Thư Mục Vụ
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
(1992)
Gửi các thành phần
Dân Chúa ở Việt Nam
1.- Lời mở đầu
Từ
khi thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cho
tới nay, mười hai năm đã trôi qua, biết bao
biến chuyển sâu rộng ở mọi lãnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội cũng như trong lòng Hội
Thánh, vì thế trong Đại hội lần này, chúng tôi
muốn cùng nhau nhìn vào thực tế phân tích và lượng
giá hiện tình xã hội và Hội Thánh để
hướng dẫn anh chị em tiếp tục con
đường sống Phúc Âm.
Tất
nhiên chúng tôi không có tham vọng bao quát việc giải
quyết toàn bộ các vấn đề, nhưng chỉ
giới hạn trong những vấn đề mà dân tộc
và Hội Thánh đang quan tâm!
2.- vui mừng và hy vọng
Vào
những năm cuối thế kỷ XX này, nhìn ra thế
giới cũng như nhìn vào hiện tình trong nước,
chúng ta thấy có
nhiều điều
để vui mừng và hy vọng cùng với nhân loại và
đồng bào.
Những
tiến bộ khoa học và kỹ thuật của thế
kỷ XX đã giúp cho con người rút ngắn thời
gian, thu hẹp không gian. Các dân tộc đang xích lại
gần nhau, hiểu biết, tôn trọng và quan tâm
đến nhau hơn.
Cùng
với toàn thể thế giới, dân tộc ta cũng
đang cố gắng đi lên. Cuộc đổi mới
tư duy và đổi mới kinh tế mấy năm nay,
đã giúp cho đời sống của người dân dễ
dàng hơn một bước. Việc mở cửa giao
thương và trao đổi văn hóa với các
nước giúp mở rộng tầm nhìn, hòa mình vào
nhịp sống của toàn thể thế giới.
Những đổi mới trong sinh hoạt chính trị,
những nỗ lực thi hành pháp luật giúp người
dân tin tưởng hơn. Những hướng mới
mở ra cho mọi người có dịp phát huy, trau
dồi khả năng chuyên môn, hứa hẹn có nhiều
nhân tài phục vụ đất nước.
Chúng ta
có thể gặp được vui mừng và hy vọng khi
nhìn đến các giới đồng bào và các thành phần
Hội Thánh ở Việt Nam.
3.- về xã hội
Thiếu
nhi, nói chung được sự quan tâm chăm sóc thích
đáng của mọi tầng lớp nhân dân, đang có
triển vọng ngày càng trở nên ngoan ngoãn hơn.
Thanh
niên nam nữ có tài năng trí tuệ đầy nhiệt
huyết, biết dấn thân phục vụ trong nhiều
lãnh vực.
Gia
đình tuy gặp nhiều khủng hoảng của
thời đại, đang được khuyến khích
bảo tồn nền nếp gia phong cổ truyền
tốt đẹp, tiến tới sự ổn định
mong muốn.
4.- về hội thánh
Trong
Hội Thánh, chúng ta càng được nhìn thấy rất
nhiều gương sống xứng đáng với tinh
thần Phúc Âm:
Con cái
trong gia đình lễ phép, ngoan ngoãn, nói năng thanh lịch
và siêng năng học hỏi giáo lý.
Thanh
niên nam nữ quảng đại và cao thượng,
sống cho đức tin, trung thành với Chúa và Hội
Thánh, mặc dầu gặp nhiều khó khăn.
Các
bậc cha mẹ, phụ huynh kiên trì sống đạo, lo
lắng giáo dục con cái, duy trì bền vững luật hôn
nhân của Hội Thánh, do đó treo gương sáng cho các
thành viên của gia đình và xã hội chung quanh.
Các linh
mục nam nữ tu sĩ, mặc dầu gặp nhiều
khó khăn phức tạp, vẫn nhiệt thành liên kết
với các chủ chăn, không quản ngại gian lao
vất vả để phục vụ Hội Thánh và
Đất nước.
Đặc
biệt, số các ứng sinh nam nữ xin gia nhập
chủng viện và đời sống tu trì được
tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ
cuộc sống tận hiến cho đồng bào và các tín
hữu vẫn còn đang là sức hấp dẫn nhiều
thanh niên nam nữ tích cực phục vụ mọi
người.
Nói tóm
lại, theo từng vị trí của mình trong Hội Thánh
hôm nay, các thành phần ưu tú nói trên đã đóng góp vào
niềm vui mừng và hy vọng của Hội Thánh và dân
tộc.
5.- những băn khoăn
Bên
cạnh những vui mừng và hy vọng trên đây, chúng ta
cũng thấy còn rất nhiều điều khiến
mọi người phải băn khoăn khi nhìn vào
hiện tình xã hội và Hội Thánh.
Chúng
tôi xin nêu mấy điều sau đây để anh chị
em cùng suy nghĩ: việc kế hoạch hóa gia đình là
việc cần thiết nhưng chỉ được sử
dụng những phương pháp tự nhiên và phải chú
trọng đến việc giáo dục hôn nhân và gia đình.
Giới
trẻ đang bị cuốn hút bởi một quan niệm
sống thực dụng và khuynh hướng hưởng
thụ, trong khi đó thì họ chưa được
tạo điều kiện sinh hoạt phù hợp
để phát triển nhân cách và khả năng, nhất là
ở nông thôn và miền núi.
Nạn
mãi dâm và nhiều tệ nạn xã hội khác có khuynh
hướng gia tăng trong xã hội, nếu chúng ta không
dự liệu biện pháp đề phòng và ngăn
chặn.
Hiện
tình của Hội Thánh Việt Nam cũng còn những
điều khiến chúng ta phải băn khoăn:
- Tình trạng thiếu
hụt về nhân sự, từ hàng Giám mục, linh mục
cho đến những người phục vụ các
tầng lớp trong các họ đạo. Sự thiếu
hụt này không chỉ là về lượng mà cả về
trình độ nữa.
- Đại đa
số anh chi em tín hữu giữ đạo sốt
sắng, siêng năng đọc kinh lần hạt, lãnh
nhận các bí tích và có một số anh chị em có tinh
thần truyền giáo. Nhưng nói chung giáo dân vẫn chưa
ý thức đủ, và có lẽ chưa được
hướng dẫn, cũng như thường gặp
nhiều hạn chế trong việc làm chứng cho Chúa trong
cuộc sống. Do đó, chưa sử dụng hết
những phương tiện và khả năng cho việc
truyền giáo như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã
dạy trong Thông điệp "Sứ vụ Đấng
Cứu Chuộc" (Số 2).
- Anh chị em tín hữu
ở các vùng kinh tế mới và các miền núi chưa
nhận được sự giúp đỡ cần thiết
về đời sống tôn giáo.
- Các gia đình nhìn chung
vẫn giữ được giá trị truyền thống
và trung thành theo luật Chúa, nhưng cũng có nguy cơ
bị suy thoái bởi nạn phá thai, ly dị, nghiện
rượu và ma túy.
- Tại vài địa
phương vẫn còn một sự kỳ thị nào
đó đối với các tín hữu, do việc tùy
tiện giải thích và áp dụng các quy định về
sinh hoạt tôn giáo.
6.- nguyên nhân của
những điều
gây băn khoăn về xã hội
Để
có cái nhìn chính xác về những nỗi băn khoăn trên
đây, đồng thời tìm ra hướng đi, chúng ta
cần xác định đâu là nguyên nhân chính.
Phải
chăng khó khăn kinh tế là nguyên nhân gây nên tất
cả những tình trạng ấy? Chúng tôi nghĩ rằng
những khó khăn kinh tế chỉ là hoàn cảnh, còn con
người mới là yếu tố quyết định.
Để
quản lý xã hội và con người cần có khả
năng đạo đức. Có khả năng mà thiếu
đạo đức, người ta sẽ trở thành
gian manh. Có đạo đức mà thiếu khả năng
thì không thu được kết quả mong muốn. Khi
người ta có lý tưởng, có lẽ sống thì
sẵn sàng hy sinh tất cả. Các vị anh hùng đặt
tương lai của dân tộc, đất nước lên
trên cả mạng sống mình. Các vị Tử đạo
đặt đức tin và niềm hy vọng của mình
lên trên tất cả.
Thế
nên, pháp luật phải là cái khung để thiết
lập và duy trì trật tự công bằng xã hội thì
lại chưa được tôn trọng đủ.
7.- Sau khi nhìn vào
những vui mừng và hy vọng cũng như những
băn khoăn của đất nước và tình
trạng trên, chúng tôi thấy rằng muốn tiến
tới, trước hết phải lành mạnh hóa con
người và xã hội bằng cách chấn chỉnh
đạo đức, khôi phục những giá trị tinh
thần đã làm nên tâm hồn Việt Nam và tiếp thu có
chọn lọc những tinh hoa của nhân loại. Tâm
hồn Việt Nam được thể hiện ở
chính nếp sống bản thân, gia đình và xã hội
như: tự trọng, hiếu thảo, huynh đệ,
kính nhường, trọng nghĩa khinh tài.
8.- sống Phúc âm và
đem Phúc âm
vào trong cuộc sống
Muốn
đồng hành và đóng góp với đồng bào trong giai
đoạn lịch sử quyết định này của
đất nước, chúng tôi nghĩ rằng:
trước hết chúng ta phải là Kitô hữu chân chính và
đem gia sản thiêng liêng quý báu nhất của chúng ta là
Phúc Âm mà góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam
tốt đẹp và nhân bản hơn. Để thực
hiện điều trên, chúng ta phải là những Kitô
hữu chân chính, phải sống Phúc âm, thực thi Lời
Chúa: "Sao các ngươi
cứ thưa với Ta: Lạy Chúa, lạy Chúa mà các
ngươi không làm theo lời Ta dạy" (Lc. 7, 64).
Sống Phúc Âm nghĩa là kết hợp với Chúa Kitô và
nhận Người làm khuôn mẫu. Tất cả những
gì Chúa đã truyền dạy gồm tóm trong việc mến
Chúa yêu người. Thực thi mến Chúa yêu người, sống
làm Kitô hữu là chúng ta đã đóng góp cho đất
nước điều quý nhất: Những con
người chân chính.
Ngoài ra
chúng ta còn phải cống hiến cho đồng bào chính ánh
sáng của Phúc Âm như Đức Gioan Phaolô II đã nói
trong Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu
Chuộc: "vì Đức Kitô Cứu Thế đã khai
mạc trọn vẹn cho con
người biết về chính họ... Ơn cứu
độ được thực hiện nhờ Thập
giá, đã vĩnh viễn trả lại cho con người
phẩm giá của họ và ý nghĩa hiện hữu
của họ trong thế giới" (Số 2). Trong
một xã hội đang cần khôi phục những giá
trị đạo đức con người thì Phúc Âm chính
là nguồn mạch của những giá trị ấy.
Con
Thiên Chúa đã xuống làm người và sống trọn
vẹn thân phận con người để dạy chúng ta
biết thế nào là sống làm người và làm con Thiên
Chúa.
Vậy
chúng ta phải sống và giới thiệu cho những
người khác biết những giá trị của Phúc Âm.
Đó chính là nỗ lực đem Phúc Âm vào trong
văn hóa.
9.- xây dựng một
nếp sống và một lối
diễn tả đức tin có bản sắc dân tộc
hơn
Ngay
từ đầu, cha ông chúng ta đã biết vận
động những cái hay trong kho tàng văn hóa dân tộc
để diễn tả đức tin, diễn tả
tương quan của mình với Thiên Chúa: Từ âm
nhạc, nghệ thuật, kiến trúc, lễ nghi
đến cách tổ chức gia đình, làng xóm, xứ
đạo. Ngày nay, sự giao lưu giữa các dân tộc
đang làm cho các nền văn hóa ngày càng xích lại gần
nhau và dễ dàng tiếp nhận nhau.
Đi
tìm sắc thái văn hóa dân tộc không có nghĩa là
đơn thuần lấy lại những cái cổ xưa,
nhưng là làm sao cho tính cách dân tộc được
diễn tả trong lời kinh tiếng hát, trong cử hành
Phụng vụ, trong cuộc sống hàng ngày cũng như
trong suy tư và ngôn ngữ thần học. Công việc này
cũng phải được thực hiện trong các dân
tộc ít người nữa, sao cho mỗi dân tộc
đều giữ được bản sắc của
mình trong Hội Thánh. Đây là một việc lớn,
cần nhiều sự đóng góp của nhiều lãnh
vực chuyên môn và phải theo sự chỉ đạo chung
để tránh những tùy tiện.
10.- củng cố đời sống gia đình
Môi
trường đầu tiên để sống Phúc Âm và
đem Phúc Âm vào trong cuộc sống chính là gia đình. Gia
đình là tế bào đầu tiên và sống động
để làm thành xã hội. Đối với Hội Thánh
"thì hôn nhân và gia đình xây
dựng Hội Thánh, gia đình là Hội Thánh thu
nhỏ" (GD. 15). "Hơn nữa gia đình Kitô hữu
biểu hiện trước mặt mọi người
sự hiện diện sống động của
Đấng Cứu Thế trong thế giới và bản
chất đích thực của Hội Thánh qua tình yêu, qua
niềm quảng đại chấp nhận sinh con cái, qua
sự hiệp nhất và trung tín của hai vợ chồng
cũng như qua sự hợp tác thân ái của mọi thành
phần trong gia đình" (MV. 48).
Vị
trí và sứ mạng này của gia đình trong xã hội và
Hội Thánh đòi hỏi các gia đình Kitô hữu phải
tự canh tân, giữ vững và phát huy những giá trị
đạo đức của gia đình Việt Nam đã
được nâng cao nhờ Phúc Âm và Bí tích Hôn nhân. Đó là
bước đầu và cơ bản để làm cho
cộng đồng Hội Thánh được sinh
động và có sức chiếu giải Phúc âm đồng
thời góp phần khôi phục đạo đức xã
hội, xây dựng một xã hội lành mạnh, ngăn
chặn những nọc độc tinh thần đang và
sẽ xâm nhập mạnh hơn theo đà giao lưu kinh
tế và văn hóa.
Sống
Phúc Âm trong đời sống gia đình chính là sống tình
yêu chung thủy mà con người đời nào cũng khát
khao ca tụng và đã được Chúa Giêsu củng
cố bằng Bí tích Hôn nhân. Chính Chúa Giêsu còn dựa vào sách
Sáng Thế để tái lập quyền bình đẳng nam
nữ và tinh thần bất khả phân ly của hôn nhân (St.
2, 18-24; Mt. 19, 6).
Trong
một xã hội mà đời sống gia đình đang
bị đe dọa bởi nạn ly dị và những
lối sống trái với luân lý đạo đức
Việt Nam, sự trung thành giữa vợ chồng Kitô
hữu sẽ là một ánh lửa soi sáng và sưởi
ấm, một sự khuyến khích cho các gia đình khác.
11.- tôn trọng sự sống
Chỉ
có tình yêu chân thực, khăng khít và bền chặt giữa
vợ chồng mới đáp ứng được
lời mời gọi của Thiên Chúa đối với
cả loài người: "Hãy sinh sản cho đầy
mặt đất và làm chủ mặt đất" (St.
1, 28). Bởi vì đứa con vừa là kết quả
của tình yêu hôn nhân, vừa làm nảy sinh một tình yêu
mới, là tình yêu giữa cha mẹ với con cái,
đứa con phải được yêu mến, tôn
trọng và phục vụ ngay từ giây phút đầu tiên
của cuộc sống. Cha mẹ phải tiến tới
chỗ yêu mến đứa con ngay từ trước lúc
thụ thai chứ không để cho đứa con chỉ
là kết quả may rủi của sự âu yếm giữa
hai người.
Trong
tình hình dân số hiện nay của thế giới nói chung
và nước ta nói riêng, đối chiếu với tình hình
phát triển kinh tế, không thể làm theo phương châm
của người xưa: "Trời sinh voi, trời sinh
cỏ". Phương châm ấy có giá trị trong
thời kỳ nông nghiệp "Đất rộng
người thưa". Ngày nay loài người đã
đầy mặt đất, cần phải tính
đến chuyện nuôi sống và giáo dục những
mầm non của loài người. Đàng khác, mệnh
lệnh sinh sản cho đầy mặt đất gắn
liền với mệnh lệnh làm chủ mặt
đất. Muốn thế thì đứa con sinh ra phải
được nuôi nấng và giáo dục cho nên
người. Điều này đưa chúng ta vào những
vấn đề cấp bách và nghiêm trọng hiện nay là
vấn đề sinh đẻ có trách nhiệm và vấn
đề giáo dục con cái. Ngay từ khi chuẩn bị
tiến tới hôn nhân, người tín hữu đã
phải ý thức điều này: Hai người phải
cùng nhau nhận định về gia đình mà họ
sắp cùng nhau thành lập, suy nghĩ kỹ về các
vấn đề như mức sống vật chất,
nếp sống tinh thần, số con hai người có
thể đón nhận và dưỡng dục chính đáng.
Chính đây là chỗ hai người thể hiện tình yêu
đích thực đối với nhau và đối với
con cái (MV. 50).
12.- giáo dục gia đình
Cha
mẹ là những người đầu tiên và
thường xuyên chịu trách nhiệm về giáo dục
con cái. Cha ông đã dạy: "Dạy con từ thuở còn
thơ". Khoa học ngày nay cho thấy: Người
mẹ ảnh hưởng đến tâm tính và sức khỏe
của đứa con ngay từ lúc phôi thai. Từ khi
đứa trẻ chào đời, cách cư xử của
cha mẹ bắt đầu ảnh hưởng đến
đứa con.
Trong
một môi trường phần nào đã bị ô nhiễm
vì những tệ đoan xã hội, để giúp cho con cái
chúng ta đứng vững trước những cám dỗ,
trước những luồng ảnh hưởng xấu,
cần phải kết hợp biện pháp ngăn ngừa
với sự giáo dục, gây ý thức cho tuổi trẻ
biết đánh giá những gì họ gặp trong
cuộc sống,
biết phân biệt tốt xấu, lợi hại. Phải
giáo dục cho người trẻ biết chịu trách
nhiệm về chính mình và về xã hội. Đặc biệt
việc giáo dục tính dục chỉ có thể thực
hiện một cách trong sáng trong bầu không khí thương
yêu của tổ ấm gia đình, như Tông huấn
về Gia đình dạy (GĐ. 37).
13.- giáo dục học đường
Giáo
dục gia đình phải được hỗ trợ và
hoàn chỉnh nhờ việc giáo dục học
đường.
Mọi
mục tiêu cải tiến xã hội đều không thể
đạt được nếu không có một nền giáo
dục phù hợp. Thế nhưng trong hiện tình
nước ta, ai cũng than phiền về sự xuống
cấp nghiêm trọng của nền giáo dục học
đường. Muốn khôi phục nền giáo dục
học đường, trước hết phải
tạo điều kiện vật chất và tinh thần
để thầy cô giáo thật sự là những nhà giáo
dục, và làm cho nhà trường thực sự là môi
trường giáo dục.
Đối
với anh chị em tín hữu, chúng tôi xin anh chị em hãy
cố gắng cho con cái đi học, càng lên cao càng tốt,
vì chúng có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho
xã hội và Hội Thánh. Các họ đạo nên có những
nỗ lực chung để lo cho con em đi học.
Nếu được, nên lập quỹ để cấp
học bổng cho những em nhà nghèo, học giỏi và có
tinh thần phục vụ.
14.- quan tâm đến giới trẻ
Giới
trẻ là tương lai của đất nước, là
"niềm hy vọng của Hội Thánh" (GĐ. 2),
không chỉ vì ngày mai là của họ, mà chính vì họ là
những người phải xây dựng ngày mai từ hôm
nay.
Vì
thế mà cả xã hội cũng như Hội Thánh
đều phải quan tâm đến giới trẻ,
để giúp họ đảm nhận lấy vai trò hôm nay
và ngày mai của họ trong xã hội và Hội Thánh.
Muốn giúp
người trẻ
đạt tới sự trưởng thành và đủ
khả năng đảm nhận trách nhiệm, ngoài giáo
dục gia đình và học đường còn phải có
giáo dục trong môi trường xã hội và Hội Thánh.
Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói về môi
trường của Hội Thánh.
Nhân
cách và tài năng của người trẻ cần
được phát huy nhờ sinh hoạt và tương quan
với người khác. Do đó có nhiều hình thức sinh
hoạt thích hợp cho từng lứa tuổi như:
gặp gỡ trao đổi qua Thánh lễ cho giới trẻ
trong xứ, trong hạt, giao lưu giữa các ca đoàn, các
giáo lý viên cấp giáo xứ, hạt và giáo phận.
Các
họ đạo cũng nên mạnh dạn cho giới
trẻ giữ phần tích cực vào sinh hoạt giáo
xứ, kể cả trong thành phần lãnh đạo. Trong
Tông huấn: "Kitô hữu giáo dân", Đức Gioan
Phaolô II đã khẳng định: "Không được
coi người trẻ như
chỉ là đối tượng của mối quan tâm
mục vụ của Hội Thánh: Thật sự họ là
và phải được khuyến khích để trở
nên những chủ thể năng động, dự
phần vào công cuộc Phúc Âm hóa và đổi mới xã hội".
Trong khi dự phần tích cực này, người trẻ
không chỉ có dịp tự rèn luyện mà còn có dịp
để đóng góp hữu hiệu nữa, vì
"Nhờ sự nhạy bén, người trẻ nhận
thức sâu xa những giá trị của công bằng, bất bạo động, hòa
bình... Tâm hồn người trẻ đón rộng tình huynh
đệ, tình bạn và tình liên đới. Họ tự
động viên tối đa để ủng hộ
những việc nhằm nâng cao phẩm chất cuộc
sống và bảo vệ thiên nhiên" (Số 46).
Đồng
thời với việc người trẻ dự phần
tích cực vào sinh hoạt họ đạo, phải có
một nỗ lực đối thoại với
người trẻ, Đức Thánh Cha đã nói:
"Hội Thánh có nhiều điều để nói
với người trẻ và người trẻ cũng có nhiều điều để
nói với Hội Thánh. Cuộc đối thoại song
phương này mà ta phải tiến hành với tất
cả thân tình, trong sáng, can đảm sẽ hỗ trợ
cho sự gặp gỡ và trao đổi giữa các thế
hệ, cuộc đối thoại này cũng sẽ là
nguồn
phong phú và trẻ trung cho Hội Thánh và cho xã
hội" (KTH. 46).
Để
đối thoại, phải lắng nghe và tôn trọng
những nhạy bén của tuổi trẻ, hãy để
cho giới trẻ có cơ hội đóng góp vì tương
lai là của họ.
Ngoài
ra, cần có những lớp giáo lý cho giới trẻ
để họ phát triển đời sống
đức tin phù hợp với đà tiến của
họ trong cuộc sống, và những khóa dự bị hôn
nhân để giúp họ xây dựng những gia đình Công
giáo gương mẫu. Phải đặc biệt chú ý
đến những người học lên bậc
đại học, để giúp họ phát triển sự
hiểu biết và đời sống đức tin cho phù
hợp với trình độ trí thức của họ.
15.- quan tâm đến người nghèo
Một
giới người cần được quan tâm
đặc biệt là những người nghèo đói
đang còn chiếm một tỉ lệ khá cao hiện nay.
Nỗ lực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống
vừa là một đòi hỏi của Phúc Âm, vừa là
một nhu cầu cấp bách. Cảnh nghèo đói ảnh
hưởng đến những thế hệ tiếp theo
về mọi mặt thể xác và tinh thần. Tuy nghèo
đói không phải là nguyên nhân gây nên bao nhiêu điều tai
hại cho xã hội nhưng nó là hoàn cảnh, môi
trường thuận lợi cho tệ hại và tội ác.
Đây
là tình trạng chung của đất nước đang
còn nghèo đói, cần mọi người tiếp tay
giải quyết. Cách làm tốt nhất là tạo
điều kiện cho họ tự kiếm sống.
Nhưng cũng không nên quên những người không
thể kiếm sống hoặc hiện thời chưa
thể kiếm sống. Tình tương thân tương ái,
lá lành đùm lá rách, một miếng khi đói bằng
một gói khi no vẫn là truyền thống của dân
tộc ta và cũng là điều Chúa dạy. Hội Thánh
đã tóm tắt trong kinh "Thương người có 14
mối". Cá
nhân, gia đình, họ
đạo nên tích cực tham gia các việc từ thiện,
các công tác xóa đói giảm nghèo. Ước chi mỗi
họ đạo hãy cố gắng để trong giáo
xứ của mình không còn người đói, không còn
người túng thiếu, như sách Công vụ Tông
đồ đã nói về cộng đoàn Hội Thánh tiên
khởi: "Trong số họ không có ai phải túng thiếu" (Cv. 4, 34).
Những công tác đó không được chỉ nhằm
giới hạn vào các tín hữu với nhau mà phải
mở rộng tới mọi người trong xóm làng, trong
khu phố. Chính sự giúp đỡ những người
nghèo đói là cách tốt nhất để làm chứng cho
Chúa, và đưa ánh sáng Phúc Âm vào trong cuộc sống, làm
cho mọi người cảm nghiệm được
thế nào là sống Phúc Âm (SVĐCC. 60).
Đến
đây chúng tôi vạch ra những phương hướng
và nhiệm vụ trước mắt để chúng ta
sống Phúc Âm và đồng hành với dân tộc.
Sau
đây chúng tôi muốn ngỏ lời với từng
giới trong cộng đoàn Dân Chúa để xác
định rõ hơn nhiệm vụ của các thành phần
trong chương trình chung này.
( với các thành phần
dân chúa
16.- với anh chị em giáo dân
Được
gọi để làm men, làm muối, làm ánh sáng cho thế
gian, anh chị em hãy lãnh nhận trách nhiệm xây dựng xã
hội theo các giá trị Phúc Âm, không tách lìa đời sống
tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội và trần
thế. Khi anh chị em dấn thân với tư cách Kitô
hữu là anh chị em thực thi việc tham dự ba
chức vụ tư tế, ngôn sứ và làm chủ của
Chúa Kitô mà anh chị em đã nhận qua bí tích Rửa
tội. Tham dự chức tư tế, khi anh chị em làm
cho cuộc sống của mình trở thành lễ tế tôn
thờ Thiên Chúa. Tham dự chức ngôn sứ, khi anh chị
em tin tưởng đón nhận Phúc Âm, dùng lời nói và
việc làm
loan báo Phúc Âm đó. Tham
dự quyền làm chủ, khi anh chị em "phục
vụ Nước Thiên Chúa và
làm cho Nước ấy lan tỏa trong lịch sử".
Làm chủ theo gương Chúa Kitô, Đấng đã
đến để phục vụ chứ không để
được phục vụ (Mc. 10, 45). Anh chị em hãy can
đảm và tin tưởng dấn thân vào mọi lãnh
vực của cuộc sống, vì đó là nơi anh chị
em được mời gọi để thi hành sứ
mạng Kitô hữu của mình, đem ánh sáng Phúc Âm vào
cuộc sống và xây dựng một xã hội theo tinh
thần Phúc Âm.
17.- với các tu sĩ nam nữ
Sự
trung thành và lòng can đảm của anh chị em
trước các thử thách và khó khăn để phục
vụ đồng bào và Hội Thánh theo ơn gọi riêng
của mỗi Dòng là chứng tá sống động cho lý
tưởng tận hiến của anh chị em như
lời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: "Hội Thánh có
bổn phận phải công bố những giá trị
lớn lao của Phúc Âm mà
Hội Thánh đã lãnh nhận, và không ai có thể đưa
ra chứng tá sáng ngời về các giá trị đó hơn là
những người đã tuyên khấn tận hiến
trong sự khiết tịnh, nghèo khó và tuân phục, qua
sự dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa, hoàn toàn
sẵn sàng phục vụ con người và xã hội theo
gương Đức Kitô" (SVĐCC. 69).
18.- với các linh mục
Anh em
đã được kết hợp đặc biệt
với Đức Kitô là Đầu và Mục Tử của
Hội Thánh. Khi cử hành các bí tích, anh em hiện diện,
nói và làm nhân danh Chúa Kitô. Khi thi hành mục vụ, anh em là
dấu chỉ sự hiện diện của chính Chúa Kitô
Mục Tử. Vì thế, khi giảng dạy, anh em hãy trung
thành rao giảng Lời Chúa. Anh em hãy đọc, suy
niệm, và sống Lời Chúa như giám mục đã
căn dặn anh em khi trao sách Thánh trong lễ nghi phong
chức Phó tế. Khi dẫn dắt các
thành phần Dân Chúa, anh
em hãy đặc biệt quan tâm đến giới trẻ,
đến người nghèo, dù là Kitô hữu hay không, và hãy
giúp các tín hữu sống công bằng và bác ái. Anh em hãy đi
đầu trong việc truyền giáo, vì truyền giáo là
bản chất của Hội Thánh và sứ vụ linh
mục. Để sống ơn gọi linh mục, anh em
hãy chú tâm học hỏi và thi hành Tông huấn "Những
Mục Tử" của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
19.- lời kết
Để
kết thúc, chúng tôi muốn cùng anh chị em suy nghĩ
về tinh thần đồng hành của Hội Thánh. Khi
dấn thân trong công cuộc xây dựng xã hội trần
thế, Hội Thánh không tự phụ về quyền
lực, cũng không tìm kiếm quyền lực. Tinh
thần đồng hành của chúng ta là tinh thần
nhập thể của Chúa Giêsu Kitô. Đồng hành như
những thành viên thật sự của cộng đồng
dân tộc, chứ không phải như những kẻ xa
lạ. Đồng hành không phải để tranh giành
quyền lực, nhưng để cùng với Chúa Kitô và
như Chúa Kitô, trở nên người tôi tớ của Thiên
Chúa và của nhân loại. Chúa đã phục vụ bằng
một tình thương yêu vừa bao la vừa cụ
thể, đến với từng con người trong
từng nỗi đau để xoa dịu, để
băng bó. Chúa đã phục vụ bằng một tình yêu
vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng: Chúa tự
đồng hóa với những người nhỏ bé,
yếu đuối nhưng Chúa cũng không khoan
nhượng với bất công, bóc lột và bất bình
đẳng; Chúa đã dùng lời nói và hành động
để tố cáo những tội ác chà đạp con
người và xúc phạm đến Thiên Chúa. Chỉ
bằng con đường phục vụ như thế,
chúng ta mới có thể tuyên bố rằng Đức Kitô
là câu trả lời cho mọi ước vọng của
loài người.
Chúng
tôi mượn lời thư gửi tín hữu Do Thái
để nói với anh chị em: "Được các
nhân chứng Đức tin
như một đám mây bao quanh, chúng ta hãy trút bỏ mọi
thứ nặng nề và tội
lỗi vẫn khéo bám chặt lấy chúng ta, mắt
nhìn thẳng vào Đức Kitô, Đấng khai nguyên
niềm tin của chúng ta và cũng là đấng đưa
niềm tin ấy đến hoàn toàn" (12, 1-2). Chúng ta hãy
nhìn lên Ngài và cùng với các Tông đồ đáp
lại tiếng Ngài mời gọi: "Hãy theo ta". Ngài
là ánh sáng, là sức mạnh của chúng ta. Ngài đã hứa
ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận
thế (Mt. 28, 20). Ngài không ngừng bổ dưỡng chúng
ta bằng Lời, nuôi chúng ta bằng chính Máu Thịt Ngài.
Sau
hết, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria gương mẫu
của lòng tin, Đức Mẹ đã được ca
tụng là người có phúc vì đã tin rằng
điều Chúa phán với Mẹ sẽ nên trọn (Lc. 1,
45). Đức Mẹ đã đặt hết niềm tin
vào Thiên Chúa khi tự dâng mình cho Thiên Chúa để Ngài
sử dụng vào kế hoạch Cứu độ: "Này
tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng
lời như Sứ Thần truyền" (Lc. 1, 38).
Chúng ta
hãy nhìn lên Đức Mẹ, hãy noi gương Đức
Mẹ, tin cậy và phó thác vào Thiên Chúa để can
đảm lên đường Hướng về
Tương Lai: một tương lai huy hoàng sáng lạn cho
cả Dân tộc và Hội Thánh ở Việt Nam cũng
như toàn thế giới.
Nguyện
xin Thiên Chúa nhờ lời chuyển cầu của các Thánh
Tử Đạo Việt Nam, đổ tràn lành phúc bình an và
ân sủng của Người xuống trên tất cả
anh chị em.
Làm tại Hà Nội, ngày
19 tháng 10 năm 1992
Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam