Thư Mục Vụ
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
(1992)

Gửi các thành phần
Dân Chúa ở Việt Nam

1.- Lời mở đầu

Từ khi thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cho tới nay, mười hai năm đã trôi qua, biết bao biến chuyển sâu rộng ở mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội cũng như trong lòng Hội Thánh, vì thế trong Đại hội lần này, chúng tôi muốn cùng nhau nhìn vào thực tế phân tích và lượng giá hiện tình xã hội và Hội Thánh để hướng dẫn anh chị em tiếp tục con đường sống Phúc Âm.

Tất nhiên chúng tôi không có tham vọng bao quát việc giải quyết toàn bộ các vấn đề, nhưng chỉ giới hạn trong những vấn đề mà dân tộc và Hội Thánh đang quan tâm!

2.- vui mừng và hy vọng

Vào những năm cuối thế kỷ XX này, nhìn ra thế giới cũng như nhìn vào hiện tình trong nước, chúng ta thấy có


nhiều điều để vui mừng và hy vọng cùng với nhân loại và đồng bào.

Những tiến bộ khoa học và kỹ thuật của thế kỷ XX đã giúp cho con người rút ngắn thời gian, thu hẹp không gian. Các dân tộc đang xích lại gần nhau, hiểu biết, tôn trọng và quan tâm đến nhau hơn.

Cùng với toàn thể thế giới, dân tộc ta cũng đang cố gắng đi lên. Cuộc đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế mấy năm nay, đã giúp cho đời sống của người dân dễ dàng hơn một bước. Việc mở cửa giao thương và trao đổi văn hóa với các nước giúp mở rộng tầm nhìn, hòa mình vào nhịp sống của toàn thể thế giới. Những đổi mới trong sinh hoạt chính trị, những nỗ lực thi hành pháp luật giúp người dân tin tưởng hơn. Những hướng mới mở ra cho mọi người có dịp phát huy, trau dồi khả năng chuyên môn, hứa hẹn có nhiều nhân tài phục vụ đất nước.

Chúng ta có thể gặp được vui mừng và hy vọng khi nhìn đến các giới đồng bào và các thành phần Hội Thánh ở Việt Nam.

3.- về xã hội

Thiếu nhi, nói chung được sự quan tâm chăm sóc thích đáng của mọi tầng lớp nhân dân, đang có triển vọng ngày càng trở nên ngoan ngoãn hơn.

Thanh niên nam nữ có tài năng trí tuệ đầy nhiệt huyết, biết dấn thân phục vụ trong nhiều lãnh vực.

Gia đình tuy gặp nhiều khủng hoảng của thời đại, đang được khuyến khích bảo tồn nền nếp gia phong cổ truyền tốt đẹp, tiến tới sự ổn định mong muốn.


4.- về hội thánh

Trong Hội Thánh, chúng ta càng được nhìn thấy rất nhiều gương sống xứng đáng với tinh thần Phúc Âm:

Con cái trong gia đình lễ phép, ngoan ngoãn, nói năng thanh lịch và siêng năng học hỏi giáo lý.

Thanh niên nam nữ quảng đại và cao thượng, sống cho đức tin, trung thành với Chúa và Hội Thánh, mặc dầu gặp nhiều khó khăn.

Các bậc cha mẹ, phụ huynh kiên trì sống đạo, lo lắng giáo dục con cái, duy trì bền vững luật hôn nhân của Hội Thánh, do đó treo gương sáng cho các thành viên của gia đình và xã hội chung quanh.

Các linh mục nam nữ tu sĩ, mặc dầu gặp nhiều khó khăn phức tạp, vẫn nhiệt thành liên kết với các chủ chăn, không quản ngại gian lao vất vả để phục vụ Hội Thánh và Đất nước.

Đặc biệt, số các ứng sinh nam nữ xin gia nhập chủng viện và đời sống tu trì được tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tận hiến cho đồng bào và các tín hữu vẫn còn đang là sức hấp dẫn nhiều thanh niên nam nữ tích cực phục vụ mọi người.

Nói tóm lại, theo từng vị trí của mình trong Hội Thánh hôm nay, các thành phần ưu tú nói trên đã đóng góp vào niềm vui mừng và hy vọng của Hội Thánh và dân tộc.

5.- những băn khoăn

Bên cạnh những vui mừng và hy vọng trên đây, chúng ta cũng thấy còn rất nhiều điều khiến mọi người phải băn khoăn khi nhìn vào hiện tình xã hội và Hội Thánh.


Chúng tôi xin nêu mấy điều sau đây để anh chị em cùng suy nghĩ: việc kế hoạch hóa gia đình là việc cần thiết nhưng chỉ được sử dụng những phương pháp tự nhiên và phải chú trọng đến việc giáo dục hôn nhân và gia đình.

Giới trẻ đang bị cuốn hút bởi một quan niệm sống thực dụng và khuynh hướng hưởng thụ, trong khi đó thì họ chưa được tạo điều kiện sinh hoạt phù hợp để phát triển nhân cách và khả năng, nhất là ở nông thôn và miền núi.

Nạn mãi dâm và nhiều tệ nạn xã hội khác có khuynh hướng gia tăng trong xã hội, nếu chúng ta không dự liệu biện pháp đề phòng và ngăn chặn.

Hiện tình của Hội Thánh Việt Nam cũng còn những điều khiến chúng ta phải băn khoăn:

- Tình trạng thiếu hụt về nhân sự, từ hàng Giám mục, linh mục cho đến những người phục vụ các tầng lớp trong các họ đạo. Sự thiếu hụt này không chỉ là về lượng mà cả về trình độ nữa.

- Đại đa số anh chi em tín hữu giữ đạo sốt sắng, siêng năng đọc kinh lần hạt, lãnh nhận các bí tích và có một số anh chị em có tinh thần truyền giáo. Nhưng nói chung giáo dân vẫn chưa ý thức đủ, và có lẽ chưa được hướng dẫn, cũng như thường gặp nhiều hạn chế trong việc làm chứng cho Chúa trong cuộc sống. Do đó, chưa sử dụng hết những phương tiện và khả năng cho việc truyền giáo như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dạy trong Thông điệp "Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc" (Số 2).

- Anh chị em tín hữu ở các vùng kinh tế mới và các miền núi chưa nhận được sự giúp đỡ cần thiết về đời sống tôn giáo.

- Các gia đình nhìn chung vẫn giữ được giá trị truyền thống và trung thành theo luật Chúa, nhưng cũng có nguy cơ bị suy thoái bởi nạn phá thai, ly dị, nghiện rượu và ma túy.


- Tại vài địa phương vẫn còn một sự kỳ thị nào đó đối với các tín hữu, do việc tùy tiện giải thích và áp dụng các quy định về sinh hoạt tôn giáo.

6.- nguyên nhân của những điều
gây băn khoăn về xã hội

Để có cái nhìn chính xác về những nỗi băn khoăn trên đây, đồng thời tìm ra hướng đi, chúng ta cần xác định đâu là nguyên nhân chính.

Phải chăng khó khăn kinh tế là nguyên nhân gây nên tất cả những tình trạng ấy? Chúng tôi nghĩ rằng những khó khăn kinh tế chỉ là hoàn cảnh, còn con người mới là yếu tố quyết định.

Để quản lý xã hội và con người cần có khả năng đạo đức. Có khả năng mà thiếu đạo đức, người ta sẽ trở thành gian manh. Có đạo đức mà thiếu khả năng thì không thu được kết quả mong muốn. Khi người ta có lý tưởng, có lẽ sống thì sẵn sàng hy sinh tất cả. Các vị anh hùng đặt tương lai của dân tộc, đất nước lên trên cả mạng sống mình. Các vị Tử đạo đặt đức tin và niềm hy vọng của mình lên trên tất cả.

Thế nên, pháp luật phải là cái khung để thiết lập và duy trì trật tự công bằng xã hội thì lại chưa được tôn trọng đủ.

7.-     Sau khi nhìn vào những vui mừng và hy vọng cũng như những băn khoăn của đất nước và tình trạng trên, chúng tôi thấy rằng muốn tiến tới, trước hết phải lành mạnh hóa con người và xã hội bằng cách chấn chỉnh đạo đức, khôi phục những giá trị tinh thần đã làm nên tâm hồn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại. Tâm hồn Việt Nam được thể hiện ở chính nếp sống bản thân, gia đình và xã hội như: tự trọng, hiếu thảo, huynh đệ, kính nhường, trọng nghĩa khinh tài.


8.- sống Phúc âm và đem Phúc âm
vào trong cuộc sống

Muốn đồng hành và đóng góp với đồng bào trong giai đoạn lịch sử quyết định này của đất nước, chúng tôi nghĩ rằng: trước hết chúng ta phải là Kitô hữu chân chính và đem gia sản thiêng liêng quý báu nhất của chúng ta là Phúc Âm mà góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam tốt đẹp và nhân bản hơn. Để thực hiện điều trên, chúng ta phải là những Kitô hữu chân chính, phải sống Phúc âm, thực thi Lời Chúa: "Sao các ngươi cứ thưa với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa mà các ngươi không làm theo lời Ta dạy" (Lc. 7, 64). Sống Phúc Âm nghĩa là kết hợp với Chúa Kitô và nhận Người làm khuôn mẫu. Tất cả những gì Chúa đã truyền dạy gồm tóm trong việc mến Chúa yêu người. Thực thi mến Chúa yêu người, sống làm Kitô hữu là chúng ta đã đóng góp cho đất nước điều quý nhất: Những con người chân chính.

Ngoài ra chúng ta còn phải cống hiến cho đồng bào chính ánh sáng của Phúc Âm như Đức Gioan Phaolô II đã nói trong Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc: "vì Đức Kitô Cứu Thế đã khai mạc trọn vẹn cho con người biết về chính họ... Ơn cứu độ được thực hiện nhờ Thập giá, đã vĩnh viễn trả lại cho con người phẩm giá của họ và ý nghĩa hiện hữu của họ trong thế giới" (Số 2). Trong một xã hội đang cần khôi phục những giá trị đạo đức con người thì Phúc Âm chính là nguồn mạch của những giá trị ấy.

Con Thiên Chúa đã xuống làm người và sống trọn vẹn thân phận con người để dạy chúng ta biết thế nào là sống làm người và làm con Thiên Chúa.

Vậy chúng ta phải sống và giới thiệu cho những người khác biết những giá trị của Phúc Âm.

Đó chính là nỗ lực đem Phúc Âm vào trong văn hóa.


9.- xây dựng một nếp sống và một lối
diễn tả đức tin có bản sắc dân tộc hơn

Ngay từ đầu, cha ông chúng ta đã biết vận động những cái hay trong kho tàng văn hóa dân tộc để diễn tả đức tin, diễn tả tương quan của mình với Thiên Chúa: Từ âm nhạc, nghệ thuật, kiến trúc, lễ nghi đến cách tổ chức gia đình, làng xóm, xứ đạo. Ngày nay, sự giao lưu giữa các dân tộc đang làm cho các nền văn hóa ngày càng xích lại gần nhau và dễ dàng tiếp nhận nhau.

Đi tìm sắc thái văn hóa dân tộc không có nghĩa là đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa, nhưng là làm sao cho tính cách dân tộc được diễn tả trong lời kinh tiếng hát, trong cử hành Phụng vụ, trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong suy tư và ngôn ngữ thần học. Công việc này cũng phải được thực hiện trong các dân tộc ít người nữa, sao cho mỗi dân tộc đều giữ được bản sắc của mình trong Hội Thánh. Đây là một việc lớn, cần nhiều sự đóng góp của nhiều lãnh vực chuyên môn và phải theo sự chỉ đạo chung để tránh những tùy tiện.

10.- củng cố đời sống gia đình

Môi trường đầu tiên để sống Phúc Âm và đem Phúc Âm vào trong cuộc sống chính là gia đình. Gia đình là tế bào đầu tiên và sống động để làm thành xã hội. Đối với Hội Thánh "thì hôn nhân và gia đình xây dựng Hội Thánh, gia đình là Hội Thánh thu nhỏ" (GD. 15). "Hơn nữa gia đình Kitô hữu biểu hiện trước mặt mọi người sự hiện diện sống động của Đấng Cứu Thế trong thế giới và bản chất đích thực của Hội Thánh qua tình yêu, qua niềm quảng đại chấp nhận sinh con cái, qua sự hiệp nhất và trung tín của hai vợ chồng cũng như qua sự hợp tác thân ái của mọi thành phần trong gia đình" (MV. 48).


Vị trí và sứ mạng này của gia đình trong xã hội và Hội Thánh đòi hỏi các gia đình Kitô hữu phải tự canh tân, giữ vững và phát huy những giá trị đạo đức của gia đình Việt Nam đã được nâng cao nhờ Phúc Âm và Bí tích Hôn nhân. Đó là bước đầu và cơ bản để làm cho cộng đồng Hội Thánh được sinh động và có sức chiếu giải Phúc âm đồng thời góp phần khôi phục đạo đức xã hội, xây dựng một xã hội lành mạnh, ngăn chặn những nọc độc tinh thần đang và sẽ xâm nhập mạnh hơn theo đà giao lưu kinh tế và văn hóa.

Sống Phúc Âm trong đời sống gia đình chính là sống tình yêu chung thủy mà con người đời nào cũng khát khao ca tụng và đã được Chúa Giêsu củng cố bằng Bí tích Hôn nhân. Chính Chúa Giêsu còn dựa vào sách Sáng Thế để tái lập quyền bình đẳng nam nữ và tinh thần bất khả phân ly của hôn nhân (St. 2, 18-24; Mt. 19, 6).

Trong một xã hội mà đời sống gia đình đang bị đe dọa bởi nạn ly dị và những lối sống trái với luân lý đạo đức Việt Nam, sự trung thành giữa vợ chồng Kitô hữu sẽ là một ánh lửa soi sáng và sưởi ấm, một sự khuyến khích cho các gia đình khác.

11.- tôn trọng sự sống

Chỉ có tình yêu chân thực, khăng khít và bền chặt giữa vợ chồng mới đáp ứng được lời mời gọi của Thiên Chúa đối với cả loài người: "Hãy sinh sản cho đầy mặt đất và làm chủ mặt đất" (St. 1, 28). Bởi vì đứa con vừa là kết quả của tình yêu hôn nhân, vừa làm nảy sinh một tình yêu mới, là tình yêu giữa cha mẹ với con cái, đứa con phải được yêu mến, tôn trọng và phục vụ ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc sống. Cha mẹ phải tiến tới chỗ yêu mến đứa con ngay từ trước lúc thụ thai chứ không để cho đứa con chỉ là kết quả may rủi của sự âu yếm giữa hai người.


Trong tình hình dân số hiện nay của thế giới nói chung và nước ta nói riêng, đối chiếu với tình hình phát triển kinh tế, không thể làm theo phương châm của người xưa: "Trời sinh voi, trời sinh cỏ". Phương châm ấy có giá trị trong thời kỳ nông nghiệp "Đất rộng người thưa". Ngày nay loài người đã đầy mặt đất, cần phải tính đến chuyện nuôi sống và giáo dục những mầm non của loài người. Đàng khác, mệnh lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn liền với mệnh lệnh làm chủ mặt đất. Muốn thế thì đứa con sinh ra phải được nuôi nấng và giáo dục cho nên người. Điều này đưa chúng ta vào những vấn đề cấp bách và nghiêm trọng hiện nay là vấn đề sinh đẻ có trách nhiệm và vấn đề giáo dục con cái. Ngay từ khi chuẩn bị tiến tới hôn nhân, người tín hữu đã phải ý thức điều này: Hai người phải cùng nhau nhận định về gia đình mà họ sắp cùng nhau thành lập, suy nghĩ kỹ về các vấn đề như mức sống vật chất, nếp sống tinh thần, số con hai người có thể đón nhận và dưỡng dục chính đáng. Chính đây là chỗ hai người thể hiện tình yêu đích thực đối với nhau và đối với con cái (MV. 50).

12.- giáo dục gia đình

Cha mẹ là những người đầu tiên và thường xuyên chịu trách nhiệm về giáo dục con cái. Cha ông đã dạy: "Dạy con từ thuở còn thơ". Khoa học ngày nay cho thấy: Người mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khỏe của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Từ khi đứa trẻ chào đời, cách cư xử của cha mẹ bắt đầu ảnh hưởng đến đứa con.

Trong một môi trường phần nào đã bị ô nhiễm vì những tệ đoan xã hội, để giúp cho con cái chúng ta đứng vững trước những cám dỗ, trước những luồng ảnh hưởng xấu, cần phải kết hợp biện pháp ngăn ngừa với sự giáo dục, gây ý thức cho tuổi trẻ biết đánh giá những gì họ gặp trong


cuộc sống, biết phân biệt tốt xấu, lợi hại. Phải giáo dục cho người trẻ biết chịu trách nhiệm về chính mình và về xã hội. Đặc biệt việc giáo dục tính dục chỉ có thể thực hiện một cách trong sáng trong bầu không khí thương yêu của tổ ấm gia đình, như Tông huấn về Gia đình dạy (GĐ. 37).

13.- giáo dục học đường

Giáo dục gia đình phải được hỗ trợ và hoàn chỉnh nhờ việc giáo dục học đường.

Mọi mục tiêu cải tiến xã hội đều không thể đạt được nếu không có một nền giáo dục phù hợp. Thế nhưng trong hiện tình nước ta, ai cũng than phiền về sự xuống cấp nghiêm trọng của nền giáo dục học đường. Muốn khôi phục nền giáo dục học đường, trước hết phải tạo điều kiện vật chất và tinh thần để thầy cô giáo thật sự là những nhà giáo dục, và làm cho nhà trường thực sự là môi trường giáo dục.

Đối với anh chị em tín hữu, chúng tôi xin anh chị em hãy cố gắng cho con cái đi học, càng lên cao càng tốt, vì chúng có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho xã hội và Hội Thánh. Các họ đạo nên có những nỗ lực chung để lo cho con em đi học. Nếu được, nên lập quỹ để cấp học bổng cho những em nhà nghèo, học giỏi và có tinh thần phục vụ.

14.- quan tâm đến giới trẻ

Giới trẻ là tương lai của đất nước, là "niềm hy vọng của Hội Thánh" (GĐ. 2), không chỉ vì ngày mai là của họ, mà chính vì họ là những người phải xây dựng ngày mai từ hôm nay.

Vì thế mà cả xã hội cũng như Hội Thánh đều phải quan tâm đến giới trẻ, để giúp họ đảm nhận lấy vai trò hôm nay và ngày mai của họ trong xã hội và Hội Thánh. Muốn giúp


người trẻ đạt tới sự trưởng thành và đủ khả năng đảm nhận trách nhiệm, ngoài giáo dục gia đình và học đường còn phải có giáo dục trong môi trường xã hội và Hội Thánh. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói về môi trường của Hội Thánh.

Nhân cách và tài năng của người trẻ cần được phát huy nhờ sinh hoạt và tương quan với người khác. Do đó có nhiều hình thức sinh hoạt thích hợp cho từng lứa tuổi như: gặp gỡ trao đổi qua Thánh lễ cho giới trẻ trong xứ, trong hạt, giao lưu giữa các ca đoàn, các giáo lý viên cấp giáo xứ, hạt và giáo phận.

Các họ đạo cũng nên mạnh dạn cho giới trẻ giữ phần tích cực vào sinh hoạt giáo xứ, kể cả trong thành phần lãnh đạo. Trong Tông huấn: "Kitô hữu giáo dân", Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định: "Không được coi người trẻ như chỉ là đối tượng của mối quan tâm mục vụ của Hội Thánh: Thật sự họ là và phải được khuyến khích để trở nên những chủ thể năng động, dự phần vào công cuộc Phúc Âm hóa và đổi mới xã hội". Trong khi dự phần tích cực này, người trẻ không chỉ có dịp tự rèn luyện mà còn có dịp để đóng góp hữu hiệu nữa, vì "Nhờ sự nhạy bén, người trẻ nhận thức sâu xa những giá trị của công bằng, bất bạo động, hòa bình... Tâm hồn người trẻ đón rộng tình huynh đệ, tình bạn và tình liên đới. Họ tự động viên tối đa để ủng hộ những việc nhằm nâng cao phẩm chất cuộc sống và bảo vệ thiên nhiên" (Số 46).

Đồng thời với việc người trẻ dự phần tích cực vào sinh hoạt họ đạo, phải có một nỗ lực đối thoại với người trẻ, Đức Thánh Cha đã nói: "Hội Thánh có nhiều điều để nói với người trẻ và người trẻ cũng có nhiều điều để nói với Hội Thánh. Cuộc đối thoại song phương này mà ta phải tiến hành với tất cả thân tình, trong sáng, can đảm sẽ hỗ trợ cho sự gặp gỡ và trao đổi giữa các thế hệ, cuộc đối thoại này cũng sẽ là nguồn


phong phú và trẻ trung cho Hội Thánh và cho xã hội" (KTH. 46).

Để đối thoại, phải lắng nghe và tôn trọng những nhạy bén của tuổi trẻ, hãy để cho giới trẻ có cơ hội đóng góp vì tương lai là của họ.

Ngoài ra, cần có những lớp giáo lý cho giới trẻ để họ phát triển đời sống đức tin phù hợp với đà tiến của họ trong cuộc sống, và những khóa dự bị hôn nhân để giúp họ xây dựng những gia đình Công giáo gương mẫu. Phải đặc biệt chú ý đến những người học lên bậc đại học, để giúp họ phát triển sự hiểu biết và đời sống đức tin cho phù hợp với trình độ trí thức của họ.

15.- quan tâm đến người nghèo

Một giới người cần được quan tâm đặc biệt là những người nghèo đói đang còn chiếm một tỉ lệ khá cao hiện nay. Nỗ lực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống vừa là một đòi hỏi của Phúc Âm, vừa là một nhu cầu cấp bách. Cảnh nghèo đói ảnh hưởng đến những thế hệ tiếp theo về mọi mặt thể xác và tinh thần. Tuy nghèo đói không phải là nguyên nhân gây nên bao nhiêu điều tai hại cho xã hội nhưng nó là hoàn cảnh, môi trường thuận lợi cho tệ hại và tội ác.

Đây là tình trạng chung của đất nước đang còn nghèo đói, cần mọi người tiếp tay giải quyết. Cách làm tốt nhất là tạo điều kiện cho họ tự kiếm sống. Nhưng cũng không nên quên những người không thể kiếm sống hoặc hiện thời chưa thể kiếm sống. Tình tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, một miếng khi đói bằng một gói khi no vẫn là truyền thống của dân tộc ta và cũng là điều Chúa dạy. Hội Thánh đã tóm tắt trong kinh "Thương người có 14 mối". Cá


nhân, gia đình, họ đạo nên tích cực tham gia các việc từ thiện, các công tác xóa đói giảm nghèo. Ước chi mỗi họ đạo hãy cố gắng để trong giáo xứ của mình không còn người đói, không còn người túng thiếu, như sách Công vụ Tông đồ đã nói về cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi: "Trong số họ không có ai phải túng thiếu" (Cv. 4, 34). Những công tác đó không được chỉ nhằm giới hạn vào các tín hữu với nhau mà phải mở rộng tới mọi người trong xóm làng, trong khu phố. Chính sự giúp đỡ những người nghèo đói là cách tốt nhất để làm chứng cho Chúa, và đưa ánh sáng Phúc Âm vào trong cuộc sống, làm cho mọi người cảm nghiệm được thế nào là sống Phúc Âm (SVĐCC. 60).

Đến đây chúng tôi vạch ra những phương hướng và nhiệm vụ trước mắt để chúng ta sống Phúc Âm và đồng hành với dân tộc.

Sau đây chúng tôi muốn ngỏ lời với từng giới trong cộng đoàn Dân Chúa để xác định rõ hơn nhiệm vụ của các thành phần trong chương trình chung này.

( với các thành phần dân chúa

16.- với anh chị em giáo dân

Được gọi để làm men, làm muối, làm ánh sáng cho thế gian, anh chị em hãy lãnh nhận trách nhiệm xây dựng xã hội theo các giá trị Phúc Âm, không tách lìa đời sống tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội và trần thế. Khi anh chị em dấn thân với tư cách Kitô hữu là anh chị em thực thi việc tham dự ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và làm chủ của Chúa Kitô mà anh chị em đã nhận qua bí tích Rửa tội. Tham dự chức tư tế, khi anh chị em làm cho cuộc sống của mình trở thành lễ tế tôn thờ Thiên Chúa. Tham dự chức ngôn sứ, khi anh chị em tin tưởng đón nhận Phúc Âm, dùng lời nói và việc làm


loan báo Phúc Âm đó. Tham dự quyền làm chủ, khi anh chị em "phục vụ Nước Thiên Chúa và làm cho Nước ấy lan tỏa trong lịch sử". Làm chủ theo gương Chúa Kitô, Đấng đã đến để phục vụ chứ không để được phục vụ (Mc. 10, 45). Anh chị em hãy can đảm và tin tưởng dấn thân vào mọi lãnh vực của cuộc sống, vì đó là nơi anh chị em được mời gọi để thi hành sứ mạng Kitô hữu của mình, đem ánh sáng Phúc Âm vào cuộc sống và xây dựng một xã hội theo tinh thần Phúc Âm.

17.- với các tu sĩ nam nữ

Sự trung thành và lòng can đảm của anh chị em trước các thử thách và khó khăn để phục vụ đồng bào và Hội Thánh theo ơn gọi riêng của mỗi Dòng là chứng tá sống động cho lý tưởng tận hiến của anh chị em như lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: "Hội Thánh có bổn phận phải công bố những giá trị lớn lao của Phúc Âm mà Hội Thánh đã lãnh nhận, và không ai có thể đưa ra chứng tá sáng ngời về các giá trị đó hơn là những người đã tuyên khấn tận hiến trong sự khiết tịnh, nghèo khó và tuân phục, qua sự dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa, hoàn toàn sẵn sàng phục vụ con người và xã hội theo gương Đức Kitô" (SVĐCC. 69).

18.- với các linh mục

Anh em đã được kết hợp đặc biệt với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử của Hội Thánh. Khi cử hành các bí tích, anh em hiện diện, nói và làm nhân danh Chúa Kitô. Khi thi hành mục vụ, anh em là dấu chỉ sự hiện diện của chính Chúa Kitô Mục Tử. Vì thế, khi giảng dạy, anh em hãy trung thành rao giảng Lời Chúa. Anh em hãy đọc, suy niệm, và sống Lời Chúa như giám mục đã căn dặn anh em khi trao sách Thánh trong lễ nghi phong chức Phó tế. Khi dẫn dắt các


thành phần Dân Chúa, anh em hãy đặc biệt quan tâm đến giới trẻ, đến người nghèo, dù là Kitô hữu hay không, và hãy giúp các tín hữu sống công bằng và bác ái. Anh em hãy đi đầu trong việc truyền giáo, vì truyền giáo là bản chất của Hội Thánh và sứ vụ linh mục. Để sống ơn gọi linh mục, anh em hãy chú tâm học hỏi và thi hành Tông huấn "Những Mục Tử" của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

19.- lời kết

Để kết thúc, chúng tôi muốn cùng anh chị em suy nghĩ về tinh thần đồng hành của Hội Thánh. Khi dấn thân trong công cuộc xây dựng xã hội trần thế, Hội Thánh không tự phụ về quyền lực, cũng không tìm kiếm quyền lực. Tinh thần đồng hành của chúng ta là tinh thần nhập thể của Chúa Giêsu Kitô. Đồng hành như những thành viên thật sự của cộng đồng dân tộc, chứ không phải như những kẻ xa lạ. Đồng hành không phải để tranh giành quyền lực, nhưng để cùng với Chúa Kitô và như Chúa Kitô, trở nên người tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại. Chúa đã phục vụ bằng một tình thương yêu vừa bao la vừa cụ thể, đến với từng con người trong từng nỗi đau để xoa dịu, để băng bó. Chúa đã phục vụ bằng một tình yêu vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng: Chúa tự đồng hóa với những người nhỏ bé, yếu đuối nhưng Chúa cũng không khoan nhượng với bất công, bóc lột và bất bình đẳng; Chúa đã dùng lời nói và hành động để tố cáo những tội ác chà đạp con người và xúc phạm đến Thiên Chúa. Chỉ bằng con đường phục vụ như thế, chúng ta mới có thể tuyên bố rằng Đức Kitô là câu trả lời cho mọi ước vọng của loài người.

Chúng tôi mượn lời thư gửi tín hữu Do Thái để nói với anh chị em: "Được các nhân chứng Đức tin như một đám mây bao quanh, chúng ta hãy trút bỏ mọi thứ nặng nề và tội


lỗi vẫn khéo bám chặt lấy chúng ta, mắt nhìn thẳng vào Đức Kitô, Đấng khai nguyên niềm tin của chúng ta và cũng là đấng đưa niềm tin ấy đến hoàn toàn" (12, 1-2). Chúng ta hãy nhìn lên Ngài và cùng với các Tông đồ đáp lại tiếng Ngài mời gọi: "Hãy theo ta". Ngài là ánh sáng, là sức mạnh của chúng ta. Ngài đã hứa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt. 28, 20). Ngài không ngừng bổ dưỡng chúng ta bằng Lời, nuôi chúng ta bằng chính Máu Thịt Ngài.

Sau hết, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria gương mẫu của lòng tin, Đức Mẹ đã được ca tụng là người có phúc vì đã tin rằng điều Chúa phán với Mẹ sẽ nên trọn (Lc. 1, 45). Đức Mẹ đã đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa khi tự dâng mình cho Thiên Chúa để Ngài sử dụng vào kế hoạch Cứu độ: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng lời như Sứ Thần truyền" (Lc. 1, 38).

Chúng ta hãy nhìn lên Đức Mẹ, hãy noi gương Đức Mẹ, tin cậy và phó thác vào Thiên Chúa để can đảm lên đường Hướng về Tương Lai: một tương lai huy hoàng sáng lạn cho cả Dân tộc và Hội Thánh ở Việt Nam cũng như toàn thế giới.

Nguyện xin Thiên Chúa nhờ lời chuyển cầu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đổ tràn lành phúc bình an và ân sủng của Người xuống trên tất cả anh chị em.

Làm tại Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 1992

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam