Thông Cáo
Hội Đồng Giám mục Việt Nam
(1974)

Cơ cấu và Sinh hoạt Giáo Hội Công Giáo
Việt Nam 1974-1977

thành phần ủy ban thường vụ
Hội đồng Giám mục Việt Nam

Hội đồng Giám mục Việt Nam đă nhóm Khóa họp thường niên tại Trung tâm Công giáo Việt Nam Saigon, từ 7 tới 10 tháng 1-1974. Sau ba năm (1971-1974) thí nghiệm cơ cấu Mục vụ đă được thiết lập, và rút ưu khuyết điểm, các Đức Giám mục Việt Nam đă quyết định những điều sau đây cho quăng thời gian ba năm sắp tới.

( Cơ cấu mục vụ Hội đồng Giám mục
Việt Nam (1974-1977)

I. miền mục vụ: Vẫn giữ bốn Miền Mục vụ như trước.

1. Miền Saigon (Saigon, Xuân Lộc, Phú Cường).

2. Miền Cửu Long (Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên).


3. Miền Duyên Hải (Trung phần: Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang).

4. Miền Cao Nguyên (Đà Lạt, Kon Tum, Ban Mê Thuột).

II. ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam. Mở rộng thêm Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam, với hai thành phần mới.

1. Chủ tịch: Đức Cha Nguyễn Văn B́nh, Tổng Giám mục Saigon.

2. Phó Chủ tịch kiêm Thủ quỹ: Đức Cha Phạm Ngọc Chi, Gm. Đà Nẵng.

3. Tổng Thư kư: Đức Cha Nguyễn Ngọc Quang, Giám mục Cần Thơ.

4. Đức Cha Nguyễn Kim Điền, Tổng Giám mục Huế.

5. Đức Cha Lê Văn Ấn, Giám mục Xuân Lộc.

6. Thư kư thường trực: Cha Trần Văn Hiến Minh.

III. các ủy ban giám mục. Nhận thấy tầm quan trọng của một số vấn đề, và để Hội đồng Giám mục có thể đối phó với những khía cạnh quá phức tạp của sinh hoạt mục vụ ngày nay, các Đức Cha đă đặt thêm một số Ủy ban Giám mục mới và xếp đặt như sau:

1. Đối với Chúa: Ủy ban Giám mục về Phụng Vụ, thuộc miền Saigon.

a. Giám mục Đặc trách: Đức Cha Phạm Văn Thiên, Phú Cường.

b. Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Nguyễn Văn Mầu (Miền Cửu Long), Đức Cha Nguyễn Văn Thuận (Miền Duyên Hải), Đức Cha Nguyễn Huy Mai (Miền Cao Nguyên).

c. Ủy ban sẽ liên lạc với các Bề Trên Thượng cấp các Ḍng Tu Nam Nữ và các Vị Bản quyền, để mở rộng thành phần


chuyên viên, hầu xúc tiến công việc dịch sách Nguyện cho chóng hoàn thành.

2. Đối với các thành phần Dân Chúa.

a. Ủy ban Giám mục Giáo sĩ và Chủng sinh (mới) thuộc Miền Cao Nguyên.

Mục tiêu chính của Ủy ban Giám mục này, trong giai đoạn đầu, là liên lạc giữa các hội đồng Linh mục dưới quyền các Đấng Bản quyền liên hệ, soạn chỉ nam cho hàng Giáo sĩ, điều ḥa sinh hoạt chung của các chủng viện trên toàn quốc mà vẫn tôn trọng cá tính địa phương của mỗi chủng viện.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Nguyễn Huy Mai.

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Nguyễn Văn B́nh (Saigon); Đức Cha Nguyễn Ngọc Quang (Cửu Long); Đức Cha Hoàng Văn Đoàn (Duyên Hải).

b. Ủy ban Giám mục về Tu sĩ (mới) thuộc Miền Saigon. Trước kia, chỉ mới có một văn pḥng liên lạc với các Ḍng tu, do một vị Giám mục phụ trách. Nay, lập hẳn một Ủy ban Giám mục về Tu sĩ, hầu thắt chặt thêm mối liên lạc sẵn có giữa Hội đồng Giám mục Việt Nam và các Ḍng Tu; đồng thời điều ḥa sự cộng tác mục vụ giữa hàng Giáo phẩm và các Tu sĩ. Ngoài ra Ủy ban Giám mục về Tu sĩ sẽ cùng với hai Hiệp Hội Các Bề Trên Thượng cấp Ḍng Nam và Nữ, phát họa đời sống tu tŕ trên toàn quốc.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha André Jacq (O.P.).

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Nguyễn Văn Mầu (Cửu Long); Đức Cha Nguyễn Kim Điền (Duyên Hải), Đức Cha Đalat (Cao Nguyên).

c. Ủy ban Giám mục về Tông đồ Giáo dân (mới), thuộc miền Cửu Long.


Trước năm 1971, các Hội đoàn và Phong trào Giáo dân có tổ chức hoạt động trong Công giáo Tiến Hành Việt Nam do một Đức Cha phụ trách. Từ năm 1971, các Hội đoàn và Phong trào đó được chia ra ba nhóm, theo mục đích giống nhau của một số Hội đoàn và Phong trào, và trao cho ba Ủy ban Giám mục: Ủy ban Giám mục về Giáo dục, Ủy ban Giám mục về Truyền Bá Phúc Âm, Ủy ban Giám mục về Phát triển. Từ nay, tất cả các Hội đoàn và Phong trào nói trên được đặt dưới quyền của một Ủy ban Giám mục, gọi là Ủy ban Giám mục Tông đồ Giáo dân. Mục đích là duy tŕ và phát triển việc Tông đồ của Giáo dân nói chung và của các Hội đoàn và Phong trào (tổ chức rồi hay chưa tổ chức) nói riêng, trong khuôn khổ sinh hoạt mục vụ chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Ngoài ra Ủy ban Giám mục này c̣n nhằm huấn luyện giáo dân, để họ mỗi lúc mỗi thêm trưởng thành và ư thức trách nhiệm riêng của ḿnh trong toàn thể Dân Chúa.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Nguyễn Khắc Ngữ.

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Trần Thanh Khâm (Saigon); Đức Cha Paul Seitz (Cao Nguyên), Đức Cha Phạm Ngọc Chi (Duyên Hải).

3. Sinh hoạt Mục vụ ưu tiên: Từ năm 1971, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă đặc biệt lưu ư tới ba giới người, cũng là ba mối bận tâm mục vụ ưu tiên trong thập niên 70 này. Đó là, những người chưa biết Chúa, giới trẻ và giới nghèo. Sau ba năm, những mục tiêu nói trên không thay đổi.

a. Ủy ban Giám mục Truyền bá Phúc âm thuộc miền Cửu Long.

Ủy ban Giám mục này nhằm huy động toàn Dân Chúa đưa Tin Mừng tới cho những người chưa biết Chúa, bằng cầu nguyện hy sinh, bằng giúp nhân lực tài lực, và nếu hoàn cảnh cho phép, bằng cách "RA ĐI", sống giữa lương


dân để trở thành chứng nhân của Tin Mừng. Ủy ban Giám mục Tông đồ Giáo dân đặc biệt yểm trợ Ủy ban Giám mục này.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Trần Văn Thiện.

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Paul Seitz (Cao Nguyên); Đức Cha Phạm Ngọc Chi (Duyên Hải); Đức Cha Trần Thanh Khâm (Saigon).

b. Ủy ban Giám mục về Giáo dục, thuộc miền Cao Nguyên. Trước kia, Ủy ban Giám mục này gồm tiểu ban Chủng viện và tiểu ban Bảo vệ Đức tin. Nay, các chủng sinh cùng với giáo sĩ làm thành một Ủy ban Giám mục mới như đă nói ở trên. Việc bảo vệ Đức Tin trả về cho mỗi vị Bản quyền. Ủy ban Giám mục-Giáo dục dành riêng cho giới học sinh, sinh viên, học các trường công giáo hay không công giáo, lo tu nghiệp các giáo chức hầu tăng khả năng sư phạm nhất là nơi các trường thôn quê v.v.

c. Ủy ban Giám mục về Phát triển, thuộc miền Duyên Hải. Ủy ban Giám mục này vẫn hoạt động như cũ, đặc biệt nhằm giới nghèo. Sau biến cố Xuân 1972 và sau hiệp định Paris, đầu 1973 Hội đồng Giám mục Việt Nam đă có sáng kiến thành lập một tổ chức gọi là Hội Hợp tác tái thiết Việt Nam tắt là COREV (danh hiệu Cooperation for the Reconstruc-tion in Vietnam). Đây là một tổ chức không vụ lợi, phục vụ nạn nhân chiến tranh và thiên tai băo lụt tại Việt Nam, không phân biệt tôn giáo hay chủng tộc. Hiện giờ, Corev hoạt động trong khuôn khổ Ủy ban Giám mục-Phát triển, trong đó có Caritas Việt Nam. Mọi sự xin giúp đỡ phải qua Caritas Địa phận và chữ kư của Đức Cha Bản quyền liên hệ.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Nguyễn Văn Thuận.

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Lê Văn Ấn (Saigon); Đức Cha Nguyễn Khắc Ngử (Cửu Long); Đức Cha Đalat (Cao Nguyên).


4. Phương tiện Truyền thông Xă hội yểm trợ các Ủy ban trên: Ủy Ban Giám Mục về Truyền thông Xă hội, vẫn thuộc miền Saigon, nhưng được trao cho một vị đặc trách riêng.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Nguyễn Văn B́nh.

- Các Giám mục Ủy viên: Đức Cha Nguyễn Văn Mầu (Cửu Long); Đức Cha Nguyễn Văn Thuận (Duyên Hải); Đức Cha Nguyễn Huy Mai (Cao Nguyên).

5. Các vị Tổng Thư kư.

a. Các vị Tổng Thư kư mới các Ủy ban Giám mục, sẽ do các Giám Mục đặc trách liên hệ đề nghị và Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam phê chuẩn.

b. Theo luật chung văn pḥng thường trực Tổng Thư kư các Ủy ban Giám mục đặt tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam (xem Nội quy Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, điều 2). V́ lư do bất khả kháng, Đức Cha Đặc trách có thể đặt nơi khác. Lúc ấy, vị Tổng Thư kư phải cẩn thận giữ các hồ sơ liên hệ, đồng thời, phải gửi về văn pḥng thường trực  Hội đồng Giám mục Việt Nam bản sao mọi thư tín và tài liệu liên can tới Ủy ban Giám mục của ḿnh. (Xem Nội quy Hội đồng Giám mục Việt Nam, điều 9, đ. và điều 33).

IV. các đặc nhiệm hội đồng giám mục Việt Nam

Một số vấn đề liên hệ tới toàn thể Hội đồng Giám mục Việt Nam nhưng không thuộc Ủy ban Giám mục nào v́ tính cách chuyên biệt của chúng. V́ thế, chúng đứng riêng làm thành những Đặc nhiệm Hội đồng Giám mục Việt Nam. Mỗi Đặc nhiệm được trao cho một vị Giám mục đặc trách.

Trước kia có năm: Hội Thừa sai Việt Nam, Đại học Đalat, Trung tâm Công giáo, Tuyên úy Quân đội và Văn pḥng Liên lạc với các Ḍng tu. Như đă nói ở trên, Văn pḥng này


đă được nâng lên thành một Ủy ban Giám mục. Vậy, hiện c̣n bốn Đặc nhiệm:

1.   Hội Thừa Sai Việt Nam.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Nguyễn Kim Điền.

- Tổng phụ tá: Cha Gioakim Nguyễn Văn Hiếu.

2.   Đại học Đalat. Có ban quản trị gồm.

- Chủ tịch: Đức Cha Nguyễn Văn B́nh.

- Ủy viên 1 kiêm Chưởng ấn: Đức Cha Nguyễn Ngọc Quang.

- Ủy viên 2: Đức Cha Phạm Ngọc Chi.

3.   Trung tâm Công giáo Việt Nam.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Phạm Ngọc Chi.

- Giám đốc: Cha Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh.

- Quản lư: Cha Phêrô Nguyễn Quang Trọng.

4.   Nha Tuyên úy Quân đội.

- Giám mục Đặc trách: Đức Cha Lê Văn Ấn.

( Tông đồ Giáo dân

Như đă nói ở trên, danh xưng Công giáo Tiến hành không c̣n nữa, nhưng hoạt động được chỉ bằng tên đó vẫn c̣n nguyên, và mang một tên khác hợp thời hơn, bao quát hơn. Đó là Tông Đồ Giáo dân, vừa gồm hoạt động tông đồ có tổ chức (như trong Công giáo Tiến hành cũ) vừa gồm cả mọi h́nh thức tông đồ giáo dân khác nữa. Như thế, cần phải có ít nhiều thay đổi trong cơ cấu.

1. Chức vụ Giám đốc Công giáo Tiến hành toàn quốc cũ, cũng như chức vụ Tổng tuyên úy của mỗi Hội đoàn và Phong trào toàn quốc, đă hết nhiệm kỳ.

2. Ủy ban Giám mục Tông đồ Giáo dân sẽ đề nghị một vị Tổng thư kư như các Ủy ban khác, và Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ phê chuẩn.


3. Các Hội đoàn và phong trào đă được công nhận là toàn quốc (nghĩa là vị Tổng Tuyên úy phải do Hội đồng Giám mục Việt Nam chấp thuận bằng giấy tờ do Đức Cha đặc trách kư) sẽ duyệt lại quy chế và nội quy của ḿnh cho hợp với Công đồng Vatican II. Công việc sẽ được thực hiện trong 6 tháng. Vào giữa tháng 6-1974 sẽ đệ tŕnh Hội đồng Giám mục phê chuẩn. C̣n các hội đoàn hoặc Phong trào khác (không có vị Tổng tuyên úy như trên) đương nhiên thuộc phạm vi giáo phận do đó hoàn toàn thuộc quyền Đức Giám Mục của ḿnh trong sinh hoạt cũng như trong việc cắt cử Tuyên úy.

4. Các vị Tuyên úy Giáo phận các Hội đoàn hoặc Phong Trào toàn quốc sẽ do Đức Giám Mục Đặc trách Ủy ban Giám mục về Tông đồ Giáo dân mời họp một ngày gần đây, để trao đổi ư kiến về cách thế mới sinh hoạt Tông đồ Giáo dân, và nếu cần sẽ đề nghị những vị Tổng tuyên úy toàn quốc cho mỗi Hội đoàn hoặc Phong trào. Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ phê chuẩn.

5. Với tính cách cá nhân, mỗi giáo dân, v́ đă được rửa tội và là thành phần Dân Chúa, đều có nghĩa vụ và quyền lợi sinh hoạt tông đồ giáo dân, trong khuôn khổ giáo xứ của ḿnh.

6. Để danh chính ngôn thuận về sinh hoạt Tông đồ giáo dân, Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định như sau:

a. Các đoàn thể công giáo có tổ chức, từ nay chỉ có ba cấp: cấp xứ (họ) là Đoàn, cấp giáo phận là Liên Đoàn, cấp toàn quốc là Tổng Liên Đoàn.

b. Danh xưng Tổng tuyên úy chỉ dành cho chức vụ Tuyên úy toàn quốc do Ủy ban Giám mục về Tông đồ Giáo dân đề cử và Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục phê chuẩn bằng giấy tờ. C̣n các vị Tuyên úy khác, tùy nghi, sẽ được gọi là Tuyên úy giáo phận, hoặc Tuyên úy giáo xứ mà thôi.


c. Để tránh ngộ nhận, ngoài những Hội đoàn hoặc Phong trào (Công giáo Tiến hành cũ) hiện đang hoạt động với sự ưng thuận bằng giấy tờ của Đấng Bản quyền các Đoàn thể hoặc Phong trào mới, có danh xưng Kitô giáo, Thiên Chúa giáo do người Công giáo chủ xướng hoặc danh xưng Công Giáo, phải được sự chấp thuận bằng giấy tờ của Đấng Bản quyền liên hệ nếu thuộc giáo phận), hoặc của Đức Cha Đặc trách Ủy ban Giám mục về Tông đồ Giáo dân (nếu là toàn quốc), để có tính cách tông đồ Giáo dân tập thể và chính thức thuộc sinh hoạt Giáo hội. Phê chuẩn điều lệ và cắt cử Tuyên úy, cũng hoặc do Đức Giám mục giáo phận (cấp giáo phận) hoặc do Ủy ban Giám mục- Tông đồ Giáo dân và Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam (cấp toàn quốc).

7. Đại hội Giáo dân. Hội đồng Giám mục Việt Nam hoan hỉ công nhận và cám ơn sự hy sinh lớn lao của các Cha và anh chị em chiến sĩ trong ủy ban nghiên cứu và tổ chức Đại Hội Giáo dân. Đại hội này đă được ấn định từ hai năm nay, để thôi thúc toàn Dân Chúa học hỏi đường lối mới trong sinh hoạt Giáo hội do Vatican II vạch ra. Những tập tài liệu công phu và quư giá gửi về các giáo phận từ sáu tháng nay, các Đức Cha đă cho học tập cách này hay cách khác. Tất cả sự học hỏi đă được lồng trong đề tài Đức Tin, để nói lên tính cách tôn giáo (mặc dầu là tôn giáo nhập thể) của Đại hội tương lai. Vậy Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định:

a. Giữ lại tất cả thành phần giáo dân của Ủy ban nghiên cứu và tổ chức Đại hội giáo dân, như sẵn có. C̣n thành phần Giáo Sĩ trong Ủy ban nói trên, trong giai đoạn này, sẽ do Ủy ban Giám mục- Tông đồ Giáo dân ấn định theo những thay đổi mới có, trong cơ cấu mục vụ chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

b. Đức Giám mục Đặc trách Ủy ban Giám mục-Tông đồ Giáo dân, trong một ngày gần đây, sẽ họp với Ủy ban


nghiên cứu và tổ chức Đại Hội Giáo dân, để ấn định ngày giờ và địa điểm của Đại hội.

( Năm Thánh

1. Năm thánh 1975 là Năm thánh đặc biệt, phần nào khác với các Năm thánh trước. Đức thánh Cha Phaolô VI đă tuyên bố khai mạc vào ngày lễ Hiện xuống 10-6-1973 và đă nhấn mạnh hai mục tiêu chính là: Canh tân và Ḥa giải. Đây là mục đích chính của Năm thánh 1975. Yếu tố ân xá được nhấn mạnh trong các Năm thánh trước, vẫn c̣n được giữ trong Năm thánh này nhưng đă trở thành điểm thứ yếu. Chính v́ thế, mà Năm thánh được khai mạc sớm cho toàn thế giới công giáo để huy động Dân Chúa tập lực canh tân đời sống trong việc ḥa giải với Chúa với tha nhân.

2. Mặc dù là thứ yếu, ân xá nói chung và ân toàn xá nói riêng, vẫn là một đặc điểm của mọi Năm Thánh. V́ thế, Thánh bộ Xá giải đă ban Sắc lệnh ngày 24-9-1973, dành cho các Hội đồng Giám mục mỗi nước quyền ấn định thời gian hưởng ân toàn xá cho các địa phận thuộc thẩm quyền.

3. Hội đồng Giám mục Việt Nam đă quyết định về khoảng thời gian đó như sau: được hưởng ân toàn xá từ Chúa nhật 1 mùa Vọng 1973 cho tới hết ngày 24-12-1974. Các điều kiện khác, cùng mọi chi tiết, phải theo Sắc lệnh dẫn thượng của Thánh bộ Xá giải đă được đăng trên các bản Thông tin giáo phận, hoặc được phổ biến do Ủy ban Năm thánh toàn quốc.

Làm tại Saigon ngày 10-1-1974

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam