GIẢI ÐÁ¨P THẮC MẮC CỦA LINH MỤC PHAOLÔ NGUYỄN NGỌC THỬ

 HỎI: CÓ  ÐƯỢC PHÉP CAN THIỆP  TRÊN PHÔI NGƯỜI KHÔNG?

 

THƯA: (BÀI 3)

4. HƯỚNG DẪN CHO CÁC CHA GIẢI TỘI.

(Dựa trên 'Cẩm nang cho các cha giải tội của Hội đồng Giáo Hoàng về Gia đình, ngày 12/2/1997).

4.1. Cha giải tội hãy dạy dỗ và nhắc nhớ các đôi vợ chồng về sự thánh thiện của hôn nhân, cho nên phải gìn giữ đức khiết tịnh hôn nhân (x. Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio et Paeniténtia, ngày 2/12/1984, số 13 và 32).

4.2. Cha giải tội hãy dạy dỗ và nhắc nhớ các đôi vợ chồng về sự sinh sảnh có trách nhiệm, vì Thiên Chúa hiện diện trong tính phụ tử và tình mẫu tử của loài người khác hơn các loài khác (x. Ðức Gioan Phaolô II, Thư gởi các Gia đình Gratissiman Sane, ngày 2/2/1994, số 9).

4.3. Cha giải tội hãy dạy dỗ và nhắc nhớ các đôi vợ chồng về sự bậc vợ chồng là cộng tác viên của Thiên Chúa đối với sự hiện hữu của một con người mới mang hình ảnh của Thiên Chúa (x. CÐ. Vat. GS số 50; GLGHCG, số 2205; Ðức Gioan Phaolô II, Thư gởi các Gia đình Gratissmam Sane, ngày 2/2/1994, số 8).

4.4. Cha giải tội hãy dạy dỗ và nhắc nhớ các đôi vợ chồng về việc ngừa thai là một sự xấu nội tại, vì nó làm tổ thương tình yêu đích thực và chối từ vai trò tối thượng của Thiên Chúa trong việc lưu truyền sự sống nhân loại (x. Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Humanac Vitae, Sự sống con người, ngày 25/7/1968/ số 14; Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, ngày 22/11/1981, số 32).

4.5. Cha giải tội hãy trình bày Thiên Chúa là Ðấng có khả năng quan tâm đến từng đứa con hoang đàng, đến từng nố khốn khổ nhất về luân lý, đến tội lỗi, để giúp họ đề phòng và cẩn trọng trong các vấn đề liên quan đến các thứ tội lỗi này, hầu lo sám hối và xưng trọn vẹn các tội trọng và tích cực trên con đường thánh thiện (x. Ðức Gioan Phaolô II, Thông điệp Dies in misericordia, ngày 30/11/1980, số 6).

4.6. Cha giải tội hãy giả thiết là hối nhân đến với thiện chí hoà giải với Thiên Chúa của lòng thương xót (x. Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio et Poenitentia, ngày 2/12/1984, số 29; GLGHCG số 1465), và thiện chí đó được nẩy sinh từ cõi lòng thống hối và khiêm cung (Tv. 50,19).

4.7. Nếu hối nhân đã từ lâu không xưng tội, mà nay đến xứng quá ngắn gọn và máy móc thì cha giải tội hãy soi sáng bằng những câu hỏi chung về các việc khác trong cái nhìn đức tin của người tín hữu, sau đó mới đến các câu hỏi về việc sinh sản có trách nhiệm và đến khiết tịnh hôn nhân, nếu xét thấy là cần để cho phép giải tội được đầy đủ. Nếu hối nhân hỏi, thì cha giải tội sẽ trả lời cách thích hợp, luôn luôn với sự cẩn trọng và kín đáo (x. Bộ Giáo luật, can. 979; Ðức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris Consortio, ngày 22/11/1981,số 33).

4.8. Cha giải tội nên nhớ rằng sự tái phạm tội ngừa thai tự nó không phải là lý do để từ chối không ban ơn xá giải, nhưng chỉ từ chối khi thấy rõ ràng là hối nhân thiếu lòng thống hối đầy đủ hay thiếu sự quyết tâm không sa ngã phạm tội (DS số 3187).

4.9. Nên khuyên hối nhân sa đi ngã lại đi xưng tội với cùng một cha giải tội để có điều kiện được giúp đỡ nhiều hơn và đắc lực hơn, để được giúp cho có lương tâm luân lý đậm hơn hầu tránh các sai lạc và được huấn ly lương tâm cách kín đáo và kính trọng (x. GLGHCG số 1793; Ðức Gioan Phaolô II, Thông điệp Veritatis Splendor, ngày 8/8/1993, số 63).

4.10. Nếu cha giải tội thấy hối nhân phạm đức khiết tịnh hôn nhân do sự sai lạc được qui trách cho sự sai lạc bất khả thắng một cách chủ quan, thì tốt hơn nên cứ để hối nhân sống trong ý ngay lành của họ (bona fide) nhưng cha giải tội cũng sẽ khích lệ hối nhân sống đời sống cầu nguyện và từ từ hướng dẫn họ huấn luyện lương tâm.

4.11. Trong nố sa đi ngã lại, nếu hối nhân có chống trả chiến đấu để tránh tái phạm, thì cha giải tôị không được từ chối, một phải ban bí tích xá giải cho họ, để ơn Chúa hành động bên trong và tâm trạng của hối nhân sẽ được ảnh hưởng. Cha giải tội đừng đòi hỏi những bảo đảm tuyệt đối (can. 980).

4.12. Gặp nố người bị người phối ngẫu bắt ép cộng tác vào hành vi giao phối tránh thụ thai, cha giải tội hãy xem coi đó là thật sự là bạo lực, là sự áp đặt bất công không (x. Ðức Piô XI, Thông điệp Casti Connubii, 1930, số 561). Ðể được chấp nhận, phải hội đủ ba điều kiện sau đây. Một là hành động của người phối ngẫu cộng tác tự hó không phải là bất hợp pháp (DS số 2795 và 3634); hai là phải có những lý do nghiêm trọng tương xứng để cộng tác vào tội của người chủ xướng; ba là phải tìm cách giúp đỡ người đó bỏ thái độ và cách xử sự như thế bằng sự kiên nhẫn, cầu nguyện, bác ái, đối thoại, lúc thuận lợi và có thể, chớ không buộc làm ngay lúc đó hay trong mỗi cơ hội.

4.13. Cha giải tội hãy dạy cho phô kẻ ấy biết mình là chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa trong thế gian, cho nên với sự trợ giúp của đức tin, và dẫu cho họ yếu đuối họ vẫn có thể hoàn tất ý định của Thiên Chúa trong đời sống vợ chồng với ân sủng của Chúa. Dạy cho họ biết rằng nếu họ thường xuyên và kiên trì chạy đến sự cầu nguyện, chạy đến các Bí tích giải tội và Thánh Thể, họ sẽ có được sự tự chủ và cả nự nên thánh nữa. Ðó là một việc khả thi, bởi vì đó là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ (x. Ðức Phaolô VI, Thông điệp Humanae Vitae, Ðời sống con người, ngày 25/7/1968, số 28 và 29).

4.14. Cha giải tội hãy dạy cho hối nhân có liên quan trong việc phá thai có ý thức và có chết thai nhi là có giáo vạ tuyệt thông tiền kết không dành riêng (can. 1398).

Kết luận.

Hạnh phúc vĩnh cửu của đôi vợ chồng và một phần lớn sự thanh thản và hạnh phúc trong cuộc sống hiện nay của họ đều tuỳ thuộc vào thừa tác vụ của bí tích hoà giải. Ước gì các cha giải tội thực sự là những chứng nhân sống động của lòng thương xót của Chúa Cha đối với các đôi vợ chồng.