnh sát từ Đà Nẵng
đang tiến ra Huế, Tướng Đính vào nấp
trong chủng viện Hoan Thiện và nhờ Linh mục
Nguyễn Văn Thuận che chở.
Ngày 24.6.1967, Linh mục
Nguyễn Văn Thuận được Ṭa Thánh chọn làm
Giám Mục Nha Trang. Lúc đó tôi đă có chút địa
vị trong xă hội, có quan hệ chặt chẽ với
nhiều cơ quan, và được nhiều người
biết tên qua những bài nhận định và b́nh
luận trên tờ Thẳng Tiến. Do đó, khi có biến
cố ǵ quan trọng, Đức Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận thường vào Saig̣n, cư ngụ ở
Ḍng Chúa Cứu Thế hay nhà của thân phụ ngài ở đường
Phan Thanh Giản, ngay sát bên cạnh nhà của ông già vợ
tôi, và gọi tôi đến trao đổi tin tức. Có khi
tôi ra Nha Trang thông báo cho ngài những tin quan trọng mà tôi
nhận được.
4.- BIẾN CỐ LÀM
THAY ĐỔI CUỘC ĐỜI
Một biến cố
trong tháng 4 năm 1975 đă đưa Đức Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận vào những ngày bi thảm nhất
của cuộc đời ngài, nhưng cũng từ đó
ngài đă bước lên những địa vị quan
trọng sau này trong Giáo Hội. Đây là một biến
cố mà chính tôi là người đă chứng kiến và
theo dơi rất sát.
Khi đoán biết
miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh đă 5 lần
đề nghị Đức Khâm Sứ Ṭa Thánh tại Việt
Nam, Henri Lemaitre, xin Ṭa Thánh cử Đức Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận làm Phó Tổng Giám Mục Saigon
với hy vọng sự khôn ngoan của ngài có thể
đưa Giáo Hội Việt Nam vượt qua những
cơn khó khăn sắp đến, nhưng khi
được Ṭa Khâm Sứ hỏi ư kiến, Đức
Giám Mục Nguyễn Văn Thuận luôn từ chối. Tuy
nhiên, khi t́nh h́nh trở nên nghiêm trọng, chiếu theo
đế nghị của Đức Khâm Sứ, ngày 25.4.1975
Ṭa Thánh đă phong ngài làm Tổng Giám Mục hiệu ṭa thành
Vadesitana, giữ chức Phó Tổng Giám Mục Giáo Phận
Saigon với năng quyền kế vị. Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh nghĩ rằng
nếu t́nh h́nh quá khó khăn, ngài sẽ từ chức và
trao quyền lại cho Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận.
Sau khi Việt Cộng
chiếm Sài G̣n, ngày 8.5.1975, một nhóm Linh mục đă
gởi đến Đức Tổng Giám Mục Nguyễn
Văn B́nh một kiến nghị yêu cầu hoăn không cho
Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận
nhận chức Tổng Giám Mục Phó. Kiến nghị này
do các Linh mục sau đây kư tên: Trương Bá Cần,
Trần Viết Thọ, Vương Đ́nh Bích, Phan
Khắc Từ, Thanh Lăng, Nguyễn Quang Lăm, Hoàng Kim, Huỳnh
Công Minh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh B́nh
Định, Nguyễn Thiện Toàn, Nguyễn Văn Ḥa,
Nguyễn Văn Huệ và Nguyễn Nghị.
Mặc dầu có sự
phản đối nói trên, ngày 12.5.1975 Ṭa Giám Mục Saigon
vẫn thông báo cho các giáo xứ trong Giáo Phận biết,
Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục
Nha Trang, đă được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm
Tổng Giám Mục Phó Giáo Phận Saigon với quyền
kế vị và ngài đă đến nhận nhiệm vụ
mới ngày 12.5.1975.
Nhận được
thông báo này, các linh mục Trương Bá Cần, Trần
Viết Thọ, Vương Đ́nh Bích, Phan Khắc Từ,
Thanh Lăng, Nguyễn Quang Lăm và Hoàng Kim đă đến
Chủng Viện Thánh Giuse ở đường
Cường Để chất vấn Đức Tổng
Giám Mục Nguyễn Văn B́nh và yêu cầu Đức Phó
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận từ
chức.
Ngày 13.5.1975, một nhóm
sinh viên công giáo đă xâm nhập Ṭa Giám Mục Saigon, căng
lên những biểu ngữ sau đây:
- Nguyễn Văn
Thuận, Giám Mục của ai?
- V́ quyền lợi
của Giáo Hội Việt Nam, yêu cầu Nguyễn Văn
Thuận từ chức.
- Không có ḥa giải,
Nguyễn Văn Thuận phải rút lui.
Ngoài ra, nhóm này cũng
gởi đến Đức Khâm Sứ Henri Lemaitre một
văn thư nói rằng “Mỹ - Thiệu và tay sai đă
dẫm lên nhau chạy trốn, sự bổ nhiệm
một Giám Mục chống Cộng tại Saigon là một
điều nguy hiểm không những cho Giáo Hội mà cho
cả dân tộc Việt Nam”. Họ yêu cầu Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận phải từ
chức để “tránh cho Giáo Hội và dân tộc Việt
Nam những phiêu lưu vô vọng và nguy hiểm”.
Ngày 14.5.1975, một
đoàn biểu t́nh do Đoàn Phú Khánh cầm đầu,
đă xâm nhập Ṭa Khâm Sứ của Ṭa Thánh ở
đường Hai Bà Trưng, trèo lên nóc nhà hạ cờ Ṭa
Thánh xuống và căng biểu ngữ đ̣i Đức
Khâm Sứ Henri Lemaitre phải cút đi. Họ đẩy
một linh mục người Ba Lan và linh mục Trần
Ngọc Thụ ra khỏi Ṭa Khâm Sứ. Trong khi đó, Linh
mục Huỳnh Công Minh đứng chụp h́nh và Linh
mục Thanh Lănh phát bản tuyên cáo. Ngày 3.6.1975, họ
đến phá Ṭa Khâm Sứ một lần nữa.
Được tin này, các thanh niên công giáo thuộc giáo
xứ Bùi Phát ở đường Trương Minh
Giảng đă kéo lên. Nhưng khi các toán thanh niên này mới
đến đầu cầu Trương Minh Giảng th́
bộ đội xả súng bắn vào họ, một
người bị chết và nhiều người bị
thương. Linh mục Vũ B́nh Định, Phó xứ Bùi
Phát đă bị bắt ngay sau đó.
Trước sự
chống đối này, ngày 7.6.1975 Đức Tổng Giám
Mục Nguyễn Văn B́nh đă gởi cho các linh mục
và giáo dân một văn thư, trong đó có những đoạn
như sau:
“Tôi đă hết sức ôn ḥa, lắng nghe và thông
cảm đồng thời giải thích trực tiếp
hoặc gián tiếp cho những ai muốn đối
thoại với tôi về những sự việc trên.
Nhưng t́nh trạng ấy chưa khả quan hơn.”
Sau đó, ngài kêu
gọi:
“Tôi
kêu gọi tất cả quư cha, các tu sĩ nam nữ và toàn
thể giáo dân sẵn sàng tuân phục hoàn toàn quyết
định của Ṭa Thánh La Mă”.
Ngày 18.6.1975, Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh đă gởi cho
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ Tịch
Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam, một văn thư yêu cầu ba điểm sau đây:
1) Triệt để
thi hành Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính sách
10 điểm của chính phủ để gây tin
tưởng và phấn khởi nơi toàn dân đối
với chính phủ.
2) Chấm dứt
chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ, vu cáo các chức
sắc của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
3) Chấm dứt ngay
chiến dịch vận động phi pháp trục xuất
Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, v́
việc trục xuất phi pháp này vi phạm trầm
trọng Sắc Lệnh Tự Do Tín Ngưỡng và chính
sách 10 điểm của chính phủ, sẽ gây nguy hại
cực kỳ lớn lao không lường được,
về đối nội cũng như đối ngoại,
cho Quốc Gia Dân Tộc.
5.- BẮT ĐẦU
NHỮNG NGÀY GIAN TRUÂN
Mặc dầu có thư
phản kháng của Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn B́nh, ngày 27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản Thành
Phố Saigon - Gia Định công bố quyết định
không cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Thuận được hoạt động tại
nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân Quản
gởi cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Thuận một văn thư yêu cầu ngài phải trở
lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.
Chiều 15.8.1975, Ủy
Ban Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Thành Phố
Hồ Chí Minh mở cuộc họp tại Nhà Hát Thành
Phố (trụ sở Hạ Nghị Viện cũ)
để tŕnh bày trường hợp của Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Có khoảng
350 giáo sĩ, tu sĩ và đại diện các giáo xứ
được công an “mời” đến nghe tŕnh bày. Ông Mai
Chí Thọ, đại diện chính quyền, tuyên bố
rằng chính phủ quyết định đưa ông
Nguyễn Văn Thuận trở về Nha Trang, nơi
đương sự cư ngụ trước ngày
30.4.1975, v́ sự hiện diện của ông Nguyễn
Văn Thuận gây trở ngại cho sự đoàn kết
dân tộc.
Cũng trong ngày 15.8.1975,
công an đến bắt Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận đưa ra Nha Trang, nhưng không
phải đến Ṭa Giám Mục Nha Trang mà đến giáo
xứ Cây Vông thuộc xă Diên Sơn, Huyện Diên Khánh,
tỉnh Khánh Ḥa. Chính Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận đă kể lại câu chuyện
này như sau:
“Ngày
15 tháng 8 năm 1975, lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên
trời, tôi được mời đến Phủ
Tổng Thống, “Dinh Độc Lập”, vào lúc 14 giờ.
Tại đó, tôi bị bắt và đem đi trên một xe
hơi có hai công an đi kèm. Và đó là khởi đầu
cuộc phiêu lưu của tôi.
“Trong
lúc ấy, tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ
bị gọi tới Nhà Hát, với mục đích tránh
mọi phản ứng của dân chúng đối vụ
bắt tôi.
“Trong
cuộc hành tŕnh, tôi bắt đầu ư thức rằng
ḿnh đang mất tất cả. Tôi ra đi, với
chiếc áo chùng thâm trong túi có một cỗ tràng hạt. Tôi
chỉ c̣n biết phó thác cho Chúa Quan Pḥng. Nhưng giữa
bao nhiêu lo âu ấy, tôi vẫn thấy có một niềm vui
lớn: “Hôm nay là lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên
trời...”
“Từ
lúc đó, người ta cấm gọi tôi là “Đức
Cha...”. Tôi là ông Nguyễn Văn Thuận. Tôi không
được phép mang dấu hiệu ǵ vể chức
vị của tôi. Không hề báo trước chút nào. Chúa yêu
cầu tôi hăy trở về với điều cốt
yếu.
“Trên
đường dài 450 cây số, không có một ai. Tôi
thực sự bị bỏ rơi.
“Và
trong sự xúc động trước hoàn cảnh mới,
diện đối diện với Chúa, tôi nghe thấy Chúa
Giesu hỏi Simon: “Simon, con bảo Thầy là ai?” (cf MT 16,15)”
(Chứng Nhân Hy
Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 37 - 38)
Giáo xứ Cây Vong
lúc đó có khoảng 1200 giáo dân do Linh mục Vũ Văn
Như, 70 tuổi, làm chánh xứ. Trong thời gian bị
quản chế tại đây, ngài được Linh
mục chính xứ và giáo dân mộ mến và giúp đỡ tận
t́nh. Bổng nhiên, vào 8 giờ tối ngày 18.3.1976, công an
đă đưa xe bịt bùng đến và thông báo cho ngài
biết ngài phải dời đến một nơi cư
trú mới. Trong khi đó, họ nói với dân chúng rằng
ông Nguyễn Văn Thuận có dính líu đến vụ Vinh
Sơn ở Sài G̣n nên đang bị diều tra, mặc
dầu khi xẩy ra vụ Vinh Sơn, ngài đang bị
quản thúc tại Cây Vong, ngày đêm đều có công an
theo dơi. Nghe tin này, giáo dân trong giáo xứ đă đến
rất đông để xem chuyện ǵ sẽ xẩy ra. Ai
cũng lo sợ những chuyện không may sẽ
đến cho ngài. Khi ngài bị đẩy lên xe, mọi
người đều chảy nước mắt và ai
cũng âm thần đọc kinh cầu nguyện cho ngài.
Tối hôm đó, ngài bị đưa vào giam ở trại
Phú Khánh. Ngài đă mô tả lại thời gian bị giam
tại trại này như sau:
“Nhà
tù nơi tôi bị giam trong những tháng đầu tiên tọa
lạc tại khu vực có nhiều tín hữu nhất trong
thành phố Nha Trang, nơi tôi đă làm giám mục trong 8
năm.
“Từ
pḥng giam, sáng tối tôi đều nghe thấy tiếng
chuông nhà thờ ngân vang, và suốt ngày, tôi nghe những
tiếng chuông của bao nhiêu giáo xứ và nhà ḍng. Tôi
ước mong được dời đi thật xa, lên
miền núi để khỏi phải nghe những tiếng
chuông ấy.
“Ban
đêm, trong cái thinh lặng của thành phố, tôi nghe
lại tiếng sóng Thái B́nh Dương mà tôi đă từng
nghe thấy từ văn pḥng ṭa giám mục của tôi. Không
ai biết tôi ở đâu, mặc dù nhà tù chỉ cách nhà tôi
vài cây số. Tôi sống t́nh trạng thật vô lư!”
(Chứng Nhân Hy
Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 141 - 142)
6.- TRÊN ĐƯỜNG
RA BẮC
Ngày 29.11.1976, xe công an
lại đến trại Phú Khánh đưa ngài vào trại
Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài cùng nhiều tù nhân chính
trị khác đang bị giam ở miền Nam,
được đưa xuống tàu Trường Xuân
đi ra Bắc. Khi ra đi, v́ không có ǵ để
đựng các đồ tùy thân, ngài phải lấy cái
quần cột hai ống lại và dồn đồ vào
trong rồi mang đi. Tôi cùng khoảng 150 tù nhân chính trị
khác cũng được đưa từ trại Long
Thành đến Tân Cảng để đi ra Bắc trong
chuyến tàu này. Tôi có gặp ngài trên tàu, chào hỏi mấy
câu, sau đó bị đưa vào một khoang khác. Chúng ta hăy
nghe chính ngài kể lại các diễn biến này:
“Ngày
mồng 1 tháng 12 năm 1976, lúc 9 giờ tối, bất th́nh
ĺnh tôi bị gọi cùng với vài tù nhân khác. Chúng tôi bị
xích người này với người kia từng hai
người một và được đẩy lên một
xe cam nhông. Cuộc hành tŕnh ngắn đưa chúng tôi
tới Tân Cảng, là hải cảng quân sự mới do
người Mỹ mở mấy năm trước đó.
Chúng tôi trông thấy một con tàu trước mặt, hoàn
toàn ch́m trong bóng tối để dân chúng khỏi để
ư. Chúng tôi bị đưa lên tàu đi ra Bắc - một
cuộc hải hành dài 1.700 cây số.”
“Tối
hôm ấy, trong khi chờ đợi, họ bắt chúng tôi
ngồi xuống đất. Xa xa, cách đó 3 cây số, tôi
thấy ánh đèn của thành phố Saigon, trọng tâm
của giáo phận mà tôi được bổ nhiệm làm
Giám Mục Phó ngày 24 tháng 4 năm 1975. Tôi biết rằng
ḿnh sắp bị đưa đi xa khỏi nơi này.
Đau khổ ấy làm tôi rùng ńnh. Tôi nghĩ đến
Thánh Phaolô Tông Đồ lúc giả từ các kỳ mục
thành Epheso tại Mileto, khi biết rằng sẽ không bao
giờ c̣n được nh́n lại họ nữa. C̣n tôi
th́ không được giả từ những người
thân của tôi. Tôi cũng không thể an ủi hoặc
để lại cho họ lời khuyên nào. Trong thâm tâm, tôi
giả từ họ, nhất là Đức Tổng Giám
Mục cao niên Phaolô Nguyễn Văn B́nh tốt lành của
tôi. Tâm hồn tôi đau đớn, khi nghĩ ḿnh sẽ
không bao giờ c̣n được nh́n lại họ nữa.
Cho đến nay, tôi vẫn chưa gặp lại họ.
“Tôi
cảm thấy niềm đau khổ mục tử sâu xa
trong tất cả những điều đó, nhưng tôi có
thể làm chứng rằng Chúa Cha không hề bỏ rơi
tôi và Ngài đă ban sức mạnh cho tôi.”
“Cùng
với các tù nhân khác, tôi bị đem xuống hầm tàu,
nơi chứa than. Chỉ có một ngọn đèn nhỏ
leo lét cháy. C̣n lại là hoàn toàn tối om. Chúng tôi tất
cả là 1.500 người, trong t́nh cảnh không thể
tả được. Một cơn bảo nổi dậy
trong tâm trí tôi. Cho tới nay tôi c̣n ở trong giáo phận
của tôi, nhưng từ giờ phút này trở đi không
biết tôi sẽ phiêu bạt tới chân trời gốc
bể nào. Tôi suy niệm lời thánh Phaolô nói: “Tôi đi Giêrusalem
mà không biết điều ǵ sẽ xẩy ra cho tôi ở
đó. Tôi chỉ biết rằng Chúa Thánh Thần khuyến
cáo tôi rằng tại mọi thành tôi tới, xiềng xích và
gian truân đang chờ đợi tôi.” (Cv 20,22,23). Tôi đă
sống trong lo âu suốt đêm hôm ấy.
“Ngày
hôm sau, khi một chút ánh sáng mặt trời lọt vào
hầm tàu, tôi nhận ra chung quanh tôi những gương
mặt buồn sầu và tuyệt vọng của các tù nhân
khác. Bầu khí sầu thảm như đám tang. Một
trong các tù nhân đă t́m cách treo cổ tự tử với
một sợi dây thép. Những người khác gọi tôi.
Tôi đến nói chuyện với anh. Sau cùng anh lắng nghe
lời tôi. Cách đây hai năm, trong một cuộc họp
liên tôn tại California, tôi đă gặp lại anh. Mặt
mừng rỡ, anh tiến tới gặp tôi và cám ơn tôi.
Anh đă cho mọi người xem các vết thẹo c̣n
hằn trên cổ.
“Trong
cuộc hành tŕnh, khi các tù nhân biết có Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận, họ đến với tôi
để kể lể các nổi lo âu của họ. Tôi
đă chia sẻ các đau khổ của họ và an ủi
họ hàng giờ và suốt cả ngày. Trong ba ngày trên tàu,
tôi an ủi các tù nhân khác và tôi suy niệm về cuộc
khổ nạn của Chúa Giêsu. Đêm thứ hai, giữa
cái lạnh của Thái B́nh Dương trong tháng 12, tôi
bắt đầu hiểu rằng ơn gọi của tôi
bắt đầu một giai đoạn mới. Trong giáo
phận, tôi đă đưa ra các sáng kiến khác nhau cho công
tác rao truyền Tin Mừng cho người bên lương.
Giờ đây phải cùng Chúa Giêsu đi về nguồn
gốc của việc loan báo Tin Mừng. Phải cùng Ngài
đi chết “bên ngoài tường thành”, “bên ngoài
tường thánh.”
(Chứng Nhân Hy
Vọng, Hoa Kỳ 2000, tr. 126 - 128 và 141 - 142)
Ngày 5.12.1976 tàu cập
bến Hải Pḥng. Công an chia các tù nhân thành ba toán khác nhau
theo dấu hiệu họ đă gắn ở mỗi
người và đưa mỗi toán đến một
trại cải tạo khác nhau: Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Quang
và Thanh Hóa. Riêng ngài bị đưa lên trại Vĩnh
Quang ở Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc và Phú Thọ cũ),
nằm sát chân núi Tam Đảo.
(C̣n tiếp)