Thông cáo
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Lời Ṭa Soạn. Sau một tuần lễ Tĩnh tâm tại Đàlạt, từ 26 tới 30-7, các Đức Giám mục Việt Nam đă ra một Thông cáo nh́n lại hướng đi trong 6 tháng vừa qua đối chiếu với hướng đi của Công đồng Vatican 2. Thông cáo đồng thời ghi lại cuộc họp của Thượng Hội Đồng Giám mục thế giới sẽ tổ chức vào ngày 30-9-1971 tại Roma và phần cộng tác của Giáo hội Việt Nam vào công cuộc Thượng Hội đồng. Phần chót của Thông cáo nhắc lại những nguyên tắc bầu cử sắp diễn ra vào tháng 8 và tháng 10 tới. Sau đây là nguyên văn bản Thông cáo.

Kính gửi các cha, Tu sĩ nam nữ
và anh chị em giáo hữu Việt Nam.

Từ Đàlạt, chúng tôi gửi tới quư Cha, quư Tu sĩ nam nữ và toàn thể anh chị em giáo hữu lời chào thân ái và một phép lành tràn đầy ơn Chúa.

Hè 1971 hầu như đă qua. Trong thời gian đó, đâu đâu chúng tôi cũng thấy tổ chức những cuộc tĩnh tâm, đặc biệt là cho các Cha và các Tu sĩ. Phần lớn các Giám mục với tư cách là chủ chăn, đă tới tham dự những cuộc tĩnh tâm ấy, hoặc suốt kỳ tĩnh tâm, hoặc trong ngày khai mạc, bế mạc. Trong mấy ngày, từ 26 tới 30-7-1971, đến lượt chúng tôi những người tuy bất xứng nhưng đă được Chúa trao cho sứ


mệnh chăn dắt đoàn chiên Chúa (I Pet. 5, 2; Act. 20, 28), chúng tôi gặp nhau trong tinh thần cộng đoàn giám mục, và dành ít ngày để tĩnh tâm.

mục đích

Cũng như các Cha, các Tu sĩ nam nữ và một số giáo dân, chúng tôi về đây nhằm mục tiêu chính có tính cách bản thân, là lo liệu việc riêng linh hồn, kiểm điểm đời sống thiêng liêng trong những tương quan với Chúa, với tha nhân. Chúng tôi muốn cho cuộc gặp gỡ trong Chúa này ḥa với những cuộc tĩnh tâm của các Cha, các Tu sĩ và một số anh chị em giáo dân, để tất cả Giáo hội Việt Nam trở thành một nhà Tiệc ly rộng lớn, ở giữa "có Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu" (Act. 1, 14) đầy Chúa Thánh Thần, hầu khai trương một lễ Hiện xuống mới trên mảnh đất Việt Nam đầy đau thương này.

Nhân dịp này, chúng tôi cùng nhau kiểm điểm việc thi hành những quyết nghị Đại hội Giám mục Á châu (từ 23 tới 29-11-70) và của Hội đồng Giám mục Việt Nam (từ 4 tới 10-1-71) trên toàn quốc. Chúng tôi cũng muốn đúc kết ở đây những suy tư của Dân Chúa tại Việt Nam về chức Linh mục, về Công b́nh trên thế giới (hai đề tài của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới tại Rôma ngày 30-9-1971 sắp tới) và về một vấn đề thời sự.

Kiểm điểm

1. Nhắc lại phiên họp Hội đồng Giám mục Việt Nam
đầu năm 1971

Như các Cha, các Tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo hữu đă biết, Hội đồng Giám mục Việt Nam đă nhóm vào đầu năm vừa rồi. Chúng tôi đă theo tinh thần Đại hội Giám mục


Á châu, t́m một hướng đi mới cho công việc mục vụ tại Việt Nam. Phiên họp đă bế mạc ngày 10-1-71. Sau đó, việc sắp xếp văn kiện cũng mất gần một tháng, và tới đầu tháng 2-71, các cơ cấu mục vụ do Hội đồng Giám mục thiết lập mới bắt đầu thành h́nh, qua những cuộc hội họp cấp Miền mục vụ, rồi đến cấp Toàn quốc (Xem Thông cáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam và Thông cáo của VPTT/Hội đồng Giám mục Việt Nam từ số 3-7). Việc thành h́nh này măi tới hết tháng 5-1971 mới được kể hầu như hoàn tất. Biên bản cuộc họp các Ủy ban cấp toàn quốc đă được đăng tải trong báo Sacerdos và trên một số cơ quan ngôn luận công giáo. Biên bản nào cũng gồm ba phần: nguyên tắc hướng dẫn, cơ cấu tổ chức, và hành động cụ thể. Để khỏi nhắc lại, chúng tôi tuyên bố ở đây là: tất cả các biên bản của các Ủy ban thuộc bốn Miền mục vụ được đăng tải trên nguyệt san Sacerdos số 115 là văn kiện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam và mong mỏi các chỉ thị trong những văn kiện ấy sẽ được nghiêm chỉnh thi hành.

2. Hướng đi trong sáu tháng vừa qua

Nh́n lại quăng đường sáu tháng vừa qua chúng tôi thấy, chúng ta đang đi theo một hướng rất hợp với hướng đi của Công đồng Vatican II, về phương diện tổ chức và thi hành.

Tổ chức. Về tổ chức chúng ta đă cố gắng tạo nên một sự liên đới giữa các phần tử Dân Chúa tại Việt Nam. Liên đới giữa Giám mục và Giám mục: nếu ai theo dơi sự thành h́nh của các Ủy ban Hội đồng Giám mục Việt Nam trong mấy tháng qua, sẽ thấy rằng các cơ cấu mục vụ mới tạo dịp cho các Giám mục thuộc Miền khác nhau năng gặp nhau hơn. Mỗi Ủy ban được trao cho các Giám mục của mỗi Miền nhưng đ̣i phải có sự hiện diện của các Đức Cha Ủy viên thuộc các Miền khác nữa. Có thể nói, mỗi lần họp Ủy ban


cấp toàn quốc là họp một nửa Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Liên đới giữa Giám mục và Linh mục: Ủy ban nào cũng gồm một số khá đông linh mục cộng tác với Giám mục đặc trách hay phụ trách, trong chức vụ hoặc Giám đốc (Ủy ban Truyền thông Xă hội), hoặc Tổng Thư kư (Ủy ban Phụng vụ, Ủy ban Truyền bá Phúc âm, Ủy ban Phát triển), hoặc Chủ tịch (Ủy ban Giáo dục), hoặc hội viên hay là chuyên viên.

Liên đới giữa Giáo phẩm và Giáo dân: trong các Ủy ban của Hội đồng Giám mục Việt Nam Tu sĩ và Giáo dân có một chỗ đứng khá quan trọng, nhất là trong Ủy ban Truyền thông Xă hội và Truyền bá Phúc âm. Riêng trong Ủy ban Giáo dục, một Tu sĩ làm Tổng Thư kư với nhiều cố gắng và hy sinh. Ấy là chưa kể mỗi một Ủy ban lại có một số Hội đoàn Công Giáo Tiến Hành toàn quốc cộng tác.

Nói tóm lại, chưa bao giờ có một bầu không khí liên đới trách nhiệm náo nhiệt cho bằng bây giờ. Nó sẽ c̣n được tăng gia trong những năm sắp tới. Tuy nhiên, công cuộc cải tổ này đ̣i hỏi nhiều năm học tập và thực thi, mới mong có thành quả tốt đẹp.

Thi hành. Trong sáu tháng qua, chúng tôi đă cố gắng đem ra thi hành ngay một số quyết nghị của Đại hội Giám mục Á châu tại Manila.

Đối với giới nghèo. Các Địa phận - nhất là thuộc Miền Cửu long - đang xúc tiến thương lượng để Chính phủ truất hữu ruộng Nhà Chung. Mong công việc chóng được kết quả, để Giáo hội Việt Nam không hưởng đặc ân và được phục vụ giới nghèo.

Giới trẻ. Đối với giới trẻ, chúng tôi đă tổ chức lại Ủy ban Giáo dục. Cả một màng lưới trường học - nhất là các nơi thôn quê hẻo lánh và các xóm lao động nghèo - bao trùm


hơn nửa triệu thanh thiếu niên (thống kê 1971: 529.802 học sinh). Trong số này, một nửa là thanh thiếu niên không công giáo. Theo thống kê của Bộ Văn hóa Giáo dục 1969, trong số 292 các trường Trung học của các tôn giáo, có 222 trường công giáo (tức 76%). Ngoài ra, về cấp Tiểu học, trường công giáo chiếm 80% tổng số các tư thục Tiểu học toàn quốc. Đôi khi anh chị em nghe thấy người ta chỉ trích trên báo chí hay bằng cách rỉ tai rằng: Giáo hội Việt Nam chỉ mở trường cho các con nhà giầu. Họ dựa vào sự hiện diện của một số ít trường công giáo dành riêng cho giới giầu nơi một vài đô thị lớn. Nhưng họ quên rằng, phần lớn các tư thục công giáo nằm ở thôn quê, và số ít trường có khả năng tài chánh dồi dào, phải hỗ trợ cho số đông các trường khác, nghèo hơn. Riêng cho giới sinh viên, Giáo hội Việt Nam đă đầu tư vào đó một số khá lớn hằng năm, để đào tạo nhân tài cho đất nước. Ban Giám đốc và ban Giảng huấn của Đại học Đàlạt đă được tăng cường. Các cơ sở mỗi năm mỗi thêm - nhất là những cư xá sinh viên - để đáp ứng đ̣i hỏi của giới phụ huynh lo lắng cho con em của họ. Ủy ban Phát triển trong đó có Caritas, đă và sẽ tăng gia các lớp huấn luyện nghề nghiệp. Dĩ nhiên, nhu cầu quốc gia quá lớn, Giáo hội Việt Nam chỉ làm công việc "hợp tác với các cộng đồng khác và với chính quyền, trong tinh thần cởi mở, cảm thông và b́nh đẳng" (Tuyên ngôn Manila, số 15). Giáo hội Việt Nam cũng không quên các trẻ em xấu số. Trong số 120 viện cô nhi trên toàn quốc với số 17.531 em cô nhi, Giáo hội Việt Nam phải cáng đáng 79 viện (tức hơn 65%) với 10.457 em cô nhi (hơn 59%). Nếu theo tỉ lệ công giáo trong cộng đồng quốc gia là 10%, thời công việc xă hội Giáo hội Việt Nam đảm trách quả là nặng nề.

Nói lên những thành quả trên đây, không phải để tự măn, song để chúng ta càng cố gắng thêm hơn.


( hướng về thượng hội đồng giám mục thế giới tại rôma

Như chúng ta đă biết, Đức Thánh Cha sẽ triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục thế giới vào ngày 30-9-1971 sắp tới. Đề tài thảo luận sẽ là: "Chức tư tế thừa tác" và "Công b́nh trên thế giới". Chúng tôi muốn nói qua về phần cộng tác nhỏ bé của giáo hội Việt Nam vào công việc suy tư về hai vấn đề nói trên.

1. Chiến dịch tham khảo ư kiến
về chức linh mục thừa tác

Ngày 24-2-1971, Văn pḥng Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục đă gửi tới các Hội đồng Giám mục khắp thế giới một bản tài liệu dày 54 trang in, nói về chức phận và đời sống linh mục. Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục nghiên cứu tài liệu ấy, đă quyết định cách thức học hỏi và suy tư, và trao một Ủy ban chuyên môn tuyển lựa những câu hỏi rút từ tài liệu chính thức. Ủy ban chuyên môn nói trên gồm hai Cha xứ, hai Cha Giáo sư Thần học và hai Cha Ḍng. Sau mấy phiên họp trao đổi ư kiến, Ủy ban đă thỏa thuận về một số mệnh đề giáo lư về chức linh mục, để các Cha có thể trả lời: đồng ư, không đồng ư, hay đồng ư với một số sửa đổi.

Văn pḥng thường trực Hội đồng Giám mục đă cho in ronéo hơn 2.000 tập dày 9 trang đánh máy. Ngày 15-4-1971, Văn pḥng đă chuyển tới các Đức Cha số bản câu hỏi đúng với số linh mục mỗi địa phận, để các ngài phân phát cho các Cha thuộc quyền. Sau đó, Văn pḥng đă nhận được gần 400 trả lời.

Song song với chiến dịch suy tư nơi các linh mục, Ủy ban thường vụ Hội đồng Giám mục cũng đă tham khảo ư


kiến giáo dân về một số vấn đề liên can tới chức vụ linh mục. Sự hưởng ứng khá nồng nhiệt, với gần 5.000 giáo dân đă trả lời.

2. Giáo sĩ Việt Nam nghĩ ǵ về chỗ đứng của Linh mục?

Hầu hết các người trả lời đều đồng ư với giáo lư cổ truyền của Giáo hội về chức linh mục, có thể tóm lại trong mấy mệnh đề dưới đây, được các Giám mục và các Linh mục tham dự chiến dịch biểu quyết như sau.

Mệnh đề 1: "Trong Giáo hội, chức tư tế thừa tác có phẩm trật bắt nguồn từ các Tông đồ. Chức đó do chính Chúa Kitô muốn và là chính yếu đối với Giáo hội. Nhờ chức đó mà Chúa tiếp tục trong lịch sử tác động cứu rỗi bằng Bí tích, cho mọi thế hệ". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            344

Không đồng ư:  3

Đồng ư với một vài sửa đổi:     27

Mệnh đề 2: "Trong Tân ước không có chức Tư tế nào khác ngoài chức Tư tế của Chúa Kitô. Chức Tư tế này vừa hoàn hảo hóa vừa vượt xa các chức Tư tế cũ. Trong Giáo hội, tất cả các tín hữu đều tham dự chức Tư tế của Chúa Kitô. Tuy nhiên, chức Tư tế thừa tác có phẩm trật rất cần để xây dựng Nhiệm thể, để trong Nhiệm thể này mỗi tín hữu thực hiện ơn kêu gọi làm Kitô hữu của ḿnh". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            364

Không chấp nhận:          2

Đồng ư với một vài sửa đổi:        10


Mệnh đề 3: "Một ḿnh Chúa Kitô đă hiến tế trọn vẹn, tức là đă tận hiến chính ḿnh cho Đức Chúa Cha. Thừa tác vụ của Giám mục hay của Linh mục sở dĩ có tính cách tư tế, là v́ hiện diện hóa công việc phục vụ của Chúa Kitô trong việc rao giảng hữu hiệu Tin Mừng, trong việc triệu tập và dẫn dắt cộng đồng Dân Chúa, trong việc tha tội, trong việc dâng Lễ Thánh Thể, nhờ đó mà hiến tế duy nhất của Chúa Kitô được hiện tại hóa". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            368

Không đồng ư:  1

Đồng ư với một vài sửa đổi:     8

Mệnh đề 4: "Khi một Kitô hữu nào được gọi lên chức tư tế thừa tác, không phải chỉ nhận lấy một chức vụ nào hời hợt bên ngoài, mà c̣n tham dự một cách đặc biệt vào chính chức tư tế của Chúa Kitô, để đại diện Ngài là Đầu của Cộng đồng, trước mặt Cộng đồng. Như vậy, thừa tác vụ là một h́nh thức sinh hoạt đặc biệt để lo việc phụng sự trong Giáo hội, như Chúa Kitô. Việc tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô, Đầu Nhiệm thể, được thực hiện rơ rệt nhất trong việc chủ sự Lễ Thánh Thể. Việc chủ sự này rất cần, để thực hiện đầy đủ việc phụng tự kitô giáo. Rao giảng lời Chúa và các công việc mục vụ khác, đều hướng về Thánh thể, là Bí tích cúng hiến toàn diện thân phận người kitô hữu sống trong thế gian". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            324

Không đồng ư:  1

Đồng ư với một vài sửa đổi:     9

Mệnh đề 5: "Phải công nhận rằng, trong Giáo hội sơ khai đă có một sự tiến triển nơi các cơ cấu Giáo hội. Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng một số Giáo đoàn chỉ được cấu


thành do ơn đoàn sủng và khác với Giáo đoàn được thành lập với chức Tư tế thừa tác. Trong Giáo hội sơ khai, không có đối lập mà chỉ có bổ sung giữa Chúa Thánh Thần tự do ban ơn và cơ cấu Giáo hội thừa tác". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            314

Không đồng ư:  7

Đồng ư với một vài sửa đổi:     8

Mệnh đề 6: "Ngay từ lúc Giáo hội khai sinh, việc thụ phong Tư tế đă được thực hiện như là một tác động của Chúa Thánh Thần. Cuộc thụ phong này có tính cách vĩnh cửu, không bao giờ mất đi được. Thụ phong Tư tế một lần, là làm Tư tế măi măi". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            355

Không đồng ư:  2

Đồng ư với một vài sửa đổi:     16

Mệnh đề 7: "Ở Việt Nam Giáo sĩ vốn có một vai tṛ quan trọng giúp tín hữu phát triển, hầu thoát khỏi cảnh nghèo khó, khỏi ách bất công, áp bức. Tuy nhiên, sự phát triển cần được ư thức theo nghĩa toàn diện (Populorum Progressio) và ta không nên quên nhấn mạnh vào phần tuyên xưng Tin Mừng, gây niềm tin nơi người ḿnh phục vụ. Do đó cần giúp Giáo dân ư thức rơ rệt về việc phát triển, để họ gánh lấy trách nhiệm theo đấng bậc họ, và để Linh mục cũng có thể giữ đúng trách nhiệm hợp với chức vụ của ḿnh". Có đồng ư chấp nhận mệnh đề trên không?

Đồng ư:            350

Không đồng ư:  4

Đồng ư với một vài sửa đổi:   17


 

3. Giáo dân Việt Nam nghĩ ǵ về cách sống
độc thân trinh khiết của Linh mục?

Câu hỏi thứ nhất được đặt ra cho Giáo dân, là: "Nghĩ thế nào về Linh mục độc thân. Có cần cho Giáo hội không"? Trả lời:

Có cần:      4.274

Không cần: 13

Câu hỏi thứ hai, là: "Nghĩ thế nào về Linh mục có gia đ́nh. Linh mục có nên lập gia đ́nh không"? Trả lời:

Không nên:          4.576

Nên: 21

Như vậy, hầu hết giáo dân hưởng ứng chiến dịch thuộc mọi thành phần xă hội, đă đồng thanh trả lời, không chấp nhận Linh mục lập gia đ́nh và Giáo hội cần những Linh mục độc thân. Và đây cũng là truyền thống ngàn xưa của Giáo hội La tinh.

Thực ra, có những lư do thần học rất chính xác biện hộ cho hai câu trả lời nói trên. Linh mục là người tận hiến đời sống cho Chúa Kitô, phải nên giống như Ngài, sống đời sống Ngài đă sống, sống theo cách Ngài đă sống: đó là đời sống và cách sống khiết trinh. Làm Linh mục là chấp nhận một T́nh yêu không chia xẻ nghĩa là dành hết T́nh yêu cho Chúa và cho các linh hồn.

Ngoài ra, c̣n có lư do thực tiễn, như: Linh mục độc thân khiết trinh sẽ không bận bịu với gia đ́nh, do đó dễ dàng phục vụ Chúa hơn. Linh mục độc thân khiết trinh sẽ giầu ḷng bác ái hơn, nghĩa là sẵn sàng yêu mọi người, làm ích cho mọi người, nhất là những người kém may mắn, v.v...

Như vậy, toàn thể Dân Chúa ở Việt Nam, theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, đă nói lên ư nghĩ của ḿnh, cũng là ư


nghĩ của Giáo hội phổ biến, của quyền Giáo huấn, và cuối cùng, cũng là ư nghĩ và ước muốn của chính Chúa Kitô, vị Linh mục Thượng phẩm là Mẫu mực cho tất cả những thế hệ linh mục.

Các Đức Cha đại diện chúng tôi và đại diện Giáo hội Việt Nam sẽ nói lên ư nghĩ này tại Thượng Hội đồng Giám mục Rôma.

4. Công b́nh trên thế giới

Đây là đề tài thứ hai sẽ được đem ra thảo luận tại Thượng Hội đồng Giám mục thế giới. Giáo hội không thuộc về thế gian nhưng sống trong thế gian, chia xẻ số phận thế gian và có nhiệm vụ giúp cải thiện thế gian (xem Jo. 17, 14-17), nên không thể không lưu tâm đến vấn đề thời sự đang gây sôi nổi dư luận thế giới, là: các quốc gia phải tôn trọng quyền lợi nhau, các thành phần trong cùng một quốc gia phải sống ḥa hợp trên thế quân b́nh và nghĩa vụ.

a. Trên b́nh diện quốc tế

Chúng tôi nhắc lại ở đây mấy nhận xét của các nhà chuyên môn xă hội học thuộc Ủy ban Giáo hoàng Công lư và Ḥa b́nh đă đưa ra để chuẩn bị những cuộc thảo luận tại Rôma.

Nhận xét thứ nhất: Của cải trên thế giới không được chia đồng đều giữa các quốc gia. 20% dân thế giới nắm trong tay 80% tài sản, và ngược lại, 80% dân thế giới chia nhau 20% tài sản c̣n lại. T́nh trạng này sẽ c̣n kéo dài lâu năm nữa, và trong một tương lai có thể thấy trước được, các nước giầu cứ giầu măi và sự giầu có cứ tăng lên mỗi năm; những nước nghèo cứ nghèo măi và sự nghèo đói này cũng cứ tăng lên mỗi năm.


Nhận xét thứ hai: Sự tương trợ quốc tế mới chỉ có tính cách tượng trưng. Nước giầu giúp nước nghèo, nhưng sự giúp đó như nhỏ giọt hay với hậu ư chính trị. Nhiều nước đem cho những thặng dư của họ để khỏi phải bán phá giá. Hầu hết những của đó lại thuộc loại đồ ăn áo mặc đă làm sẵn. Sự giúp đỡ này chỉ có hiệu nghiệm nhất thời và vẫn không chữa được căn bệnh nghèo đói của thế giới đệ tam.

Nhận xét thứ ba: Có một sự cạnh tranh ác nghiệt giữa các cường quốc giầu có để tranh nhau ảnh hưởng nơi các nước nhược tiểu. Việc tranh giành ảnh hưởng này, thoạt đầu có tính cách chính trị, nhưng dần dần biến thành cạnh tranh thị trường, và nhất là cạnh tranh mua nguyên liệu với một giá rẻ mạt. Cái khổ của những nước nghèo nhưng giầu nguyên liệu, là phải bán cho tư bản những nguyên liệu của ḿnh với một giá quá rẻ, để rồi phải mua lại với một giá đắt những sản phẩm làm bằng những nguyên liệu nói trên. Đó là những trường hợp dầu lửa, cao xu, mỏ kim khí, v.v...

Để thay đổi t́nh trạng nói trên, chúng tôi kêu gọi các cường quốc giầu có hăy duyệt lại chính sách kinh tế và viện trợ thương mại quốc tế của họ. Họ hăy ư thức rằng: của cải Đấng Thượng Đế ban cho mọi người, mỗi cá nhân mỗi quốc gia chỉ là những người quản trị những tài sản ấy hầu mưu ích chung cho mọi người. Đàng khác, nếu các nước giầu cứ giầu thêm măi và các nước nghèo cứ nghèo thêm măi, quân b́nh thế giới sẽ bị tổn thương và người ta không thể lường được những hậu quả của một cuộc cách mạng: đại đa số nghèo chống thiểu số giầu. Cuộc cách mạng này sẽ chỉ là đổ vỡ hoàn toàn, không đem lại lợi ích cho người giầu cũng như cho kẻ nghèo.

 


b. Nh́n vào t́nh trạng quốc nội Việt Nam

Cả Bắc lẫn Nam, nhận xét đầu tiên của chúng tôi là: Việt Nam đang bị giằng co giữa hai thế lực tranh giành ảnh hưởng. Người Việt Nam đang là nạn nhân của t́nh trạng quốc tế chúng tôi vừa phác họa trên đây. T́nh h́nh xă hội Việt Nam là phản ảnh của t́nh trạng quốc tế: một thiểu số giầu cứ giầu thêm măi và đại đa số nghèo cứ nghèo thêm măi. Người ta đưa ra nhiều nguyên nhân của t́nh trạng bất công này của xă hội: nào là tại tham nhũng, nào là tại thế lực ngoại bang, nào là đầu cơ bất chánh. Chúng tôi nghĩ nguyên nhân sâu xa nhất, là họ thiếu một đức bác ái chân thành, họ không muốn nh́n nơi đồng bào họ một người anh em ruột thịt, cùng một giang sơn, cùng một lịch sử, cùng một phong tục, cùng một ngôn ngữ. Họ đă quá ích kỷ, để chỉ nh́n tư lợi của họ. Họ thiếu quan niệm đứng đắn về công ích. Họ có bao giờ nghĩ rằng đại đa số nghèo biết đâu sẽ có ngày tức nước vỡ bờ, sẽ gây nên những cuộc cách mạng, mà trong đó cả giầu lẫn nghèo không ai được lợi cả.

Chúng tôi kêu gọi lương tâm của các Cha, của anh chị em giáo hữu: hăy có một thái độ theo Phúc âm đối với của cải. Của cải chỉ là những phương tiện chứ không bao giờ được phép là mục đích đời sống chúng ta. Chúng tôi kêu gọi chính quyền, với luật pháp công b́nh trong tay, với những cơ quan kiểm soát nghiêm chỉnh, hăy cương quyết tận diệt bất công, bất cứ từ đâu tới, để cho giới nghèo chẳng những không trở nên nghèo thêm mà c̣n có thể vươn tới một đời sống xứng đáng với nhân phẩm hơn.

Vấn đề bầu cử

Trong những tháng tới, sẽ diễn ra các cuộc bầu cử Hạ nghị viện, Tổng thống và Phó Tổng thống, theo Hiến pháp Việt Nam Cộng Ḥa. Chắc các Cha và anh chị em giáo hữu


đă theo dơi báo chí và ư thức được tầm quan trọng những cuộc bầu cử ấy. Với tư cách là chủ chăn, chúng tôi lưu ư các Cha và anh chị em mấy điểm sau đây.

1. Phải tham gia thật đông

Trước những vấn đề trọng đại của quốc gia, người công giáo Việt Nam không thể làm ngơ như khách bàng quan, như người ngoại cuộc. Chúng tôi xin tất cả tham gia bỏ phiếu thật đông, để thi hành quyền lợi và nhiệm vụ công dân của một nước dân chủ, đóng góp phần ḿnh vào công cuộc chung.

2. Phải chọn lựa thật đúng

Phải lựa chọn thật đúng, dựa trên một số tiêu chuẩn cần thiết: văn hóa, đức độ và lập trường chính trị.

Về văn hóa, ta không thể chọn người dốt nát thiếu học thức, v́ "mù dắt mù, cả hai sẽ sa hố" (Mt. 15,14). Về đức độ, ta không thể nào lựa chọn những người bê bối, tham lam, ích kỷ, vào nhà lập pháp để làm luật cho chúng ta giữ, hay để lănh đạo quốc gia. Về lập trường chính trị, chúng tôi muốn cho đất nước này được tự do dân chủ, trong đó mọi tự do - nhất là tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng - được bảo đảm chắc chắn.

3. Cần phải giữ tối thiểu kỷ luật đầu phiếu

Cần phải gạt mọi tư lợi, mọi t́nh cảm cá nhân, loại bỏ những tham vọng nguy hiểm, để nh́n thẳng vào đại cuộc quốc gia, tạo tinh thần hợp nhất trong tư tưởng và trong hành động, hầu đất nước này tránh được sự phân hóa toàn diện, và có cơ tồn tại trong độc lập và hạnh phúc.


lời nhắn nhủ cuối cùng

Quư Cha và anh chị em thân mến, hoàn cảnh hiện tại của quốc tế và của xă hội chúng ta đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề gay go và phức tạp. Chúng tôi hoàn toàn thông cảm với Quư Cha và anh chị em đang gặp nhiều khó khăn trong việc thi hành nghĩa vụ và sống đời sống Kitô hữu. Nhưng nếu chúng ta trung thành với Chúa, với ơn thiên triệu. Chúa sẽ không bỏ chúng ta. Ơn của Ngài có sức giúp chúng ta sống trong sạch trên trần gian và ǵn giữ chúng ta khỏi sự dữ. Hơn nữa, điều mà Ngài mong đợi, là chúng ta phải trở nên nhân chứng của Ngài giữa anh em đồng bào trong tinh thần bác ái và phục vụ như Ngài đă dạy. Những khó khăn do t́nh trạng xă hội gây nên, không những không được làm cho chúng ta nản ḷng thối chí, mà c̣n phải thúc đẩy chúng ta chung sức với nhau và với những người thiện tâm, để xây dựng nước nhà trên những nền tảng chân chính.

             Đàlạt, ngày 30-7-1971

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam