Đôi ḍng ghi nhớ (2)
Tôi biết rất nhiều về cuộc đời của Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và được nghe ngài kể lại gần hết những chuyện đă xẩy ra trong thời gian ngài bị giam cầm và quản chế dưới chế độ cộng sản. Tôi cũng đă trải qua nhiều trại tù khác nhau của Cộng Sản, trong đó có trại Cẩm Thủy là một trong những trại tù khắc nghiệt nhất, nên tiếp thu những ǵ ngài kể lại một cách dễ dàng. V́ thế, vào cuối năm 2000, khi hay tin Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận sắp được tấn phong Hồng Y, tôi đă hoàn thành một cuốn sách dày khoảng 300 trang, kể lại cuộc đời hoạt động của ngài như một gương sáng của một người đă sống một cuộc đời tận hiến để phục vụ, và dự tính sẽ cho phổ biến vào ngày 21.1.2001, ngày ngài được tấn phong Hồng Y. Nhưng việc này đă không thực hiện được.
1.- PHẢI QUAN TÂM ĐẾN SỰ AN NGUY CỦA NHỮNG NGƯỜI TRONG NƯỚC
Trước khi cho in,
tôi đă gởi bản thảo cuốn sách nói trên nhờ
ngài đọc qua, xem có chi tiết nào sai hay cần bổ
túc thêm không. Sau khi xem, ngài đă gọi điện thoại
cho tôi và nói: “Ở ngoài này tự do, ḿnh muốn viết ǵ
th́ viết, nhưng không thể không quan tâm đến
sự an nguy của những người có tên trong sách
hiện đang sống trong nước, như..., Nếu
v́ những điều ḿnh công bố mà họ bị
chuyện ǵ th́ ḿnh sẽ phải ân hận”. Theo ư kiến
của ngài, có rất nhiều chi tiết phải
đợi đến khi t́nh h́nh thuận tiện hơn
mới có thể phổ biến.
Trước lời
khuyến cáo này, tôi phải ngưng cho in cuốn sách nói trên
và thay thế bằng một tập kư sự đặc
biệt, tŕnh bày cuộc đời của ngài bằng
những h́nh ảnh sống động từ nhỏ cho
đến ngày được tấn phong Hồng Y,
với một số lời và bài dẫn giải ngắn.
Chúng tôi chỉ có hai tuần lễ để vừa biên
soạn vừa in tập này, nhưng nhờ đă có
sẵn đầy đủ tài liệu và h́nh ảnh, nên
kết quả rất tốt đẹp. Số
lượng in ra khá nhiều, nhưng không thể đáp
ứng được nhu cầu của những
người mộ mến ngài khắp nơi.
Hôm nay, ngồi ghi
lại những ngày sống dưới chế độ
cộng sản của ngài dưới đây, chúng tôi
cũng chỉ lược tóm lại những diễn
biến chính. Những chi tiết khác, chúng tôi sẽ phổ
biến khi t́nh thế cho phép.
2.- TẤT CẢ LÀ
HỒNG ÂN!
Trại tù đầu
tiên trên đất Bắc mà Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận bị giam giữ là trại
Vĩnh Quang, thuộc tỉnh Vĩnh Phú, ngay dưới
chân núi Tam Đảo. Đây là vùng mật khu của
Việt Cộng trong thời gian chống Pháp. Tại
đây, Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Thuận được sống chung với các tù nhân chính
trị khác từ miền Nam mới được
đưa ra trong cùng chuyến tàu với ngài, nên cuộc
sống cũng tương đối dễ chịu. Ngài cũng
phải lao động và sinh hoạt như các tù nhân khác
trong trại. Nhưng khi thấy mọi người tỏ
vẻ kính trọng ngài và thường bàn hỏi với
ngài về đủ mọi vấn đề, công an
bắt đầu nghi ngại và quyết định tách
ngài ra. Ông Nguyễn Thanh Giàu có ghi lại một đoạn
ngắn về thời gian ngài sống tại trại
Vĩnh Quang như sau:
“Họ chia chúng tôi thành
từng đội, từng tổ và phân chia lao
động. Tôi nhớ, khi phân công, anh em không muốn Ông Già,
danh xưng để gọi Đức Cha Thuận, v́ lúc nầy
cán bộ trại không cho gọi ai theo chức sắc tôn
giáo, phải đi lao động nặng nhọc nên
đề cử cho ông làm trực buồng, tức là ở
nhà lo lấy thức ăn, sắp xếp chăn mền,
dọn dẹp buồng và đương nhiên phải
đi đổ phân hằng ngày.
“Anh em xin ngài cho anh em thay
ngài làm công việc dơ bẩn nầy, nhưng Đức
Cha Thuận không đồng ư và Ngài bảo: Tôi rất vinh
dự được đi tù chung với anh em, xin anh em hăy
để tôi làm hết bổn phận của tôi. Có
lần v́ Trời quá rét, nhiệm vụ người
trực buồng phải đi lấy than đá đem
về pḥng để sưởi, v́ bao than quá nặng trên
đường về Ngài suưt mấy lần bị té ngă
nhưng Ngài gắng gượng mang được về
pḥng, bỏ bao than xuống ngài phải ngồi hồi lâu
mới lấy lại sức.
“Có một điểm
rất đặc biệt, khi cán bộ trại giam bắt
tất cả tù nhân lên hội trường, là một gian
nhà trống giữa sân trại, để làm bản tự
khai, nghĩa là phải khai hết mọi việc từ khi
mới sanh ra cho đến ngày bị vào tù, như sanh
ở đâu, lớn lên học trường nào, thầy
nào, đi lính năm nào,làm chức vụ ǵ, cấp chỉ
huy là ai, từng giết bao nhiêu Việt cộng, họ
gọi là cách mạng, v.v...
“Sau vài giờ viết
tự khai,họ cho nghĩ giải lao, người th́
đi uống nước, đi vệ sinh, hút thuốc,
nhưng phần đông th́ bu quanh Ông Già để nghe ông nói
chuyện. Một cách rất trung thực mà nói, lúc bây
giờ bu quanh Đức Cha Thuận không phải chỉ có
giáo dân mà trong đó có đủ thành phần tín đồ
các tôn giáo khác như Phật Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Ḥa
Hảo. Riêng tôi, là một tín đồ Phật Giáo Ḥa
Hảo, lúc bấy giờ tôi không nh́n Đức Cha Thuận
là một Đức Tổng Giám Mục Công Giáo mà nh́n ngài là
MỘT BẬC CHÂN TU, MỘT NHÀ TU HÀNH ĐÁNG KÍNH.
“Có lẽ thấy uy tín
và ảnh hưởng của Đức Cha Thuận
rất lớn đối với anh em tù nhân nên sau đó,
Cộng sản đă âm thầm di chuyển Ngài đi nơi
khác. Tuy nhiên, h́nh như Ngài biết trước việc
nầy...
“V́ thời gian sống
gần Đức Cha Nguyễn Văn Thuận không lâu
lắm, hơn nữa đă trăi qua một phần tư
thế kỷ và trí nhớ bị bào ṃn bởi những
năm tháng trong trại tù Cộng sản, chắc chắn
tôi không nhớ hết những ǵ Đức Cha Thuận
đă làm, những lời Ngài đă nói, tôi chỉ c̣n
nhớ ở ngài là cả một tấm ḷng Từ Bi
thương yêu giúp đỡ mọi người, ai lo
buồn ngài khuyến khích an ủi và chung chịu, chia
xẻ sự đau khổ với mọi nguời.
“Rơ ràng đây chính là
đức Từ Bi và Bố Thí của chư Phật; Ngài
chính là hiện thân của Bồ Tát”.
Ngày 5.2.1977, ngài
được lệnh chuẩn bị chuyển trại.
Thấy ngài không có ǵ để đựng những
đồ đạc linh tinh, một tù nhân đă lấy cái
bao tải chùi chân ở cửa ra vào, giặt sạch và may
lại thành cái bao cho ngài đựng đồ đem
đi. Anh em tù nhân đều lo lắng, không biết ngài
bị đưa đi đâu.
Từ trại Vĩnh
Phú, công an đă đưa ngài vào giam ở trại Thanh
Liệt thuộc huyện Tranh Tŕ, cách Hà Nội khoảng 15
cây số về phía Nam. Huyện này trước thuộc
tỉnh Hà Đông, rồi Hà Tây và nay là một huyện ngoại
thành của Hà Nội. Xă Thanh Liệt là quê của Chu Văn
An.
Trại Thanh Liệt
được thiết lập ngay trong Đ́nh Thanh
Liệt. Nh́n bên ngoài, không ai có thể biết
được đó là một trại giam. Cổng
trại là một cổng đ́nh to lớn, đồ
sộ. Qua khỏi cổng trại là một khu rộng
thênh thang, chung quanh có hai lớp tường kiên cố.
Trại được chia thành nhiều khu nhỏ: A, B, C,
D... Mỗi khu có 7 hoặc 8 buồng, mỗi buồng dài 8
thước và rộng 2 thước 50. Mỗi buồng có
hai cửa dày bằng gỗ, chung quanh có tường cao
khoảng 5 thước. Đây là nơi được dùng
để giam những nhân vật quan trọng hoặc
những người cần được khai thác.
Mỗi buồng thường giam một người,
nhưng cũng có khi hai người. Trước đây,
trại Thanh Liệt cũng là nơi giam giữ các tù binh
Mỹ. Linh mục Trần Hữu Thanh bị giam ở pḥng
5D, ông Nguyễn Tư Thái (Thái Đen) bị giam ở pḥng
3D, c̣n Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Thuận bị giam ở pḥng 7D...
Trong thời gian bị
giam ở trại này, Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận bị thẩm vấn liên tục
về đủ mọi vấn đề, từ nội
bộ của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, các thành
phần linh mục quốc doanh... đến các tổ
chức chính trị ở miền Nam Việt Nam. Đa
số những người đến thẫm vấn là
các công an cao cấp được Bộ Nội Vụ phái
đến. Việc đối đầu với các công an
loại này không phải là chuyện dễ dàng. Tôi
được ngài và anh Nguyễn Tư Thái kể lại
nhiều chuyện lắc léo trong việc đối
đầu với công an, và cho biết nếu không
được những sự giúp đỡ kỳ lạ,
rất khó thoát được những nguy biến,
nhưng những chuyện này chưa tiện viết ra.
V́ có tin đồn
ở Saigon rằng Đức Tổng Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận đă chết, nên công an và Mặt Trận
Tổ Quốc đă t́m cách giải tỏa vụ này. Đầu
tháng 9 năm 1977, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ
Quốc ở Hà Nội báo tin cho ngài biết Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh sẽ đi Roma qua
ngă Hà Nội, và ngài sẽ được gặp
Đức Tổng Giám Mục B́nh. Ngày 13.9.1977 công an đă
đến trại Thanh Liệt chở ngài ra Cục Công An
ở Hà Nội gặp Đức Tổng Giám Mục B́nh.
Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong khoảng
nữa tiếng đồng hồ và chỉ hỏi thăm
nhau về sức khỏe, v́ công an ngồi canh chừng hai
bên nên không thể nói các chuyện khác được.
Ngày thứ bảy
13.5.1978, vào khoảng 4 giờ chiều, một trung úy công an
đến gọi ngài lên văn pḥng làm việc. Tại
đây, ngài được ông Nguyễn Văn Khăn,
Cục Phó Cục Công An, tiếp và thông báo ngài
được phóng thích, nhưng bị quản chế
ở Giang Xá. Ngày 26.5.1978, tức 13 ngày sau, công an đến
đưa ngài về Giang Xá.
Giáo xứ Giang Xá là
một giáo xứ nằm ở thị trấn Trạm Tôn,
huyện Hoài Đức, ở phía nam Hà Nội. Huyện này
trước đây thuộc tỉnh Hà Đông, nay là
tỉnh Hà Tây. Giang xá lúc đó có khoảng 1500 giáo dân,
thuộc Giáo Phận Hà Nội, nhưng chỉ có Ban Hành Giáo
do giáo dân đảm trách, chứ không có linh mục.
Trước khi ngài đến, Mặt Trận Tổ
Quốc và công an đă cho Ban Hành Giáo và các giáo dân biết
đây là một Giám Mục ác ôn, có nợ máu với nhân dân,
nên cần được theo dơi và canh chừng cẩn
mật. V́ thế, khi ngài được đưa
đến quản chế tại đây, không ai dám
đến với ngài. Những người
được phép tiếp xúc với ngài đều là
những người được công an gài vào để
theo dơi. Ngài bị cấm không được làm các nghi
lễ phụng vụ hay giảng dạy cho giáo dân. Tuy
nhiên, nhờ thái độ khoan dung và ḥa nhả khi nói
chuyện, mọi người đă nhận ra rằng ngài
không phải là người như bọn công an đă mô
tả. Ngài đă chinh phụ được cả
những cán bộ có trách nhiệm canh giữ ngài cũng
như các giáo dân có nhiệm vụ theo dơi ngài. Chúng tôi đă
ghi nhận nhiều chuyện ly kỳ xẩy ra ở Giang
Xá do chính ngài kể, nhưng sẽ tŕnh bày sau.
Ngày 21.11.1988, ngài lại
nhận được lệnh “trả tự do” của
Bộ Nội Vụ, nhưng không được trở
về Nha Trang hay Saigon mà bị chỉ định nơi
cư trú là Ṭa Tổng Giám Mục Hà Nội.
Sau này, khi ghi lại
những đoạn ngắn về thời gian bị giam
giữ, ngài có viết như sau:
“Trong chín năm biệt
giam, có một thời gian tôi bị giam kín trong một xà lim
không có cửa sổ. Đôi khi đèn điện bật
sáng ngày nầy qua ngày khác, có khi lại ở trong tối tăm
tuần nầy sang tuần nọ, tôi cảm thấy
ngột ngạt v́ sức nóng và hơi ẩm. Tôi sắp
bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một giám mục
trẻ tuổi với tám năm kinh nghiệm mục
vụ. Tôi không thể ngủ được. Tôi bị giày
ṿ bởi ư nghĩ phải bỏ rơi giáo phận,
phải bỏ dở những công việc của Chúa. Tôi
cảm thấy một sự phẫn uất nổi lên
trong tôi...
“Một đêm kia,
tự trong thâm tâm vọng lên một tiếng nói như sau:
Tại sao con phải tự giày ṿ ḿnh như thế?...
Nếu Chúa muốn con rời bỏ những công việc đó
và trao phó con trong tay Ngài th́ con hăy tức khắc vâng theo và
hoàn toàn tín thác nơi Ngài. Chúa sẽ giao việc của con
cho những người khác có nhiều khả năng
hơn con. Con đă chọn Chúa, chứ không phải công
việc của Chúa.
“Áng sáng đó đă cho
tôi một sức mạnh mới giúp biến đổi
hoàn toàn cách suy tư của tôi, và giúp tôi lướt
thắng những khoảng khắc mà xét về mặt
thể lư th́ không tài nào chịu đựng nổi. Từ
đó, một sự an b́nh mới tràn ngập tâm hồn tôi
và lưu lại nơi tôi suốt 13 năm tù đày. Tôi
cảm thấy sự yếu hèn của con người
ḿnh, nhưng tôi luôn luôn nhắc lại điều đă
quyết định khi phải đối diện với
nghịch cảnh. Nhờ thế tôi không bao giờ mất
sự b́nh an: Chọn Chúa chứ không phải việc
của Chúa. Đó là nền tảng của đời
sống Kitô hữu trong mọi lúc”.
3- ĐI VÀO CHỖ
CHẾT
Trong thời gian ở
Ṭa Giám Mục Hà Nội, ngài bị sưng nhiếp hộ
tuyến rất nặng. Kinh nghiệm cho biết, vào
bệnh viện chửa trị là một điều
rất nguy hiểm đối với hàng giáo sĩ công giáo,
nhất là đối với hàng giáo phẩm cao cấp.
Trường hợp của Đức Giám Mục
Nguyễn Văn Ḥa ở Quy Nhơn và Đức Tổng Giám
Mục Nguyễn Kim Điền ở bệnh Viện
Chợ Rẩy, Sài G̣n, là những thí dụ điển h́nh.
Vào đó là kể như đi luôn. Các giáo sĩ
thường t́m các y sĩ quen biết nhờ chửa
trị tại nhà. Tuy nhiên, v́ t́nh trạng sưng nhiếp
hộ tuyến của ngài đă đến giai đoạn
nghiêm trọng, không c̣n chửa tại nhà được,
Ṭa Giám Mục Hà Nội đă quyết định
đưa ngài vào bệnh viện để xin chửa
trị. Tại đây, các bác sĩ khám nghiệm và cho
biết trường hợp của ngài phải giải
phẩu và cắt bỏ nhiếp hộ tuyến.
Ngày 24.11.1988 ngài phải
trải qua một cuộc giải phẩu dài ba tiếng
đồng hồ. Sau khi mổ xong, bác sĩ trưởng
khoa chẳng những không cho uống thuốc men ǵ mà c̣n
cấm các bác sĩ và y tá không ai được chữa
trị cho ngài khi không có lệnh của ông. V́ thế,
vết thương ở chỗ mổ bị nhiểm
trùng, sưng lên rất lớn. Các bác sĩ phải
đưa vào mỗ lại lần thứ hai, lấy ra toàn
máu đông và mũ. Tuy nhiên, sau khi mỗ lại xong, vết
thương tiếp tục sưng đến nổi ngài
không c̣n đi tiểu tiện được, nhưng bác
sĩ trưởng khoa cũng như các bác sĩ
điều trị vẫn không cho ngài uống một viên
thuốc nào. Ngài tưởng sắp chết. Nhưng
nhờ một sự may mắn phi thường, như
một phép lạ, ngài đă được cứu thoát! Cho
đến hôm nay, nhà cầm quyền cộng sản
cũng không hiểu tại sao ông Nguyễn Văn Thuận
đă không chết lúc đó!
Nh́n lại quảng
đường này, ngài viết:
“Người ta
tưởng tôi đă chết. Dân chúng đă cử hành
nhiều lễ cầu hồn cho tôi. Nhưng Thiên Chúa
biết viết thẳng trên những đường cong”.
4.- DANS LE MALHEUR, QUELQUE
CHOSE DE BON!
Năm 1961, ông Trần
Văn Lắm, nguyên Chủ Tịch Quốc Hội Lập
Hiến Đệ Nhất Cộng Ḥa, được
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bổ làm Đại
Sứ Việt Nam Cộng Ḥa tại Úc. Để bảo
đảm cho địa vị của ḿnh, ông Lắm
đă xin cụ Nguyễn Văn Ấm, thân phụ của
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, cho cô
Nguyễn Thị Hàm Tiếu, em của Linh mục Nguyễn
Văn Thuận, lúc đó mới 20 tuổi, qua làm thư kư
tại Ṭa Đại Sứ Việt Nam ở Camberra. Cụ
Ấm từ chối, v́ muốn cô Tiếu phải
được học hành thêm nữa trước khi ra
đời. Nhưng v́ ông Trần Văn Lắm năm
nỉ quá, cụ Ấm đành cho đi với hy vọng
khi qua Úc cô sẽ được học hành thêm.
Nhưng ngày 2.11.1961, khi
được tin Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông
Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu đă bị hạ sát, ông
Trần Văn Lắm đă ra quyết định sa
thải cô Hàm Tiếu và buộc cô phải rời Ṭa
Đại Sứ Việt Nam tại Úc ngay lập tức.
Lúc đó cô mới 22 tuổi. Trước t́nh trạng
bơ vơ nơi đất khách quê người, không
biết phải sống ở đâu và làm thế nào
để sống, cô đă chạy đến nhà Ḍng Ursula,
kể lại hoàn cảnh của ḿnh và nhờ giúp đỡ.
Các nữ tu của Ḍng này đă cho cô tạm trú. Trong lúc cô
đang phân vần, chưa biết nên vận động
ở lại hay xin tiền mua vé máy bay trở về
Việt Nam, th́ cô nhận được thư của
người anh là Linh mục Nguyễn Văn Thuận
từ Huế gởi qua, trong thư nói: “Hăy ở lại
đấy, một ngày kia, có thể em sẽ cứu
được cả gia đ́nh”. Không ngờ đó là
một lời tiên tri.
Theo lời khuyên của
người anh, cô Nguyễn Thị Hàm Tiếu đă
lấy hết can đảm chấp nhận cảnh bơ
vơ nơi xứ lạ quê người, không quay về
Việt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của các nữ tu
Ḍng Ursula, các linh mục và giám mục Camberra, và của
bạn bè, cô đă ghi danh học khoa chính trị và ngôn
ngữ tại trường Đại Học Quốc Gia
Úc Đại Lợi (Australian National University) và sau đó
trở thành một cô giáo có thể tự mưu sinh
được. Nhờ sự giúp đỡ của các giáo
sĩ ở Úc, cô cứ xin gia hạn cư trú từng
năm, và 10 năm sau cô đă được nhập
tịch Úc.
Người Pháp có câu: “Dans
le malheur, quelque chose de bon”, nghĩa là trong sự bất
hạnh cũng có một cái ǵ đó tốt. Vào
trường hợp của cô Hàm Tiếu câu này đă hoàn
toàn đúng, và lời tiên tri của Linh mục Nguyễn
Văn Thuận “Hăy ở lại đấy, một ngày kia,
có thể em sẽ cứu được cả gia đ́nh”
cũng đă ứng nghiệm sau đó 12 năm, khi
Cộng Sản chiếm miền Nam, bà Hàm Tiếu là
người duy nhất trong gia đ́nh đang ở
ngoại quốc, có quốc tịch Úc, đă bảo lănh cho
thân phụ và thân mẫu đến Úc một cách nhanh chóng.
Và chính bà cũng đă trở thành một trong những
người lănh đạo phong trào tranh đấu đ̣i
trả tự do cho người anh đang phải sống
trong lao tù của Cộng Sản Việt Nam, người
anh ấy là Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê
Nguyễn Văn Thuận. Bà cho biết:
“Tôi đă đi khắp
nơi trên thế giới để xin các nhà cầm
quyền can thiệp với nhà nước cộng sản
Việt Nam trả tự do cho anh tôi và ở mọi nơi
mọi người đă rất tốt. Chúng tôi đă in
hằng ngàn thư và thỉnh nguyện thư”.
Các Đức Giám
Mục Úc Đại Lợi đă yểm trợ tích
cực cuộc tranh đấu của bà và đă cử hành
nhiều thánh lễ cầu nguyện cho sự an nguy
của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn
Thuận. Năm 1984, nhờ sự giúp đỡ của
Đức Ông Vincent Trần Ngọc Thụ, thư kư riêng
của Đức Thánh Cha, bà đă được
Đức Thánh Cha tiếp kiến. Bà đă xin Đức
Thánh Cha cầu nguyện và can thiệp cho anh bà. Nhờ
vậy, ngày 21.11.1988, ngài mới nhận được
lệnh phóng thích của nhà cầm quyền Hà Nội, tuy
sau đó không được về Nha Trang mà bị
quản chế tại Ṭa Giám Mục Hà Nội.
Ngày 21.3.1991, Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị trục
xuất ra khỏi Việt Nam. Ngài đă đến Thụy
Sĩ rồi từ đó ngài xin qua Roma. Ngày 24.11.1994, Ṭa
Thánh đă bổ nhiệm ngài làm Phó Chủ Tịch Hội
Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh và ngày 24.6.1998, ngài
lên làm Chủ Tịch Hội Đồng này thay Đức
Hồng Y Roger Etchegary. Ngày 21.1.2001 ngài được
tấn phong làm Hồng Y.
5.- VUI TƯƠI VÀ HĂY
LÀM CHO KẺ KHÁC VUI TƯƠI
Trong những năm
gần đây, tại Ṭa Thánh Vatican, ngoài Đức Giáo
Hoàng, Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận là
người được phái đi thương lượng
nhiều vấn đề quan trọng tại nhiều
quốc gia và là người đi thuyết giảng
nhiều nhất khắp nơi trên thế giới.
Nhưng vào năm 2000,
khi đi khám bệnh, người ta khám phá ra có một màng
đang phủ qua trong thành bụng của ngài. Cuộc
khảo sát cho biết kết quả là “benigne”, tức
bướu lành. Ngày 17.4.2001, theo đề nghị của
Đức Hồng Y Bernard F. Law, ngài đến một
bệnh viện tại Boston, Massachuchetts, Hoa Kỳ,
để cắt cái màng đó đi. Đầu năm 2002,
màng bướu tái phát và ăn lan vào ruột. Các bác sĩ Ư
cho biết ngài phải chịu một cuộc giải
phẩu kéo dài trong khoảng 30 tiếng đồng hồ
mới có thể cắt bỏ hết và nối lại
ruột được.
Ngày 24.4.2002, ngài trở
về Úc thăm thân mẫu và mừng tuổi thọ 100
của mẹ ngài, rồi tiếp tục đi giảng
thuyết cho đến ngày 4.5.2002 mới đến bệnh
viện ở Milano, phía bắc nước Y,Ù để
chịu giải phẩu. Cuộc giải phẩu
được thực hiện trong ngày 8.5.2002, nhưng
mới kéo dài được 7 tiếng th́ sức khỏe
của ngài không c̣n chịu nổi nên cuộc giải
phẩu phải ngưng lại. Các bác sĩ đợi
sức khỏe của ngài phục hồi để tái
giải phẩu, nhưng chuyện đó đă không xẩy
ra.
Ngài cho tôi biết cái
màng bướu phát xuất từ phía bên ruột thừa
đi lên. Đây là một trường hợp ít khi
thấy. Có lẽ nó đă mọc từ nhiều năm, nhưng
không phát hiện được. Một số bác sĩ
đă nói với tôi rằng có lẽ hiện tượng
bướu lạ đưa đến sự ra đi
của ngài trong tháng qua là kết quả của sự
sưng nhiếp hộ tuyến đă được
cắt tại Hà Nội năm 1988, nay tái phát và vươn
ra bên ngoài.
Lần chót tôi
được nói chuyện với ngài bằng điện
thoại hai tiếng đồng hồ là ngày 4.5.2002,
trước khi đi mỗ. Lần trước đó vào
ngày 26.4.2002, khi ngài đang ở Úc thăm thân mẫu ngài,
ngài cũng đă nói chuyện với tôi suốt hai
tiếng đồng hồ như thế. H́nh như ngài
đă linh cảm trước rằng ngài có thể sẽ
ra đi trong cuộc giải phẩu này nên đă sẵn
sàng tất cả, kể cả về Úc thăm thân mẫu
lần chót. Sau khi nói hết những chuyện cần
phải nói, ngài dặn tôi: Cái ǵ ḿnh có thể làm th́ cứ
tiếp tục làm, c̣n kết quả như thế nào tùy
thuộc vào thánh ư của Thiên Chúa.
Nhiều người
Việt Nam đă lấy làm tiếc khi nghe tin ngài ra đi
khi “chương tŕnh hậu cộng sản” do Giáo Hội
và ngài đang thực hiện chỉ mới khởi
đầu, trong đó vấn đề xây dựng lại
đời sống luân lư và nâng cao tŕnh độ giáo
dục để đưa đất nước đi
lên... là vấn đề được quan tâm hàng
đầu. Nhưng theo cách nh́n của ngài, việc đó
đă có Thiên Chúa Quan Pḥng.
Trong bài giảng cho Giáo
Triều ngày 14.3.2000 về “Bí quyết của sự Thánh
Thiện: Sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng”, ngài
nói:
“Khi ra khỏi
nước, tôi đă nhận được một lá
thư của Mẹ Têrêxa ở Calcutta với những
lời lẽ sau đây: “Điều đáng kể không
phải là số lượng công tác được hoàn
thành, nhưng là mức độ t́nh yêu mà ta để vào
trong mỗi công tác”. Kinh nghiệm đó đă củng
cố trong tôi ư niệm là phải sống mỗi ngày,
mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút
giây cuối cùng; hăy dẹp bỏ những ǵ là phụ
thuộc; chỉ tập trung vào những ǵ là chính yếu.
Mỗi chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện
thoại, mỗi quyết định phải là những
phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải
thương yêu mọi người, chúng ta phải
tươi cười với mọi người mà
đừng đánh mất một giây phút nào”.
Trong thánh lễ an táng
Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận,
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă nói:
“Chắc chắn sự
khuất bóng của ngài gây đau buồn cho những ai
đă quen biết và yêu mến ngài: gia đ́nh ngài, cách riêng
mẹ ngài, tôi lại bày tỏ cho bà sự gần gũi
yêu thương của tôi. Tôi cũng nghĩ tới Giáo
hội Việt nam yêu quí, Giáo Hội đă sinh ngài trong
đức tin, và tôi cũng nghĩ tới toàn thể dân
Việt Nam mà Đức Hồng Y đáng kính đă công khai
nhắc tới trong chúc thư thiêng liêng của ngài bằng
cách khẳng định luôn luôn yêu mến. Ṭa Thánh mà ngài
đă phục vụ qua những năm cuối đời
ngài, than khóc Hồng Y Nguyễn Văn Thuận”.
Khẩu hiệu của
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận khi nhận
chức Giám Mục Nha Trang là “Gaudium et Spes”, có nghĩa là “Vui
Mừng và Hy Vọng”. Trong cuốn Đường Hy
Vọng, ngài đă viết:
“Vui tươi và làm cho
mọi người đến với con cũng cảm
thấy bầu không khí vui tươi, mặc dù ḷng tan nát.
Đó là thánh thiện hơn mọi sự ăn chay hảm
ḿnh.” (DHV 539)
Trong 174 phái đoàn
của các quốc gia tới dự đám tang Đức
Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, người ta
thấy có hai đại diện của nhà cầm quyền
Cộng Sản Việt Nam ngồi chung trong phái đoàn
của nước Pháp v́ giữa Vatican và Hà Nội chưa
có bang giao.
Tú Gàn