Tài liệu Mục Vụ chuẩn bị
Mừng Năm Thánh 2000

"Đức Giêsu Kitô vẫn là một,
hôm qua cũng như hôm nay
và măi đến muôn đời" (Dt 13, 8).

Chuẩn bị năm thánh 2000,
tiến tới thiên niên kỷ thứ ba.

Anh chị em thân mến,

Như anh chị em biết: ngày 10 tháng 11 năm 1994, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă ban hành Tông thư "TERTIO MILLENNIO ADVENIENTE" (Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba), ngỏ lời với các giám mục, linh mục và phó tế, các nam nữ tu sĩ và toàn thể giáo dân thuộc Hội thánh Công giáo về việc chuẩn bị Năm Thánh 2000. Hiệp thông với Đức Thánh Cha và Hội thánh toàn cầu, chúng tôi muốn dùng chính nội dung của bức Tông thư này để tŕnh bày ư nghĩa thời điểm Năm Thánh 2000 và cũng chính từ đó định hướng mục vụ cho Hội thánh Việt Nam trong những năm cuối cùng của thế kỷ 20.


i. ư nghĩa thời điểm năm thánh 2000

1. "Đức Giêsu Kitô hôm qua và hôm nay vẫn là một"
(Dt 13, 8)

"Đức Giêsu hôm qua": cách đây 2000 năm.

- Đức Giêsu Kitô: Ngôi Lời Thiên Chúa
đă trở nên người phàm.

Trong sách Tin Mừng Luca, chúng ta thấy tŕnh bày vắn gọn về hoàn cảnh Mẹ Maria sinh hạ Đức Giêsu, một con người lịch sử đồng thời là Con Đấng Tối cao (Lc 2, 1.3-7). Trước đó, trong tŕnh thuật Truyền tin, câu trả lời của Đức Maria trước sứ điệp của thiên sứ Ga-bri-en thật rơ ràng: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1, 38) và "chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người" (Kinh Truyền tin). Thật vậy, chưa bao giờ, trong lịch sử loài người, mọi sự lại tùy thuộc vào việc ưng thuận của một con người thụ tạo cho bằng giây phút đó. Tin Mừng Thánh Gioan thu tóm tất cả chiều sâu của mầu nhiệm Nhập thể trong một câu ngắn: "Và Ngôi Lời đă trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1, 14). C̣n Thánh Phaolô Tông đồ viết rằng Người là "Trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo" (Cl 1, 15).

- Nhờ Đức Giêsu Kitô, người phàm
đă trở nên con Thiên Chúa.

Sự kiện Ngôi Lời vĩnh cửu, khi đến thời viên măn đă nhận lấy thân phận tạo vật làm cho biến cố ở Bê-lem cách đây 2000 năm có một giá trị đặc biệt đối với vũ trụ: nhờ nhập thể, trật tự vũ trụ đă được đổi mới, nghĩa là tất cả đă hướng về Chúa Kitô để nhờ Chúa Kitô hướng về Thiên Chúa, như lời Thánh Phaolô: "Tất cả đều thuộc về anh em,


mà anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô lại thuộc về Thiên Chúa" (1 Cr 3, 23). Riêng đối với nhân loại, Đức Kitô, Đấng cứu thế, là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, và như lời Công Đồng Va-ti-căng II quả quyết, Người đă "bày tỏ cho con người thấy bản chất đích thực của ḿnh và khám phá ra ơn gọi cao cả của ḿnh...; với cuộc nhập thể của Người, một cách nào đó Con Thiên Chúa đă nên một với mọi người" (Mục vụ 22).

- Nơi Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa
và con người gặp nhau.

Việc Con Thiên Chúa tự nguyện dấn thân vào lịch sử loài người vừa biểu hiện t́nh yêu tuyệt vời mà Thiên Chúa dành cho con người vừa đáp ứng khát vọng thường hằng của con người t́m kiếm Chân, Thiện, Mỹ là chính Thiên Chúa. Đây là một mầu nhiệm của ân sủng. Như thế, trong Đức Kitô, tôn giáo không c̣n chỉ là một "sự ḍ dẫm t́m kiếm Thiên Chúa" (Cv 17, 17), nhưng đó là một lời đáp trả của đức tin đối với Thiên Chúa là Đấng tự mặc khải. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa tự bày tỏ cho con người và cũng chính trong Đức Kitô mà toàn thể loài người và mọi tạo vật đáp lại Thiên Chúa. Nhờ Chúa Kitô mà mỗi tạo vật đều là một biểu hiện của vinh quang Thiên Chúa, nhưng nhất là con người, một sự hiển linh của vinh quang Thiên Chúa, được mời gọi sống sự sống sung măn trong Thiên Chúa.

- Nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Đức Giêsu Kitô,
Thiên Chúa cứu chuộc con người và vũ trụ.

Hơn thế nữa, trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa không chỉ nói với con người mà c̣n t́m kiếm con người, như người cha t́m gặp đứa con bị lạc mất (Lc 15, 1-7). Thực vậy, con người đă tự xa lánh Thiên Chúa như Adam lẩn trốn trong lùm cây ở vườn địa đàng (Kn 3, 8-10). Con người bị Satan


làm cho lung lạc (Kn 3, 5). Satan đă lừa phỉnh rằng con người chính là chúa và có thể thống trị thế giới theo sở thích của ḿnh chứ không phải tùng phục ư muốn của Thiên Chúa. Trong khi nhờ vai tṛ trung gian của Chúa Con để t́m kiếm con người. Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người ra khỏi những ngả đường xấu mà con người luôn có xu hướng muốn tiến vào sâu hơn. Nói "đưa con người ra khỏi" những ngả đường ấy nghĩa là nói rằng Thiên Chúa cho con người biết họ đă tạo ra lối đi sai lạc, điều đó cũng có nghĩa là Thiên Chúa thắng vượt sự dữ đang có mặt trong lịch sử loài người. Thắng vượt sự dữ chính là công tŕnh cứu chuộc. Công tŕnh này thực hiện qua hiến tế thập giá của Đức Kitô, nhờ đó con người được giải thoát khỏi tội lỗi và được giao ḥa với Thiên Chúa, giao ḥa với nhau và giao ḥa với vũ trụ vật chất này. Đó là những mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa đă được mặc khải cho con người nhờ Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc.

- Tất cả đều do tác động của Chúa Thánh Thần.

Sở dĩ người phàm có thể ḍ thấu những ǵ sâu thẳm của Thiên Chúa (Cr 2, 10) là nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Cha đă gửi đến nhân danh Con của Người, Đấng đă đưa dẫn con người vào trong chiều sâu ấy nhờ việc nhập thể và hy tế của Đức Kitô. Do đó, Kitô giáo là tôn giáo trong đó người ta "ở trong ḷng Thiên Chúa", nghĩa là người ta tham dự vào sự sống thâm sâu của Người.

2. "Đức Giêsu hôm nay": Năm Thánh 2000

- Nhờ Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập thể,
thời gian vươn tới vĩnh cửu.

Khi nói về cuộc sinh hạ của Con Thiên Chúa, Thánh Phaolô đă đặt sự kiện đó vào trong "sự viên măn của thời


gian" (Gl 4, 4). Thật vậy, nhờ việc Thiên Chúa dấn thân vào trong lịch sử, nhờ Ngôi Lời nhập thể, Vĩnh cửu đă đi vào trong thời gian, và thời gian - vốn bắt đầu từ cuộc sáng tạo - đă vươn tới sự viên măn của nó là vĩnh cửu, hơn nữa vươn tới Đấng Vĩnh cửu là Thiên Chúa. Như thế, đi vào trong "sự viên măn của thời gian" nghĩa là đạt đến chung cuộc của thời gian và nhảy qua giới hạn của thời gian để t́m gặp sự triển nở của thời gian trong vĩnh cửu của Thiên Chúa. Do đó, trong Kitô giáo, thời gian có một tầm quan trọng nền tảng. Chính v́ tương quan giữa Thiên Chúa Vĩnh cửu và thời gian mà chúng ta thấy có bổn phận phải thánh hóa thời gian và làm cho lịch sử trần thế trở thành lịch sử cứu độ.

- Kitô giáo có truyền thống thánh hóa thời gian.

Trong truyền thống tôn giáo Cựu ước cũng như trong Kitô giáo, việc thánh hóa thời gian - giờ, ngày, tuần, tháng, năm, mùa - đă được thể hiện rơ nét. Đặc biệt trong Phụng vụ Vọng Phục sinh, khi khắc lên cây nến những con số chỉ niên biểu hiện tại, người ta công bố "Đức Kitô hôm qua và hôm nay, nguyên thủy và cùng đích của mọi sự, An-pha và Ô-mê-ga; thời gian và vĩnh cửu là của Người...". Mỗi Chúa nhật đều gợi lại cuộc Phục sinh của Chúa và trong suốt năm dương lịch đều thấm nhuần tinh thần Năm Phụng vụ nhằm diễn lại tất cả mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc, bắt đầu bằng Chúa nhật thứ I Mùa Vọng và kết thúc bằng việc cử hành lễ Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ.

- Đức Giêsu Kitô đă từng công bố
thời gian hồng ân của Thiên Chúa.

Trong bối cảnh truyền thống Kitô giáo, thật dễ hiểu việc cử hành những Năm Thánh. Chính Đức Giêsu Na-da-rét, khi vào hội đường của quê Người, đă đọc bản văn trích sách


Ngôn sứ Isaia: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi; Người sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo, băng bó những tâm hồn đau thương, loan tin giải phóng cho những kẻ bị giam cầm và trả tự do cho các tù nhân, công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa" (Is 61, 1-2). Đức Giêsu nói tiếp: "Hôm nay đă ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà anh em vừa nghe" (Lc 4, 21), Người muốn nói rằng chính Người là Đấng Mê-si-a (Ki-tô) đă được loan báo trước và nơi Người đă bắt đầu thời gian mà người ta mong đợi: "thời gian đă viên măn": ơn cứu độ đă đến. Tất cả các Năm Thánh đều có quan hệ với "thời gian viên măn" này và đều có liên quan với sứ mệnh cứu thế của Đức Kitô, đều triển khai sứ mệnh cứu thế của Đức Kitô.

- Hội thánh công bố năm hồng ân của Thiên Chúa.

Đối với Hội thánh, Năm Thánh rơ ràng chính là "năm hồng ân" này, năm thứ tha tội lỗi, năm giao ḥa giữa các bên đối đầu nhau, năm gia tăng những sự hoán cải và sám hối có tính Bí tích và ngoài Bí tích. So sánh với những thời gian khác, các năm đại xá gắn liền với việc ân xá một cách rộng lớn hơn. Hội thánh công bố "một năm hồng ân của Chúa" và cố gắng làm sao cho các tín hữu có thể hưởng lợi ích nhiều nhất từ ân sủng này.

- Năm 2000 của lịch sử thế giới
được ước tính từ Đức Giêsu Kitô.

Trong đời sống cá nhân mỗi người, những dịp kỷ niệm thường gắn liền với ngày sinh đặc biệt vào những năm đánh dấu tuổi thọ. Do đó năm thứ 2000 ước tính từ năm sinh của Đức Giêsu Kitô (không thiết yếu phải được tính chính xác) mang ư nghĩa một năm thánh quan trọng khác thường không duy chỉ đối với các Kitô hữu, mà c̣n một cách gián tiếp đối với toàn thể nhân loại. Thật là ư nghĩa


việc khắp nơi người ta tính lịch với mốc khởi đầu là sự xuất hiện của Đức Kitô trong lịch sử thế giới mốc điểm này trở thành trung tâm của cách tính lịch tiện lợi nhất hiện nay. Đó không phải là một dấu cho thấy sự đóng góp vô song mà cuộc sinh hạ Đức Giêsu Na-da-rét đem lại cho lịch sử vũ trụ đó sao?

- Hội thánh với niềm vui của ơn cứu độ
vào thời điểm năm 2000.

Ngoài ra hai từ "Năm Thánh" gợi lên niềm vui, không chỉ là niềm vui sâu kín bên trong mà c̣n là niềm vui biểu hiện ra bên ngoài, bởi v́ sự xuất hiện của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô cũng là một biến cố hữu h́nh đem lại niềm vui cứu độ như lời sứ thần nói với Đức Maria: "Mừng vui lên, hỡi người đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Ngài" (Lc 1, 28) và như chính lời Đức Maria đă thốt lên: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng v́ Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi" (Lc 1, 46-47). Hội thánh noi gương Đức Maria cũng hân hoan v́ ơn cứu độ và mời gọi mọi người chia sẻ niềm vui này, đồng thời cố gắng tạo điều kiện cần thiết để ơn cứu độ có thể chuyển thông đến mỗi người.

- Trước ngưỡng cửa năm 2000, Hội thánh
đặc biệt ư thức trách nhiệm của ḿnh.

Xét theo nội dung, có thể nói Năm Thánh quan trọng này cũng giống như mọi Năm Thánh khác, nhưng Năm Thánh 2000 này vẫn rất khác và hàm súc hơn mọi Năm Thánh khác. Hội thánh giúp cho mỗi người ư thức rằng mỗi khoảng thời gian như thế đều được in dấu sự hiện diện của Thiên Chúa và hoạt động cứu độ của Người. Trong tinh thần này, Hội thánh hân hoan, ban phát ân huệ, kêu xin sự tha thứ và dâng những tâm t́nh cầu khẩn lên Chúa của Lịch sử và của lương tâm con người. Một trong những lời


nguyện cầu tha thiết nhất vào những giờ phút gần kề thiên niên kỷ mới này là lời cầu nguyện cho các Kitô hữu được hiệp nhất cho tới khi đạt được sự hiệp thông hoàn toàn.

ii. công cuộc chuẩn bị cho năm thánh 2000

"Tôi có là ǵ là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đă không vô hiệu, trái lại tôi đă làm việc nhiều hơn" (Cr 15, 10).

a. phương hướng và tâm t́nh chuẩn bị

Mục tiêu của thời gian chuẩn bị
đón mừng Năm Thánh 2000.

Đây là thời gian thuận tiện để xem xét với ḷng tri ân, với tinh thần trách nhiệm và với con mắt đức tin về những ǵ đă xẩy đến trong lịch sử nhân loại kể từ Đức Kitô giáng sinh, nhất là xem lại những biến cố của một ngàn năm qua, đặc biệt là trong thế kỷ qua, t́m trong đó những dấu chứng của con người và cả những dấu chứng về sự can thiệp của Thiên Chúa trong các biến cố lịch sử. Trước những hồng ân, chúng ta dâng lời cảm tạ. Trước những lỗi lầm, chúng ta thành tâm sám hối. Trước những dấu chỉ đặc biệt của thời hiện đại, chúng ta đặt phương hướng hành động sao cho vừa phù hợp với Tin Mừng vừa phù hợp với tâm thức của con người thời đại.

1. Cảm mến tri ân

- Tri ân v́ hồng ân cứu độ mà Thiên Chúa đă ban nhờ
Đức Giêsu Kitô và Hiền thê của Người là Hội thánh.

Tâm t́nh trước tiên dâng lên Thiên Chúa là tâm t́nh tri ân về những ǵ Người đă thể hiện qua lịch sử Hội thánh và


trong lịch sử thế giới. Hồng ân lớn lao nhất là việc Thiên Chúa đă đi vào lịch sử loài người qua biến cố Ngôi Lời Nhập thể và Cứu chuộc "để ai tin vào Người th́ không phải hư mất, nhưng được sống đời đời" (Ga 3, 16). Hơn nữa, với niềm xác tín sâu xa, hồng ân lớn lao tiếp theo là việc Đức Kitô đă sáng lập Hội thánh "như một Bí tích, có nghĩa vừa là dấu chỉ vừa là phương thế để kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và để hiệp nhất toàn thể nhân loại" (MV 45).

- Tri ân v́ những hoa trái thánh thiện trong Hội thánh.

Một hồng ân lớn lao khác, đó là hoa trái thánh thiện đă chín rộ trong đời sống của bao người biết sẵn sàng đón nhận ơn Cứu chuộc qua mỗi thế hệ và mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó có đông đảo những vị đă được tôn phong Hiển Thánh hoặc Chân phước, không những chỉ có những người đă đổ máu v́ Đức Kitô mà c̣n có những bậc thầy của đức tin, những nhà truyền giáo, những người tuyên xưng đức tin, những giám mục, linh mục, phó tế, các trinh nữ, những người kết hôn, góa bụa và trẻ em. Điều đó bộc lộ sức sống của các Hội thánh tại địa phương, thuộc vô số ngôn ngữ và sắc tộc đă bước theo Đức Kitô trong những h́nh thái ơn gọi kitô hữu khác nhau.

- Tri ân v́ máu các vị Tử đạo
là hạt giống nảy sinh các kitô hữu.

Đặc biệt, chúng ta không thể quên hồng ân tử đạo, v́ "Máu của các Thánh Tử đạo là hạt giống phát sinh các kitô hữu" (Ter-tu-li-a-nô). Thật vậy, Hội thánh thiên niên kỷ thứ nhất được khai sinh bởi máu các vị tử đạo, gia sản thánh thiện đặc trưng của các thế hệ kitô hữu đầu tiên. Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, Hội thánh lại trở nên là một Hội thánh của những kẻ tử đạo, gia sản chung cho những người Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành như


Đức Thánh Cha Phaolô VI ghi nhận trong bài giảng lễ phong thánh các vị tử đạo U-gan-da. Trong thế kỷ vừa qua, lại có những người tử đạo, thường là âm thầm như những "chiến sĩ vô danh" v́ đại cuộc của Thiên Chúa.

- Tri ân đặc biệt v́ máu của các vị Tử đạo Việt Nam
đă làm nảy sinh các Kitô hữu Việt Nam.

Hội thánh tại Việt Nam cũng có một lịch sử tương tự Hội thánh toàn cầu về các vị tử đạo. 117 Thánh Tử đạo Việt Nam được tôn phong Hiển thánh năm 1988 tượng trưng cho trên dưới 130000 bạn đồng hành đă anh dũng hy sinh v́ Đức Kitô trong khoảng 261 năm cấm cách (1625-1886). "Các vị Tử đạo Việt Nam 'gieo trong lệ sầu', có nghĩa là các ngài đă khởi sự từ lớp người đồng hương và giữa nền văn hóa dân tộc một cuộc đối thoại sâu rộng và cởi mở, bằng cách nêu cao chân lư và tin vào Chúa là sự kiện phổ cập tất cả hoàn cầu. Đồng thời, các ngài góp phần vào việc nhận định các giá trị và nghĩa vụ thích hợp với nền văn hóa tôn giáo trong thế giới phương Đông... Ra trước quan quyền tra khảo về đức tin, các vị Tử đạo đă quả quyết ḿnh được tự do tín ngưỡng, ...đồng thời các ngài đă can đảm nói lên ư chí tôn trọng quyền bính trong Nước, nhưng không v́ thế mà làm điều ǵ bất chính. Các ngài đă dạy phải tôn kính Tổ tiên theo truyền thống Dân tộc và dưới ánh sáng mầu nhiệm Phục sinh. Do đó, với sự dấn thân và hành động chứng nhân của các vị Tử đạo, Hội thánh tại Việt Nam hiên ngang nói lên sự quyết tâm tha thiết của ḿnh, không chối bỏ truyền thống văn hóa và các thể chế trong Nước, trái lại, tuyên xưng và chứng minh rằng: nếu ḿnh nhập cuộc trong truyền thống và văn hóa dân tộc là v́ có ư góp phần vào việc xây dựng Tổ quốc một cách trung thực hơn" (trích Bài Giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Đại lễ Tôn vinh Hiển thánh 117 Vị Chân phước Tử đạo Việt Nam


tại Rôma ngày 19-06-1988). Đây là niềm vui và là niềm tự hào của Hội thánh Việt Nam, và không thể nào quên dâng lên Thiên Chúa ḷng tri ân sâu xa về thời gieo giống của các vị Tử đạo Việt Nam đồng thời cũng là gia sản thánh thiện đặc trưng của các thế hệ kitô hữu đầu tiên tại Việt Nam.

2. Chân thành sám hối

- Mục tiêu của việc sám hối:
sám hối là điều kiện để ḥa giải.

Niềm vui đặc biệt của mỗi Năm Toàn xá là niềm vui của ơn tha tội, niềm vui của sự hoán cải. Đó là lư do tại sao phải nhấn mạnh đến việc sám hối và ḥa giải. Hoán cải là điều kiện tiên quyết cho mỗi người cũng như cho các cộng đoàn để ḥa giải với Thiên Chúa.

Do đó, trong khi thiên niên kỷ thứ hai sắp chấm dứt, quả đúng là Hội thánh phải ư thức sâu sắc về trách nhiệm tội lỗi của con cái ḿnh trong lịch sử: những lần lạc xa Thánh Thần của Đức Kitô và Tin Mừng, không hề đưa ra chứng tá của một cuộc sống thấm nhuần đức tin mà trái lại, tŕnh bày những cách suy nghĩ và hành động thực sự phản chứng và gây gương mù. Hội thánh, dù là thánh thiện v́ được tháp nhập vào Đức Kitô, nhưng vẫn không ngừng sám hối: Hội thánh luôn nh́n nhận trước mặt Thiên Chúa và loài người những tội lỗi của con cái ḿnh. Hội thánh không thể "bước qua ngưỡng cửa hy vọng" của thiên niên kỷ mới mà không thôi thúc con cái ḿnh thanh luyện với ḷng sám hối về những lầm lỗi, bất trung, chia rẽ, tŕ trệ. Ư thức lại những sa sút của ngày hôm qua là một hành vi trung thành và can đảm, giúp củng cố đức tin của chúng ta, cho chúng ta thấy được những cám dỗ và khó khăn của hôm nay và chuẩn bị cho chúng ta đương đầu với chúng.


- Sám hối v́ đă phá hỏng sự hiệp nhất trong Hội thánh.

Trong số những tội lỗi đ̣i phải có nỗ lực sám hối và hoán cải đặc biệt hơn, rơ ràng phải kể đến những tội phá hỏng sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn có nơi dân của Người. Gần hai ngàn năm qua, mối hiệp thông của Hội thánh đôi khi bởi lỗi lầm của thành phần này hay thành phần khác đă bị xé rách một cách đau đớn, điều đó rơ ràng đi ngược lại với ư muốn của Đức Kitô và là một cớ vấp phạm cho thế giới. Những tội lỗi của quá khứ đó vẫn c̣n đè nặng, và hiện nay vẫn c̣n đó như một cám dỗ. Cần phải công khai thú nhận tội lỗi, thiết tha khẩn cầu Chúa Kitô tha thứ, và thành khẩn xin Chúa Thánh Thần ban ơn hiệp nhất các Kitô hữu. Phần chúng ta, cần tạo điều kiện cho ơn huệ này xảy đến, nhưng không được dễ dăi hay thỏa hiệp trong khi làm chứng cho chân lư. Cần phải tiếp tục đối thoại và nhất là dấn thân sâu hơn vào lời nguyện hiệp nhất của chính Đức Kitô: "Lạy Cha... cả chúng nữa, xin cho chúng nên một trong chúng ta" (Ga 17, 21).

- Sám hối v́ đă có thái độ
bất khoan dung và sử dụng bạo lực.

Một trang sử đau sót mà con cái Hội thánh không thể không đọc lại với tâm t́nh sám hối, đó là đă dùng đến những phương pháp bất khoan dung và thậm chí bạo lực trong khi phụng sự chân lư. Cho dù có xét đến những trường hợp giảm khinh, v́ bối cảnh văn hóa ảnh hưởng trên thời đại, nhưng Hội thánh cũng không khỏi hối tiếc sâu sắc về những yếu đuối của biết bao con cái đă làm hỏng gương mặt ḿnh và đă ngăn trở ḿnh thể hiện tṛn đầy h́nh ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh, chứng nhân vô song về t́nh yêu kiên nhẫn và ḷng hiền lành khiêm nhượng. Từ thái độ hối tiếc về quá khứ này, phát sinh một bài học cho tương lai thúc đẩy mọi kitô hữu mạnh dạn thực thi lời Công đồng đă


chỉ dẫn: "Chân lư chỉ cưỡng bách bằng chính sức mạnh của chân lư, nó đi vào tâm trí cách êm dịu nhưng cũng không kém mạnh mẽ" (TDTG, 1).

- Sám hối v́ một phần trách nhiệm
trong việc phát sinh sự dữ.

Trước ngưỡng của thiên niên kỷ mới, người kitô hữu phải khiêm tốn đặt ḿnh trước mặt Thiên Chúa để tự chất vấn về trách nhiệm của ḿnh, về chính ḿnh nữa, trước sự dữ của thế giới hôm nay. Thật vậy, bên cạnh những ánh sáng của thời đại ngày nay, c̣n có rất nhiều bóng tối. Người kitô hữu phải tự chất vấn về thái độ lănh đạm tôn giáo của con người thời nay: người ta đă đánh mất cảm thức siêu nghiệm của cuộc sống con người và lạc hướng trên b́nh diện luân lư và cả những ǵ có giá trị nền tảng như tôn trọng sự sống và gia đ́nh. Phải chăng người kitô hữu có một phần trách nhiệm trong việc phát sinh thái độ này, bởi lẽ họ đă không tŕnh bày khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa do khiếm khuyết trong đời sống tôn giáo, luân lư và xă hội? Người Kitô hữu cũng phải tự chất vấn về sự thiếu biện phân của rất nhiều kitô hữu, đôi khi trở thành thỏa hiệp thực sự, đối với sự vi phạm những quyền căn bản của con người. Hỏi rằng có bao nhiêu người kitô hữu đă hiểu biết sâu sắc và thi hành cách mạch lạc những chỉ dẫn trong học thuyết xă hội của Hội thánh?

- Sám hối v́ chưa thực thi đầy đủ
phương hướng của Công Đồng Va-ti-căng II.

Người kitô hữu c̣n phải tự chất vấn về thái độ đón nhận Công đồng Va-ti-căng II: Lời Chúa đă khơi động toàn bộ cuộc sống kitô hữu như Hiến chế Mặc khải đă yêu cầu như thế nào? Phụng vụ có được sống như là "nguồn cội và đỉnh cao" của đời sống Hội thánh theo như giáo huấn của Hiến


chế Phụng vụ không? Khoa Giáo hội học về hiệp thông của Hiến chế Giáo hội đă được hiểu biết và thực hành đúng đắn chưa? Những chỉ dẫn của Hiến chế Mục vụ về mối quan hệ giữa Hội thánh và thế giới trong tinh thần cởi mở và đối thoại, tôn trọng và thân t́nh, đă được thực hiện nghiêm túc như thế nào?

3. Tích cực hành động

Phương thức xem-xét-làm.

Chúng ta xác tín rằng, trong lịch sử Hội thánh, tất cả các Năm Thánh đều được Chúa Quan pḥng chuẩn bị. Đối với Năm Thánh 2000, sự quan pḥng của Thiên Chúa đă được biểu lộ qua những biến cố của thế kỷ 20. Chúng ta cần xem-xét những dấu chỉ đó để làm, cho vừa phù hợp với Tin Mừng vừa phù hợp với thời đại.

- Theo phương hướng đổi mới
của Công Đồng Va-ti-căng II.

Từ quan điểm nói trên, người ta có thể xác nhận rằng Công đồng Va-ti-căng II là một biến cố quan pḥng quan trọng qua đó Hội thánh đă bắt đầu trực tiếp chuẩn bị cho Năm Thánh 2000. Thật vậy, đây là một Công đồng quy hướng về mầu nhiệm Chúa Kitô và Hội thánh Người đồng thời cũng là một Công đồng mở ra với thế giới. Với một nội dung phong phú và với chất giọng mới mẻ chưa từng có, Công đồng đă nêu lên những vấn đề có tầm cỡ như một sự loan báo về thời đại mới, loan báo về một sứ điệp trong đó Thiên Chúa hiện diện với chủ quyền tuyệt đối của Người trên mọi tạo vật nhưng đồng thời bảo đảm cho sự tự trị chính đáng của các thực tại trần thế. Do đó, việc chuẩn bị tốt cho Năm Thánh 2000 là việc áp dụng, một cách trung


thành hết sức có thể, giáo huấn của Công Đồng Va-ti-căng II vào đời sống của mỗi người và của toàn thể Hội thánh.

- Theo phương hướng các Hội nghị
các cấp trong Hội thánh.

Sau Công đồng Va-ti-căng II, hàng loạt những hội nghị các cấp trong Hội thánh đă đánh dấu trên quá tŕnh chuẩn bị cho điểm hẹn năm 2000, mà chủ đề nền tảng là chủ đề về việc Phúc âm hóa mới. Do đó việc chuẩn bị tốt cho Năm Thánh 2000 là việc thực hiện sứ mệnh mà Chúa Kitô đă trao phó cho Hội Thánh: "Anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ..." (Mt 28, 19-20); "Chính anh em là chứng nhân..." (Lc 24, 48).

- Theo phương hướng các văn kiện các Đức Thánh Cha.

Công việc và trách nhiệm riêng hướng đến năm 2000 cũng được ghi nhận nơi sứ vụ của Đức Thánh Cha, kể cả những cuộc hành hương của Đức Thánh Cha đến với các dân tộc, trong đó có rất nhiều văn kiện đă được các Đấng kế vị Thánh Phêrô công bố, đặc biệt là các chủ đề của học thuyết xă hội công giáo được tŕnh bày một cách có hệ thống, cho thấy Hội Thánh quan tâm cộng tác với mọi người thiện chí để nỗ lực xây dựng một xă hội trần thế mỗi ngày một tốt đẹp hơn theo tinh thần Tin Mừng. Riêng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, ngay từ Thông điệp đầu tiên, đă rơ ràng nhắc đến Năm Thánh 2000 và mời gọi sống giai đoạn chờ đón này như một "Mùa Vọng mới" (TĐ Đấng Cứu chuộc Con người, số I). Do đó, việc chuẩn bị tốt cho Năm Thánh 2000 là triển khai thực hiện các văn kiện của các Đức Thánh Cha một cách đồng bộ và rộng khắp, nhất là không xao lăng những công việc trần thế, bởi v́ "đối với người tín hữu, xao lăng bổn phận trần thế tức là xao lăng bổn phận đối với tha nhân, và hơn nữa đối với chính Thiên Chúa,


khiến phần rỗi đời đời của ḿnh bị đe dọa" (MV 43). Vả lại, "dù tin hay không tin, mọi người đều phải góp phần xây dựng một thế giới cho hợp lư, v́ họ cùng sống chung trong thế giới này" (MV 21, 6).

- Theo phương hướng của những dấu chỉ thời đại.

Thế giới trong một thế kỷ qua cũng đă chứng kiến biết bao nhiêu biến cố làm rung động lịch sử nhân loại. Thế nhưng, trong những ǵ đă xẩy ra, người ta có thể cảm nhận được bàn tay vô h́nh của Thiên Chúa Quan pḥng đă hành động theo sự khôn ngoan của Người. Do đó, việc chuẩn bị tốt cho Năm Thánh 2000 là củng cố và phát huy niềm tin vào t́nh phụ tử và sự ân cần từ mẫu của Thiên Chúa, cho dù trong cuộc sống cá nhân, gia đ́nh và xă hội có chen lẫn bóng tối và ánh sáng. Chúng ta tin rằng cuộc khổ nạn của Đức Giêsu Kitô đă dẫn đến sự Phục sinh vinh hiển.

- Thi hành sứ vụ theo gương Thánh Phaolô.

Theo gương Thánh Phaolô, chúng ta hăy tâm niệm rằng: "Tôi có là ǵ cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đă không vô hiệu, trái lại tôi đă làm việc nhiều hơn..." (1 Cr 15, 10). Trong lịch sử trần thế này, đặc biệt trong những năm chuẩn bị tiến tới thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta hăy sống và làm việc nhiều hơn theo Tin Mừng, v́ Tin Mừng và cho Tin Mừng, một Tin Mừng cứu độ đă được Thiên Chúa thể hiện nhờ "một Đức Giêsu Kitô, hôm qua cũng như hôm nay và cho đến muôn đời" (Dt 13, 8).

b. chương tŕnh chuẩn bị

Mục tiêu của chương tŕnh chuẩn bị.

Thật ra những ǵ được tŕnh bày trên đây đă phần nào hiện lên những yếu tố quan trọng để có thể định hướng cho


một chương tŕnh chuẩn bị Năm Thánh 2000. Tuy nhiên Hội thánh tại Việt Nam cũng cần phác họa một chương tŕnh cho thời điểm trọng đại này, sao cho vừa hiệp thông với chương tŕnh của Hội thánh toàn cầu, vừa phù hợp với t́nh h́nh của Hội thánh tại địa phương, đặc biệt tại mỗi Giáo phận. Chắc hẳn tại mỗi Giáo phận sẽ có một "Ban Chuẩn bị Năm Thánh 2000 của Giáo phận" để triển khai, đôn đốc, kiểm tra và đúc kết việc thực hiện phương hướng mà Hội đồng Giám mục Việt Nam, qua Thư chung này, muốn vạch ra như những trọng điểm. Hơn nữa, theo yêu cầu của các Giáo phận, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng cần có một "Ban Chuẩn bị Năm Thánh 2000 của Hội đồng Giám mục Việt Nam" để đáp ứng những điều kiện cần thiết cho việc học và sống tinh thần của Năm Thánh 2000 mà Đức Thánh Cha đă đề cập đến trong Tông thư "Tiến tới Thiên niên kỷ Thứ ba".

Hy vọng rằng vào Năm 2000, năm mà Hội đồng Giám mục Việt Nam đi Rôma theo qui định của Giáo luật, sẽ được hợp ư cùng Đức Thánh Cha và toàn thể Hội thánh dâng lên Thiên Chúa ḷng tri ân về những thành quả đă thực hiện được trong công việc chuẩn bị và cử hành Năm Thánh 2000.

1. Giai đoạn thứ nhất (năm 1995-1996):
Học tập để kiểm điểm và sám hối

- Mục tiêu của giai đoạn thứ nhất.

Giai đoạn này có thể gọi là giai đoạn tiền chuẩn bị, nhằm mục tiêu làm cho các kitô hữu ư thức sống động về giá trị và ư nghĩa của Năm Thánh 2000 trong lịch sử nhân loại. Mang trong ḿnh ư nghĩa kỷ niệm ngày sinh lần thứ 2000 của Đức Giêsu Kitô, Năm Thánh này tự nó gắn liền với một ư nghĩa Kitô học. Trong dịp kỷ niệm đặc biệt này,


cần phải kết hợp việc kỷ niệm với việc cử hành, nghĩa là không chỉ giới hạn trong việc nhắc lại biến cố một cách trừu tượng nhưng c̣n làm hiện diện đặc tính cứu độ của nó qua việc cử hành Bí tích. Việc cử hành Năm Toàn xá phải làm sao củng cố đức tin vào Thiên Chúa mà Đức Kitô đă mặc khải, nâng đỡ đức cậy hướng họ về đời sống vĩnh cửu, làm sống động đức mến khiến họ quảng đại hiến ḿnh phục vụ Thiên Chúa và đồng bào, đồng loại.

- Học tập và kiểm điểm cuộc sống Tin Mừng hôm nay.

Trong giai đoạn một (1995-1996), với sự giúp đỡ của các "Ban Chuẩn bị Năm Thánh 2000", các giáo phận sẽ triển khai sâu xa những khía cạnh đặc trưng nhất của biến cố năm toàn xá này như đă được phác thảo trên đây: học tập và kiểm điểm cuộc sống theo Tin Mừng của Đức Kitô, tập trung vào mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc, gắn liền với mầu nhiệm Hội thánh hiệp thông và sứ vụ; theo những chỉ dẫn của Công Đồng Va-ti-căng II, đặc biệt về Hiến chế Giáo hội trong Thế giới ngày nay; theo những văn kiện của các Đức Thánh Cha, đặc biệt về học thuyết xă hội của Hội thánh: theo gương của Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, đặc biệt về sự kết hiệp mật thiết với công tŕnh cứu độ của Đức Kitô: theo gương của Thánh Phaolô và các nhà truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt về việc Phúc Âm hóa mới theo Thông điệp "Sứ vụ Đấng Cứu độ" của Đức Gioan Phaolô II; theo gương của các Thánh Tử đạo Việt Nam, đặc biệt về việc gắn bó với Dân tộc với thái độ làm chứng cho Tin Mừng của Đức Kitô.

- Cử hành Bí tích Sám hối.

Việc học tập và kiểm điểm này phải dẫn đến việc cử hành Bí tích Sám hối, cộng đoàn cũng như cá nhân, đặc biệt sám hối về những tội phá hỏng sự hiệp nhất các kitô


hữu, cách riêng giữa các Kitô hữu trong cùng một Hội thánh Công giáo; về những tội đă chấp nhận dùng đến những phương pháp bất khoan dung và thậm chí bạo lực trong khi phụng sự chân lư; những tội gây gương mù gương xấu trong cuộc sống tôn giáo, luân lư và xă hội, làm phát sinh thái độ lănh đạm tôn giáo; về những tội thiếu biện phân, đôi khi trở thành thỏa hiệp với sự vi phạm những quyền căn bản của con người.

- Sám hối và ḥa giải như điều kiện tiên quyết.

Trong giai đoạn thứ nhất này, những buổi hội thảo, tĩnh tâm, sám hối sẽ được tổ chứa trong tinh thần cầu nguyện, nhằm dẫn tới sự sám hối và ḥa giải như những điều kiện tiên quyết cho mỗi người cũng như mỗi cộng đoàn để ḥa giải với Thiên Chúa trong giai đoạn thứ hai.

2. Giai đoạn thứ hai (1997-1999): từ Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, trong Thánh Thần, tiến về với Chúa Cha

Mục tiêu của giai đoạn thứ hai.

Mặc dù việc học tập để kiểm điểm và sám hối vẫn có thể tiếp tục thực hiện ở giai đoạn hai, nhưng phải coi giai đoạn một như giai đoạn nh́n lại các nguyên lư nền tảng để có thể sám hối về những ǵ đă làm ngược lại hoặc không sát với các nguyên lư nền tảng đó. Tuy nhiên, mục tiêu của sám hối là phải quay lưng với quá khứ tội lỗi th́ mới có thể tiến xa hơn trong nỗ lực học và sống theo gương Đức Giêsu Kitô, nhờ tác động của Thánh Thần, tiến về Thiên Chúa Cha. Cấu trúc của ba năm này tập trung vào Đức Kitô, đương nhiên mang chiều kích thần học về Thiên Chúa Ba Ngôi.


a. Năm thứ nhất (1997): Đức Giêsu Kitô

Mục tiêu năm thứ nhất.

Năm thứ nhất, tức là năm 1997, sẽ dành để học và sống theo gương Đức Giêsu Kitô, Lời của Thiên Chúa Cha làm người bởi Đức Chúa Thánh Thần. Quả thực, cần làm nổi bật đặc tính Kitô học, của Năm Toàn xá, thời điểm sẽ mừng biến cố Nhập thể của Con Thiên Chúa, mầu nhiệm cứu độ cho toàn thể nhân loại. Chủ đề chung được đề nghị cho năm này là: "Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất, hôm qua, hôm nay và măi măi" (Dt 13, 8). Những yếu tố cần được quan tâm: Đức Kitô Đấng Cứu thế - Nhà truyền giảng Tin Mừng (tham chiếu đặc biệt chương 4 của Tin Mừng Luca, nơi gặp gỡ hai chủ đề: Đức Kitô được sai đến để loan báo Tin Mừng và Năm Toàn xá): Đức Kitô nhập thể và giáng sinh từ cung ḷng trinh khiết của Đức Maria; cần thiết phải tin vào Đức Kitô để được cứu độ. Sách Giáo lư của Giáo hội Công giáo, được tŕnh bày theo hướng "giáo huấn của các Tông đồ" (Cv 2, 42) có thể giúp ta tái khám phá nền huấn giáo về con người Đức Giêsu Kitô và mầu nhiệm cứu độ của Người.

- Sống Bí tích Rửa tội.

Trong suốt năm này, cần nỗ lực hiện tại hóa các Bí tích, nhất là Bí tích Rửa tội như nền tảng cho cuộc sống Kitô hữu, nền tảng cho sự hiệp thông đại kết của hết mọi Kitô hữu.

- Củng cố đức tin.

Tất cả sẽ phải hướng về mục tiêu hàng đầu của Năm Toàn xá, đó là củng cố đức tin và chứng tá của người Kitô hữu. Do đó cần khơi lên trong ḷng mọi tín hữu ḷng khát


khao sống thánh thiện thực sự, ḷng ước muốn hoán cải và canh tân bản thân ḿnh, trong một bầu khí cầu nguyện sâu đậm hơn, trong sự liên đới đón nhận tha nhân, nhất là những người bị bỏ rơi.

- Noi gương Đức Maria sống đức tin.

Đức Trinh nữ Maria, đấng sẽ hiện diện trong suốt thời gian chuẩn bị Năm Thánh, sẽ được chiêm ngắm và kêu cầu trong năm thứ nhất này, nhất là trong mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria nêu lên cho mọi tín hữu một mẫu gương đức tin sống động.

b. Năm thứ hai (1998): Chúa Thánh Thần

Mục tiêu năm thứ hai.

Năm 1998, năm thứ hai của giai đoạn chuẩn bị, sẽ đặc biệt được dành cho Chúa Thánh Thần, đấng hiện hiện có sức thánh hóa từ bên trong cộng đoàn các môn đệ Đức Kitô. Những điểm cần triển khai: Mầu nhiệm Nhập thể là công tŕnh của Chúa Thánh Thần, Ngôi vị T́nh Yêu trong Ba Ngôi cùng một bản tính Thiên Chúa; Chúa Thánh Thần đă ngự xuống nơi Đức Giêsu Kitô khi Người chịu phép Rửa tại sông Gio-đa-nô và được Chúa Cha công bố là Con chí ái; Chính Đức Kitô luôn ư thức ḿnh được Chúa Thánh Thần xức dầu và sai đi loan báo Tin Mừng, loan báo một năm hồng ân của Thiên Chúa: Đức Kitô luôn hành động theo sự thúc đẩy của Thánh Thần và đă tự hiến ḿnh làm của lễ cứu độ; Chính Đức Kitô đă ban Thánh Thần của Người cho các Tông đồ để các ông tiếp nối sứ mệnh cứu độ của Người: "Anh em hăy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20, 22), "Anh em hăy đi loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16, 15); Điều mà Chúa Thánh Thần đă thực hiện "trong thời viên măn", nơi Đức Kitô, trong Hội thánh ở mọi thời và mọi nơi,


th́ Người sẽ c̣n tiếp tục thực hiện cho tới ngày chung cuộc. Sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta thêm ḷng tín thác vào sức mạnh của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần, nơi chính sự bất lực của con người.

- Khám phá sự hiện diện và tác động
của Chúa Thánh Thần.

Do đó, trong những việc hàng đầu phải làm để chuẩn bị cho Năm Toàn xá là tái khám phá sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần. Người tác động trong Hội thánh qua các Bí tích, hoặc trong những đoàn sủng khác nhau, những vai tṛ và tác vụ riêng biệt do Người gợi lên v́ lợi ích của Hội thánh. Chính Chúa Thánh Thần là nguyên lư hiệp nhất, làm phát sinh và thúc đẩy Đức Ái. Cũng chính Chúa Thánh Thần là tác nhân chính yếu của công cuộc Phúc Âm hóa mới cho thời đại chúng ta.

- Sống Bí tích Thêm sức.

Khi lănh nhận Bí tích Thêm sức, người Kitô hữu được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần để can đảm sống đạo và truyền đạo. Sách Công vụ Tông đồ là một chứng tích về những hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Hội thánh đầu tiên, trong đó các tín hữu "chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện... Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ" (Cv 2, 44-47).

- Sống Đức Cậy trông.

Trong viễn tượng cánh chung đó, các tín hữu được mời gọi khám phá lại Đức Cậy trông, một đàng thúc đẩy người kitô hữu luôn nh́n về mục tiêu cuối cùng, điều làm nên ư


nghĩa và giá trị cho toàn bộ cuộc sống của họ, và đàng khác, giúp cho họ những lư lẽ vững chắc và sâu sắc để dấn thân vào công cuộc biến đổi các thực tại trần thế được trở nên xứng hợp với kế hoạch của Thiên Chúa. Do đó, để chuẩn bị đón Năm Toàn xá, người Kitô hữu được mời gọi chuẩn bị cuộc sống nội tâm, trong cộng đoàn ḿnh, nơi môi trường xă hội ḿnh đang gắn bó và trong cả lịch sử thế giới.

- Sống theo tiếng nói của Chúa Thánh Thần
qua các dấu chỉ của thời đại.

Hơn nữa, chúng ta cũng nên đào sâu những dấu chỉ hy vọng được thấy ở cuối thế kỷ này, cho dù bóng tối vẫn thường xóa lấp chúng đi trước mắt chúng ta: trong lănh vực dân sự, chúng ta thấy những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là của y khoa nhằm phục vụ cuộc sống con người - việc ư thức trách nhiệm đối với môi sinh - những nỗ lực xây dựng công lư và ḥa b́nh - ư chí ḥa giải và liên đới giữa các dân tộc; trong Hội thánh, chú ư lắng nghe hơn nữa tiếng nói của Chúa Thánh Thần bằng cách đón nhận những đoàn sủng và thăng tiến thành phần giáo dân - nhiệt t́nh dấn thân cho công cuộc hiệp nhất các Kitô hữu - ư thức tầm quan trọng của việc đối thoại với các tôn giáo và với các nền văn hóa hiện đại...

- Quan tâm xây dựng t́nh hiệp nhất trong Hội thánh.

Việc kiểm điểm đời sống của các kitô hữu trong năm chuẩn bị thứ hai này phải dành quan tâm đặc biệt về giá trị của sự hiệp nhất bên trong Hội thánh: các ân huệ và đoàn sủng do Thánh Thần ban cho đều hướng đến sự hiệp nhất này. Trong vấn đề này, cần phải đào sâu giáo huấn về Hội thánh của Công đồng Va-ti-căng II, nhất là qua Hiến chế về Hội thánh. Việc đào sâu giáo huấn này chắc chắn sẽ đem lại cho các thành phần Dân Chúa một ư thức sâu sắc hơn


về những trách nhiệm của ḿnh và một cảm nhận sống động hơn về giá trị của sự vâng phục trong Hội thánh.

- Noi gương Đức Maria sống tín thác vào Lời Chúa hứa.

Đức Maria, Đấng thụ thai Ngôi Lời Nhập thể nhờ Thánh Thần và tiếp tục phó thác trọn cuộc sống ḿnh cho tác động của Thánh Thần, sẽ được chiêm ngắm đặc biệt trong năm này như một mẫu gương chói ngời cho những ai đặt trọn niềm tín thác vào các lời hứa của Thiên Chúa.

c. Năm thứ ba (1999): Thiên Chúa Cha

Mục tiêu năm thứ ba.

Năm 1999, năm thứ ba và cũng là năm chuẩn bị cuối cùng, sẽ được dùng để mời gọi các tín hữu noi gương Đức Kitô luôn hướng đến Cha trên trời (Mt 5, 45), Đấng đă sai Đức Kitô đến và là Đấng mà Người đă trở về (Ga 16, 28). Thật vậy, "sự sống vĩnh cửu, đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng mà Cha đă sai đến, là Đức Giêsu Kitô" (Ga 17, 3). Do đó, trọn cuộc đời Kitô hữu là một cuộc hành hương lớn đi về nhà Cha, trong đó mỗi ngày người ta t́m thấy t́nh yêu thương vô điều kiện đối với tất cả đồng loại. Tuy quy hướng về Đức Kitô, nhưng Năm Thánh 2000 phải trở thành một hành động tán dương Thiên Chúa Cha: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cơi trời, Người đă thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đă chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ t́nh thương của Người" (Ep 1, 3-4).


- Hoán cải nội tâm để tiến bước về Nhà Cha.

Trong năm thứ ba này, "cuộc tiến bước về với Cha" phải thúc đẩy chúng ta lên đường trong sự gắn bó với Đức Kitô để hoán cải đích thực: mặt "tiêu cực", là giải phóng ta khỏi tội lỗi; mặt "tích cực" là chọn lựa điều tốt, tức là những giá trị đạo đức trong luật tự nhiên được xác thực bởi Tin Mừng. Chính trong khuôn khổ này, cần phải khám phá lại và cử hành Bí tích Sám hối trong ư nghĩa thâm sâu nhất của Bí tích này. Đức ái Kitô giáo cũng thúc đẩy chúng ta rao giảng sự hoán cải, v́ hiện nay người ta thường xuyên đánh mất cả nền tảng của chân lư.

- Sống Đức Ái.

Đặc biệt trong năm này cần phải nêu bật Đức Ái, nhớ lại khẳng định của Thánh Gioan: "Thiên Chúa là T́nh yêu" (Ga 4, 8,16). Đức ái - t́nh yêu đối với Thiên Chúa và t́nh yêu đối với anh em - là mối tóm kết đời sống luân lư của các kitô hữu. Đức ái bắt nguồn ở nơi Thiên Chúa và hướng đích về Thiên Chúa.

- Phục vụ sự thăng tiến con người.

Trong viễn tượng này, chúng ta nhớ lại rằng Đức Giêsu đă đến "công bố Tin Mừng cho người nghèo" (Lc 7, 22), để chúng ta nhấn mạnh về sự ưu tiên phục vụ người nghèo và những kẻ bị bỏ rơi. Tích cực tham gia công việc "xóa đói giảm nghèo" là một việc làm có ư nghĩa; tôn trọng phụ nữ và trẻ em, tôn trọng sự sống từ trong trứng nước, thăng tiến hôn nhân và gia đ́nh một vợ một chồng và sinh sản có trách nhiệm, phát triển đời sống kinh tế, xă hội, văn hóa... đều là những việc mà người kitô hữu cần quan tâm thực hiện. Người Kitô hữu đứng trước "cơn khủng hoảng văn minh" - phát triển hơn về mặt kỹ thuật, nhưng lại nghèo


nàn đi trong chiều sâu bởi lăng quên hoặc bởi xem thường Thiên Chúa là Đấng Chân, Thiện, Mỹ - cần phải đáp lại bằng văn minh của t́nh yêu - đặt nền tảng trên các trị phổ quát là ḥa b́nh, liên đới, công lư và tự do, là những giá trị đă được Đức Kitô kiện toàn đầy đủ.

- Chứng tỏ cuộc sống tôn giáo nâng cao con người.

Người kitô hữu cũng không thể không biết đến chủ nghĩa duy thế tục đang ảnh hưởng trên con người hôm nay, để hô to lên rằng: "Đức Kitô, trong chính mặc khải về t́nh yêu của Chúa Cha, đă chỉ cho con người thấy đầy đủ bản chất của ḿnh và tiết lộ cho con người biết thiên chức cao cả của họ" (MV 21). Riêng về những ǵ liên quan đến ư thức tín ngưỡng, thời gian sát ngưỡng cửa năm 2000 sẽ là một dịp tốt để đối thoại giữa các tôn giáo.

- Noi gương Đức Maria sống Đức Ái.

Trong tất cả những ưu tư này, Đức Maria Trinh nữ rất thánh, Đấng được Chúa Cha tuyển chọn, sẽ là mẫu gương hoàn hảo cho các tín hữu về t́nh yêu đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Thánh ca Magnificat (Lc 1, 46-55) là một bài ca không thể nào quên, là một bài ca tán dương t́nh yêu của Thiên Chúa, Đấng "nâng những người hèn mọn lên" và "cho người nghèo khó no đầy ơn phúc"...

iii. hướng tới cuộc cử hành năm thánh 2000,
"đức giêsu kitô vẫn là một... măi măi" (Dt 13, 8)

- Trong Hội thánh toàn cầu.

Cuộc cử hành Năm Thánh tự nó là một giai đoạn; cuộc cử hành đó sẽ đồng thời diễn ra ở Đất thánh, ở Rôma và tại các Hội thánh địa phương trên toàn thế giới. Nhân dịp Năm


Thánh, sẽ tổ chức ở Rôma Đại hội Thánh Thể Quốc tế. Năm 2000 sẽ là một năm của Thánh Thể: trong Bí tích Thánh Thể, Đấng Cứu độ - đă nhập thể trong ḷng Đức Maria cách đây hai mươi thế kỷ - tiếp tục tự hiến cho nhân loại làm nguồn sự sống thiêng liêng.

- Trong Hội thánh Việt Nam.

Về việc cử hành Năm Thánh vào năm 2000 tại Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ có thông báo khi gần kết thúc giai đoạn chuẩn bị. Một điều rất chắc chắn: mỗi người đều được mời gọi để làm những ǵ theo khả năng ḿnh sao cho Năm Thánh 2000 mang lại những ân sủng đặc biệt cho mỗi cá nhân, gia đ́nh, cho Hội thánh và Dân tộc Việt Nam.

Văn pḥng Tổng Thơ Kư

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam