Hỏi : Có Được Phép Can Thiệp Trên Phôi Người Không ?

Lm Nguyễn Ngọc Thử

THƯA: (BÀI 2)

3. Ðánh giá theo thần học luân lý.

3.1. Sự chẩn đoán tiền sinh phôi người sẽ được chấp nhận, nếu có sự ưng thuận của cha mẹ và nếu đó là phương thế để can thiệp sớm hơn và hữu hiệu hơn để chữa trị, đồng thời dùng mọi cách để bảo vệ sự vẹn toàn của phôi người và của người mẹ, mà không bắt họ phải chịu những nguy cơ không tương xứng. Nếu có ý định phá thai khi gặp dị hình dị tật nơi phôi người là sự xấu như phá thai vậy và bị xử lý theo luật thần học luân lý trong nố phá thai trực tiếp (x. Donum Vitae I,2; Ðức Gioan Phaolô II, Diễn văn trước những người tham dự Hiệp Hội Phong trào cho sự sống, ngày 3/12/1982, trong Insegnamenti di Giovanni Paolo II, V,3 (1982) trang 1512).

3.2. Cũng xét như vậy, nghĩa là được can thiệp trong lãnh vực y sinh trên phôi người nhằm mục đích trị bệnh lúc phôi thai còn trong lòng mẹ, bằng dược phẩm, bằng phẫu thuật hay bằng cách nào khác coi như  là phương thức cuối cùng, đúng như nguyên tắc tổng quát của luân lý dạy (De principiis generalibus). Hai chữ trị bệnh ở đây có nghĩa là chữa trị, cải thiện tình trạng sức khoẻ hoặc kéo dài sự sống của chính phôi người đó, thực hiện có sự ưng thuận tự do của cha mẹ và những luật y đức đã được trù liệu.

Sự tôn trọng phẩm giá con người loại trừ mọi thử nghiệm hay khai thác phôi người (x. Hiến chương Quyền gia đình do Toà Thánh công bố, số 4, trong báo Osservatore Romano, ngày 25/11/1983). Việc giữ phôi người trong cơ thể hay trong ống nghiệm nhằm mục đích thử nghiệm hay thương mại, là một việc hoàn toàn trái với phẩm giá con người (x. Donum Vitae, I,4). Thử nghiệm phôi người vì mục đích chữa bệnh như là phương pháp cuối cùng thì được phép làm theo luật nguyên tắc tổng quát của thần học luân lý. Phải tôn trọng xác của phôi người và chỉ được cắt cưa, mổ xẻ khi phôi người đã chết rồi và với sự ưng thuận của cha mẹ hoặc của người mẹ. Buôn bán thai chết là việc trái phép và bị cấm (x. Donum Vitae, I,4).

Về tính  chính đáng và về các tiêu chuẩn của sự can thiệp này, Ðức Gioan Phaolô II nói: Một sự can thiệp chỉ nhằm chữa trị các bệnh tật như bệnh do các nhiễm sắc tố  có khuyết điểm, thì trên nguyên tắc, được coi là nên làm, miễn là nó góp phần thật sự cho con người sống dễ hơn, mà không phạm tới sự toàn vẹn hay làm giảm suy các điều kiện sống của nó. Một sự can thiệp như vậy, nằm trong chiều hướng hợp lý của truyền thống đạo đức Kitô giáo (Diễn văn trước những người tham dự khoá 35 Hiệp hội các Thầy thuốc thế giới, ngày 29/10/1983, trong AAS. 76 (1984) trang 392, x. Donum Vitae, I,3).

3.3. Cũng không được phép nghiên cứu y khoa trên phôi người còn sống, cho dù do cứu cánh nào thúc đẩy, ngay cả tự nó cao thượng như mưu cầu lợi ích của khoa học, của tha nhân hay của xã hội, nếu có nguy cơ cho dù chỉ là hồ nghi về sự toàn vẹn hoặc sự sống của phôi người, vì phôi người sống phải được coi là một nhân vị, một tạo vật có phẩm giá của nó (x. CÐ/Vat. GS. số 51; Hiến chương Quyền gia đình do Toà Thánh công bố, số 4, trong báo Osservatore Romano, ngày 25/11/1983), cho nên việc thí nghiệm trên phôi người không trực tiếp chữa trị là trái phép, dù phôi người sau đó có khả năng sống bên trong hay bên ngoài lòng mẹ. Việc dùng phôi người làm đối tượng hay dụng cụ để thử nghiệm là một tội phạm đối với phẩm giá con người, vì phôi thai có quyền được tôn trọng như một đứa trẻ đã sinh hoặc như bất kỳ người nào. Ðức Gioan Phaolô II khẳng định mạnh mẽ rằng: Tôi kết án cách minh nhiên nhất và tỏ tường nhất mọi thử nghiệm trên phôi thai con người, vì hữu thể người từ lúc được thụ thai cho đến chết không thể là đối tượng được khai thác cho bất kỳ lý do gì (Diễn văn trước những người tham dự Hội nghị Viện hàn lâm khoa học của Toà Thánh, ngày 23/10/1982, trong AAS. 75 (1983) trang 27).

3.4. Phôi người tạo được trong ống nghiệm là con người và chủ thể được hưởng quyền. Cho nên phải tôn trọng phẩm giá và quyền sống của nó. Vì việc sản xuất phôi người để mua bán và khai thác như vật tư sinh học là phản đạo đức. Lại nữa, tính sao đối với các phần của giao tử bị coi là thặng dư hay bị rơi rớt. Gạt bỏ và coi đó như không có là trái đạo đức, vì nó do từ con người mà ra, nên không hợp với đạo lý chút nào cả (x. Donum Vitae, I,5).

3.5. Việc mang bầu mướn (làm mẹ thay) là nghịch với tính cách duy nhất của hôn nhân và với phẩm giá của việc tạo sinh con người. Ðó còn là một thiếu sót khách quan đối với bổn phận của tình mẫu tử, của sự trung tín giữa vợ chồng và của trách nhiệm làm mẹ (chấp nhận sự mang nặng đẻ đau thì tình mẫu tử mới thật sự đậm đà). Việc đó xúc phạm tới phẩm giá của đứa con và quyền của nó được thai nghén, cưu mang, sinh ra và giáo dục bởi chính cha mẹ nó. Việc đó gây thiệt hại cho gia đình khi chia cắt các yếu tố thể xác, tâm linh và đạo đức là những yếu tố cấu thành của gia đình (x. Donum Vitae, II, A, 3).

3.6. Việc thụ thai nhân tạo dị hợp của một mình người chồng hay một mình người vợ, nhờ giao tử của một người thứ ba không có dây hôn nhân với mình. Sự thụ tinh nhân tạo dị hợp là nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân (X. Donum Vitae, II, A,2; Ðức Piô XII, Diễn văn trước những người tham dự Ðại hội thế giới lần IV các Thầy thuốc công giáo, ngày 29/11/1949, trong AAS. 41 (1949) trang 559). Sự nhờ đến người thứ ba để có giao tử (tinh dịch hay noãn cầu) là một sự vi phạm đến sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là sự thiếu sót trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân. Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp phạm tới quyền của đứa trẻ về nguồn gốc và mối quan hệ con cái - cha mẹ, và cũng xúc phạm đến quyền chung của vợ chồng làm cha làm mẹ. Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp là trái phép xét về mặt đạo đức. Cũng không biện minh được về mặt đạo đức việc người phụ nữ không kết hôn (độc thân hay goá bụa), dẫu cho người cho tinh dịch là ai đi nữa (x. Donum Vitae, II, A, 2).

3.7. Có được phép thụ tinh đồng hợp trong ống nghiệm không?

Ðối với một số người, việc dùng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi đồng hợp hình như là phương tiện duy nhất để có được một đứa con thật sự mong muốn. Người ta nhìn nhận rằng việc thụ tinh đồng hợp chắc chắn không thể thay thế cho việc quan hệ vợ chồng (CÐ/Vat. GS. 14), và không thể được ưa thích hơn các hành vi đặc biệt của việc kết hợp vợ chồng, vì những nguy cơ có thể xảy ra cho đứa trẻ và vì những bất tiện của phương thức. Nhưng người ta cũng tự hỏi, trong trường hợp không thể có cách nào khác để chữa trị chứng hiếm muộn (làm người ta đau khổ) người ta có thể coi việc thụ tinh đồng hợp trong ống nghiệm như có thể đem lại một sự nâng đỡ ngay cả có thể chữa trị không, và như thế có thể chấp nhận là hợp đạo lý không? Việc thụ tinh đồng hợp trong ống nghiệm được thực hiện ngoài thân xác đôi vợ chồng, nhờ động tác của những người thứ ba (bác sĩ và nhà sinh học) để tuỳ khả năng và kỹ thuật của nhóm người đó định đoạt sự thành công của việc can thiệp. Một sự quan hệ thống trị như thế tự nó nghịch với phẩm giá và sự bình đẳng là những giá trị chung cho cha mẹ và con cái. Lại nữa, phương thức thụ tinh trong ống nghiệm đồng hợp dù cho được coi là trong sạch, không chút đồng lõa nào với việc huỷ hoại phôi thai và với việc thủ dâm, vẫn là một kỹ thuật không hợp với đạo đức cho nên đó là trái phép, bởi vì nó làm cho việc tạo sinh con người mất đi cái phẩm giá riêng mà nó có tự bản chất (Donum Vitae, II, B, 5).

3.8. Làm sao đánh giá việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp về mặt đạo đức? Việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp bên trong hôn nhân (thụ thai nhân tạo) không thể chấp nhận được, trừ trường hợp người ta không dùng phương tiện kỹ thuật để thay thế cho việc giao hợp, nhưng chỉ coi nó như một trợ cụ, giúp cho việc giao hợp được dễ dàng và đạt được cứu cánh tự nhiên của nó. Tuy nhiên lương tâm không nhất thiết cấm đoán việc sử dụng một số phương tiện nhân tạo, chỉ nhằm giúp cho hành động tự nhiên dễ dàng hơn hoặc giúp cho hành động tự nhiên thực hiện bình thường, đạt được cứu cánh của nó (x. Ðức Piô XII, Diễn văn trước những người tham dự Ðại hội thế giới lần IV các Thầy thuốc công giáo, ngày 29/11/1949, trong AAS. 41 (1949) trang 560). Trong cái nhìn là trợ cụ này, thì phương tiện kỹ thuật đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức. Ngược lại, nó không hợp đạo đức nếu nó thay thế việc giao hợp. Việc truyền tinh nhân tạo thay thế việc vợ chồng bị cấm đoán, vì có sự cố tình tách biệt hai ý nghĩa của việc vợ chồng. Việc thủ dâm, thường được làm để có tinh dịch, là một dấu chỉ khác của sự tách biệt nói trên; ngay cả khi làm vì mục đích tạo sinh, thủ dâm vẫn mất cái ý nghĩa kết hợp của nó (x. Donum Vitae II, B,6).

3.9. Việc trinh sản trong loại sinh sản vô tính là trái với đạo đức, vì nó đi ngược lại với phẩm giá của việc tạo sinh con người, và ngược lại với việc kết hợp vợ chồng (Donum Vitae I,6). Việc giữ phôi người trong đông lạnh, dù là thực hiện để bảo đảm sự sống của phôi người, là một sự xúc phạm tới sự tôn trọng phải có đối với con người, vì có thể bị chết hay mất đi sự toàn vẹn thể lý, vì tước đoạt quyền được người mẹ đón nhận và cưu mang (Donum Vitae I,6).