|
SUY TƯ THẦN
HỌC CỦA LINH MỤC GIUSE THÂN VĂN TƯỜNG THIÊN
CHÚA HẰNG SÁNG TẠO LUÔN Khi
nói về sự sáng tạo, ta không chỉ nói về lúc ban đầu khi
Thiên Chúa truyền và có mọi sự. Thiên Chúa sáng tạo mọi
giây phút vì Người đã giữ cho có, và còn làm cho tiến
triển đến một cùng đích. Tạo vật chẳng bao giờ độc
lập với Thiên Chúa như cái bình với người thợ gốm sau khi cái bình
ra khỏi lò. Thiên Chúa dựng nên vũ trụ và loài người bởi
không do một ý muốn tự do mà thôi, nên nếu Người không
muốn nữa, thì chúng lại trở nên không. Sau đây chúng ta
sẽ suy nghĩ sâu xa hơn về những điều vừa trình bày. I.
Ðiều đầu tiên ta nhận biết ở tạo vật là chúng không
bất động nhưng luôn biến đổi. Chúng vẫn là chúng, nhưng
luôn thay đổi không ngừng. Hiểu biết khoa học và tiến bộ
kỹ thuật làm cho con người thời nay ai cũng tin rằng: ở
tạo vật có những khả năng đổi mới thật lớn lao. Mặt
khác, con người hiện hữu trên trái đất không như các tạo
vật khác, nhưng như người có quyền quản trị chúng. Lao động
của họ cộng tác vào sự sáng tạo của Thiên Chúa trong
thời gian. Lao động ấy nhân hoá môi trường trong đó
con người sống cho có tiện nghi và thoải mái hơn. Như vậy,
ta không được tách rời lao động của con người và trách
nhiệm nhân hoá vũ trụ của họ với sự sáng tạo của Thiên
Chúa trong thời gian. Sau
hết, ta cũng không được quên vai trò trung tâm của Ðức Kitô.
Từ Cựu Ước, đã nói đến việc sáng tạo hướng về ơn
cứu độ. Trong Tân Ước thì xu hướng này thật rõ ràng; khi
Chúa Giêsu đã qui phục mọi sự thì Người dâng tất cả lên
Chúa Cha để mọi sự nên một trong Người (cf. 1Cor 14,24-28).
Thanh Phaolô viết: Mỗi người theo thứ tự của mình,
mở đường là Ðức Kitô, rồi khi Ðức Kitô quang lâm, thì
đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó, mọi sự đều
hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần,
mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao lại vương
quyền cho Thiên Chúa là Cha (...) Lúc muôn loài đều qui phục
Ðức Kitô, thì chính Người, vì là Con, cũng sẽ qui phục Ðấng
bắt muôn loài phải qui phục Người, và như vậy Thiên Chúa
có toàn quyền trên muôn loài. Trong
nhập đề của Phúc Âm thánh Gioan, vai trò của Ðức Kitô
trong sáng tạo trường kỳ cũng được xác định rất rõ ràng:
Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có
Người, thì chẳng có gì được tạo thành (1,2-3), Ðiều
đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự
sống là ánh sáng cho nhân loại (1,5), Ngôi Lời là ánh sáng
thật, ánh sáng đến trong thế gian (...) và thế gian đã nhờ
Người mà được có (1,9-10). Và thánh Gioan kết luận: Lề
luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và
sự thật thì nhờ Ðức Giêsu Kitô mà có. Chúa Cha hằng sáng
tạo, và đưa mọi vật tiến đến mục đích của chúng, và
Ðức Kitô cũng hằng luôn sáng tạo với Người. Cho đến
nay, Cha tôi vẫn làm việc thì tôi cũng làm việc (5,17). II.
Như trên, trong hành động của Thiên Chúa trên vạn vật, có
một sự sáng tạo liên tục. Ðể diễn tả hành động ấy,
giáo lý đưa ra một số từ ngữ, nhưng mỗi từ ngữ cũng
chỉ gợi lên được một phương diện nào đó của hành động
ấy mà thôi. Trước
hết là từ bảo tồn (conservatio). Trong các bảo tàng
viện, để bảo tồn các tác phẩm, người ta phải tạo nên
một môi trường thích hợp với tình trạng hiện nay của tác
phẩm để nó không biến chất, như giữ cho môi trường không
ẩm ướt, luôn khô ráo, không nóng quá, phải lạnh vừa
phải... Nhưng
từ bảo tồn quá tĩnh, không diễn tả được sự tiến
triển trong thời gian của các vật Thiên Chúa đã dựng nên,
vì thế mà người ta đã bổ khuyết từ trên bằng từ quan
phòng (providentia). Ta có thể định nghĩa từ này là: Sự lo
liệu của Thiên Chúa cho mọi thụ tạo để chúng trải qua
lịch sử đời chúng mà đạt tới cứu cánh Người đã dự
phòng cho chúng. Riêng
với loài người, săn sóc yêu thương của Thiên Chúa luôn bám
sát mỗi người. Ai ai cũng được tuyển chọn và tiền định
(Eph 3,3) để trở nên hình ảnh của Thiên Chúa (Rm 8,22-32).
Chắc rằng Thiên Chúa vĩnh cửu nên hành động của Người cũng
có tính vĩnh cửu, nhưng việc tái tạo con người sa ngã đòi
sự nâng dậy trong thời gian. Thiên Chúa đã tái tạo con người
và tạo vật trong Ngôi Lời nhập thể (2Pet 3,8). Sự chết và
sự sống lại của Người là cao điểm của quan phòng Thiên
Chúa cho loài người (Ga 11,49). Trong những dụ ngôn đầy màu
sắc yêu thương, Chúa Giêsu đã nhắc đến sự săn sóc của
Thiên Chúa cho từng tạo vật, từ bông hoa trong đồng cỏ bao
la, đến chim bay trong bầu trời, chẳng loại nào bị bỏ quên.
(Mt 2,25...; Lc 12,22...). Khi
Thiên Chúa đã sáng tạo vạn vật cho có với một bản tính
tự chủ, thì xem ra Thiên Chúa lệ thuộc vào chúng khi chúng
biến đổi trong thời gian. Chắc rằng những loài Thiên Chúa
đã sáng tạo lúc ban đầu không thay đổi, chúng vẫn là chúng,
chúng vẫn có loài mình có. Bản tính chúng luôn là giới
hạn cho các đổi thay. Ðiều này đúng cho các vật vô tri. Nhưng
với loài người, có hiểu biết và tự do, có thể làm lành
và làm dữ, nghĩa là có thể làm theo ý Thiên Chúa hay trái
lại. Do đó những từ diễn tả sự sáng tạo của Thiên Chúa
như bảo tồn và
quan phòng không đủ để giải thích nữa, nên các nhà
thần học đã thêm một từ khác, đó là từ cộng tác (concursus). Ðể
cộng tác thì phải có chung sức để hoàn thành một công
việc! Muốn hái trái một cây bưởi cao, một người giữ
thang cho vững và một người leo lên thang hái hết các trái.
Họ đã cộng tác với nhau trong việc hái bưởi. Nhưng
việc cộng tác của Thiên Chúa với con người trong một
hoạt động không hoàn toàn như vậy. Ta cần phải phân biệt
trong cộng tác ấy hai điều sau đây: 1.
Thiên Chúa không sáng
tạo rồi rời bỏ tạo vật, nhưng Người luôn hiện diện
hiệu nghiệm trong tạo vật, mà vẫn siêu việt chúng. 2.
Tạo vật có thực tại riêng của mình. Với loài người có
tự do, thì cũng tự chủ trong tự do của mình nữa. Ðể
giải thích hai điều xem ra mâu thuẫn nói trên, người ta đã
phân định trong cộng tác của Thiên Chúa và loài thụ
tạo hai bậc hành động khác nhau. Thiên Chúa hoạt động
ở bậc nhất (in actu primo), nghĩa là cách trực tiếp và
tuyệt đối; còn con người thì hành động ở bậc nhì (in
actu secundo), nghĩa là qua trung gian khả năng thụ tạo mà họ
đã nhận được. Vì phân biệt này, ta không có thể coi Thiên
Chúa và con người tự do như hai sức mạnh đối lập được,
vì Thiên Chúa và con người có quyền năng ở hai bậc khác
nhau. Thiên Chúa có mọi quyền năng một cách trực tiếp đã
muốn cho con người có tự do, nghĩa là có thể làm điều lành
hay điều dữ theo ý muốn của họ. Ðiều này không làm
giảm quyền năng của Thiên Chúa, trái lại nó chỉ chứng
tỏ quyền năng của Người ở trên và siêu việt quyền năng
của loài thụ tạo mà thôi. Quyền năng của Thiên Chúa biểu
lộ tối đa khi cho có các tác nhân tự do và nâng đỡ cho chúng
hành động tự do. Khi
đã quả quyết hai thái cực trên, nghĩa là sự hiện diện luôn
của Thiên Chúa trong mọi sự, và sự tự do của con người,
không ở một bình diện, thì ta không còn gì để bàn cãi
nữa. Cách hành động của Thiên Chúa, vì là phản ảnh của
bản tính Người thuộc về mầu nhiệm siêu việt, và cùng lúc
ấy, mầu nhiệm về sự tự do của con người phản ảnh sự
hiện diện hiệu nghiệm của Thiên Chúa, siêu việt cách suy
nghĩ của con người. Sự
luôn hiện diện của Thiên Chúa trong thế gian, cả trong các
hoạt động của các nguyên nhân tự do là cơ hội để ta
nhận thấy việc sáng tạo của Thiên Chúa vừa siêu việt
vừa nội tại trong các tạo vật. Siêu việt vì Thiên Chúa không
đồng phạm với con người tự do trong quyết
định làm sự dữ của họ, nhưng nội tại vì không có
gì hiện hữu với vũ trụ mà lại ở ngoài hiện diện hữu
hiệu của Ðấng sáng tạo. Theo
thánh Gioan (12,32), thì ý nghĩa sâu xa nhất của sự đồng
trợ của Thiên Chúa với loài người là Người đã đưa
mỗi người đến tận cùng của mình trong Ðức Kitô. Ðồng
trợ ấy không gác bỏ ý muốn của con người, nhưng thu hút
ý muốn ấy một cách tự do, vì Ngôi Lời nhập thể là
tuyệt đỉnh của sự tốt lành nơi trần gian. Ai từ chối Ðức
Kitô cũng là từ chối Thiên Chúa. III.
Thiên Chúa nhân lành và toàn năng, Người đã sáng tạo mọi
sự, thế làm sao lại có sự dữ, nhất là sự tội nơi loài
người được? Làm sao mà Thiên Chúa có thể cộng tác vào
tự do từ chối tình yêu của Người để loài người có
thể rơi vào tình trạng hư đi đời đời? Phải
nói ngay rằng: Ðây là một vấn đề chẳng bao giờ các nhà
thần học có thể giải đáp được hoàn hảo. Kinh Thánh không
đưa ra những lý luận trực tiếp về đau khổ và sự dữ.
Kinh Thánh chỉ nhắc đến đời sống và sự chết của Ðức
Kitô. Người đã đón nhận đau khổ
và sự chết như là hậu quả của tội lỗi loài người
sống trong thế gian, để cứu chuộc họ, đem lại cho họ ân
sủng phục sinh và sự sống đời đời trong vinh quang. Người
Kitô hữu phải noi gương Chúa Giêsu, đón nhận đau khổ và
sự chết trong can đảm vâng phục tiền định của Chúa Cha
để được ơn cứu độ. Nói thế không có nghĩa là họ không
phải chống lại đau khổ và sự chết theo khả năng mình có
cho mình và cho người khác, vì đó là cộng tác vào việc
bảo tồn mọi sự của Thiên Chúa sáng tạo vì chúng đều
Valde bonum. Riêng
trong trường hợp con người vì có tự do mà đã phạm tội
thì ta phải suy nghĩ về bản tính của sự tội. Bản tính
ấy thiết yếu ở tại không chấp nhận chỉ có một Thiên
Chúa (cf. Ga 3,4). Ngoài tính phá hoại nó gây nên, tội còn là
một thực tại tiêu cực vì nó không phải là sự lành mà
tạo vật phải có. Vì thế, khi con người phạm tội, đó không
phải là có hiện diện hữu hiệu của Thiên Chúa, nhưng là
vắng bóng của sự hiện diện ấy. Chắc rằng cách giải thích
này cũng vẫn không cắt nghĩa được mầu nhiệm về sự
tội. Chính Chúa Giêsu cũng đã không biết sự tội, vì Người
vô tội, nhưng Người đã sinh ra làm người tội lỗi để làm
cho loài người được trở nên công chính. Ở đây, vấn đề
cho người Kitô hữu không phải là biết tội là gì bằng can
trường đón nhận cái đau đớn và cái chết do tội gây nên
để cộng tác với Chúa Giêsu mà chuộc tội cho mình và cho
Nhiệm Thể của Người đang đi về ngày cánh chung. |