| 'Tự
Chủ' của Đầng Sáng Tạo và của Ḷai Thụ Tạo
Lm. Thân Văn Tường Khi
Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, th́ v́ ḷng thương
yêu chúng, nên Người đă ban cho chúng quyền
tự chủ làm nên bản tính của chúng. Con người,
đứng trong vũ trụ, có sự tự
chủ riêng của ḿnh, nhưng cũng có trước
bản thân ḿnh sự tự
chủ của Thiên Chúa và các tạo vật khác. Trong
bài này, chúng ta sẽ t́m hiểu con người, trong
hành động của ḿnh, phải biết giới
hạn thế nào tự chủ của ḿnh trước
Thiên Chúa và các loài thụ tạo khác. I.
Trước hết, trong hành động của ḿnh,
con người phải tôn trọng tự chủ
của Thiên Chúa. Tự chủ ấy tuyệt
đối. Thế nào là tự chủ tuyệt
đối? Trong
sách Sáng Thế, cách diễn tả tư tưởng
khác với ngày nay, người ta chưa có những
định nghĩa trừu tượng về sự
thật, người ta chỉ nhắc đến
những hành động cụ thể tiêu biểu cho
sự thật ấy mà thôi. Đó là cách nói và Gn (1,1
2,40) đă truyền lại. Trước hết là
Đấng sáng tạo khác với loài được sáng
tạo. Người phán một lời th́ liền có
trời đất, ánh sáng, bóng tối... Người
dùng quyền ḿnh mà chia ánh sáng với bóng tối,
lục địa với biển khơi, thú vật
với chim chóc, thảo mộc... (Gn 1,7-16). Trong
Macabê, xuất hiện sau sách Sáng Thế, đă có
một cách nói cụ thể khác củng cố cho
quyền chủ thể tuyệt đối của
Thiên Chúa: đó là Thiên Chúa tạo dựng bởi
không (2Mac 7,28). Quả quyết này xác định Thiên
Chúa hoàn toàn tự chủ, không có một thế
lực nào ở ngoài Người giới hạn
được ư muốn của Người. Sáng
tạo bởi không vừa là điều kiện tiên
quyết, vừa là hiệu quả của quyền bá
chủ muôn loài của Thiên Chúa. Chẳng có vật
hiện hữu nào mà lại không lệ thuộc vào
quyền năng tuyệt đối của Người.
Người đă muốn và truyền như vậy,
th́ liền có mọi tạo vật. Sau
hết, là sách Gióp Thiên Chúa có toàn quyền trên
con người. Trước sự lành Người ban
ta đă vui mừng đón nhận, th́ trước tai
vạ, ta cũng phải khiêm cung đón nhận, không
được phản loạn kêu trách Thiên Chúa. Nói
tóm lại, khi đề cập đến việc sáng
tạo của Thiên Chúa, Cựu Ước khác rất
nhiều với các thi ca sáng tạo của thời
đại ấy. Trong các thi ca ấy, hoặc là
sự sáng tạo là như sự lan toả (émanation)
của thần linh, như ánh sáng lan toả càng
rộng th́ sức sáng càng yếu dần đi,
hoặc là sự sáng tạo là như sự sáng tác
của con người: một nhà văn sáng tác
một tác phẩm th́ tác phẩm ấy biến ông nên
một văn sĩ... Nguyên nhân và hiệu quả
lệ thuộc lẫn vào nhau và nguyên nhân có thể tăng
thêm hay suy giảm v́ hiệu quả. C̣n Thiên Chúa th́
Người hoàn toàn độc lập với kết
quả hành động của
ḿnh. Người là nguồn mạch mọi sự lành,
không c̣n thêm ǵ hay bớt ǵ được nữa. II.
Thiên Chúa không những ban cho các tạo vật sự
hiện hữu, mà c̣n ban cho chúng một bản tính có
khả năng biến đổi và kiện toàn
nhờ không gian và thời gian nữa. Riêng con người,
có lư trí và tự do, c̣n phải tiến triển và
hoàn thành bản thân theo chương tŕnh Thiên Chúa
đă ấn định cho cá nhân và giống ṇi
của ḿnh nữa. Về vấn đề này,
Cựu Ước cũng nhắc đến một cách
cụ thể trong ơn gọi ḍng dơi Abraham, Isaac và
Giacóp, và việc Thiên Chúa lựa chọn Israel làm dân
riêng Người. Ơn gọi và lựa chọn
ấy tuỳ thuộc vào sự tự chủ
tuyệt đối của Thiên Chúa như sách Dt 7,6... đă quả quyết sau đây:
Ngươi là một dân thánh hiến cho Giavê, Thiên
Chúa ngươi, và Người đă chọn ngươi
làm dân riêng Người (...) Không phải v́ ngươi
đông đúc hơn các dân tộc khác (...) nhưng v́
Đức Chúa thương yêu ngươi, và v́ Người
muốn giữ thề ước mà Người đă
làm với cha ông ngươi, nên Người đă làm
cho ngươi ra khỏi đất Ai Cập với bàn
tay uy quyền. Đọc lịch sử các tổ phụ
và việc Thiên Chúa giải thoát dân Do Thái khỏi
cảnh nô lệ cho người Ai Cập, ta sẽ
thấy rơ Thiên Chúa sử dụng quyền tự
chủ tuyệt đối của Người như
thế nào đối với loài người trong
Cựu Ước. Cựu
Ước đă nói đến Thiên Chúa sáng tạo vũ
trụ và con người bằng Lời của Người.
Trong Tân Ước, Lời của Thiên Chúa chính là
Ngôi Lời, hiện diện trong thế gian qua Đức
Giêsu Kitô (Heb 1,3; Ga 1,1-4). Trong kinh Tin Kính, ta đọc
về Ngôi Lời: Nhờ Người mà muôn
vật được tạo thành. Sau đó, khi loài
người đă phạm tội th́ cũng vẫn
Ngôi Lời xuống thế làm người để
cứu chuộc chúng tôi. V́ Đức Kitô là một người
thật có thân xác hữu h́nh chung với mọi người,
nên ta có thể nói con người là nơi ẩn náu
của Đấng sáng tạo trong vũ trụ. Điều
này chỉ những ai được Chúa Thánh Thần
ban đức tin mới nh́n thấy. Đó là lư do
giải thích trong loài người, người ta có
thể không nhận biết và không đáp trả
lời mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa
về mầu nhiệm sáng tạo trong Đức Kitô. III.
Sự tự chủ của Thiên Chúa sáng tạo
được củng cố trong việc Người
ban ơn riêng cho các tổ phụ, cho dân Do Thái và sau
đó trong việc cứu độ toàn thể nhân
loại. Lịch sử ấy cho ta thấy, trong
việc sáng tạo, Thiên Chúa có ư niệm rất
dị biệt về từng cá thể và về
từng ṇi giống. Sự dị biệt này làm cho
mỗi tạo vật có bản tính riêng của ḿnh.
Điều này thấy rơ hơn cả nơi loài người
là loài có lư trí và tự do mà các loài khác không có.
Họ có khả năng hiểu biết bản tính các
vật khác nhờ khoa học và dùng kỹ thuật
để điều hành các vật ấy theo mục
đích ḿnh theo đuổi. Như vậy, lịch
sử không phải là một chuỗi sự vật
nối tiếp nhau xuất hiện một cách mù quáng,
nhưng theo tự chủ của chúng và quyết
định của loài người. Trên hoạt động
của loài người, c̣n quan pḥng của Thiên Chúa
hướng tạo vật và loài người đến
tổng hợp trong yêu thương và hoà hợp
nữa. Nh́n
vào thế giới ngày nay, ta thấy con người
đă nhờ lao động của ḿnh mà nhân hoá
sự vật rất nhiều, đem lại cho ḿnh
một đời sống mỗi ngày một tiện
nghi hơn. Đó là con người đă cộng tác
với Thiên Chúa trong công tŕnh sáng tạo của Người. Nhưng
ta cũng thấy lao động của con người
không luôn nhân hoá vũ trụ. Đó là v́ từ khi loài
người đă lạm dụng sự hiểu
biết và tự do Thiên Chúa ban mà phạm tội, th́
trong vũ trụ không chỉ có sự lành, mà c̣n có
sự tội. Từ đó, con người có thể
làm điều lành và sự tội. Ađam thứ
nhất đă biến con người nên tội
lỗi v́ ích kỷ và kiêu ngạo, th́ Ađam thứ
hai đă đến cải tạo con người nên
con cái Thiên Chúa v́ chịu đau đớn, chịu
chết để đem lại sự phục sinh
bất diệt cho họ. IV.
Như ta đă thấy, sáng tạo là một hành
động tuyệt đối tự chủ
của Thiên Chúa. Người không bị chi phối
bởi một lư do bó buộc nội tại hay
ngoại lai nào. Nội tại, v́ Người là
nguồn mạch mọi sự tốt lành, không có
thể thêm cho Người được một
sự tốt lành nào khác. Ngoại tại, v́ Người
siêu việt mọi vật hiện hữu, không có
vật nào có quyền năng hơn Người để
áp đặt ư muốn của ḿnh trên Người
(Vat I, C3002). Nhưng
Thiên Chúa là một bản ngă có lư trí và tự do, nên
khi Người hành động th́ phải có mục
đích. Thánh Phaolô nói mục đích ấy là chính ḿnh
Thiên Chúa (Rm 11,36; Col 1,16). Vatican I giải thích là Thiên
Chúa sáng tạo v́ vinh danh (Gloria) ḿnh. Nhưng vinh
danh ấy có nghĩa là ǵ th́ Vatican I không giải thích
được rơ ràng. Trong
Cựu Ước, người ta đă nói đến
vinh danh của Thiên Chúa để diễn tả
sự nhân lành và sự hoàn thiện của Người
khi sáng tạo nên vũ trụ (Ps 19,2...; Is 6,3). Từ
này c̣n được gán cho Thiên Chúa khi Người
giải thoát và che chở một cách quyền năng
dân Do Thái khỏi ách làm tôi người Ai Cập (Es
16,7.10; Is 43,y; Eg 1,27). Trong
Tân Ước, thánh Phaolô nói về vinh danh Thiên Chúa
ở tại Đức Giêsu Kitô, v́ Người là h́nh
ảnh Thiên Chúa (2Cor 4,4). Trong các thư mục vụ,
thánh nhân lại nhắc đến vinh danh Thiên Chúa
biểu lộ qua Đức Giêsu Kitô (Tit 2,13). Vinh danh
ấy đồng nhất với ơn cứu độ
Chúa Giêsu đă đem lại cho loài người sa ngă
v́ tội lỗi (2Tim 2,10). Nhưng
nhất là trong đoạn đầu Phúc Âm thánh Gioan
khi ông nói về Chúa Giêsu như mặc khải về
Chúa Cha, v́ Người là Con duy nhất của Chúa
Cha, và v́ Người đă được phục
sinh sau khi chết. Sự phục sinh này kéo theo
phục sinh của cả loài người sau giờ
chết. Đó là vinh quang Chúa Cha ban cho Người. Như
trên, trong Tân Ước, vinh danh Thiên Chúa là
việc thông phần của Thiên Chúa cho tạo
vật về sự sống và sự tốt lành
của Người (Rm 3,23). V́ thế nên cần
phải có ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô.
Về phần ḿnh, con người phải có khởi
đầu một đời sống mới trong
thống hối và t́nh yêu theo như đức tin
đ̣i hỏi. Đức
Giêsu Kitô đi vào vinh danh Thiên Chúa bằng đời
sống nhân loại khó nghèo, bằng những đau
đớn và sự chết trên thập giá, v́
thế mà loài người cũng chỉ được
tham dự vào vinh danh ấy khi c̣n sống ở
đời này nếu họ
biết chia sẻ sự đau khổ và cái chết mà
Chúa Giêsu đă vâng phục đón nhận. Đó là lư
do giải thích tại sao Giáo Hội năng nhắc
cho các tín hữu biết phải sống đức
tin của ḿnh là noi gương Đức Kitô can đảm
đón nhận các đau khổ và sự chết
để làm vinh danh Thiên Chúa. Gương các
vị tử đạo luôn có đông đảo trong
Giáo Hội làm chứng vinh danh Thiên Chúa luôn
thể hiện trong thế gian. |