Đôi ḍng ghi nhớ (2)

Tú Gàn (ngày 4.10.2002)

 

Tôi biết rất nhiều về cuộc đời của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và được nghe ngài kể lại gần hết những chuyện đă xẩy ra trong thời gian ngài bị giam cầm và quản chế dưới chế độ cộng sản. Tôi cũng đă trải qua nhiều trại tù khác nhau của Cộng Sản, trong đó có trại Cẩm Thủy là một trong những trại tù khắc nghiệt nhất, nên tiếp thu những ǵ ngài kể lại một cách dễ dàng. V́ thế, vào cuối năm 2000, khi hay tin Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận sắp được tấn phong Hồng Y, tôi đă hoàn thành một cuốn sách dày khoảng 300 trang, kể lại cuộc đời hoạt động của ngài như một gương sáng của một người đă sống một cuộc đời tận hiến để phục vụ, và dự tính sẽ cho phổ biến vào ngày 21.1.2001, ngày ngài được tấn phong Hồng Y. Nhưng việc này đă không thực hiện được.

 

1.- PHẢI QUAN TÂM ĐẾN SỰ AN NGUY CỦA NHỮNG NGƯỜI TRONG NƯỚC

 

Trước khi cho in, tôi đă gởi bản thảo cuốn sách nói trên nhờ ngài đọc qua, xem có chi tiết nào sai hay cần bổ túc thêm không. Sau khi xem, ngài đă gọi điện thoại cho tôi và nói: “Ở ngoài này tự do, ḿnh muốn viết ǵ th́ viết, nhưng không thể không quan tâm đến sự an nguy của những người có tên trong sách hiện đang sống trong nước, như..., Nếu v́ những điều ḿnh công bố mà họ bị chuyện ǵ th́ ḿnh sẽ phải ân hận”. Theo ư kiến của ngài, có rất nhiều chi tiết phải đợi đến khi t́nh h́nh thuận tiện hơn mới có thể phổ biến.

Trước lời khuyến cáo này, tôi phải ngưng cho in cuốn sách nói trên và thay thế bằng một tập kư sự đặc biệt, tŕnh bày cuộc đời của ngài bằng những h́nh ảnh sống động từ nhỏ cho đến ngày được tấn phong Hồng Y, với một số lời và bài dẫn giải ngắn. Chúng tôi chỉ có hai tuần lễ để vừa biên soạn vừa in tập này, nhưng nhờ đă có sẵn đầy đủ tài liệu và h́nh ảnh, nên kết quả rất tốt đẹp. Số lượng in ra khá nhiều, nhưng không thể đáp ứng được nhu cầu của những người mộ mến ngài khắp nơi.

Hôm nay, ngồi ghi lại những ngày sống dưới chế độ cộng sản của ngài dưới đây, chúng tôi cũng chỉ lược tóm lại những diễn biến chính. Những chi tiết khác, chúng tôi sẽ phổ biến khi t́nh thế cho phép.

 

2.- TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN!

 

Trại tù đầu tiên trên đất Bắc mà Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị giam giữ là trại Vĩnh Quang, thuộc tỉnh Vĩnh Phú, ngay dưới chân núi Tam Đảo. Đây là vùng mật khu của Việt Cộng trong thời gian chống Pháp. Tại đây, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được sống chung với các tù nhân chính trị khác từ miền Nam mới được đưa ra trong cùng chuyến tàu với ngài, nên cuộc sống cũng tương đối dễ chịu. Ngài cũng phải lao động và sinh hoạt như các tù nhân khác trong trại. Nhưng khi thấy mọi người tỏ vẻ kính trọng ngài và thường bàn hỏi với ngài về đủ mọi vấn đề, công an bắt đầu nghi ngại và quyết định tách ngài ra. Ông Nguyễn Thanh Giàu có ghi lại một đoạn ngắn về thời gian ngài sống tại trại Vĩnh Quang như sau:

Họ chia chúng tôi thành từng đội, từng tổ và phân chia lao động. Tôi nhớ, khi phân công, anh em không muốn Ông Già, danh xưng để gọi Đức Cha Thuận, v́ lúc nầy cán bộ trại không cho gọi ai theo chức sắc tôn giáo, phải đi lao động nặng nhọc nên đề cử cho ông làm trực buồng, tức là ở nhà lo lấy thức ăn, sắp xếp chăn mền, dọn dẹp buồng và đương nhiên phải đi đổ phân hằng ngày.

Anh em xin ngài cho anh em thay ngài làm công việc dơ bẩn nầy, nhưng Đức Cha Thuận không đồng ư và Ngài bảo: Tôi rất vinh dự được đi tù chung với anh em, xin anh em hăy để tôi làm hết bổn phận của tôi. Có lần v́ Trời quá rét, nhiệm vụ người trực buồng phải đi lấy than đá đem về pḥng để sưởi, v́ bao than quá nặng trên đường về Ngài suưt mấy lần bị té ngă nhưng Ngài gắng gượng mang được về pḥng, bỏ bao than xuống ngài phải ngồi hồi lâu mới lấy lại sức.

Có một điểm rất đặc biệt, khi cán bộ trại giam bắt tất cả tù nhân lên hội trường, là một gian nhà trống giữa sân trại, để làm bản tự khai, nghĩa là phải khai hết mọi việc từ khi mới sanh ra cho đến ngày bị vào tù, như sanh ở đâu, lớn lên học trường nào, thầy nào, đi lính năm nào,làm chức vụ ǵ, cấp chỉ huy là ai, từng giết bao nhiêu Việt cộng, họ gọi là cách mạng, v.v...

Sau vài giờ viết tự khai,họ cho nghĩ giải lao, người th́ đi uống nước, đi vệ sinh, hút thuốc, nhưng phần đông th́ bu quanh Ông Già để nghe ông nói chuyện. Một cách rất trung thực mà nói, lúc bây giờ bu quanh Đức Cha Thuận không phải chỉ có giáo dân mà trong đó có đủ thành phần tín đồ các tôn giáo khác như Phật Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Ḥa Hảo. Riêng tôi, là một tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo, lúc bấy giờ tôi không nh́n Đức Cha Thuận là một Đức Tổng Giám Mục Công Giáo mà nh́n ngài là MỘT BẬC CHÂN TU, MỘT NHÀ TU HÀNH ĐÁNG KÍNH.

Có lẽ thấy uy tín và ảnh hưởng của Đức Cha Thuận rất lớn đối với anh em tù nhân nên sau đó, Cộng sản đă âm thầm di chuyển Ngài đi nơi khác. Tuy nhiên, h́nh như Ngài biết trước việc nầy...

V́ thời gian sống gần Đức Cha Nguyễn Văn Thuận không lâu lắm, hơn nữa đă trăi qua một phần tư thế kỷ và trí nhớ bị bào ṃn bởi những năm tháng trong trại tù Cộng sản, chắc chắn tôi không nhớ hết những ǵ Đức Cha Thuận đă làm, những lời Ngài đă nói, tôi chỉ c̣n nhớ ở ngài là cả một tấm ḷng Từ Bi thương yêu giúp đỡ mọi người, ai lo buồn ngài khuyến khích an ủi và chung chịu, chia xẻ sự đau khổ với mọi nguời.

Rơ ràng đây chính là đức Từ Bi và Bố Thí của chư Phật; Ngài chính là hiện thân của Bồ Tát”.

Ngày 5.2.1977, ngài được lệnh chuẩn bị chuyển trại. Thấy ngài không có ǵ để đựng những đồ đạc linh tinh, một tù nhân đă lấy cái bao tải chùi chân ở cửa ra vào, giặt sạch và may lại thành cái bao cho ngài đựng đồ đem đi. Anh em tù nhân đều lo lắng, không biết ngài bị đưa đi đâu.

Từ trại Vĩnh Phú, công an đă đưa ngài vào giam ở trại Thanh Liệt thuộc huyện Tranh Tŕ, cách Hà Nội khoảng 15 cây số về phía Nam. Huyện này trước thuộc tỉnh Hà Đông, rồi Hà Tây và nay là một huyện ngoại thành của Hà Nội. Xă Thanh Liệt là quê của Chu Văn An.

Trại Thanh Liệt được thiết lập ngay trong Đ́nh Thanh Liệt. Nh́n bên ngoài, không ai có thể biết được đó là một trại giam. Cổng trại là một cổng đ́nh to lớn, đồ sộ. Qua khỏi cổng trại là một khu rộng thênh thang, chung quanh có hai lớp tường kiên cố. Trại được chia thành nhiều khu nhỏ: A, B, C, D... Mỗi khu có 7 hoặc 8 buồng, mỗi buồng dài 8 thước và rộng 2 thước 50. Mỗi buồng có hai cửa dày bằng gỗ, chung quanh có tường cao khoảng 5 thước. Đây là nơi được dùng để giam những nhân vật quan trọng hoặc những người cần được khai thác. Mỗi buồng thường giam một người, nhưng cũng có khi hai người. Trước đây, trại Thanh Liệt cũng là nơi giam giữ các tù binh Mỹ. Linh mục Trần Hữu Thanh bị giam ở pḥng 5D, ông Nguyễn Tư Thái (Thái Đen) bị giam ở pḥng 3D, c̣n Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị giam ở pḥng 7D...

Trong thời gian bị giam ở trại này, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị thẩm vấn liên tục về đủ mọi vấn đề, từ nội bộ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, các thành phần linh mục quốc doanh... đến các tổ chức chính trị ở miền Nam Việt Nam. Đa số những người đến thẫm vấn là các công an cao cấp được Bộ Nội Vụ phái đến. Việc đối đầu với các công an loại này không phải là chuyện dễ dàng. Tôi được ngài và anh Nguyễn Tư Thái kể lại nhiều chuyện lắc léo trong việc đối đầu với công an, và cho biết nếu không được những sự giúp đỡ kỳ lạ, rất khó thoát được những nguy biến, nhưng những chuyện này chưa tiện viết ra.

V́ có tin đồn ở Saigon rằng Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đă chết, nên công an và Mặt Trận Tổ Quốc đă t́m cách giải tỏa vụ này. Đầu tháng 9 năm 1977, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội báo tin cho ngài biết Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh sẽ đi Roma qua ngă Hà Nội, và ngài sẽ được gặp Đức Tổng Giám Mục B́nh. Ngày 13.9.1977 công an đă đến trại Thanh Liệt chở ngài ra Cục Công An ở Hà Nội gặp Đức Tổng Giám Mục B́nh. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong khoảng nữa tiếng đồng hồ và chỉ hỏi thăm nhau về sức khỏe, v́ công an ngồi canh chừng hai bên nên không thể nói các chuyện khác được.

Ngày thứ bảy 13.5.1978, vào khoảng 4 giờ chiều, một trung úy công an đến gọi ngài lên văn pḥng làm việc. Tại đây, ngài được ông Nguyễn Văn Khăn, Cục Phó Cục Công An, tiếp và thông báo ngài được phóng thích, nhưng bị quản chế ở Giang Xá. Ngày 26.5.1978, tức 13 ngày sau, công an đến đưa ngài về Giang Xá.

Giáo xứ Giang Xá là một giáo xứ nằm ở thị trấn Trạm Tôn, huyện Hoài Đức, ở phía nam Hà Nội. Huyện này trước đây thuộc tỉnh Hà Đông, nay là tỉnh Hà Tây. Giang xá lúc đó có khoảng 1500 giáo dân, thuộc Giáo Phận Hà Nội, nhưng chỉ có Ban Hành Giáo do giáo dân đảm trách, chứ không có linh mục. Trước khi ngài đến, Mặt Trận Tổ Quốc và công an đă cho Ban Hành Giáo và các giáo dân biết đây là một Giám Mục ác ôn, có nợ máu với nhân dân, nên cần được theo dơi và canh chừng cẩn mật. V́ thế, khi ngài được đưa đến quản chế tại đây, không ai dám đến với ngài. Những người được phép tiếp xúc với ngài đều là những người được công an gài vào để theo dơi. Ngài bị cấm không được làm các nghi lễ phụng vụ hay giảng dạy cho giáo dân. Tuy nhiên, nhờ thái độ khoan dung và ḥa nhả khi nói chuyện, mọi người đă nhận ra rằng ngài không phải là người như bọn công an đă mô tả. Ngài đă chinh phụ được cả những cán bộ có trách nhiệm canh giữ ngài cũng như các giáo dân có nhiệm vụ theo dơi ngài. Chúng tôi đă ghi nhận nhiều chuyện ly kỳ xẩy ra ở Giang Xá do chính ngài kể, nhưng sẽ tŕnh bày sau.

Ngày 21.11.1988, ngài lại nhận được lệnh “trả tự do” của Bộ Nội Vụ, nhưng không được trở về Nha Trang hay Saigon mà bị chỉ định nơi cư trú là Ṭa Tổng Giám Mục Hà Nội.

Sau này, khi ghi lại những đoạn ngắn về thời gian bị giam giữ, ngài có viết như sau:

Trong chín năm biệt giam, có một thời gian tôi bị giam kín trong một xà lim không có cửa sổ. Đôi khi đèn điện bật sáng ngày nầy qua ngày khác, có khi lại ở trong tối tăm tuần nầy sang tuần nọ, tôi cảm thấy ngột ngạt v́ sức nóng và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục trẻ tuổi với tám năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ được. Tôi bị giày ṿ bởi ư nghĩ phải bỏ rơi giáo phận, phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẫn uất nổi lên trong tôi...

Một đêm kia, tự trong thâm tâm vọng lên một tiếng nói như sau: Tại sao con phải tự giày ṿ ḿnh như thế?... Nếu Chúa muốn con rời bỏ những công việc đó và trao phó con trong tay Ngài th́ con hăy tức khắc vâng theo và hoàn toàn tín thác nơi Ngài. Chúa sẽ giao việc của con cho những người khác có nhiều khả năng hơn con. Con đă chọn Chúa, chứ không phải công việc của Chúa.

Áng sáng đó đă cho tôi một sức mạnh mới giúp biến đổi hoàn toàn cách suy tư của tôi, và giúp tôi lướt thắng những khoảng khắc mà xét về mặt thể lư th́ không tài nào chịu đựng nổi. Từ đó, một sự an b́nh mới tràn ngập tâm hồn tôi và lưu lại nơi tôi suốt 13 năm tù đày. Tôi cảm thấy sự yếu hèn của con người ḿnh, nhưng tôi luôn luôn nhắc lại điều đă quyết định khi phải đối diện với nghịch cảnh. Nhờ thế tôi không bao giờ mất sự b́nh an: Chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa. Đó là nền tảng của đời sống Kitô hữu trong mọi lúc”.

 

3- ĐI VÀO CHỖ CHẾT

 

Trong thời gian ở Ṭa Giám Mục Hà Nội, ngài bị sưng nhiếp hộ tuyến rất nặng. Kinh nghiệm cho biết, vào bệnh viện chửa trị là một điều rất nguy hiểm đối với hàng giáo sĩ công giáo, nhất là đối với hàng giáo phẩm cao cấp. Trường hợp của Đức Giám Mục Nguyễn Văn Ḥa ở Quy Nhơn và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền ở bệnh Viện Chợ Rẩy, Sài G̣n, là những thí dụ điển h́nh. Vào đó là kể như đi luôn. Các giáo sĩ thường t́m các y sĩ quen biết nhờ chửa trị tại nhà. Tuy nhiên, v́ t́nh trạng sưng nhiếp hộ tuyến của ngài đă đến giai đoạn nghiêm trọng, không c̣n chửa tại nhà được, Ṭa Giám Mục Hà Nội đă quyết định đưa ngài vào bệnh viện để xin chửa trị. Tại đây, các bác sĩ khám nghiệm và cho biết trường hợp của ngài phải giải phẩu và cắt bỏ nhiếp hộ tuyến.

Ngày 24.11.1988 ngài phải trải qua một cuộc giải phẩu dài ba tiếng đồng hồ. Sau khi mổ xong, bác sĩ trưởng khoa chẳng những không cho uống thuốc men ǵ mà c̣n cấm các bác sĩ và y tá không ai được chữa trị cho ngài khi không có lệnh của ông. V́ thế, vết thương ở chỗ mổ bị nhiểm trùng, sưng lên rất lớn. Các bác sĩ phải đưa vào mỗ lại lần thứ hai, lấy ra toàn máu đông và mũ. Tuy nhiên, sau khi mỗ lại xong, vết thương tiếp tục sưng đến nổi ngài không c̣n đi tiểu tiện được, nhưng bác sĩ trưởng khoa cũng như các bác sĩ điều trị vẫn không cho ngài uống một viên thuốc nào. Ngài tưởng sắp chết. Nhưng nhờ một sự may mắn phi thường, như một phép lạ, ngài đă được cứu thoát! Cho đến hôm nay, nhà cầm quyền cộng sản cũng không hiểu tại sao ông Nguyễn Văn Thuận đă không chết lúc đó!

Nh́n lại quảng đường này, ngài viết:

Người ta tưởng tôi đă chết. Dân chúng đă cử hành nhiều lễ cầu hồn cho tôi. Nhưng Thiên Chúa biết viết thẳng trên những đường cong”.

 

4.- DANS LE MALHEUR, QUELQUE CHOSE DE BON!

 

Năm 1961, ông Trần Văn Lắm, nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến Đệ Nhất Cộng Ḥa, được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bổ làm Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa tại Úc. Để bảo đảm cho địa vị của ḿnh, ông Lắm đă xin cụ Nguyễn Văn Ấm, thân phụ của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, cho cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu, em của Linh mục Nguyễn Văn Thuận, lúc đó mới 20 tuổi, qua làm thư kư tại Ṭa Đại Sứ Việt Nam ở Camberra. Cụ Ấm từ chối, v́ muốn cô Tiếu phải được học hành thêm nữa trước khi ra đời. Nhưng v́ ông Trần Văn Lắm năm nỉ quá, cụ Ấm đành cho đi với hy vọng khi qua Úc cô sẽ được học hành thêm.

Nhưng ngày 2.11.1961, khi được tin Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu đă bị hạ sát, ông Trần Văn Lắm đă ra quyết định sa thải cô Hàm Tiếu và buộc cô phải rời Ṭa Đại Sứ Việt Nam tại Úc ngay lập tức. Lúc đó cô mới 22 tuổi. Trước t́nh trạng bơ vơ nơi đất khách quê người, không biết phải sống ở đâu và làm thế nào để sống, cô đă chạy đến nhà Ḍng Ursula, kể lại hoàn cảnh của ḿnh và nhờ giúp đỡ. Các nữ tu của Ḍng này đă cho cô tạm trú. Trong lúc cô đang phân vần, chưa biết nên vận động ở lại hay xin tiền mua vé máy bay trở về Việt Nam, th́ cô nhận được thư của người anh là Linh mục Nguyễn Văn Thuận từ Huế gởi qua, trong thư nói: “Hăy ở lại đấy, một ngày kia, có thể em sẽ cứu được cả gia đ́nh”. Không ngờ đó là một lời tiên tri.

Theo lời khuyên của người anh, cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu đă lấy hết can đảm chấp nhận cảnh bơ vơ nơi xứ lạ quê người, không quay về Việt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của các nữ tu Ḍng Ursula, các linh mục và giám mục Camberra, và của bạn bè, cô đă ghi danh học khoa chính trị và ngôn ngữ tại trường Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi (Australian National University) và sau đó trở thành một cô giáo có thể tự mưu sinh được. Nhờ sự giúp đỡ của các giáo sĩ ở Úc, cô cứ xin gia hạn cư trú từng năm, và 10 năm sau cô đă được nhập tịch Úc.

Người Pháp có câu: “Dans le malheur, quelque chose de bon”, nghĩa là trong sự bất hạnh cũng có một cái ǵ đó tốt. Vào trường hợp của cô Hàm Tiếu câu này đă hoàn toàn đúng, và lời tiên tri của Linh mục Nguyễn Văn Thuận “Hăy ở lại đấy, một ngày kia, có thể em sẽ cứu được cả gia đ́nh” cũng đă ứng nghiệm sau đó 12 năm, khi Cộng Sản chiếm miền Nam, bà Hàm Tiếu là người duy nhất trong gia đ́nh đang ở ngoại quốc, có quốc tịch Úc, đă bảo lănh cho thân phụ và thân mẫu đến Úc một cách nhanh chóng. Và chính bà cũng đă trở thành một trong những người lănh đạo phong trào tranh đấu đ̣i trả tự do cho người anh đang phải sống trong lao tù của Cộng Sản Việt Nam, người anh ấy là Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Bà cho biết:

Tôi đă đi khắp nơi trên thế giới để xin các nhà cầm quyền can thiệp với nhà nước cộng sản Việt Nam trả tự do cho anh tôi và ở mọi nơi mọi người đă rất tốt. Chúng tôi đă in hằng ngàn thư và thỉnh nguyện thư”.

Các Đức Giám Mục Úc Đại Lợi đă yểm trợ tích cực cuộc tranh đấu của bà và đă cử hành nhiều thánh lễ cầu nguyện cho sự an nguy của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Năm 1984, nhờ sự giúp đỡ của Đức Ông Vincent Trần Ngọc Thụ, thư kư riêng của Đức Thánh Cha, bà đă được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Bà đă xin Đức Thánh Cha cầu nguyện và can thiệp cho anh bà. Nhờ vậy, ngày 21.11.1988, ngài mới nhận được lệnh phóng thích của nhà cầm quyền Hà Nội, tuy sau đó không được về Nha Trang mà bị quản chế tại Ṭa Giám Mục Hà Nội.

Ngày 21.3.1991, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Ngài đă đến Thụy Sĩ rồi từ đó ngài xin qua Roma. Ngày 24.11.1994, Ṭa Thánh đă bổ nhiệm ngài làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh và ngày 24.6.1998, ngài lên làm Chủ Tịch Hội Đồng này thay Đức Hồng Y Roger Etchegary. Ngày 21.1.2001 ngài được tấn phong làm Hồng Y.

 

5.- VUI TƯƠI VÀ HĂY LÀM CHO KẺ KHÁC VUI TƯƠI

 

Trong những năm gần đây, tại Ṭa Thánh Vatican, ngoài Đức Giáo Hoàng, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là người được phái đi thương lượng nhiều vấn đề quan trọng tại nhiều quốc gia và là người đi thuyết giảng nhiều nhất khắp nơi trên thế giới.

Nhưng vào năm 2000, khi đi khám bệnh, người ta khám phá ra có một màng đang phủ qua trong thành bụng của ngài. Cuộc khảo sát cho biết kết quả là “benigne”, tức bướu lành. Ngày 17.4.2001, theo đề nghị của Đức Hồng Y Bernard F. Law, ngài đến một bệnh viện tại Boston, Massachuchetts, Hoa Kỳ, để cắt cái màng đó đi. Đầu năm 2002, màng bướu tái phát và ăn lan vào ruột. Các bác sĩ Ư cho biết ngài phải chịu một cuộc giải phẩu kéo dài trong khoảng 30 tiếng đồng hồ mới có thể cắt bỏ hết và nối lại ruột được.

Ngày 24.4.2002, ngài trở về Úc thăm thân mẫu và mừng tuổi thọ 100 của mẹ ngài, rồi tiếp tục đi giảng thuyết cho đến ngày 4.5.2002 mới đến bệnh viện ở Milano, phía bắc nước Y,Ù để chịu giải phẩu. Cuộc giải phẩu được thực hiện trong ngày 8.5.2002, nhưng mới kéo dài được 7 tiếng th́ sức khỏe của ngài không c̣n chịu nổi nên cuộc giải phẩu phải ngưng lại. Các bác sĩ đợi sức khỏe của ngài phục hồi để tái giải phẩu, nhưng chuyện đó đă không xẩy ra.

Ngài cho tôi biết cái màng bướu phát xuất từ phía bên ruột thừa đi lên. Đây là một trường hợp ít khi thấy. Có lẽ nó đă mọc từ nhiều năm, nhưng không phát hiện được. Một số bác sĩ đă nói với tôi rằng có lẽ hiện tượng bướu lạ đưa đến sự ra đi của ngài trong tháng qua là kết quả của sự sưng nhiếp hộ tuyến đă được cắt tại Hà Nội năm 1988, nay tái phát và vươn ra bên ngoài.

Lần chót tôi được nói chuyện với ngài bằng điện thoại hai tiếng đồng hồ là ngày 4.5.2002, trước khi đi mỗ. Lần trước đó vào ngày 26.4.2002, khi ngài đang ở Úc thăm thân mẫu ngài, ngài cũng đă nói chuyện với tôi suốt hai tiếng đồng hồ như thế. H́nh như ngài đă linh cảm trước rằng ngài có thể sẽ ra đi trong cuộc giải phẩu này nên đă sẵn sàng tất cả, kể cả về Úc thăm thân mẫu lần chót. Sau khi nói hết những chuyện cần phải nói, ngài dặn tôi: Cái ǵ ḿnh có thể làm th́ cứ tiếp tục làm, c̣n kết quả như thế nào tùy thuộc vào thánh ư của Thiên Chúa.

Nhiều người Việt Nam đă lấy làm tiếc khi nghe tin ngài ra đi khi “chương tŕnh hậu cộng sản” do Giáo Hội và ngài đang thực hiện chỉ mới khởi đầu, trong đó vấn đề xây dựng lại đời sống luân lư và nâng cao tŕnh độ giáo dục để đưa đất nước đi lên... là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Nhưng theo cách nh́n của ngài, việc đó đă có Thiên Chúa Quan Pḥng.

Trong bài giảng cho Giáo Triều ngày 14.3.2000 về “Bí quyết của sự Thánh Thiện: Sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng”, ngài nói:

Khi ra khỏi nước, tôi đă nhận được một lá thư của Mẹ Têrêxa ở Calcutta với những lời lẽ sau đây: “Điều đáng kể không phải là số lượng công tác được hoàn thành, nhưng là mức độ t́nh yêu mà ta để vào trong mỗi công tác”. Kinh nghiệm đó đă củng cố trong tôi ư niệm là phải sống mỗi ngày, mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút giây cuối cùng; hăy dẹp bỏ những ǵ là phụ thuộc; chỉ tập trung vào những ǵ là chính yếu. Mỗi chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định phải là những phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải thương yêu mọi người, chúng ta phải tươi cười với mọi người mà đừng đánh mất một giây phút nào”.

Trong thánh lễ an táng Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói:

Chắc chắn sự khuất bóng của ngài gây đau buồn cho những ai đă quen biết và yêu mến ngài: gia đ́nh ngài, cách riêng mẹ ngài, tôi lại bày tỏ cho bà sự gần gũi yêu thương của tôi. Tôi cũng nghĩ tới Giáo hội Việt nam yêu quí, Giáo Hội đă sinh ngài trong đức tin, và tôi cũng nghĩ tới toàn thể dân Việt Nam mà Đức Hồng Y đáng kính đă công khai nhắc tới trong chúc thư thiêng liêng của ngài bằng cách khẳng định luôn luôn yêu mến. Ṭa Thánh mà ngài đă phục vụ qua những năm cuối đời ngài, than khóc Hồng Y Nguyễn Văn Thuận”.

Khẩu hiệu của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận khi nhận chức Giám Mục Nha Trang là “Gaudium et Spes”, có nghĩa là “Vui Mừng và Hy Vọng”. Trong cuốn Đường Hy Vọng, ngài đă viết:

Vui tươi và làm cho mọi người đến với con cũng cảm thấy bầu không khí vui tươi, mặc dù ḷng tan nát. Đó là thánh thiện hơn mọi sự ăn chay hảm ḿnh.” (DHV 539)

Trong 174 phái đoàn của các quốc gia tới dự đám tang Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, người ta thấy có hai đại diện của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam ngồi chung trong phái đoàn của nước Pháp v́ giữa Vatican và Hà Nội chưa có bang giao.

Tú Gàn