Tóm lược câu chuyện Fatima

 

 

Chị Lucia viết về em Giacinta

------------------------------------------------

LỜI THÂN THƯA

CẦU NGUYỆN VÀ VÂNG PHỤC

 

Giêsu Maria Giuse


Kính thưa Đức Cha,

 

Sau khi đã van nài sự phù trợ của Rất Thánh Trái Tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria, Mẹ nhân từ, xin soi sáng và xin ơn thánh nơi chân Nhà Tạm, để khi con viết sẽ không có gì không qui về vinh Danh Chúa và Mẹ Đồng Trinh. Giờ đây, con nhận làm việc này, thay vì lo ngại, vì hầu như con chẳng biết nói gì về Giaxinta mà không trực tiếp hay gián tiếp nói về bản thân khốn khó của con. Tuy nhiên, con vâng lời, ý của Đức cha, đối với con là Ý Chúa nhân lành chúng ta tỏ hiện.

Rồi con bắt đầu bổn phận này, con xin Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Mẹ Maria đoái thương chúc lành và dùng hành vi vâng phục này ban  cho các tội nhân khốn khó ơn trở lại, vì những tội nhân này mà em Giaxinta đã quảng đại hy sinh bản thân mình.

            Thưa Đức Cha, con biết Đức cha không mong nhận đựơc nơi con một áng văn  lưu loát, vì Đức Cha biết con bất lực và bất xứng chừng nào rồi. Con sẽ thưa với Đức Cha điều con nhớ được về linh hồn này, nhờ ơn Chúa, con đã là người bạn tín cẩn mật thiết nhất của em. Con có lòng ngưỡng mộ cao cả sự thánh thiện của em. Con rất quí mến và kính trọng em và ôm ấp những kỷ niệm qúi báu nơi em.


GỬI CHO GIAXINTA

 

Mau lẹ rời trần thế

Em đi như người bay

Giaxinta có hay,

Trong đau đớn tột cùng,

Chúa Giêsu yêu em.

Đừng quên lời nài van

Lời chị cầu với em:

Luôn là bạn của chị

Trước ngai Tòa cao quang

Đức Nữ Trinh Mai Hoa (Maria)

Bông hụê của tinh khiết

Viên ngọc ánh chói chang

Trên đó Nước Thiên đàng,

Em sống trong vinh quang

Thần sốt mến tình yêu

Với em trai nhỏ bé

Cạnh chân Thầy Chí ái

Cầu cho chị, em ngoan.

 

 

 

I. TÍNH TÌNH CỦA GIAXINTA

 

NHỮNG TÍNH TỰ NHIÊN
 

Kính thưa Đức Cha,

 

Trước khi xảy ra sự việc năm 1917, ngoài sự gắn bó giữa chúng con về tình họ hàng, không có quyến dũ nào đặc biệt   khiến con thích làm bạn với Giaxinta và Phanxicô hơn những trẻ khác. Trái lại, đôi khi con thấy làm bạn với Giaxinta lại rất bực mình nữa, vì tính quá nhạy cảm của em. Chỉ một  tranh cãi nho nhỏ giữa đám trẻ khi chơi với nhau cũng đủ làm cho Giaxinta hờn giỗi đi vào một góc, như chúng con thường nói là "đi cột lừa". Và dù có dùng những kiểu năn nỉ, dỗ dành Giaxinta mà tụi trẻ chúng con rất quen biết, cũng không làm cho em trở lại chơi được; chính em phải được chọn trò chơi cũng như người chơi với em. Tuy vậy, lòng em đã được dọn sẵn, Chúa đã ban cho em những đức tính dịu dàng và nhu mì, những đức tính này làm cho em thành khả ái và lôi cuốn. Con không biết tại sao Giaxinta và em Phanxicô yêu con cách đặc biệt, và hầu như luôn đến tìm con khi các em muốn chơi. Các em không thích làm bạn với các trẻ khác, và thường bảo con đi với các em ra tận ngoài giếng cuối vườn nhà cha mẹ con.

 

Một lần con ra đấy, Giaxinta chọn trò chơi chúng con thường chơi. Những trò em thích nhất thường là "chơi sỏi" và "chơi nút áo" mà chúng con thường ngồi chơi trên những phiến đá bên bờ giếng, dưới bóng cây ôliu và hai cây mận. Trò chơi nút áo thường làm cho con rất phiền sầu, vì khi con được gọi về  dùng bữa, con phải tìm lại những cái nút của con, thường thì không được, vì Giaxinta đã thắng hết rồi, như thế là má con lại mắng con. Con phải vội vã đính vào. Nhưng khó khăn làm sao, vì con phải thuyết phục Giaxinta trả nút lại cho con, và thêm vào sự hờn giỗi, em lại cố giữ lấy, em muốn giữ lại các nút đó để lần sau chơi, em không phải bỏ nút của mình ra. Chỉ có một cách đe rằng không bao gìơ chơi với em nữa, con mới thành công để lấy lại nút áo của con.

 

Nhiều khi con thấy không thể làm những điều cô bạn nhỏ này muốn. Một trong các chị lớn của con là thợ dệt và thợ may, hai chúng con ở nhà cả ngày, vì thế những người láng diềng thường xin má con  để cho con cái họ chơi trong sân nhà con khi họ đi làm ngoài đồng. Đám trẻ ở chơi với con có chị con canh chừng. Mẹ con luôn cho như thế, dù làm mất giờ của chị con. Con phải ở đó để chơi với chúng và canh chừng không để chúng rơi xuống giếng trong vườn nhà. Ba cây vả lớn rợp bóng cho lũ trẻ dưới bầu trời oi ả. Chúng con thường đu đưa cành cây và ăn bữa chiều trên nền cũ.

 

Một hôm Giaxinta và anh đến rủ con đi với chúng vào xó xỉnh thường chơi. Con nói với các em, con không đi được vì mẹ con đã bảo con ở lại nhà. Bực mình nhưng rồi cũng nhượng bộ, hai bạn nhỏ tham dự trò chơi của chúng con. Vào lúc nghỉ trưa, mẹ con thường dạy con cái những bài giáo lý, nhất là khi Mùa Chay gần tới, vì má con nói:" Má không muốn xấu hổ vì chúng con, khi cha xứ hỏi chúng con về giáo lý mùa Phục sinh". Do đó, tất cả các trẻ đều có mặt trong lúc nghe giáo lý, kể cả Giaxinta nữa.

 

TÍNH NHẬY CẢM
Một hôm, một trong những em này kết tội em khác cách sỗ sàng. Mẹ con la hắn cách rất nghiêm khắc, cho nó biết nó không được nói tục tĩu như thế, vì là điều tội và mất lòng Chúa Giêsu  Hài đồng, những kẻ phạm tội như thế mà không xưng, sẽ phải xuống Hỏa ngục. Em Giaxinta nhỏ đã không quên bài học này. Một lần rất gần đấy, khi thấy đám trẻ đến, em nói: 

- Hôm nay má chị có cho chị đi chơi không ? 

- Không. 

- Vậy em với Phanxicô sẽ về sân nhà em. 

- Sao không ở lại đây ? 

- Má em không muốn chúng em ở đây khi có các trẻ khác. Má bảo chúng em chơi ở sân nhà. Má không muốn em học theo những lời tục tĩu, cái đó là tội mà Chúa Hài đồng không thích. 

Rồi em nói thầm vào tai con: 

- Nếu má chị cho, chị có lại nhà em không ? 

- Có chứ. 

- Vậy đi xin má chị đi. 

Rồi cầm lấy tay em mình, em đã về nhà. 

Nói về những trò chơi mà Giaxinta thích, có một trò gọi là"Săn của", có lẽ Đức Cha đã biết, người thua phải làm bất cứ cái gì người thắng bảo làm. Giaxinta thích bắt người thua đi đuổi bắt bướm đưa về cho em. Có lần, em bắt đi hái hoa em thích. Một hôm, chúng con chơi trò Săn của tại nhà con. Con thắng, lần này con bắt em phải làm điều con muốn. Lúc ấy anh con đang ngồi viết ở bàn. Con bảo Giaxinta đến ôm và hôn anh, nhưng Giaxinta phản đối: 

- Làm cái đó, không. Bảo em làm cái khác. Sao không bảo em đến hôn Chúa treo ở kia? 

Ở đó có tượng thánh giá treo trên tường. 

- Được rồi, đứng lên ghế tháo thánh giá xuống, quì gối, ôm thánh giá rồi hôn ba lần: một lần cho Phanxicô, một lần cho chị, và lần chót cho em. 

- Hôn Chúa, được. Em sẽ hôn bao nhiêu lần như chị muốn. Và rồi em chạy tới tháo thánh giá. Em ẵm và hôn với tất cả lòng sốt sắng đến nỗi con không bao giờ quên được. Rồi chăm chú nhìn vào tượng Chúa em hỏi: 

- Tại sao Chúa chịu đóng đinh trên thánh giá vậy ? 

- Vì Chúa chết cho chúng ta. 

- Kể cho em nghe, sao lại như thế.

 

 GIAXINTA YÊU MẾN CHÚA TỬ NẠN

 

Vào các buổi chiều, má con thường kể chuyện, ba con và chị cả con kể cho chúng con những chuyện thần tiên biến hóa, các nàng công chúa mặc áo vàng và những con chim câu của nhà vua. Cùng với những chuyện ấy, má con kể thêm về truyện Thương khó Chúa, về thánh Gioan Tiền hô và các truyện khác nữa. Vì thế con biết được truyện Cuộc Tử nạn của Chúa. Con chỉ cần nghe kể truyện nào một lần là con có thể kể lại truyện đó với đầy đủ chi tiết. Con sẽ kể cho các bạn con từng lời truyện của Chúa. Lúc đó chị con (6) đi ngang qua và thấy chúng con nắm Thánh giá (7) trong tay, chị cầm lấy và mắng chúng con. Chị nói, chị không muốn chúng con cầm đồ  thánh như vậy. Giaxinta đứng lên đến gần chị và nói: 

- Chị Maria, đừng mắng nữa. Em đã lấy Thánh giá đấy, nhưng em sẽ không lấy nữa đâu. 

Chị con tỏ vẻ âu yếm Giaxinta và bảo chúng con ra ngoài chơi.

            Chúng con đem hết đồ chơi đi với chúng con. Khi ra ngoài bờ giếng, con tiếp tục kể truyện con đang kể giở. Có một chỗ kín sau lùm cây dẻ, đống đá và cây mâm xôi, những năm sau đó, chúng con chọn chỗ này để kể những chuyện thân mật hơn, đọc những lời cầu nguyện sốt sắng hơn, và con thưa với Đức cha mọi sự, cả những giọt lệ của chúng con nữa, và đôi khi là những giọt lệ đắng cay. Chúng con hòa nước mắt lẫn với nước giếng chúng con thường uống. Điều này không làm cho giếng trở nên hình ảnh Đức Mẹ sao ? Trong Trái Tim Mẹ, chúng con được lau khô những giọt lệ và uống sự an ủi tinh khiết nhất.

            Nhưng để con trở lại câu truyện vừa rồi. Khi em nhỏ Giaxinta nghe con kể về sự đau khổ của Chúa, em cảm động đến rơi lệ. Từ hôm ấy em thường bắt con kể đi kể lại cho em nghe. Em đã khóc và buồn bã nói: 

- Ôi Chúa yêu dấu đáng thương, con không bao giờ phạm tội nữa. Con không muốn Chúa chịu khổ nữa.

 

NHỮNG CẢM GIÁC TẾ NHỊ CỦA GIAXINTA

 

Khi màn đêm về, Giaxinta thích ra ngồi ngoài thềm trước nhà em. Ở đó, em ngắm nhìn bầu trời hoàng hôn tươi đẹp. Em chiêm ngắm bầu trời lấp lánh sao. Em ngây ngất với những đêm trăng sáng dịu dàng. Chúng con đố nhau xem ai đếm được nhiều sao. Chúng con gọi sao là đèn của các Thiên thần, trăng là đèn của Đức Mẹ, mặt trời là đèn của Chúa. Do đó , đôi khi Giaxinta bảo con. 

- Em thích đèn của Đức Mẹ hơn, nó không thiêu đốt hay làm em quáng mắt như đèn của Chúa. 

Thật vậy, mặt trời rất nóng vào những ngày Hè, và Giaxinta, em bé nhạy cảm rất khổ vì nóng bức.

 

GIAXINTA THẤY VÀ HỌC

 

Vì chị con (8) ở trong Hội Thánh Tâm, nên mỗi khi tới lượt em nào rước lễ trọng thể, chị cũng đưa con đi để  rước lễ. Một lần cô con đem con đi xem nghi lễ, Giaxinta được hóa trang làm Thiên thần tung hoa. Từ bữa đó, em hay bỏ chúng con khi đang chơi để đi hái đầy hoa vào vạt áo, rồi em trở lại và tung từng bông lên đầu con. 

- Giaxinta, sao em lại tung hoa cho chị như vậy? 

- Em tung hoa cho chị, em làm như các Thiên thần làm. 

Hàng năm, vào ngày lễ lớn, có lẽ là lễ kính Mình Thánh Chúa. Chị con thường chuẩn bị cho các em được chọn làm Thiên thần trong cuộc rước. Các em bước đi bên cạnh phương du và tung hoa. Con thường được chọn làm một trong các em đó. Một hôm sau khi chị con thử áo cho con, con kể cho Giaxinta những gì về ngày lễ sắp tới và con sẽ tung hoa trước Chúa Giêsu làm sao. Giaxinta nài con xin với chị con cho em được tung hoa như vậy. Hai chúng con đi với nhau để xin. Chị con nói Giaxinta có thể tung được và chị thử áo cho em. Vào lúc tập dượt, chị giải nghĩa cho chúng con tung hoa trước Chúa Giêsu thế nào. Giaxinta hỏi: 

- Chúng em có thấy Chúa không ? Chị con trả lời:

- Có, cha xứ sẽ kiệu Người. 

Giaxinta vui mừng nhảy lên và hỏi tiếp xem phải chờ bao lâu nữa mới tới ngày lễ. Sau cùng ngày chờ đợi lâu dài đã tới. Giaxinta thấy nức lòng hồi hộp. Hai chúng con có chỗ gần bàn thờ. Rồi chúng con đi bên cạnh kiệu, mỗi đứa mang một giỏ hoa. Mỗi khi chị con bảo tung hoa, con liền tung cho Chúa, nhưng dù con đã làm hiệu cho Giaxinta, con không thể bảo em tung được một cánh hoa nào. Em gắn chặt mắt vào cha xứ và cứ mãi như vậy. Khi cụôc cung nghinh chấm dứt, chị con đem chúng con ra ngoài rồi hỏi: 

- Giaxinta sao em không tung hoa cho Chúa? 

- Vì em không thấy Chúa. 

Rồi Giaxinta hỏi con: 

- Chị có thấy Chúa không ? 

- Dĩ nhiên là không. Em không biết rằng Chúa ở trong hình bánh, không thể thấy được sao? Người ẩn mình, Người là Đấng chúng ta sẽ lãnh nhận khi rước lễ. 

- Còn chị, khi chị rước lễ, chị có nói chuyện với Chúa không? 

- Có chứ. 

- Nhưng sao chị không thấy Chúa? 

- Vì Người ẩn mình. 

- Em sẽ xin má em cho em đi rước lễ. 

- Cha xứ (9) không cho em rước lễ tới khi em được 10 tuổi. 

- Nhưng chị chưa được 10 tuổi mà chị đã rước lễ rồi. 

- Vì chị thuộc hết giáo lý, còn em không thuộc. 

Sau đó hai người bạn nhỏ xin con dạy giáo lý cho chúng, thế là con trở thành giảng viên giáo lý và các em học giáo lý cách phấn khởi lạ lùng. Nhưng dù con luôn luôn có thể trả lời các câu hỏi của các em trong vấn đề con đang dạy các em, nhưng con cũng chỉ nhớ được ít điều thôi. Một hôm Giaxinta nói với con: 

- Dạy em các điều khác đi, những điều chị dạy chúng em thuộc rồi. 

Con phải nhận rằng, con chỉ nhớ sự việc khi có ai hỏi con, nên con nói: 

- Xin má các em cho các em tới nhà thờ học giáo lý. 

Hai em nhỏ vì quá nhiệt tình ao ước được rước Chúa "Giêsu Ẩn mình", như các em gọi thế, đã về xin má, và cô con đồng ý, nhưng ít khi cô cho các em tới nhà thờ, cô nói:

- Từ đây tới nhà thờ xa xôi mà chúng con còn nhỏ quá, cha không cho chúng con rước lễ trước 10 tuổi đâu. 

Giaxinta không thôi hỏi con về Chúa Giêsu ẩn mình. Con nhớ một hôm em hỏi: 

- Làm sao mọi người rước Chúa Giêsu ẩn mình cùng một lúc được?  Vậy mỗi người được một miếng nhỏ xíu à? 

- Đâu có sao, em không thấy có nhiều bánh nhỏ à, vì vậy có Chúa Hài Nhi ở trong mỗi người. 

Con phải giải nghĩa cho em nhiều câu hỏi không đâu vào đâu.

 

 GIAXINTA, CÔ BÉ CHĂN CHIÊN

 

Lúc này con đã khá lớn nên mẹ con sai con đi chăn chiên như mẹ con đã sai các chị con, khi các chị ở vào tuổi con. Chị Caroline đã lên 13 nên chị phải đi làm. Mẹ con đặt con trông coi đoàn vật. Con đi báo cho 2 em  biết tin, con không thể chơi đùa với 2 em được nữa, nhưng các em không thể chịu được sự chia lìa này. Các em tới ngay với má các em, xin cho các em cũng đi chăn chiên với con nhưng má các em không chịu. Chúng con không có cách nào khác, đành phải chấp nhận  chia tay. Gần như mọi ngày sau đó, các em đến đón con trên đường về nhà lúc trời hoàng hôn. Rồi chúng con ngồi xuống thềm nhà, hoặc chạy nhảy một lúc chờ Đức Bà và các Thiên thần thắp đèn các Ngài, hoặc đặt đèn lên , như chúng con thường nói, tại cửa sổ để cho chúng con ánh sáng. Vào những đêm không có ánh trăng soi, chúng con thường bảo nhau "hôm nay đèn Đức Bà không có dầu".

 

Giaxinta và Phanxicô thấy rất khó làm quen với sự vắng mặt người bạn cũ, vì vậy các em xin đi xin lại với má cho các em đi chăn đàn chiên nhà các em. Cuối cùng, cô con, có lẽ để chấm dứt khỏi bị quấy rầy hoài, dù cô biết các con còn nhỏ quá, cũng đã bằng lòng cho các em đi chăn đàn chiên nhà các em. Thật là sung sướng, các em chạy đến báo tin cho con và hỏi cách làm sao để hằng ngày có thể chăn chung đàn chiên của chúng con. Mỗi người phải mở hàng rào lúc má bảo, và ai tới Barreiro trước sẽ phải chờ đàn chiên kia tới sau.

 

Barreiro là tên một giếng nước dưới chân đồi. Khi chúng con tới giếng, chúng con sẽ quyết định hôm ấy sẽ thả chiên ở đồng cỏ nào. Lập tức lên đường, chúng con sung sướng như đang đi dự lễ.

Thưa Đức cha, bây giờ chúng ta coi Giaxinta trong cuộc đời mới như là cô bé chăn chiên. Chúng con  chinh phục đám chiên bằng cách chia bữa trưa cho chúng. Nghĩa là khi chúng con tới đồng cỏ, chúng con có thể chơi tùy thích, chắc bụng rằng chúng không đi lạc xa chỗ chúng con.

 

Giaxinta thích nghe tiếng vang của âm thanh vọng lại từ dưới thung lũng. Vì vậy một trò chơi thú vị của chúng con là leo lên tận đỉnh đồi, ngồi trên hòn đá to nhất có thể tìm được, rồi gào lên nhiều tên khác nhau, gào to hết sức. Tên vang lại rõ nhất là tên "Maria". Đôi khi Giaxinta đọc cả kinh Kính mừng bằng cách gào to này, chỉ nói tiếng sau khi tiếng trước đã dứt âm vang.

 

Chúng con cũng thích ca  hát nữa. Chúng con hát các bài dân ca, tiếc rằng con chỉ biết một số bài. Giaxinta thích các bài "Chào Bà Hoàng diễm lệ", "Người Toàn trinh", "Thiên thần hát với em". Chúng con rất khoái nhảy. Bất cứ nhạc cụ nào các mục đồng khác chơi mà chúng con nghe được, đủ làm cho chúng con bỏ những trò chơi đang chơi. Giaxinta có biệt tài nhảy múa.

 

Chúng con được căn dặn là đọc kinh Mân côi sau bữa trưa, nhưng cả ngày để chơi hình như ngắn quá. Chúng con tìm ra cách giải quyết mau lẹ để rồi còn chơi. Trong khi ngón tay lần hạt, miệng chúng con chỉ đọc "Kính mừng Maria, Kính mừng Maria..." Vào cuối mỗi mầu nhiệm, chúng con ngưng lại một chút rồi chỉ đọc đơn giản "Lạy Cha chúng con". Vì thế trong nháy mắt chúng con đã đọc xong một chuỗi Mân côi.

 

Giaxinta cũng thích ôm các con chiên nhỏ trong cánh tay, đặt chúng vào lòng, vỗ về chúng, hôn chúng và tối đến bế chúng về nhà, để chúng khỏi bị mệt. Một hôm trên đường về, em bước đi giữa đàn chiên, con hỏi em: 

- Giaxinta em làm gì mà đi giữa đàn chiên vậy ? 

- Em muốn làm giống như Chúa trong bức hình người ta cho em. Ngài làm như thế này, Ngài đi giữa đàn chiên và ôm một con trong tay Ngài.

 

HIỆN RA LẦN THỨ NHẤT

 

Thưa Đức cha, bây giờ Đức cha đã biết ít nhiều về đời sống Giaxinta  trong 7 năm đầu đời như thế nào trước ngày 13.5.1917, ngày tươi sáng như bao nhiêu ngày trước. Ngày đó, bởi cơ may, nếu trong ý định của Chúa Quan phòng như một cơ may. Chúng con chọn nơi chăn chiên trên đồng cỏ của ba má con, gọi là đồng Cova da Iria. Chúng con thường chọn đồng cỏ tại Barrerio như con đã viết ở trên, nghĩa là chúng con lại phải đi qua một cánh đồng hoang trải dài để tới Cova da Iria, như vậy, chúng con phải đi xa gấp đôi.

 

Chúng con còn phải đi chậm để bầy chiên  gặm cỏ dọc đường, vì thế chúng con tới Cova vào lúc gần trưa. Con không ngừng lại đây để thưa cùng Đức cha truyện gì đã xẩy ra hôm đó, vì Đức cha đã biết rõ rồi, kể lại chỉ làm phí thời giờ. Ngay việc con đang viết đây cũng làm phí thời giờ, nếu không làm vì đức vâng lời, vì con không thể thấy cái gì hay ho Đức cha sẽ rút ra từ việc này, trừ ra Đức cha biết rõ hơn về đời sống ngay lành của Giaxinta.

 

Trước khi thưa Đức cha những điều con nhớ về quãng đời mới này của Giaxinta, con phải minh xác rằng có một số phương diện về việc Đức Mẹ hiện ra mà chúng con đã đồng ý không nói ra với bất cứ ai. Tuy nhiên bây giờ con phải nói ra để giải thích vì sao Giaxinta đã chấp nhận, vì yêu mến Chúa thiết tha dường ấy, vì đau khổ cho các tội nhân, vì phần rỗi họ mà em hy sinh mình cách rất quảng đại.

 

Đức cha đã biết rằng em là một người, khi vì vui vẻ, không thể cầm hãm nhưng đã tiết lộ những điều chúng con đã ước định với nhau.  Ngay chính giữa trưa hôm ấy khi chúng con đang trầm tư suy nghĩ, Giaxinta đột nhiên hứng khởi kêu lên: 

- Ồ, Bà đẹp chừng nào ! 

- Con nói: Chị không thể biết được sẽ xẩy ra làm sao, nếu em không giữ kín lại đi nói cho người ta biết. 

- Em trả lời: Không, em không nói đâu, đừng lo. 

Hôm sau Phanxicô chạy đến bảo con: Tối hôm qua ở nhà, Giaxinta đã nói tất cả câu chuyện ra rồi. Giaxinta lắng nghe lời buộc tội không nói một lời.

- Con nói với em: Em thấy đấy, chuyện này chị đã nghĩ sẽ xẩy ra mà. 

- Có cái gì trong em khiến em không thể giữ im lặng được. Giaxinta nói rồi khóc. 

- Ờ, đừng khóc nữa, đừng nói bất cứ cái gì cho bất cứ ai nữa về những điều Đức Bà đã nói với chúng ta. 

- Nhưng em đã nói ra rồi. 

- Em đã nói những gì ? 

- Em nói Đức Bà hứa sẽ đưa chúng em về Thiên đàng. 

- Chị nghĩ trước em sẽ nói như vậy. 

- Tha cho em, em sẽ không nói với bất cứ ai bất cứ điều gì nữa.

 

 PHẢN ẢNH SUY NGHĨ VỀ HỎA NGỤC


Hôm đó khi chúng con tới đồng cỏ, Giaxinta ngồi thừ trên tảng đá suy nghĩ. 

- Giaxinta đến đây chơi. 

- Hôm nay em không muốn chơi. 

- Sao không ? 

- Vì em đang suy nghĩ. Đức Bà bảo chúng ta đọc kinh Mân côi và hy sinh cầu cho tội nhân trở lại, nên từ nay khi đọc kinh Mân côi, chúng ta phải đọc tất cả kinh Kính mừng và kinh Lạy Cha. Nhưng làm cách nào chúng ta kiếm ra hy sinh ? 

Ngay lúc đó Phanxicô nghĩ ra một hy sinh hay: 

- Đem phần ăn trưa của chúng ta cho bầy chiên. Chúng ta hy sinh không ăn trưa nữa. 

Vài phút sau, hộp đựng đồ ăn trưa của chúng con đã được đem chia cho đám chiên. Thế là trưa hôm ấy chúng con ăn chay ngặt như các thầy ẩn tu Carthusia. Giaxinta vẫn ngồi trên tảng đá đăm chiêu hỏi con: 

- Đức Bà cũng đã nói: Nhiều linh hồn phải sa Hỏa ngục, vậy Hỏa ngục là gì ? 

- Nó giống như một cái vực rất sâu đầy thú dữ và đầy lửa cháy- má chị thường giải nghĩa cho chị như vậy- và đó là nơi những người phạm tội mà không xưng thú phải sa vào. Họ ở đấy và chịu thiêu đốt đời đời. 

- Họ không bao giờ được ra khỏi đấy nữa à ? 

- Ờ. 

- Sau cả nhiều, nhiều năm cũng không à ?

- Ờ, Hỏa ngục không bao giờ tận.

- Và Thiên đàng cũng không bao giờ tận ? 

- Ai được lên Thiên đàng cũng không bao giờ phải ra khỏi đấy. 

- Đó là chuyện đời đời, em biết không, không bao giờ có tận cùng.

Lần thứ nhất chúng con suy nghĩ về Hỏa ngục và sự đời đời là thế nào.  Điều gây ấn tượng lớn lao nhất nơi Giaxinta là ý tưởng đời đời. Ngay cả khi đang chơi em cũng ngưng lại và hỏi: 

- Này, sau nhiều, nhiều năm có hết Hỏa ngục không ? 

            Hoặc câu khác: 

- Những người bị thiêu đốt trong Hỏa ngục  không bao giờ chết sao?

 Họ không trở thành tro sao? Nếu người ta cầu nguyện rất nhiều cho các tội nhân, Chúa không đem họ ra khỏi đấy sao? Nếu họ cũng dâng hy sinh nữa thì sao? Tội nhân khốn nạn, chúng ta phải cầu nguyện và làm nhiều hy sinh cho họ.

 

HOÁN CẢI TỘI NHÂN


Giaxinta để tâm rất nhiều đến vấn đề hy sinh cho tội nhân ăn năn trở lại, đến nỗi em không bỏ qua dịp nào mà không hy sinh. Có hai gia đình ở Moita, con cái họ thường đi từng nhà để ăn xin. Một hôm chúng con gặp chúng, khi chúng con đang đi với đàn chiên. Vừa thấy chúng, Giaxinta nói với chúng con: 

- Đem bữa trưa của chúng ta cho những trẻ nghèo khó này để kẻ có tội ăn năn trở lại. 

Rồi em chạy tới đưa đồ ăn trưa cho chúng. Trưa hôm đó, em nói với con: "em đói". Gần đó có những cây giẻ xanh và cây sến, trái cây còn xanh lắm. Tuy nhiên con bảo em: "chúng ta có thể ăn được đấy". Phanxicô trèo lên cây giẻ xanh hái đầy túi, nhưng Giaxinta lại lưu ý chúng con nên ăn những trái xanh trên cây sến, như vậy chúng con sẽ hy sinh hơn, vì ăn những trái đắng. Thế là trưa hôm đó chúng con thưởng thức bữa ăn tuyệt diệu. Giaxinta làm hy sinh này như em thường làm và thường nhặt những trái sến xanh hay trái oliu.

Một hôm con bảo em: 

- Giaxinta đừng ăn trái ấy nữa, đắng lắm. 

- Vì nó đắng mà em ăn để cầu cho các tội nhân trở lại. 

Không phải chỉ có những lần này chúng con mới ăn chay. Chúng con đồng ý rằng, bất cứ ngày nào chúng con gặp trẻ em nghèo khó như thế, chúng con sẽ cho các em phần ăn trưa của chúng con. Chúng rất sung sướng nhận những của bố thí như vậy, và chúng tìm dịp để gặp chúng con, chúng thường đợi chúng con ở dọc đường. Giaxinta đã nhận ra chúng trước chúng con và em chạy đến cho chúng hết phần ăn chúng con có hôm ấy, sung sướng như em không cần phải ăn uống gì. Một ngày kia, phần ăn của chúng con chỉ có hạt thông, cây chua, nấm và vài thứ khác chúng con tìm thấy quanh gốc cây thông. Bây giờ con không nhớ được những thứ này gọi là gì. Nếu có sẵn trái cây trên phần đất của ba má chúng con, chúng con thường ăn những trái ấy.

 

Giaxinta khao khát hy sinh  như không thể giãn được. Một hôm, người hàng xóm cho má con một đồng cỏ tốt để cho chiên ăn. Dù đồng cỏ rất xa và trời đang vào mùa Hè, má con cũng rất vui lòng nhận món quà người hàng xóm ấy tặng và sai con tới đó. Má con bảo chúng con cần nghỉ trưa trong bóng cây rợp, và ở đấy có ao nước, đàn chiên có thể uống được. Trên đường đi, chúng con gặp những trẻ em nghèo khó đáng yêu, Giaxinta chạy tới cho các em của bố thí thường lệ của chúng con. Thật là một ngày thích thú, nhưng mặt trời chói chang, và trong gay gắt đó, trong đất hoang sỏi đá đó, hình như muốn đốt cháy vạn vật. Chúng con khát khô cổ. Ở đó không có một giọt nước nào chúng con uống được. Dầu chúng con rộng lòng hy sinh cầu cho các tội nhân ăn năn trở lại, nhưng sau trưa, chúng con không thể nhịn khát được nữa.

 

Gần đó có một ngôi nhà, con nói với hai em là con sẽ vào đó để xin nước uống. Hai em bằng lòng, nên con vào gõ cửa. Một bà già dáng người nhỏ và thấp cho chúng con bình nước và một ít bánh mì. Con cảm ơn nhận lấy rồi chạy về chia cho hai em, đưa bình nước cho Phanxicô bảo em uống. Nhưng em trả lời: 

- Em không muốn uống.

- Sao vậy?

- Em muốn chịu khó cho các linh hồn ăn năn trở lại.

- Giaxinta uống không? 

- Em cũng muốn hy sinh cho các tội nhân.

 

Rồi con đổ nước vào hốc đá để cho chiên uống và chạy đi trả bình cho bà chủ. Sức nóng càng ngày càng gay gắt. Tiếng kêu the thé của bầy dế và cào cào với tiếng ếch nhái lanh lảnh ở giếng bên cạnh làm  hết chịu nổi. Giaxinta lả người, yếu nhược vì thiếu ăn thiếu uống, đã nói với con cách đơn sơ như bản chất tự nhiên của em: 

- Chị bảo dế và ếch nhái im đi, em nhức đầu kinh khủng. 

Phanxicô nói với Giaxinta: 

- Em không muốn chịu đau khổ cho các tội nhân à? 

Giaxinta tội nghiệp, ôm đầu giữa hai bàn tay trả lời: 

- Em muốn, vậy cứ để chúng kêu đi.

 

 GIA ĐÌNH PHẢN ĐỐI


Vào hồi đó, tin tức về những gì đã xảy ra được loan truyền rộng rãi. Má con đâm lo và muốn bằng mọi giá bắt con phải chối bỏ những điều con đã nói. Một hôm trước khi con đi ra đồng với đàn chiên, má con nhất quyết bắt con phải thú nhận con đã nói dối, vì thế má con dùng cả những vuốt ve, đe dọa và ngay cả cán chổi. Với những cung cách đó, má con vẫn chẳng được như ý, vì con cứ im lặng như câm, hoặc con lại  tái xác nhận tất cả những gì con đã nói. Má con bảo con ra đồng chăn chiên và để tâm suy nghĩ kỹ những gì má con đã nói, và má sẽ không dung thứ  một chút dối trá nào nơi con cái bà. Má con không hề cho phép những kiểu dối trá như thế.  Bà cảnh cáo con, bà sẽ bắt con ngay chiều hôm đó, đến với những người con đã nói dối, thú nhận rằng con đã nói dối và xin lỗi họ.

 

Con ra khỏi nhà với đàn chiên. Hôm đó hai bạn nhỏ phải chờ con. Khi chúng thấy con khóc, chúng chạy đến hỏi con xem đã xảy ra chuyện gì. Con kể lại đầu đuôi sự việc rồi nói thêm: 

- Các em cho chị biết, bây giờ chị phải làm sao? Bằng mọi cách, má chị bắt chị phải nhận rằng chị nói dối, nhưng làm sao chị nhận được. 

Phanxicô nói với Giaxinta: 

- Em thấy không, lỗi tại em cả đấy. Tại sao lại đi nói ra? 

Đứa trẻ khốn khổ tràn nước mắt, quì gối xuống, chắp tay, xin chúng con tha lỗi. Em vừa nói vừa khóc: 

- Em làm bậy, nhưng em sẽ không bao giờ nói ra điều gì với bất cứ ai nữa.

 

Đức cha có thể tự hỏi, ai đã dạy Giaxinta làm cử chỉ khiêm tốn như vậy? Con cũng không biết. Có lẽ em đã thấy anh chị của em xin lỗi cha mẹ trước khi đi rước lễ lần đầu. Đàng khác theo con nghĩ, Giaxinta đã nhận được từ Đức Mẹ những ơn cao cả và được hiểu biết về Chúa và về nhân đức nhiều hơn.

 

Ít lâu sau này, khi cha xứ (11) đòi chúng con đến và hỏi chúng con nhiều điều, Giaxinta chỉ cúi đầu xuống ,và thật khó làm cho em mở miệng nói một vài lời. Khi ra ngoài, con hỏi em: 

- Sao em không trả lời cha? 

- Vì em đã hứa không bao giờ nói gì với bất cứ ai nữa. 

Một hôm em hỏi: 

- Tại sao chúng ta không thể nói rằng Đức Bà bảo chúng ta hy sinh cho tội nhân? 

- Vì không ai hỏi chúng ta đã làm những hy sinh nào.

 

Má con càng ngày càng tức giận vì câu chuyện lan rộng thêm, vì thế má con lại gắng sức bắt con phải thú nhận con đã nói dối.

Một sáng sớm, má con bảo sẽ đem con vào cha xứ, má con nói: 

- Khi vào đấy mày phải quì gối xuống thưa cha rằng mày đã nói dối và xin cha tha lỗi.

 

Khi mẹ con con đi qua nhà chú cô con, mẹ con tạt vào mấy phút, thế là con có dịp nói với Giaxinta câu chuyện xảy ra. Thấy con xao  xuyến như vậy, Giaxinta chảy nước mắt nói:

- Em sẽ gọi Phanxicô, chúng em sẽ đi và cầu nguyện cho chị tại bờ giếng, khi trở về, chị cứ đến tìm chúng em ở đó.

 

Khi con trở về, con đã chạy tới giếng, thấy hai em ở đấy đang quì gối cầu nguyện. Thấy con, Giaxinta chạy tới ôm chặt lấy con, nói:

- Chị thấy, chúng ta không bao giờ phải sợ hãi gì cả. Đức Bà sẽ luôn giúp chúng ta. Bà là người bạn rất tốt của chúng ta.

 

Kể từ khi Đức Bà dạy chúng con dâng hy sinh cho Chúa, mỗi khi có điều gì đau khổ, hoặc khi đồng ý hy sinh, Giaxinta thường nói: 

- Chị đã thưa với Chúa Giêsu, chúng ta làm hy sinh đó vì yêu mến Ngài chưa? 

Nếu con nói chưa, em nói ngay: 

- Để em thưa với Chúa. Rồi chắp tay lại, ngước mắt lên trời, em nói: 

- Lạy Chúa Giêsu, con hy sinh vì yêu mến Chúa và để các tội nhân ăn năn trở lại.

 

YÊU MẾN ĐỨC THÁNH CHA


Có hai linh mục đến chất vấn chúng con và khuyên chúng con cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Giaxinta hỏi ĐTC là ai? Hai cha tốt lành giải nghĩa và nói ĐTC rất cần cầu nguyện như thế nào. Điều này làm cho Giaxinta yêu mến Đức Thánh Cha đến nỗi mỗi lần em dâng hy sinh cho Chúa Giêsu em thêm "và cho Đức Thánh Cha". Vào cuối chuỗi Mân côi, em luôn đọc ba kinh Kính mừng cầu cho Đức Thánh Cha. Đôi khi em nói:

 

- Em thích được thấy Đức Thánh Cha lắm, bao nhiêu người tới đây, nhưng Đức Thánh Cha chưa tới bao gìơ (12).

 

Trong sự đơn thành của tuổi thơ, em nghĩ ĐTC có thể đi đây đó như những người khác.

 

Một hôm ba con và chú con (13) được báo sáng mai ra trình diện ông Quận Trưởng (14) đem theo ba đứa chúng con. Chú con nói:

 

- Tôi sẽ không đem con tôi đi, hoặc đưa nó ra trước bất cứ Tòa án nào. Tại sao chúng lại phải đi? Chúng là con nít chưa thể chịu trách nhiệm về những hành vi của chúng, đàng khác, chúng chưa bao giờ đi bộ xa tới Vila Nova de Ourem . Tôi sẽ đi một mình xem họ muốn cái gì.

 

Ba con lại nghĩ khác:

 

- Tôi sẽ đem con gái tôi đi, để nó tự trả lời. Tôi không hiểu việc nó làm ra sao.

 

Tất cả đám họ đều muốn lợi dụng dịp này để làm chúng con sợ hãi với các kiểu cách họ có. Hôm sau, khi đi ngang qua nhà chú con, ba con phải chờ chú con mấy phút. Con chạy đi nói lời tạm biệt Giaxinta, vẫn còn đang ngủ trong giường. Ngỡ rằng chúng con không bao giờ còn gặp nhau nữa, con quàng tay quanh cổ em. Bật khóc, đứa trẻ tội nghiêp thốt lên:
 
- Nếu họ giết chị, bảo họ rằng Phanxicô và em cũng như chị, chúng em cũng muốn chết nữa. Em với Phanxicô sẽ đi ngay ra giếng, chúng em sẽ cầu nguyện sốt sắng cho chị.

 

Khi con trở về vào chập tối, con chạy ra giếng ngay, thấy hai em còn ở đó, cúi mình bên thành giếng, hai tay ôm đầu, khóc thảm thiết. Khi vừa thấy con, chúng kinh ngạc kêu lên:

 

- Chị đấy à? Sao chị của chị đến đây kín nước, nói rằng họ giết chị rồi, chúng em đã cầu nguyện và khóc chị nhiều lắm.
 


 VÀO TÙ TẠI OURÉM


 

Ít lâu sau, khi chúng con bị vào tù, điều làm Giaxinta đau khổ nhất là em nghĩ rằng cha mẹ các em đã bỏ các em. Với dòng nước mắt chảy trên đôi má, em nói:

 

- Không bao giờ ba má chị hoặc ba má em tới đây thấy chúng ta nữa. Ba má chẳng còn phải phiền lòng vì chúng ta  nữa. 

- Phanxicô nói: Đừng khóc, chúng ta có thể dâng việc này cho Chúa Giêsu để cầu cho các tội nhân.

 

Rồi ngước mắt và giơ tay lên trời, em đọc: Lạy Chúa Giêsu, con chịu sự khó này vì tình yêu Chúa và để cho các tội nhân ăn năn trở lại.

 

Giaxinta thêm: Và cho Đức Thánh Cha nữa, và đền tạ những tội lỗi người ta xúc phạm đến Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ.

 

Sau khi chúng con bị tách riêng ra một lúc, họ lại cho chúng con ở chung một phòng trong nhà giam. Khi họ nói với chúng con họ sẽ trở lại sớm để đem chúng con đi chiên sống, Giaxinta ra đứng bên cạnh cửa sổ nhìn ra chỗ họp chợ bên ngoài. Thoạt tiên con nghĩ em có ý ngắm cảnh để khỏi nghĩ tới chuyện sắp xẩy ra, nhưng con nhận ra rằng em đang khóc, con đến bên em và kéo em sát vào con, hỏi em vì sao khóc:

 

- Em trả lời: Vì chúng ta sắp chết mà không được gặp lại ba má, ngay cả má chúng em. 

Nước mắt chảy dài trên má, em tiếp: 

- Em muốn ít ra được thấy má em. 

- Thế em không muốn dâng hy sinh cho kẻ có tội ăn năn trở lại à? 

- Em muốn, em muốn lắm.

 

Rồi với khuôn mặt đầy nước mắt, em chắp tay lại, ngước mắt lên trời và cầu nguỵện hiến dâng:

 

"Lạy Chúa Giêsu, con chịu sự khó này vì tình yêu Chúa và để cho các tội nhân ăn năn trở lại, cho Đức Thánh Cha, và đền tạ tội lỗi đã xúc phạm đến Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ Maria."

 

 Những tù nhân có mặt đó chứng kiến cảnh tượng này đã nói lời an ủi chúng con:

 

- Nhưng điều chúng bay phải làm là nói với Quận trưởng điều bí mật!

 Bất kể Đức Bà cho chúng bay nói hay không. 

- Giaxinta thẳng thắn trả lời: Không bao giờ. Thà chết còn hơn.

 

LẦN HẠT TRONG TÙ.


Kế đó, chúng con quyết định lần hạt Mân côi. Giaxinta lấy ra mẫu ảnh vảy em đeo ở cổ, và nhờ một tù nhân treo lên chỗ có đinh ở trên tường. Quì gối trước mẫu ảnh, chúng con bắt đầu đọc kinh. Các tù nhân cũng đọc kinh với chúng con, nghĩa là nếu họ biết đọc kinh, hay ít nhất họ quì gối xuống. Khi lần hạt xong, Giaxinta tới đứng cạnh cửa sổ và lại khóc.

 

- Con hỏi: Giaxinta, em không muốn dâng hy sinh này cho Chúa sao?
 
- Có chứ, nhưng em nghĩ về ba má em, em không thể cầm được nước mắt.

 

Vì Đức Bà đã bảo chúng con dâng lời cầu nguyện và hy sinh để đền tạ tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Vô nhiễm Người, chúng con đồng lòng rằng, mỗi chúng con chọn một ý hướng. Một người cầu cho các tội nhân, người khác cầu cho Đức Thánh Cha, và người nữa đền tạ tội lỗi xúc phạm đến Trái Tim Đức Mẹ. Đã tính như vậy, con bảo Giaxinta chọn ý nào em thích hơn.

 

- Em chọn tất cả các ý hướng này, vì em thích tất cả.

 

CUỐI CÙNG...CA VŨ


Trong số các tù nhân, có một người biết chơi nhạc. Để làm chúng con vui, ông ta kéo nhạc và tất cả đều hát. Họ hỏi chúng con có biết nhảy không. Chúng con nói, chúng con biết nhảy vài điệu. Người nhảy với Giaxinta là một người nghèo  mắc tội ăn trộm, thấy Giaxinta nhỏ quá, ông ta kéo em lên và cầm tay nhảy với em. Chúng con chỉ mong rằng Đức Mẹ tỏ lòng thương xót linh hồn ông và hoán cải ông.

 

 Thưa Đức Cha, bây giờ Đức Cha hẳn nói:" Chuẩn bị thế nào để tử đạo chứ!" Đúng vậy, nhưng hồi đó, chúng con chỉ là những con trẻ, chúng con không nghĩ được xa hơn. 

 

Giaxinta yêu vũ cách say mê, em có khiếu riêng về vũ. Con nhớ một hôm em đang khóc sướt mướt người anh phải ra trận và được tin là đã chết khi giao tranh. Để làm em khuây khỏa, con đề nghị vũ với hai anh trai của em. Thế là em bé tội nghiệp ra nhảy và dòng lệ ngừng chảy trên đôi má. Em mê nhảy đến độ chỉ cần nghe bạn mục đồng nào chơi nhạc cụ nào đó là em nhảy liền. Dầu vậy, phiên hội chợ ngày lễ kính thánh Gioan đã tới, em tuyên bố:

 

- Em sẽ không nhảy nữa.

 

- Sao không?

 

- Vì em muốn dâng hy sinh cho Chúa.

 

 SAU CÁC LẦN HIỆN RA


 

CẦU NGUYỆN VÀ HY SINH TẠI HANG CABECO


 

Cô con đã mệt mỏi lắm, vì người ta liên tiếp đến tìm con cái cô. Để làm vui lòng những người đến hỏi han chúng, cô trao việc trông coi đàn chiên cho người con khác là Gioan (15). Quyết định này gây đau khổ cho Giaxinta lắm, vì hai lý do: Thứ nhất  vì em phải nói chuyện với những người đến tìm em, thứ hai  vì em không thể ở gần con cả ngày. Tuy nhiên, em phải bỏ mình. Để trốn những người không muốn tiếp, em và Phanxicô phải đi ẩn trong hang đá (16) trên sườn đồi đối diện với ấp chúng con. Trên đỉnh đồi có cái cối xay gió. Nằm về triền hướng đông, nơi ẩn náu này chắc chắn đến nỗi   các em cảm tưởng rằng, các em được che chở khỏi cả mưa lẫn nắng, nhất nữa, nó còn có các cây dẻ và oliu che mát. Ở đây, Giaxinta đã dâng lên Chúa biết bao nhiêu lời cầu nguyện và hy sinh.

 

Khắp triền đồi mọc lên không biết bao nhiêu loại hoa khác nhau. Có một loại lay ơn  Giaxinta thích lắm. Chiều nào em cũng chờ con về ngang qua, cầm bó lay ơn em hái cho con, và vài thứ hoa khác khi em không tìm được lay ơn. Thật vui cho em khi em bẻ ra từng cánh ném trên đầu con.


Hồi đó má con hài lòng, vì mỗi ngày má con chỉ định cho con chăn chiên ở đồng nào, như thế má con biết được con đang ở đâu khi má con cần gọi con. Khi chăn ở đồng cỏ gần, con nói cho hai bạn nhỏ biết, chúng vội vã tìm đến với con.

 

Giaxinta chạy không ngừng cho tới khi tìm được con mới thôi. Rồi mệt đừ, em ngồi xuống, tiếp tục gọi cho tới khi con trả lời và chạy đến gặp em.

 

NHỮNG CÂU HỎI RẮC RỐI.


Cuối cùng, má con mệt vì chị con phải mất giờ đi gọi con và ở lại chăn chiên thay con, má con đã quyết định bán cả đàn chiên. Má con nói truyện với cô con và cả hai đồng ý gửi chúng con vào trường học. Vào giờ chơi, Giaxinta thích đi viếng Mình Thánh.

 

Em phàn nàn:" Hình như họ đoán được. Rồi chúng ta chẳng còn được ở trong nhà thờ mà phải ra ngoài với những đám đông đến phỏng vấn chúng ta. Em muốn ở một mình với Chúa Giêsu ẩn mình để thưa chuyện với Ngài, nhưng họ không để mặc chúng ta."

 

Thật vậy, đám đông những người chất phác chẳng để chúng con ở yên. Rất chân thành, họ nói với chúng con mọi điều về những nhu cầu và những khốn khó họ gặp phải. Giaxinta tỏ ra rất thông cảm, nhất là khi liên quan đến tội nhân, em nói:

 

"Chúng ta phải cầu nguyện và dâng hy sinh lên Chúa để họ được ăn năn trở lại, khỏi sa hỏa ngục. Ôi tội nhân đáng thương!".

 

Nối tiếp truyện trên, con muốn kể lại đây rằng, Giaxinta tìm cách trốn tránh dân chúng muốn đến gặp em làm sao. Một hôm, chúng con đang trên đường đến Fatima (17), gần rẽ vào đường chính thì một đám đông các ông bà bước ra khỏi xe. Chúng con biết chắc họ đến tìm gặp chúng con. Không thể trốn tránh được, vì họ đã thấy chúng con. Chúng con cứ tiếp tục đi, hy vọng đi qua mà không ai nhận ra chúng con. Khi tới gần, vài bà hỏi chúng con có biết mấy trẻ chăn chiên  mà Đức Bà đã hiện ra với chúng không? Chúng con thưa là biết.

 

- Các em có biết chúng ở đâu không?

 

Chúng con chỉ cho họ hướng đi chính xác rồi chạy đi ẩn trong cánh đồng giữa những cây mâm xôi. Giaxinta rất vui với chiến thuật nho nhỏ đó, em giải thích:" Chúng ta luôn luôn phải làm như vậy khi họ không biết chúng ta."

 

CHA CRUZ THÁNH THIỆN


Một hôm, cha Cruz (18) từ Lisbon đến, tới lượt ngài chất vấn chúng con. Khi hỏi xong, ngài bảo chúng con chỉ cho ngài nơi Đức Bà đã hiện ra với chúng con. Trên đường, chúng con đi cạnh vị linh mục đáng kính này, đang cỡi con lừa nhỏ quá đến nỗi chân ngài chạm đất. Khi đó, ngài dạy chúng con một loạt những lời nguyện tắt, có hai lời Giaxinta thích lắm và nhớ lấy cho mình, em không ngừng lặp đi lặp lại:" Ôi Chúa Giêsu, con mến Chúa, xin Trái Tim dịu dàng Đức Mẹ nên phần rỗi cho con."

 

Một hôm trong kỳ em nằm bệnh, em bảo con:"Em rất thích thưa với Chúa Giêsu rằng em yêu mến Người. Nhiều lần khi em thưa với Người như vậy, em cảm thấy lửa cháy trong em, nhưng không đốt em."

 

Lần khác em nói:" Em yêu mến Chúa và Đức Mẹ lắm lắm đến nỗi em không hề biết mệt khi em thưa các Ngài rằng em yêu mến các Ngài."

 


 ƠN PHÚC QUA JACINTA

 
Có một phụ nữ láng giềng chúng con, mỗi khi gặp chúng con là bà chửi. Một hôm chúng con gặp bà khi bà vừa rời tửu quán. Vì uống mà bà ra tệ hơn. Chửi không chưa thoả, bà còn đi xa hơn thế nữa. Khi bà thôi chửi, Giaxinta nói với con:"Chúng ta phải cầu xin Đức Mẹ và dâng hy sinh cho bà này ăn năn trở lại. Bà nói nhiều điều tội lỗi mà nếu không xưng tội, bà sẽ phải sa Hỏa ngục."

 

Ít ngày sau, khi chúng con đi ngang qua cửa nhà bà, đột nhiên Giaxinta đứng lại, quay vào, em nói:

 

- Này, có phải ngày mai chúng ta sẽ được thấy Đức Bà không?

 

- Đúng rồi.

 

- Vậy chúng ta đừng chơi nữa, chúng ta hãy dâng hy sinh cầu cho kẻ có tội ăn năn trở lại.

 

Không nghĩ rằng vài người có thể theo dõi em, em giơ đôi tay và ngước mắt lên trời, và dâng lời cầu nguyện. Trong khi đó, người đàn bà ấy nhìn ra qua kẽ cửa từ nhà bà. Sau đó, Bà nói với má con rằng điều Giaxinta đã làm, gây ấn tượng mạnh mẽ nơi bà, đến nỗi bà không cần chứng cớ nào khác cũng tin thật về việc Đức Mẹ hiện ra. Từ đó, không những bà không chửi thề nữa mà còn luôn xin chúng con cầu xin Đức Mẹ để bà được ơn tha thứ tội lỗi.

 

Lại nữa, một hôm, một bà đáng thương đau đớn vì bệnh tật trầm trọng. Khóc lóc, bà ta quì xuống trước Giaxinta nài xin em cầu cùng Đức Mẹ cho bà ta được khỏi. Giaxinta khổ sở khi thấy người đàn bà quì gối trước mặt mình như vậy, em run run cầm tay nâng bà đứng lên, nhưng thấy không đủ sức lôi bà đứng lên, em vội qùi xuống đọc ba kinh Kính mừng với bà ta. Rồi em xin bà đứng lên, và quả quyết Đức Bà sẽ chữa bệnh cho bà ta. Sau đó, hàng ngày, em tiếp tục cầu nguyện cho bà ta cho tới khi bà trở lại cảm tạ Đức Mẹ đã chữa bà khỏi bệnh.

 

Một dịp khác, có người lính khóc lóc như con nít, anh ta được lệnh ra chiến trường, dù vợ anh đang nằm bệnh trên giường và ba đứa con còn nhỏ dại. Anh cầu xin rằng, hoặc vợ anh được khỏi bệnh, hoặc lệnh ra trận được thu hồi. Giaxinta xin anh đọc kinh Mân côi với em rồi nói với anh ta:

 

- Đừng khóc nữa, Đức Bà rất nhân lành chắc chắn sẽ ban ơn như anh đang xin.

 

Từ đó, em không quên người lính. Vào cuối mỗi tràng kinh, em thường đọc thêm một kinh kính mừng cho anh ta. Vài tháng sau, anh ta trở lại với vợ và ba con nhỏ, tạ ơn Đức Mẹ vì hai ơn anh đã được. Vì bị sốt rét chiều hôm khởi hành, anh đã được thoát quân vụ, còn vợ anh thì được khỏi bệnh nhờ ơn lạ của Đức Mẹ.


 
GIA TĂNG HY SINH

 
Một hôm, chúng con được báo rằng, có linh mục đến thăm chúng con. Ngài rất thánh thiện và có thể nói những điều kín ẩn trong lòng người ta. Như thế có nghĩa là ngài sẽ khám phá ra chúng con nói thật hay nói dối. Đầy vui mừng, Giaxinta kêu lên:

 

- Khi nào cha đến, nếu có thể nói cách thành thực, ngài sẽ biết chúng ta nói thật.

 

 Một hôm chúng con đang chơi ở ngoài giếng như con đã thưa ở trên. Gần đấy có một cụm nho của má em Giaxinta, bà cắt một chùm cho chúng con ăn, nhưng Giaxinta đã nghĩ ngay tới các tội nhân:

 

- Em nói: Chúng con không ăn, chúng con dâng hy sinh cho các tội nhân.
 
Rồi em chạy đem đi cho các trẻ khác đang chơi trên đường. Trở về với vẻ mặt rạng rỡ niềm vui, vì em đã tìm thấy các trẻ em nghèo và cho chúng chùm nho.

 

Lần khác, cô con gọi chúng con tới ăn quả vả cô vừa mới đưa về, coi thực là ngon lành. Giaxinta ngồi xuống bên cạnh thúng rất vui thích và nhặt lên quả đầu tiên. Khi sắp ăn vả, em chợt nhớ ra điều gì, vội nói:

 

- Đúng rồi, hôm nay chưa làm một hy sinh nào cho các tội nhân, chúng ta phải làm hy sinh này đi."

 

Em bỏ trái vả vào thúng và đọc lời dâng hiến. Chúng con cũng vậy, chúng con bỏ vả lại để cầu cho các tội nhân ăn năn trở lại. Giaxinta làm các hy sinh như vậy hoài hoài, nhưng con không nói nữa kẻo không kể hết.

 

 

 GIAXINTA BỆNH VÀ QUA ĐỜI

 

GIAXINTA BỆNH


Đây con xin kể lại Giaxinta sống thế nào cho tới khi Chúa gửi bệnh cảm khiến em phải nằm liệt giường. Cả em Phanxicô cũng vậy (19). Buổi chiều trước khi nằm bệnh em nói:

 

- Em bị nhức đầu kinh khủng và khát nước lắm, nhưng em không uống nước, vì em muốn hy sinh cho tội nhân.

 

Khi rảnh rỗi, không phải đi học hoặc phải làm gì, con thường đến thăm hai người bạn nhỏ này. Một hôm, khi con tới trường,  Giaxinta gọi, nói với con:

 

- Này, Thưa với Chúa Giêsu ẩn mình rằng em yêu mến Người lắm, em thực tâm yêu mến Người lắm lắm." Và lần khác em nói:

 

- Thưa với Chúa Giêsu rằng, em gửi Ngài lòng yêu mến của em và ao ước gặp Ngài.

 

Khi nào con vào phòng em trước, em thường nói:

 

- Chị ơi, sang thăm Phanxicô đi. Em hy sinh ở đây một mình.

 

Dịp khác, má em đưa đến cho em một ly sữa và bảo em uống.

 

- Em trả lời: Má à, con không muốn uống.

 

Rồi giơ bàn tay nhỏ bé đẩy ly sữa ra xa em. Má em nài nỉ một chút rồi bỏ ra ngoài nói:

 

- Không biết làm cách nào cho nó uống được một chút, nó không thích uống.

 

Khi có hai chúng con, con hỏi em:

 

- Sao em không vâng lời má vậy, và không dâng hy sinh cho Chúa?

 

Nghe nói thế, em chảy nước mắt. Con được hân hạnh lau khô những giọt lệ đó. Em nói:

 

- Lần này em quên.

 

Em gọi má em, xin tha lỗi, và nói má muốn đem gì cho em uống cũng được. Má em trở lại mang ly sữa. Giaxinta uống cạn không tỏ dấu gì là miễn cưỡng. Sau này em nói với con:

 

- Nếu chị biết được em khó lòng uống thế nào.

Lần khác em nói với con:

 

- Càng ngày em càng khó uống sữa và uống nước thịt, nhưng đừng nói gì. Em sẽ uống hết vì lòng yêu mến Chúa và Trái Tim Vẹn sạch Đức Mẹ, Mẹ Thiên đàng yêu dấu của em.

 

Con lại hỏi em:

 

- Em thấy khỏe khá hơn không?

 

- Em trả lời: Chị thấy em không khá hơn. Em thấy đau trong ngực lắm. Nhưng em không nói một lời. Em chịu khổ cho các tội nhân ăn năn trở lại.

 

Một hôm khi con đến, em hỏi:

 

- Hôm nay chị có làm nhiều hy sinh không? Em làm nhiều lắm. Má em đi ra ngoài, em muốn qua thăm anh Phanxicô nhiều lần, nhưng em đã không đi.
 
 

ĐỨC MẸ ĐỒNG TRINH TỚI THĂM



 

Giaxinta đã khá hơn đôi chút. Em có thể ngồi dậy và ngồi cả ngày bên giường Phanxicô. Một hôm, em nhờ người sang tìm con qua gặp em ngay. Con chạy tới.

 

- Giaxinta nói: Đức Mẹ tới thăm chúng em. Người nói, Người sẽ đưa Phanxicô về Thiên đàng rất sớm. Người hỏi em có còn muốn hoán cải tội nhân nữa không. Em nói em muốn. Người bảo em, em phải đi nhà thương, nơi đó em sẽ phải đau khổ nhiều. Ở đó em sẽ đau khổ để các tội nhân ăn năn trở lại, để đền bù những tội người ta xúc phạm đến Trái Tim Vẹn sạch Đức Mẹ, và vì tình yêu Chúa Giêsu. Em hỏi chị có thể đi với em không. Người nói chị không thể đi, và đó là điều em thấy khó khăn nhất. Người nói má em sẽ đưa em đi và em sẽ ở lại đó một mình.

 

Sau đó em nghĩ một lúc rồi nói thêm:



 

- Ước gì có chị ở với em. Cái khó nhất là đi mà không có chị. Có thể nhà thương là một cái nhà đen to lớn, nơi chị không thể thấy, em sẽ ở đó đau khổ một mình, nhưng không sao, em sẽ đau khổ vì tình yêu Chúa, để đền tạ Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ, cho các tội nhân ăn năn trở lại và cầu cho Đức Thánh Cha.

 

Khi tới lúc anh Phanxicô của em về Thiên đàng, em tín thác nơi anh những nhắn gởi cuối cùng này (20):

 

- Dâng cho Chúa và Mẹ Maria tất cả tình yêu của em, thưa với Các Ngài em sẽ chịu mọi đau khổ như các Ngài muốn để cầu cho tội nhân ăn năn trở lại và đền tạ tội lỗi người ta xúc phạm đến Trái Tim Đức Mẹ.

 

Giaxinta đau đớn thiết tha khi anh của em qua đời. Em chôn chặt và lâu dài trong tưởng nhớ, nếu có ai hỏi em đang nghĩ gì, em trả lời là đang nghĩ "về Phanxicô, em muốn bỏ mọi sự để được thấy lại anh". Rồi mắt em nhòa lệ.

 

Một hôm, con nói với em:

 

- Chẳng bao lâu nữa em sẽ được về trời, còn chị sẽ ra sao?

 

- Khổ thân chị. Đừng khóc. Em sẽ cầu nhiều, rất nhiều cho chị khi em ở trên đó. Về phần chị, đó là cách Đức Mẹ muốn như vậy. Nếu Người muốn em như thế, em sẽ vui lòng ở lại và chịu đau khổ hơn cho các tội nhân.

 

 TẠI NHÀ THƯƠNG Ở OURÉM



 

Đã tới ngày cho Giaxinta đi nhà thương (21). Quả thực ở đó em đã phải chịu đau khổ rất nhiều. Khi má em tới thăm em, bà hỏi con có muốn gì không, em nói với má rằng em muốn gặp con, đó là điều không dễ dàng cho cô con, nhưng cô con đã đem con đi với cô vào dịp đầu tiên. Vừa khi Giaxinta thấy con, em vui vẻ quàng tay quanh mình con. và xin má em cho con ở với em khi má em đi ra phố. Rồi con hỏi em có đau đớn nhiều không.

 

- Có, em đau đớn lắm, nhưng em dâng hết cầu cho các tội nhân, và để đền tạ Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ., rồi đầy cảm hứng, em thưa với Chúa và Đức Mẹ:" Ô, con yêu đau khổ vì yêu mến hai Đấng, chỉ vì để làm vui lòng hai Đấng. Chúa và Đức Mẹ yêu tha thiết những ai chịu đau khổ để cứu các tội nhân."

 

Thời giờ chỉ định cho thăm bệnh nhân qua đi mau lẹ, cô con trở lại đem con về nhà. Cô hỏi Giaxinta có muốn gì không. Em bé năn nỉ mẹ, đem con đến với em khi thăm em lần tới. Vì thế bà cô tốt lành muốn làm cho con gái nhỏ của bà sung sướng đã đem con đi với cô lần thứ hai. Con thấy Giaxinta vui như chưa từng có, hạnh phúc được đau khổ vì tình yêu mến Chúa nhân lành và vì Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ, cho tội nhân và cho Đức Thánh Cha. Đó là lý tưởng của em và em không thể nói về điều gì khác.

 

TRỞ LẠI ALJUSTREL



 

 Giaxinta được trở lại nhà cha mẹ một thời gian. Em có một vết thương há rộng trên ngực em, vết thương đó phải được trị hàng ngày, nhưng em chịu đựng không hề kêu ca, không hề tỏ dấu khó chịu. Điều làm em phiền sầu hơn cả là sự lui tới  của nhiều người, và nhiều người muốn gặp em, mà lúc này em không thể đi trốn được.

 

- Em nói cách nhịn nhục: Em dâng cả những hy sinh này để cầu cho kẻ có tội. Em muốn trả mọi giá để đi tới Cabeco, đọc kinh Mân côi ở đó, nơi chúng ta ưa thích. Nhưng em không thể tới đó được nữa. Khi chị tới Cova da Iria nhớ cầu cho em. Chỉ nghĩ thôi, chứ em không bao giờ tới đó nữa.

 

Nước mắt lại tràn ra trên má em.

 

Một hôm cô con bảo thế này:

 

- Hỏi Giaxinta coi nó nghĩ gì khi nó lấy tay che mặt và nằm bất động như thế rất lâu. Cô đã hỏi nó, nhưng nó chỉ mỉm cười mà không trả lời gì.

 

Con hỏi Giaxinta, em trả lời:

 

- Em nghĩ về Chúa, về Đức Mẹ, về các tội nhân và về...(em nghĩ tới vài điều bí mật). Em thích suy nghĩ.

 

Cô con hỏi con, em nó trả lời thế nào. Con chỉ mỉm cười. Cô con đem chuyện này than với má con rằng:

 

-  Cuộc sống cuả những đứa trẻ này là một bí ẩn đối với tôi. Tôi không thể hiểu được chúng.

 

- Má con thêm: Phải, khi chúng ở riêng với nhau, chúng nói hết chuyện trời tới chuyện đất đấy, nhưng khó mà nghe được, cô chẳng hiểu được lời nào. Tôi cũng chẳng hiểu được những điều lạ lùng này.
 
 

ĐỨC TRINH NỮ LẠI TỚI THĂM

 
Một lần nữa, Đức Mẹ đoái thương tới thăm Giaxinta, báo cho em thánh giá và hy sinh mới đang chờ em. Em nói với con tin này:

 

- Đức Mẹ bảo em rằng em sẽ đi Lisbon, tới một nhà thương khác, ở đó em không được gặp chị nữa, cả ba má em cũng không, và sau khi chịu đau khổ dữ dằn, em sẽ chết cô đơn. Nhưng Đức Mẹ nói, em không phải sợ, vì chính Đức Mẹ sẽ tới đưa em về Thiên đàng. Em ôm chặt lấy con và khóc:

 

- Em không bao giờ thấy chị nữa, chị sẽ không tới đó thăm em. Ồ, cầu nguyện thiết tha cho em, vì em sẽ phải chết cô đơn.

 

Giaxinta đau khổ tột cùng cho tới ngày đi Lisbon. Em bám lấy con và khóc như mưa:

 

- Em không bao giờ thấy chị nữa, cả má em, cả anh em em, cả ba em, em không bao giờ thấy ai nữa, rồi em sẽ chết một mình.

 

- Con nhắc cho em: Đừng nghĩ tới đó.

 

- Em trả lời: Cứ để em nghĩ tới đó, em càng nghĩ càng đau khổ, em muốn đau khổ vì tình yêu Chúa và tội nhân. Dẫu sao, em cũng phó mặc. Đức Mẹ sẽ đến đưa em về Thiên đàng.

 

Lúc đó, em nắm chặt và hôn kính Thánh giá, kêu lên:

 

" Ôi Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa, con muốn đau khổ rất nhiều vì tình yêu Chúa", em rất hay nói:" Ôi Chúa Giêsu, bây giờ Chúa có thể hoán cải nhiều tội nhân, vì đây thực là hy sinh lớn".

 

Đôi khi em hỏi con:

 

- Em sẽ chết mà không được rước Chúa Giêsu Ẩn mình à?

 

Đức Mẹ có đem Chúa đến cho em không? Khi nào Đức Mẹ đưa đến?

 

Một hôm con hỏi em:

 

- Em sẽ làm gì trên Thiên đàng?

 

- Em sẽ yêu Chúa Giêsu rất nhiều, và Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ nữa. Em sẽ cầu nguyện nhiều cho chị, cho các tội nhân, cho Đức Thánh Cha, cho cha mẹ em, cho anh chị em em, và tất cả những ai xin em cầu nguyện cho họ.

 

Khi má em buồn bã nhìn đứa con ốm nặng, Giaxinta thường nói:

 

- Đừng lo, má, con sẽ lên Thiên đàng, ở đó con sẽ cầu nguyện rất nhiều cho má.

 

Hoặc em nói: Đừng khóc, con không sao mà.

 

Nếu ba má hỏi em có muốn gì không, em trả lời:

 

- Không, con không muốn gì, Cảm ơn ba má.

 

Rồi khi ba má em rời phòng ra ngoài, em nói:

 

- Em khát nước lắm, nhưng em không muốn uống, em dâng cái khát này lên Chúa Giêsu để cầu cho các tội nhân.

 

Một hôm, sau khi cô con hỏi con nhiều câu, Giaxinta gọi con mà nói:

 

- Em không muốn chị nói với bất cứ ai rằng em đau khổ, ngay cả với má em.

 

Một lần, con thấy em ghì chặt bức ảnh Đức Mẹ nơi ngực mà nói:

 

" Ô, Mẹ Thiên đàng rất yêu dấu của con, có phải con chết một mình không?". Em bé đáng thương này hình như rất sợ tư tưởng phải chết một mình. Con gắng trấn an em, con nói:

 

- Em chết một mình thì có sao đâu, rồi ra Đức Mẹ sẽ tới với em ngay mà.

 

- Đúng vậy, thực ra không sao hết, em không biết tại sao lại vậy. Nhưng đôi khi em quên Đức Mẹ sẽ đến rước em, em chỉ nhớ rằng em sẽ chết mà không có chị ở bên thôi.

 

RỜI GIA ĐÌNH ĐI LISBON


Cuối cùng, ngày phải đi đã tới (22), đó là lần giã biệt vò nát cõi lòng, em đã ôm lấy cổ con hồi lâu và nức nở:

 

- Chúng ta sẽ không bao giờ được gặp nhau nữa. Cầu nguyện nhiều cho em, tới khi em lên Thiên đàng. Rồi em sẽ cầu nguyện nhiều cho chị. Đừng bao giờ nói bí mật cho bất cứ ai, dù họ có giết chị. Yêu mến Chúa Giêsu và Trái Tim Vô nhiễm Đức Mẹ thật nhiều, và dâng hy sinh cầu cho các tội nhân.

 

Trích từ: www.kinhmungmaria.com

 

--------------------------------------------------------------------------

Á thánh Phanxicô
người biết an ủi Chúa và siêng năng đọc kinh Mân côi

(Hồi ký của chị Luxia)

-------------------------------------------------------------------------


ĐỨC TÍNH CỦA PHANXICÔ


Kính thưa Đức Cha,

 

Con xin bắt đầu bằng việc ghi lại những chi Chúa muốn con viết về Phanxicô.  Con trông là Chúa sẽ cho em đang ở trên trời biết con đang nói về em ở dưới đất này.  Nhờ thế, em sẽ xin Chúa Giêsu và Đức Mẹ cho con, nhất là trong những ngày sắp tới.

 

Liên hệ thân quyến đã liên kết con với Phanxicô.(4)  Đó là một ân huệ trời cao đã dành cho chúng con.

Không kể dáng vóc và việc thực hành nhân đức, Phanxicô chả có vẻ là anh của Giaxinta tí nào.  Khác với Giaxinta, em Phanxicô không nông nổi cũng chẳng hoạt bát.  Trái lại, tính em trầm tĩnh và dễ bảo.

Khi chúng con chơi với nhau và em thắng cuộc, nếu có ai cãi lại từ chối em quyền lợi người thắng cuộc, em sẽ êm đềm nhường nhịn :

 

"Bộ chị nghĩ chị thắng à?  Được, em đâu có cần!"

 

Em cũng không ham múa vũ gì như Giaxinta; có lẽ em ưa thổi sáo cho người khác múa hơn.

Em cũng vui vẻ trong các trò chơi nhưng ít ai trong chúng con thích chơi với em, vì em hay thua.  Con phải thú nhận là chính con cũng có lúc không tử tế với em, vì cái tính tự nhiên trầm tĩnh làm tính ưa náo động của con phải bực mình.  Có những lần con kéo em ngồi xuống và bắt em ngồi yên đấy; em đã nghe lệnh con như là con có quyền thật vậy.  Sau đó con hối hận và trở lại nắm tay em, em lại chơi với con vui vẻ như không có chi xảy ra vậy.  Nếu có bạn trẻ nào đòi đồ gì của em, em nói: "Cho nó cái đó, em đâu có thèm cái đó!"

 

Con còn nhớ rõ ràng một lần.  Em sang nhà con, sung sướng khoe với con chiếc khăn tay có hình Đức Mẹ Nazaret trên đó mà một người vùng biển đã tặng em.  Bọn trẻ túm quanh em và khen ngợi chiếc khăn.  Chiếc khăn được chuyền tay xem, nhưng một hồi biến đâu mất.  Chúng con kiếm mãi nhưng chẳng ra.  Thế rồi, vô tình con thấy nó trong túi một bạn nhỏ.  Con đòi lại nhưng ông bạn nhỏ cãi là của ông cũng một người đi miền biển về tặng cho ông.  Để dẹp chuyện cãi lộn, em Phanxicô đến nói: "Cho nó cái đó, cần gì, em đâu có hám gì cái khăn tay!"  Con nghĩ là nếu em sống lâu đến tuổi lớn, khuyết điểm to của em có lẽ là thái độ "bất cần gì"!

 

Ngay khi em lên bảy và bắt đầu đi chăn chiên, em đã có vẻ dửng dưng rồi.  Chiều chiều, em đợi con ở sân nhà con với em Giaxinta, không phải vì em mến con đâu, nhưng để hài lòng em Giaxinta.  Vừa nghe tiếng chuông cừu leng keng, em Giaxinta đã vội vã chạy ra đón con, trong khi em Phanxicô cứ ngồi trên bậc đá trước cửa nhà chờ con.  Sau đó, em đến chơi với chúng con ở sàn nhà lúa cũ, trong khi chờ Đức Mẹ và các thiên thần nhóm sáng đèn của các ngài.  Em say sưa đếm sao với chúng con, nhưng vẻ đẹp của Rạng đông hay hoàng hôn làm em say mê hơn.  Bao lâu em còn thấy một tia sáng của chiều tà thì em không thèm để ý xem cái đèn nào thắp sáng trước hết.

"Đèn của Chúa đẹp vô địch" em thường bảo em Giaxinta thế. Em Giaxinta thích đèn của Đức Mẹ hơn vì "nó không chói mắt".  Em mê ly ngắm tia sáng mặt trời lóng lánh phản chiếu trên khung cửa của những nhà hàng xóm, hay óng ánh trên muôn ngàn giọt sương của nhành cây, khóm lá.  Với em, điều đó đẹp hơn các đèn thiên thần nhiều.

 

Khi em nũng nịu với má em, xin cho em được đi chăn chiên và nhờ thế đi với con, chính ra là để hài lòng Giaxinta mà thôi, vì em Giaxinta thích có Phanxicô hơn là sự hiện diện của anh Gioan.  Ngày kia, bị quấy rầy hoài, má em không cho phép đi đâu hết.  Em đã bình thản thưa lại: "Thưa má, với con thì sao cũng được.  Nhưng em Giaxinta cứ đòi con đi."  Em còn nhắc lại trong lần khác.  Một bạn chăn chiên sang nhà con rủ con đi với chị vì bữa đó chị có đồng cỏ tốt lắm.  Trời vừa sáng, con vội sang nhà chú để hỏi xem ai đi chăn với con bữa đó: Phanxicô và Giaxinta hay Gioan.  Vì bữa đó trời có vẻ sắp mưa, chú định là Gioan phải đi.  Nhưng Phanxicô đã chạy lại má nài nẵng nhưng má cứ quyết là không.  Em thưa lại: "Với con đàng nào cũng vậy, nhưng như thế làm em Giaxinta buồn thôi."

 

KHUYNH HƯỚNG TỰ NHIÊN


Khi chúng con vui đùa ở núi đồi với nhau, Phanxicô rất thích trèo lên tảng đá cao nhất rồi ngồi hát hay thổi sáo.  Dù con và em Giaxinta có chạy đua em cũng mặc kệ, cứ ngồi mà thưởng thức ca nhạc.  Em hay hát những bài như:

 

Tôi mến Chúa trên trời cao, Tôi yêu Chúa nơi trần thế. 

Tôi thích hoa đẹp biết bao, Tôi thương chiên non xiết kể. 

Là một bé chăn chiên nghèo, Tôi luôn cầu cùng Trinh Nữ;

Ngay ở giữa đoàn chiên, Tôi như mặt trời chính ngọ. 

Tôi tập chạy nhảy tung tăng, Theo nhịp điệu các chú chiên non;

Trong niềm vui miền rừng núi, Tôi vui thỏa nhìn hoa huệ giữa cánh đồng.

 

Em luôn tham dự cuộc chơi nếu chúng con rủ em.  Nhưng em ít tỏ vẻ ham mộ: "Em sẽ xuống chơi, nhưng mà em xin thua".  Các trò chơi chúng con biết tuy hào hứng nhưng rẻ tiền: Trò triệu phú với tiền bạc bằng sỏi, bằng cúc đếm điểm và các bài như bài tây.  Chúng con có 2 bộ bài tây: con một bộ, các em một bộ.  Phanxicô thích chơi bài và "bisca" là loại em thích nhất.

 

PHANXICÔ THẤY THIÊN THẦN


Lúc thiên thần hiện ra, em cũng như chúng con sấp mình xuống do một sức huyền nhiệm nào đó thúc đẩy.  Nhưng như em nói với chúng con, em chả nghe thấy chi hết nên em phải học lại chúng con lời kinh thiên thần dậy.

 

Về sau mỗi khi chúng con sấp mình xuống đọc lời kinh đó, em là người lúc đầu cảm thấy cử chỉ đó lạ lẫm, nhưng em cứ quì hay ngồi cầu nguyện cho tới khi chúng con đọc xong.  Em có nói với con: "Em không thể nào sấp mình lâu thế được.  Mỏi lưng lắm không sao chịu được."

 

Khi thiên thần đến lần thứ hai bên bờ giếng, Phanxicô đã chờ xong một hồi lâu mới hỏi:

 

- Chị nói với thiên thần, còn thiên thần nói chi với chị! 

 

- Thế em không nghe sao? 

 

- Không, em có thấy thiên thần đang nói với chị.  Em có nghe chị nói với thiên thần còn thiên thần nói chi em không biết.

 

Vì thiên thần hiện ra để lại một bầu khí huyền nhiệm khó tả, con bảo em, ngày mai con hay em Giaxinta sẽ trả lời.

 

- Này Giaxinta, em nói cho anh biết thiên thần đã nói gì với em đi!

 

- Ngày mai em sẽ nói cho anh nghe.  Em không biết nói chi bây giờ.

Bữa sau vừa gặp con, em hỏi ngay:

 

- Đêm rồi chị ngủ được không?  Em cứ mơ màng nghĩ về thiên thần và có thể là thiên thần đã bảo chị những gì.

 

Sau đó con kể cho em nghe hết những gì thiên thần đã nói trong cả hai lần hiện ra.  Nhưng có vẻ em không hiểu lắm vì em hỏi con:

 

- Ai là Đấng Tối Cao?  Tại sao lại Trái Tim Chúa Giêsu và Mẹ Maria lắng nghe lời khẩn cầu?

 

Sau khi nghe con trả lời, em xem bộ suy nghĩ, rồi em lại hỏi tiếp.  Nhưng tâm trí con chưa được thảnh thơi nên con bảo em đợi bữa sau vì bấy giờ con không sao nói được.  Em đã vui lòng im lặng chờ đợi dù sau đó Giaxinta có trở lại câu chuyện.

 

- Này, sao chúng ta không nói nhiều về chuyện này được!  Em không biết nói làm sao nữa, em cũng không thể hiểu những gì em đang cảm thấy.  Em không thể nói, hát hay chơi được nữa.  Em như chả còn tí nghị lực nào vậy.

 

- Anh cũng vậy, nhưng mà cái chi vậy.  Thiên thần đẹp lắm, chúng ta hãy nghĩ đến thiên thần.

 

Trong lần hiện ra thứ ba, bầu khí thiêng liêng còn mạnh mẽ hơn.  Suốt cả tuần lễ Phanxicô chả dám nói gì.  Mãi sau, em nói:

 

- Em thích ngắm thiên thần, nhưng có cái tệ là chúng ta cứ đờ người ra vầy.  Ngay cả đi đứng em cũng không còn có thể.  Em không thể nào hiểu tại sao vậy.

 

Dù thế chính em đã bảo chúng con là trễ rồi, phải đưa chiên về nhà không thì tối lắm.

 

Khi trở lại bình thường, Phanxicô gặp con hỏi:

 

- Thiên thần cho chị chịu Mình Thánh, còn trao cho chúng em cái gì vậy? 

 

- Cũng Mình Thánh đấy, anh Phanxicô ơi!  Bộ anh không thấy máu nhỏ từ Bánh Thánh sao?  Giaxinta đã vui sướng trả lời Phanxicô như thế.

 

- Anh cũng cảm thấy là Chúa ở trong anh, nhưng không hiểu tại sao!

 

Sau đó hai anh em sấp mình xuống đất một hồi lâu và đọc đi đọc lại lời nguyện thiên thần đã dậy: "Lạy Chúa Ba Ngôi Chí Thánh..."

Bầu khí thiêng liêng phai nhạt dần và khoảng trước ngày 13 tháng 5 chúng con đà có thể giỡn chơi như thường.

 

 ẤN TƯỢNG VỀ LẦN HIỆN RA ĐẦU TIÊN


Sự Đức Mẹ hiện ra lại đem chúng con trở lại bầu khí huyền nhiệm nhưng êm nhẹ dịu dàng hơn.  Không hoàn toàn tan biến trong sự hiện diện thần linh, cả tâm lý lẫn thể lý, như trước, dù bình an và vui sướng chất ngất chúng con còn có thể nói được về những chi đã xảy ra.  Tuy thế chúng con cảm nghiệm một nội lực bắt ép chúng con yên lặng về ánh sáng Đức Mẹ tỏa xuống qua tay và những gì liên hệ đến ánh sáng đó.

 

Sau đó con có kể lại cho Phanxicô mọi điều Đức Mẹ dặn.  Em hân hoan quá vì cảm thấy hạnh phúc khi nghe lời hứa em sẽ được về trời.  Đặt tay lên ngực em hứa: "Ôi, Lạy Đức Bà yêu dấu, con sẽ đọc rất nhiều kinh Mân côi như Bà bảo!"  Từ đó, em có thói quen lảng xa chúng con như là để đi dạo.  Khi chúng con gọi hỏi em đang làm chi, em giơ tay ra và chỉ cho con tràng hạt của em.  Dù lúc chúng con rủ em lại chơi rồi sẽ đọc kinh chung sau:

 

- Ồ, em sẽ đọc kinh chung nữa.  Nhưng bộ chị không nhớ Đức Mẹ dặn em phải cầu nguyện thật nhiều bằng kinh Mân côi sao?"

 

Em có nói với con:

 

- Em thích được nhìn thiên thần, nhưng em thích ngắm Đức Mẹ hơn.  Chớ chi chúng ta được nhìn ngắm Chúa trong ánh sáng như ánh sáng Đức Mẹ đã chiếu giãi vào lòng chúng ta.  Em yêu Chúa lắm!  Nhưng Chúa buồn sầu vì quá nhiều tội lỗi.  Chúng ta không được phạm tội gì nữa.

 

Như con đã thưa, chính em Phanxicô báo tin cho con là em Giaxinta đã không giữ lời hứa "giữ kín".  Tuy thế ngay khi bàn về giữ kín câu chuyện em đã nói: "Đối với em, nếu chẳng may má em hỏi đó có là chuyện thật không, em sẽ trả lời thật, để không bao giờ nói dối."

Em thường nhắc lại: "Đức Mẹ đã bảo chúng ta là chúng ta phải đau khổ nhiều nhưng em không sợ.  Em sẵn lòng chịu mọi khổ đau Đức Mẹ muốn.  Em chỉ mong được về trời thôi."

Một bữa, con tỏ ra bị hành hạ khổ quá, cả trong gia đình lẫn ngoài xã hội, em Phanxicô đã khích lệ con:

 

- Đừng sợ chị ơi!  Bộ chị không nhớ Đức Mẹ dặn là chúng ta sẽ phải đau khổ nhiều để đền tạ Chúa và Trái Tim Mẹ vì tội lỗi thế gian sao?  Chúa và Đức Mẹ buồn quá!  Hạnh phúc biết mấy, nếu chúng ta có thể dâng những hy sinh này an ủi Người!

 

Sau lần hiện ra đầu ít bữa, vừa tới đồng cỏ em đã trèo lên tảng đá rất cao:

 

- Đừng có lại đây nha, để mình em ở đây thôi. 

 

- Được!  Và chúng con chạy đi đuổi bướm.

 

Thật ra, chúng con hy sinh không bắt bướm nhưng chỉ đuổi cho chúng bay và quên bẵng em Phanxicô.  Khi dùng bữa trưa chúng con mới nhớ đến Phanxicô và đi gọi em:

 

- Phanxicô, bộ em không ăn trưa sao? 

 

- Không, chị ăn đi! 

 

- Ăn rồi còn đọc kinh Mân côi nữa chứ! 

 

- Có chứ, nhưng mà đọc sau cơm.  Khi nào đọc gọi em nhá.

 

Khi chúng con gọi em, em rủ chúng con trèo lên chỗ em ở:

 

- Ráng trèo lên đây và đọc kinh với em đi!

 

Chúng con trèo lên chỏm đá, và tảng đá nhỏ quá phải khó khăn lắm ba người mới quì được.  Con hỏi em:

 

- Em làm chi suốt sáng đến giờ? 

 

- Em nghĩ về Chúa.  Chúa buồn vì tội nhiều quá.  Ước chi em làm cho Chúa vui!(5)

 

Có bữa chúng con vui ca về niềm vui của miền núi qua ca khúc:

 

A, tra la la la la , Tra la la la la , la la la!

Mọi vật đều ca hát, Ai hát hay hơn tôi? 

Mục đồng ngắm chiều mơ , Với dòng suối tươi vui!

Chim rừng líu lo hát , Giục tôi mau chỗi dậy,

Vừa khi rạng đông tỏ , Cỏ khô cũng hồi sinh,

Cú rúc trong đêm lạnh , Hòng làm tôi khiếp kinh ,

Mục đồng vẫn không nản , Hát mãi trong đêm trường.

Họa mi trên đồng thảo , Hát suốt cả ngày dài,

Chim gáy mãi khắp nẻo , Ngay cả xe cũng hát!

Đồi nương nhiều sỏi đá.  Nhưng suốt ngày hạnh phúc ,

Điểm trang ngọc sương mai , Lóng lánh tận núi rừng.

 

Chúng con hát hết một lần và đang tính hát lại thì Phanxicô cản lại:

 

"Đừng hát nữa, từ khi thấy thiên thần và Đức Mẹ, ca hát chả hấp dẫn chi với em nữa!"

 

ẤN TƯỢNG VỀ LẦN HIỆN RA THỨ HAI


Ánh sáng của lần hiện ra thứ hai ngày 13 tháng Sáu năm 1917 đã ghi đậm nét nơi Phanxicô.  Đức Mẹ đã thông ban ánh sáng cho chúng con khi phán: "Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ là nơi con ẩn náu và là đường dẫn con tới Chúa."  Khi đó có vẻ em không hiểu được ý nghĩa, có thể vì em không được nghe những lời Đức Mẹ nói.  Em có hỏi:

 

- Tại sao Đức Mẹ mang một Trái Tim ở tay khi tỏa ánh sáng Thiên Chúa cho thế giới?  Chị với Đức Mẹ ở trong ánh sáng chiếu xuống trái đất còn em với em Giaxinta lại ở trong ánh sáng chiếu lên trời!

Con trả lời:

 

- Vì em với em Giaxinta sẽ về trời sớm!  Trong khi chị, với Trái Tim Mẹ Maria, sẽ ở dưới đất này lâu hơn. 

 

- Chị ở bao lâu? 

 

- Chị đâu biết! 

 

- Bộ Đức Mẹ nói vậy sao? 

 

- Phải và chị thấy điều đó trong ánh sáng Đức Mẹ chiếu vào trái tim chúng ta.

 

Em Giaxinta quả quyết thêm:

 

- Đúng vậy!  Em cũng thấy thế luôn!

 

Có lần em nhận xét là:

 

- Chắc người ta sẽ sung sướng vì chị nói cho họ Đức Mẹ muốn người ta năng lần hạt!  Chị phải đi học để biết đọc biết viết!  Người ta sẽ cảm thấy hứng thú biết mấy khi họ hiểu những gì Đức Mẹ chỉ cho chúng ta trong Chúa, trong Trái Tim Mẹ và trong ánh sáng vĩ đại đó!  Nhưng mà đó là điều bí mật, không được nói đâu.  Có lẽ không nên cho ai biết về điều đó.

 

Từ sau lần hiện ra này, hễ khi nào người ta hỏi chúng con Đức Mẹ có bảo gì nữa không, chúng con đều trả lời là "Có chứ, nhưng đó là điều bí mật!"  Nếu họ hỏi lý do việc giữ bí mật chúng con chỉ nhún vai và im lặng.  Nhưng từ sau ngày 13 tháng 7 chúng con lại nói: "Đức Mẹ bảo chúng cháu không được nói cho bất cứ ai!"  Điều đó đề cập đến bí mật Đức Mẹ dặn.

 

PHANXICÔ KHÍCH LỆ LUCIA


Dân chúng lũ lượt kéo đến càng ngày càng đông đảo, hạch sách và chê bai cũng tăng hơn.  Em Phanxicô khổ sở vì những điều đó nhiều.  Một bữa em buồn với em Giaxinta:

 

- Trời ơi!  Tội nghiệp quá!  Nếu em im đi có phải êm không!  Làm sao mà họ biết được!  Nếu không phải là điều nói dối chắc anh chối phắt đi cho rồi, chắc là xong nợ!  Nhưng lại không thể được!"

Khi em thấy con băn khoăn bối rối, em khóc và nói:

 

- Sao chị lại nghĩ đó là việc ma quỉ được?  Bộ chị không nhìn thấy Chúa và Đức Mẹ trong ánh sáng vĩ đại sao?  Không cách chi mà chúng em có thể tới đó mà không có chị để đứng ra nói chuyện?"

Sau cơm chiều em lại sang nhà con gọi con và nói:

 

- Ngày mai chị không đi thực sao?

 

- Không, không có đi đâu hết!  Chị đã bảo Phanxicô là chị không bao giờ đến đấy nữa!

 

- Kỳ thế!  Sao chị lại nghĩ vậy?  Chị không nghĩ rằng chuyện đó không thể là chuyện ma quỉ nữa sao?  Chúa buồn vì tội lỗi người ta lắm rồi.  Nếu chị không đi Chúa còn buồn hơn nữa cơ!  Rán lên chị, mai đi đi!

 

- Chị đã bảo em là chị không đi.  Khuyên vô ích, ăn thua gì!

 

Và con cắt ngang, chạy lên nhà.

 

Ít bữa sau, em nói với con: "Chị biết không, đêm đó em đâu có ngủ được.  Em hết khóc lại cầu nguyện và xin Đức Mẹ làm cho chị đi với chúng em.

 

ẤN TƯỢNG VỀ LẦN HIỆN RA THỨ BA.


Đối với thị kiến hỏa ngục, Phanxicô có vẻ ít bị xúc động nhất, tuy thế nó cũng có những hiệu quả đáng kể.  Điều làm em xúc động mãnh liệt và chi phối em là Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh được nhìn nhận trong ánh sáng thấu nhập tận linh hồn chúng con.  Em có nói:

 

- Chúng ta đã ở giữa lửa trong ánh sáng là chính Thiên Chúa và chúng ta chưa bị thiêu rụi!  Thiên Chúa là chi?...chúng ta không có lời nào tả nổi.  Phải đó thực là điều chúng ta không bao giờ tả được.  Nhưng điều bất hạnh là Chúa buồn phiền quá, ước chi em có thể an ủi Ngài!

 

Một bữa, khi có người hỏi Đức Mẹ có xin cầu cho tội nhân không, con trả lời không.  Ngay sau đó, Phanxicô gọi con khẽ bảo:

 

- Chị vừa nói dối nha!  Tại sao chị lại nói Đức Mẹ không dạy chúng ta cầu cho tội nhân?  Bộ Đức Mẹ không dạy chúng ta cầu cho kẻ có tội là gì?           - - Cho kẻ có tội?  Không, Đức Mẹ bảo chúng ta cầu cho hòa bình, cầu cho chiến tranh chấm dứt.  Còn cho tội nhân, Đức Mẹ dặn chúng ta hãy hy sinh cho họ.

 

- À, em nhớ ra rồi!  Đúng thế!  Em cứ tưởng chị nói láo chớ!

 

 PHANXICÔ TRONG TÙ


Như con đã nói, Phanxicô đã qua một ngày trong cầu nguyện và khóc lóc và có lẽ lo lắng bối rối hơn cả con, khi Ba con nhận trát đòi đưa con ra trước tòa hành chánh Vila Nova de Ourém.(6)  Ở trong tù, em Phanxicô đã tỏ ra can đảm lạ thường và cố gắng an ủi em Giaxinta vì em nhớ nhà kinh khủng.  Khi chúng con lần chuỗi Mân côi trong tù, em nhận thấy một tù nhân cũng quì đọc nhưng vẫn còn đội mũ.  Em Phanxicô lại bên và nói: "Nếu ông muốn cầu nguyện ông nên bỏ mũ xuống đã!"  Tù nhân đó trao mũ ngay cho em và em mang lại ghế đặt trên mũ của em.

 

Đang khi Giaxinta bị dẫn đi tra hỏi, em đã tâm sự với con cách bình tĩnh và vui mừng khôn tả: "Nếu họ giết chúng ta như họ nói, chúng ta sẽ về Thiên Đàng rất sớm!  Vui sướng biết mấy!  Không có chi đáng ngại hết!"  "Lạy Chúa, xin  cho em Giaxinta đừng sợ hãi chi!  Con xin đọc một kinh Kính mừng cho em đây!"  Rồi em bỏ mũ và cầu nguyện.  Lính gác thấy em cầu nguyện hỏi:

 

- Mày nói cái gì vậy thằng nhỏ kia?

 

- Tôi đọc kinh Kính mừng để Giaxinta em tôi không sợ sệt!

 

Ông ta để mặc kệ em Phanxicô muốn làm gì thì làm.

 

Sau khi bỏ Vila Nova de Ourém về, chúng con cảm biết được ngay sự hiện diện của siêu nhiên bao bọc chúng con như là chúng con sắp được liên lạc với trời cao.  Lập tức em Phanxicô nghì đến em Giaxinta vắng mặt.

 

- Tội nghiệp nếu em Giaxinta đến trễ!

 

Em đã nói với em (Gioan) đi gọi Giaxinta tới gấp:

 

- Về nói Giaxinta lại đây gấp nha!"

 

Rồi em Phanxicô nói với con:

 

- Giaxinta sẽ rất buồn nếu em không tới kịp!

 

Sau khi Đức Mẹ hiện ra rồi, Giaxinta đòi ở lại đó suốt buổi chiều, nhưng Phanxicô bảo:" Giaxinta! Em phải về vì má không đồng ý cho em ở ngoài đồng với chiên cừu!"  Và để phấn khích em, chính Phanxicô dẫn em về nhà.

 

Con còn nhớ ở trong tù khi đã quá trưa mà người ta không cho chúng con tới đồi Cova da Iria em Phanxicô có nói:

 

- Có lẽ Đức Mẹ sẽ đến và hiện ra ở đây

 

 Bữa sau em cảm thấy buồn sầu long lanh nước mắt, em nói:

 

- Đức Mẹ chắc là buồn lắm vì chúng ta không tới Cova da Iria.  Mẹ sẽ không hiện ra nữa.  Em ước muốn ngắm nhìn Đức Mẹ quá đi!

 

Trong khi em Giaxinta khóc lóc thảm thiết vì nhớ má và nhớ nhà, em Phanxicô gắng làm cho Giaxinta vui:

 

- Nhẫn nại chứ bé, dù mình không được gặp má bao giờ nữa.  Chúng ta có thể dâng lên cầu cho tội nhân ơn thống hối.  Điều khổ nhất là Đức Mẹ không tới nữa.  Điều đó làm anh buồn lắm lắm nhưng anh cũng dâng điều đó cầu cho tội nhân!"

Sau đó em có hỏi con:

 

- Chị ơi!  Đức Mẹ có tới và hiện ra với chúng ta nữa không? 

 

- Cũng chả biết nữa!  Có thể Đức Mẹ sẽ tới."

 

- Em nhớ Người lắm.

 

Lần hiện ra tại Valinhos là niềm vui gấp bội cho em.  Em bị dày vò vì sợ rằng Đức Mẹ sẽ không trở lại.  Em có nói với con:

 

- Chắc Đức Mẹ không hiện ra đúng ngày 13 là để tránh nhà ông Quận trưởng có lẽ vì ông không tốt."

 

ẤN TƯỢNG VỀ HIỆN RA LẦN CUỐI CÙNG


Sau ngày 13 tháng Chín, khi con bảo Phanxicô là Chúa cũng đến trong lần hiện ra tháng 10 tới, em tràn ngập vui mừng nói với con: "Ồ, Chúa tốt lành biết bao!  Em mới chỉ nhìn thấy Chúa có hai lần nhưng em mến Chúa lắm lắm!"(7)  Em tính từng ngày:

 

- Còn mấy bữa nữa đến ngày 13 hả chị?  Em mong ngóng ngày đó đến quá để em được nhìn ngắm Chúa!"  Ngẫm nghĩ giây lát em nói:

 

- Nhưng này chị, Chúa có còn rất buồn không?  Em buồn vì xem Chúa buồn thế!  Em gắng dâng Chúa mọi hy sinh em có thể nghĩ ra.  Đôi lúc em có ý không tránh người ta quấy rầy cốt để dâng Chúa những hy sinh!"

 

Em có nói với con sau ngày 13:

 

- Em thích nhìn ngắm Chúa lắm nhưng em còn muốn nhìn Chúa trong ánh sáng đời đời kia.  Sẽ chẳng còn bao lâu nữa, Chúa sẽ đưa em về bên Người và em có thể nhìn ngắm Chúa hoài!

 

Một bữa con hỏi em:

 

- Khi người ta hỏi sao em lại cúi xuống mà không thèm trả lời?

 

- Vì em muốn chị hay em Giaxinta trả lời!  Hơn thế, em đâu có nghe thấy gì, em chỉ có thể nói những gì em thấy.  Nhỡ em nói cái gì chị không muốn nói ra thì sao?

 

Thỉnh thoảng em lảng xa chúng con mà chẳng bảo gì.  Thấy mất em chúng con chạy đi kiếm, lại thấy em ở sau bức tường hay bụi cây nào đó đang quì cầu nguyện:

 

- Sao em không rủ ai cầu nguyện với em?

 

- Em thích cầu nguyện một mình hơn.

 

Con đã kể những chi xảy ra trên mảnh đất Varzea.  Con nghĩ là không nên kể lại làm chi.

 

Một bữa trên đường về nhà, chúng con có ghé nhà má đỡ đầu của con.  Bà có ít rượu mạch nha và đưa cho chúng con mỗi đứa một ly.  Trước hết bà đưa cho Phanxicô, em nhận nhưng rồi không uống đưa cho em Giaxinta vì thế con với em Giaxinta lại uống trước.  Trong khi đó em chuồn mất.  Bà hỏi chúng con:

 

- Phanxicô đâu rồi?

 

- Con chả biết nữa, em vừa ở đây mà!

 

Em đã không trở lại vì thế chúng con uống xong, cám ơn vội và đi kiếm em.  Chúng con đoán chắc là em lại ra bờ giếng đấy thôi.

 

- Em Phanxicô, sao em không uống rượu mạch!  Bà má  kêu hoài mà sao không thấy em!

 

- Khi vừa cầm ly lên, em sực nhớ em có thể dâng hy sinh để an ủi Chúa, vì thế em đã ra đây!

 


TRUYỆN VUI


Từ nhà con tới nhà Phanxicô phải qua nhà bố đỡ đầu con, ông Anastacio.  Ông bà đã có phần tuổi mà vẫn không có con cái gì.  Ông có nông trại và khá sung túc, nên không cần làm lụng lắm.  Ba con làm cai nông trại của ông vì thế ông bà rất thương con, nhất là bà, người mà con gọi là má đỡ đầu Têrêsa.  Nếu con không ghé thăm ban ngày thì đêm con phải sang đó ngủ.  Vì bà không yên giấc nếu vắng "cục cưng" nhỏ như bà gọi con.

 

Vào những dịp lễ, bà vui thích trang điểm con với những dây chuyền vàng và bông tai nặng lủng lẳng chùng tới vai con, với cái mũ nhỏ dắt nhiều lông chim to lớn màu sắc dát chung quanh sợi dây vàng.  Con thành người nổi nang nhất trong các buổi lễ như thế.  Thực ra, nhờ thế bà và chị em con hãnh diện lắm.  Các trẻ em xúm chung quanh con trầm trồ khen ngợi đồ con trang sức.  Thú thực là con hứng thú với những buổi lễ đó lắm và làm dáng cũng là nết xấu của con.  Mọi người có vẻ mến chuộng con, trừ có con nhỏ mồ côi mà má đỡ đầu đã đem về nuôi khi má thật của em chết.  Có lẽ con nhỏ sợ con sẽ chiếm phần gia tài nó mong đợi và thật ra nó không lầm, nếu Chúa đã không định chọn cho con phần gia tài quí báu hơn.

 

Khi có tin về việc hiện ra, cha đỡ đầu của con tỏ ra không quan tâm gì, trong khi má đỡ đầu thì hoàn toàn phản đối.  Bà không dấu giếm phản đối "sự can thiệp" đó như bà gọi thế!  Vì vậy, con bắt đầu cố xa tránh nhà bà.  Thấy vắng bóng con, bọn trẻ hay tụ tập ở đó cũng ít lui tới.  Má đỡ đầu con khoái nhìn xem bọn trẻ ca hát và múa nhảy.  Bà đãi bọn trẻ mận kho, hạt dẻ, hạnh đào đậu phụng và nhiều hoa trái khác.

 

Một buổi chiều Chúa Nhật, chúng con ngang qua gần đó bà đã gọi chúng con vào: "Vào đây chơi, lũ "giặc" con kia, vào đây.  Sao lâu rồi chả thấy bóng chúng bay đâu hết!"  Bà lại thiết đãi chúng con đủ thứ.  Bọn trẻ có lẽ đoán chúng con vô đó cũng mò đến.  Sung sướng vì thấy chúng con tụ họp sau một thời vắng bóng, bà mang mọi thứ ngon ngọt cho chúng con để chúng con ca hát và múa nhảy.

 

PHANXICÔ, NHÀ LUÂN LÝ TÝ HON


Khi các bà láng giềng tới chung vui, họ không còn nghe thấy tiếng ca hát và họ yêu cầu chúng con hát lại lần nữa.  Em Phanxicô khẽ bảo con: "Đừng hát những bài đó nữa.  Chắc Chúa không muốn mình hát những bài ấy nữa đâu."  Vì thế chúng con lẩn vào đám đông rồi chuồn ra bờ giếng quen thuộc của chúng con.

 

Thực tình, con thấy xấu hổ dù đã ghi lại những bài đó trong đức tuân phục trọn hảo.  Theo lời yêu cầu của Cha tiến sĩ Galamba.  Đức Cha đã nghĩ là con nên viết lại những bản dân ca con quen biết.  Con không hiểu tại sao lại yêu cầu điều đó, nhưng với con, thi hành việc đó là chu toàn ý Chúa.

 

Trong khi đó, gần đến tuần lễ trước mùa chay năm 1918.  Con trai, con gái lại sửa sọan cho ngày hội với ăn uống và vui chơi.  Mỗi người lấy ở nhà ít thực phẩm như dầu, bột, thịt...tới một nhà nào đó và ở đó con gái có bổn phận dọn một bữa tiệc thịnh soạn.  Trong những ngày đó nhất là "thứ ba béo" ngưòi ta vui chơi múa nhảy suốt đêm tới sáng.

 

Trẻ em dưới 14 tuổi tổ chức lễ tại một nhà riêng.  Một vài dứa bạn đã rủ con giúp tổ chức.  Đầu tiên con chối, nhưng sau cùng con hơi hèn nhát đành chịu nhận, nhất là khi nghe bọn trẻ gia đình José Carreira nài nẵng vì ông đã nhường nhà tại Casa Velha cho chúng con xử dụng.  Ông bà đã một mực xin con gắng tới đó.  Con đành nhượng bộ và theo đám đông tới xem địa điểm.  Có một gian phòng rộng lớn như hội trường rất thuận tiện cho cuộc vui, lại một sân cỏ tiện cho bữa chiều.  Mọi chuyện xếp đặt xong xuôi.  Con về nhà bề ngoài hớn hở như ngày hội mà trong lòng lương tâm đang phiền trách.  Con vội kể cho Giaxinta và Phanxicô nghe mọi chuyện.  Phanxicô nghiêm nghị hỏi con:

 

- Bộ chị tính trở lại với những trò chơi đó sao?  Bộ chị quên là chúng ta đã hứa là sẽ không bao giờ làm điều đó nữa rồi sao?"

 

- Không, chị không muốn trở lại chút nào.  Nhưng Phanxicô thấy đấy, họ cứ nài mãi! Và chị chả biết làm thế nào bây giờ.

 

Đúng là không còn lối nào khác trước những lời yêu cầu và sự rủ chơi của các bạn bè.  Một số đến từ những làng rất xa - từ Rosa, Ana Caetano, Ana Brogueira, từ Moita, hai đứa nhỏ ông bà Manuel Caracol từ Fatima; hai con nhỏ ông bà Manuel da Ramira và hai ngưòi con ông bà Joaquin Chapeleta từ Boleiros; hai đứa nhỏ gia đình Silva từ Amoreira; Laura Gato, Josefa Valinho từ Currais và một số khác lâu quá con không nhớ tên nữa, đó là chưa kể đến nhóm từ Boleiros, nhóm Lomba de Pederneira, nhóm Eira da Pedra, nhóm Casa Velha và nhóm Aljustrel.  Làm thế nào con có thể ngang nhiên rẽ ngang bỏ rơi bọn trẻ đó khi có vẻ thiếu con họ không biết làm sao vui chơi được.  Hơn thế làm thế nào để họ hiểu là con sẽ không bao giờ đến những ngày họp như thế nữa.  Chúa đã cảm hứng Phanxicô trả lời:

 

- Chị có biết làm thế nào bây giờ không?  Mọi người biết Đức Mẹ đã hiện ra với chị.  Vì thế chị có thể nói thực ra là chị đã hứa không nhảy vũ nữa do đó chị sẽ không đi!  Rồi bữa đó chúng ta có thể lên tận động núi ở Cabeco, chắc không ai kiếm ra đâu.

 

Con chấp nhận đề nghị của em và một khi con đã tỏ ý định thì cũng chẳng ai nghĩ đến tổ chức nữa.  Chúa đã chúc lành cho chúng con.  Một số đứa bạn con đã mời con tham gia trước, lại tới nhà rủ con đi lần hạt tại đồi Cova da Iria.

 

PHANXICÔ THÍCH ÂM THẦM VÀ CẦU NGUYỆN


Phanxicô là bé trai ít nói.  Nếu em muốn cầu nguyện hay dâng hy sinh, em đi lánh xa mọi người kể cả con và Giaxinta.  Chúng con hay làm em giật mình khi em ẩn sau bức tường hay bụi cây để quì cầu nguyện hay suy niệm về Chúa, như em nói "Đấng quá buồn vì muôn ngàn tội lỗi."

 

Nếu con hỏi:

 

- Em Phanxicô, sao không rủ chị cầu nguyện chung với, cả với em Giaxinta nữa?

 

- Em thích cầu nguyện một mình vì nhờ thế em sẽ suy niệm và an ủi Chúa Đấng quá buồn!

 

Có lần con hỏi:

 

- Này em Phanxicô, an ủi Chúa và hoán cải tội nhân để không ai sa hỏa ngục nữa em thích đàng nào hơn?

 

- Em thích an ủi Chúa hơn.  Bộ chị không chú ý là tháng trước Đức Mẹ hết sức buồn bả khi nói:" Người ta không được xúc phạm đến Chúa nữa vì Ngài đã bị xúc phạm quá nhiều rồi?"  Em thích an ủi chúa rồi hoán cải các tội nhân để không ai phạm đến Chúa nữa.

Đôi lần trên đường đi học khi chúng con qua Fatima, em đã nói với con:

 

- Ê, chị cứ đi học đi.  Em sẽ ở lại đây trong nhà thờ gần bên Chúa ẩn thân.  Đàng nào em cũng về trời sớm, học hành làm chi cho uổng.  Khi về nhớ gọi em nha!

 

Vì nhà thờ đang sửa chữa nên Mình Thánh được đặt tạm ngay phía trái lối vào.(9)  Khi về con thấy Phanxicô ở trong khoảng giữa giếng rửa tội và bàn thờ.

 

Về sau khi em ngã bệnh, em hay bảo con, khi tới thăm em rồi đi học "Chị làm ơn vô nhà thờ và nói em yêu Chúa Giêsu ẩn thân lắm nha.  Điều làm em khổ nhất là em không thể tới đó và ở lại với Chúa được."

 

Một bữa đi học về, con chào các bạn học để ghé thăm em và em Giaxinta.  Vì nghe thấy tiếng ồn ào, em hỏi con:

 

- Chị đi với cả đám đông sao?

 

- Ừ. 

 

- Đừng đi với họ chị ạ.  Vì chị có thể lây thói phạm tội.  Khi tan học vô nhà thờ và ở lại với Chúa Giêsu một chút, sau đó về một mình thôi.

 

Có lần con hỏi em:

 

- Em Phanxicô, hình như bệnh em nặng hơn? 

 

- Vâng chính thế, nhưng em dâng đau khổ lên để an ủi Chúa.

 

Một bữa con và em Giaxinta vào phòng em:

 

- Xin làm ơn đừng nói nhiều bữa nay vì đầu em nhức quá sức!

 

- Đừng có quên dâng lên cầu cho kẻ có tội anh Phanxicô nha! 

 

- Ừ, nhưng trước là an ủi Chúa và Đức Mẹ sau để cầu cho kẻ có tội và Đức Thánh Cha.

 

Một dịp khác con thấy em rất khoan khoái:

 

- Sao, bữa nay khá hơn chưa em Phanxicô? 

 

- Không, tệ hơn nhiều.  Chẳng bao lâu nữa em sẽ về trời.  Về trời em sẽ an ủi Chúa và Đức Mẹ nhiều.  Em Giaxinta đang cầu nguyện nhiều cho tội nhân, cho Đức Thánh Cha và cho chị.  Chị sẽ ở lại vì Đức Mẹ muốn thế.  Chị nhớ nha, chị phải thi hành mọi điều Đức Mẹ dặn chị.

 

Trong khi em Giaxinta có vẻ chỉ quan tâm đến hoán cải tội nhân, thì em Phanxicô lại như chỉ nghĩ đến an ủi Đức Mẹ đang buồn rầu nhiều.

 

PHANXICÔ THẤY MA QUỈ


Sự việc mà con sắp kể sẽ hoàn toàn khác lạ.  Trong khi đoàn chiên đang gặm cỏ tại Pedreira, chúng con chạy nhảy trên các tảng đá và hò hét cho núi đồi vọng lại tiếng vang.  Như thói quen, em Phanxicô lại rút vào hầm giữa những tảng đá.  Thời gian trôi nhanh, nhưng bất ngờ chúng con nghe thấy tiếng em thét lên cầu cứu chúng con và Đức Mẹ.  Hoảng hốt vì có chi không lành xảy ra cho em, chúng con chạy kiếm em, gọi to tên em:

 

- Phanxicô ở đâu?

 

- Đây, đây.

 

Nhưng chỉ sau một hồi chúng con mới tìm ra.  Chúng con thấy em đang run sợ dù còn đang quì đó, quá sợ hãi em không sao đứng dậy nổi.

 

- Đã xẩy ra chuyện chi đấy?"

 

Hổn hển vì kinh hãi em nói:

 

- Một con thú khổng lồ mà chúng ta thấy trong hỏa ngục, nó ở ngay đây thở ra toàn khói với lửa!

 

Con chả thấy gì, em Giaxinta cũng không, nên con cười và nói:

 

- Em chẳng bao giờ ưa nghĩ về hỏa ngục để khỏi sợ, nhưng bây giờ em lại là người đầu tiên hoảng sợ!

 

Thực vậy, hễ em Giaxinta có vẻ cảm kích vì nhớ lại hỏa ngục, Phanxicô thường bảo:

 

- Đừng nghĩ nhiều về hỏa ngục!  Nghĩ về Chúa và Đức Mẹ đi.  Em không nghĩ về hỏa ngục để khỏi bị kinh hãi.

 

Em chẳng kinh sợ gì.  Dù đêm ngày, em đi đâu một mình cũng được.  Em dám bắt các con vật cả rắn rết.  Em đã bắt rắn cuốn vào cây gậy rồi đổ sữa cừu cho nó uống.  Em đã đi săn chồn, thỏ và các thú rừng khác.

 

PHANXICÔ VÀ CHIM RỪNG


Phanxicô thích chim lắm và không thể chịu ai phá tổ chúng.  Em luôn dành một phần đồ ăn trưa rồi đem rắc trên tảng đá cho chim ăn.  Đứng xa xa em gọi chim như là chim hiểu em.  Em không muốn ai đến gần làm chim hoảng.

 

- Này chim nhỏ em ơi, tụi bay đang đói lại đây mà ăn!"

 

Và đàn chim rất mau lẹ, vội vàng sà xuống không kịp mời đã nhặt hết đồ ăn.  Phanxicô cũng có tài bắt chước tiếng chim kêu.  Em hoan hỉ hòa điệu với đàn chim líu lo ca hót sau khi đã nhặt đồ ăn.

Một bữa thấy một chú bé bắt được con chim.  Đầy lòng trắc ẩn, Phanxicô xin hứa trả chú hai đồng nếu chú thả chim ra.  Chú bé đồng ý ngay nhưng phải đưa tiền đã.  Không ngần ngại, Phanxicô một mạch chạy về nhà, dù đang mãi tận hồ Carreira dưới Cova da Iria, để lấy tiền chuộc "tù nhân".  Rồi, em đã vỗ tay mừng rỡ: "Ý tứ, đừng để bị bắt lại nha!"

 

Ở vùng đó có một bà già tên là Ti Maria Carreira mà thỉnh thoảng các con bà nhờ bà đi chăn chiên cừu dùm.  Đoàn vật không thuần thục lắm và hay tản mát, lạc lõng đủ hướng.  Hễ khi nào gặp bà, em Phanxicô là người đầu hết chạy đến giúp bà.  Em đã giúp bà dắt đoàn vật đến đồng cỏ, tìm những con lạc và quây chúng lại với nhau.  Bà rất biết ơn em Phanxicô và gọi em là "Thiên Thần bản mạnh thân mến."

 

Em tỏ ra đầy lòng trắc ẩn khi chúng con đi thăm bệnh nhân: "Em không thể cầm mình xem họ được vì em thương cảm họ lắm lắm.  Hãy nói với họ là em sẽ cầu cho họ."

 

Một bữa, người ta tính đưa chúng con đi Montelo, thăm nhà ông Joaquim Chapeleta, em Phanxicô không muốn đi: "Em sẽ không đi vì em không thể chịu được khi nhìn thấy có người muốn nói mà không thể."  (Bà mẹ của ông bị câm).  Chiều tối, con và em Giaxinta trở lại nhà, con kiếm em Phanxicô.  Mẹ em bảo con:

 

- Cô cũng chịu không biết.  Cô kiếm suốt chiều mà chả thấy bóng đâu.  Có mấy bà đến và muốn gặp các cháu.  Rồi nó biến mất và chẳng thấy bóng đâu nữa.  Đi kiếm nó hộ Cô đi!

 

Chúng con ngồi trên ghế trong bếp bàn tính là chúng con phải đi Loca do Cabeco chắc sẽ gặp em ở đó.  Chúng con vừa ra khỏi nhà, thì tiếng Phanxicô gọi với qua lỗ nhỏ ở trần nhà.  Em đã trèo lên đó vừa khi biết có người đến.  Từ cao điểm này, em quan sát mọi chuyện xảy ra và kể lại cho chúng con:

 

- Có biết bao nhiêu là người!  Chúa giúp cho em chứ nếu phải gặp đám đông một mình!  Biết ăn nói gì với họ đây?"

 

(Có một lối trèo lên trần trong bếp, chỉ cần đặt chiếc ghế lên cái bàn là trèo lên được)
 

 

TÌNH YÊU VÀ LÒNG NHIỆT THÀNH


Cô con đã bán đàn vật của cô trước mẹ con.  Khi mẹ con chưa bán, mỗi sáng con phải cho Giaxinta và Phanxicô biết chỗ con sẽ dắt đoàn vật của con ăn cỏ và hễ khi nào có thể, các em lại lần đến với con.

Có bữa các em đoán trước chỗ con chăn nên đến trước con.  Khi tới nơi bỡ ngỡ quá con hỏi:

 

- Trời ơi, sao đến sớm quá vậy?

 

Phanxicô trả lời:

 

- Em đến sớm vì... vì... không biết sao nữa - Trước đây em đến với chị vì em Giaxinta cứ nài chứ em đâu có ham!  Nhưng bữa nay em không sao ngủ được nữa và thấy thích ở bên chị ghê.

 

Khi những lần hiện ra vào ngày 13 mỗi tháng chấm dứt, cứ chiều áp 13 là em lại bảo chúng con:

 

- Này, bữa sớm mai, em sẽ trốn tới hang Cabeco qua ngả vườn sau, nếu có thể đến đó gặp em nha.

 

Trời ơi!  Con đã lang bang chuyện đâu đâu vậy!  Nói về việc em bị đau và gần qua đời mà con đã huyên thuyên về những lúc vui vẻ nơi vườn cây, với chim rừng ca vang khắp trời.  Con xin Đức Cha tha thứ sự đãng trí đó.  Trong việc ghi lại hết những gì còn nhớ, con thấy mình như con cua bò tới bò lui mà chẳng quan tâm đến việc bò đi đâu.  Nếu Cha tiến sĩ Galamba có thể dùng được những gì con xin nhường lại hết nhưng con tưởng cha sẽ thấy nó tủn mủn hay vô dụng.

 

Con xin trở lại chuyện đau bệnh của Phanxicô.  Nhưng trước tiên con xin nói sơ về thời gian ngắn gọn em theo học.  Một sớm, Phanxicô đi học gặp con và chị Têrêsa.  Chị đã có gia đình và sống ở Lomba.  Vì có một bà xóm bên nhờ chị nói với con cầu cho gia đình bà.  Con bà bị cáo vì tội gì con cũng chả nhớ nữa, nhưng nếu không chứng minh vô tội được cậu sẽ bị kết án tù hay đi đày gì đó.  Chị Têrêsa đã gắng nài ép con cầu nguyện Đức Mẹ cho bà.  Sau khi hứa sẽ cầu nguyện con vội đi học và trên đường tới trường con đã kể lại cho hai em.  Khi tới Fatima, em Phanxicô bảo con:

 

-  Thôi, chị cứ đi học đi.  Em sẽ ở lại với Chúa Giêsu Ẩn thân và em sẽ xin Ngài ơn đó!

 

Lúc học về con hỏi:

 

- Em có nhớ xin Chúa ban cho ơn đó không?

 

- Có chứ.  Chị hãy nói với chị Têrêsa là vài bữa nữa cậu ta sẽ được về nhà!

 

Thực thế, mấy bữa sau cậu con trai được về nhà.  Vào ngày 13 tháng đó, cậu ta và cả gia đình đến để tạ ơn Đức Mẹ.

 

Một dịp khác, khi đi học con thấy em Phanxicô bước chậm quá.  Con hỏi em:

 

- Sao thế?  Coi bộ em đau hả?

 

- Đầu em nhức kinh khủng.  Em chỉ chực ngã!

 

- Vậy ở nhà đi, đừng có tới trường nữa!

 

- Em không muốn thế.  Em nên tới nhà thờ với Chúa Giêsu Ẩn thân khi chị đi học.

 

Em Phanxicô thực sự đã lâm bệnh nhưng cũng còn gượng đi lại đôi chút chẳng hạn có bữa em đi với con tới hang ở Cabeco và ở Valinhos.  Khi trở lại nhà, chúng con thấy nhà chật ních khách thập phương.  Một người đàn bà nào đó đứng gần bàn đang giả bộ làm phép rất nhiều đồ đạc: tràng hạt, dây chuỗi, thánh giá...  Người ta xúm lại quanh con để hỏi han.  Còn bà ta lại nắm lấy Phanxicô đòi em giúp bà.

 

- Tôi không làm phép được, còn bà cũng không được!  Chỉ có các linh mục được làm thôi!

 

Như bị sét đánh, bà ta kinh hồn chuồn mất giữa tiếng sỉ nhục của đám đông.  Tất cả đòi lại những vật họ đã trao cho bà làm phép.

Khi viết về Giaxinta, con đã kể việc em Phanxicô đến Cova da Iria, chuyện em mang dây và trao lại cho con, việc em chịu khát bỏng hy sinh không uống nước trong ngày nóng bức oi ả, cũng như việc em đôi lúc nhắc lại cho em Giaxinta nhớ dâng hy sinh cầu cho tội nhân...  Nên con xin phép không lặp lại ở đây làm chi.

 

Một bữa, Phanxicô đang nÄm bệnh, con và Giaxinta vào thăm em.  Bất ngờ, chị Teresa của em báo cho chúng con có một đoàn người đang vào nhà mình để gặp chúng con.  Chị vừa ra, con bảo: "Được, hai em chờ họ đây, chị đi trốn.

 

Em Giaxinta cũng chạy theo con.  Chúng con đã may mắn thành công khi ẩn trong thùng rượu cũ nằm ngay cạnh cửa vào vườn.  Liền sau đó chúng con nghe thấy tiếng ồn ào trong nhà, ngoài vườn cả sát bên chúng con nữa.  Rất may là họ không cúi xuống ngó vô thùng nên chúng con thoát nạn.

 

Sau đó chúng con lại vào với Phanxicô.  Em kể cho chúng con mọi chuyện xảy ra.

 

- Có đông người lắm.  Họ cứ hỏi chị với em Giaxinta ở đâu, nhưng em không biết rõ.  Họ muốn gặp chúng ta và xin chúng ta nhiều chuyện.  Có một bà ở Algueidão muốn một người khỏi bệnh và một tội nhân hoán cải.  Em hứa cầu nguyện cho bà, còn chị với em Giaxinta cầu cho các người khác - có nhiều điều xin như thế.

 

Bà này có trở lại gặp chúng con và xin chúng con chỉ cho bà mộ của em Phanxicô.  Bà muốn đến tận nơi và cám ơn em vì hai ơn bà xin em cầu cho đã được như ý.

 

Một bữa chúng con vừa ra khỏi Aljustrel để đi Cova da Iria, bất ngờ gặp một đám đông ngay khúc quẹo.  Để xem thấy và dễ nghe chúng con nói họ đặt con và em Giaxinta lên bờ tường.  Phanxicô từ chối bằng cách làm bộ như em sợ ngã lắm.  Rồi em lẩn dần và ra tựa vào phía sau bức tường hoang đó.  Biết là không thể nói riêng với chúng con, có hai mẹ con lại với Phanxicô và quì xuống trước mặt em, nài xin em khấn Đức Mẹ cho người cha khỏi bệnh và không phải đi lính.  Bỏ mũ, quì xuống Phanxicô xin họ cùng lần chuỗi.  Thấy thế, đám đông cũng ngừng tò mò thắc mắc và cùng quì xuống cầu nguyện.  Sau đó tất cả cùng chúng con lần hạt suốt tới Cova da Iria.  Tới đó chúng con còn lần một chuỗi nữa rồi họ hân hoan về nhà.

Bà đó có hứa sẽ trở lại cám ơn Đức Mẹ nếu nhận được ơn.  Bà đã trở lại đôi ba lần với con và cả chồng bà đã mạnh khỏe.  Đó là gia đình Casaleiros từ giáo xứ thánh Mamede.

 

BỆNH TÌNH CỦA PHANXICÔ


Phanxicô đã tỏ ra vui vẻ và bằng lòng chịu bệnh.  Đôi lần con hỏi em:

 

- Có đau lắm không Phanxicô?

 

- Khá đau nhưng không sao!  Em chịu đau khổ để an ủi Chúa và một ít nữa em sẽ về trời rồi!

 

- Về đó nhớ xin Đức Mẹ sớm đem chị về với nha!

 

- Em chả xin đâu!  Chị biết rồi!  Đức Mẹ chưa muốn chị về sớm!

 

Em nói với con một bữa trước ngày em chết:

 

- Bệnh em đã khá trầm trọng, không bao lâu nữa em sẽ về trời!

 

- Ừ, nhưng nhớ kỹ điều này nha.  Đừng có quên cầu nguyện nhiều cho tội nhân, cho Đức Thánh Cha, cho chị và cho em Giaxinta nữa!

 

- Dạ, em sẽ nhớ.  Nhưng chị nên xin em Giaxinta cầu nguyện thì hơn vì em sợ em quên mất khi em được nhìn thấy Chúa.  Hơn thế ước vọng trên hết của em là an ủi Ngài.

 

Rồi một sáng sớm, chị Teresa của em kiếm con:

 

- Sang nhà em lẹ đi chị, em Phanxicô coi bộ mệt lắm và đòi được gặp chị một chút.

 

Con vội vã sang bên đó.  Em xin mẹ và các anh chị rời phòng vì em có điều bí mật.  Sau đó em nói với con:

 

- Em sắp xưng tội để chịu lễ lần sau hết.  Em xin chị bảo em nếu thấy em phạm tội lỗi gì.  Rồi chị cũng hỏi em Giaxinta giùm em, xem em có biết em phạm gì không.

 

- Em không vâng lời ba má mấy lần khi má em bảo ở nhà mà em lại chạy đi trốn hay đến với chị.

 

- Đúng thế, em nhớ điều đó.  Cám ơn chị.  Bây giờ chị hỏi Giaxinta dùm em đi!

 

Giaxinta nghĩ một tí rồi nói:

 

- Chị bảo anh là trước khi Đức Mẹ hiện ra, anh có lấy trộm của ba một đồng để mua cái hộp nhạc của Jose Marto ở Casa Vehha, và anh cũng hùa theo đám con trai ném đá lại đám Boleiros.

 

Sau khi con nhắc lại điều Giaxinta nói:

 

- Em đã xưng tội đó rồi nhưng em sẽ xưng lại.  Có thể vì tội đó mà Chúa buồn như thế.  Dù em không chết em cũng sẽ không phạm tội đó nữa.  Em thực lòng hối hận vì chúng.

 

Chắp tay lại em nguyện: "Lạy Chúa Giêsu xin thứ tha tội lỗi chúng con.  Xin cứu chúng con khỏi hỏa ngục và đưa hết thảy các linh hồn lên Thiên Đàng nhất là những ai cần Chúa thương xót hơn."

 

Rồi em xin con:

 

- Chị ơi, làm ơn xin với Chúa tha thứ mọi tội lỗi em phạm.

 

- Đừng lo, chị sẽ xin như em yêu cầu.  Nếu Chúa chưa tha cho em thì Đức Mẹ đã chẳng bảo sẽ đến đem em về trời sớm.  Chị đi lễ và sẽ xin Chúa Giêsu Ẩn thân cho em.

 

- Chị cũng làm ơn xin để cha sở cho em chịu lễ nha.

 

- Dĩ nhiên rồi.

 

Khi con đi lễ về, thì Giaxinta đã dậy và đang ngồi ngay bên giường Phanxicô.  Vừa trông thấy con, em hỏi:

 

- Chị có xin Chúa Giêsu Ẩn thân để cha sở cho em chịu lễ không?

 

- Có chứ!

- Thế về trời rồi em sẽ cầu cho chị!

- Em sẽ cầu?  Thế sao bữa nọ em bảo em không!

- Đó là em không xin Chúa đưa chị về trời sớm.  Nhưng nếu chị muốn em cũng sẽ cầu nữa nhưng còn tùy Đức Mẹ.

- Được, cầu đi, cứ cầu nha.

- Dạ, yên chí, em sẽ cầu!"

Rồi con giã từ để đi học hành và làm việc.  Buổi tối con trở lại, em tỏ ra hân hoan lắm.  Em đã cáo mình và cha sở hứa sẽ đem Mình Thánh cho em.

Sau khi chịu lễ em khoe với em Giaxinta:

 - Anh được hạnh phúc hơn em nhiều vì anh đang có Chúa Giêsu trong lòng.  Anh sắp về trời và anh sẽ cầu nhiều để Chúa và Đức Mẹ chóng đem em với chị Luxia về nữa!

Con và em Giaxinta đã ở lại bên giường Phanxicô gần suốt ngày.  Em đã xin chúng con lần hạt để em theo vì em không đọc được nữa!

- Chắc về trời là em nhớ chị với em kinh khủng đấy.  Chỉ có cách là Đức Mẹ đem chị với em về đấy sớm thôi.

-  Em chẳng nhớ chị đâu!  Cứ tưởng nghĩ mà coi! Em sẽ ở đó với Chúa và Đức Mẹ. Các Ngài tốt lành biết bao.

- Đúng vậy, có lẽ em sẽ không nhớ!

Rồi con thêm:" Biết đâu em sẽ quên luôn. Nhưng không sao.

 

GIẤC NGỦ THÁNH THIỆN


Con chào tạm biệt em khi giã từ:

 - Giã từ Phanxicô.  Nếu đêm nay em về trời, đừng có quên chị nha.

 - Không, quên sao được.  Yên trí đi!

 Rồi em nắm tay phải con hồi lâu, trong khi lệ tràn đầy mắt em.  Con hỏi với nước mắt lăn dài trên má:

 - Em cần gì nữa không?

 - Không!  Em nhỏ nhẹ bình tĩnh trả lời.

 Cô bảo con rời phòng khi thấy con cảm động quá.

 - Chào Phanxicô nha!  Hẹn gặp trên trời!  Chào nha!

 Thiên Đàng trở nên gần gũi.  Em đã bay về Thiên đàng hôm sau trong tay  Hiền Mẫu Maria.(10) Con nhớ em không sao tả được.  Nỗi buồn này dầy vò con nhiều năm tháng.  Nỗi lòng hoài niệm quá vãng vang vọng mãi mãi tới thiên thu.

Con nằm xuống êm như mộng đẹp

Không, đó là ngày hội hằng mong ước

Giây liên kết thần tiên tuyệt diệu ấy

Thần Trời thèm đến tưởng ghen tương.

Triều thiên vàng đẹp lộng lẫy kiêu sa

Muôn vòng hoa kết đẹp diệu kỳ

Sao sánh được triều thiên con nhận lãnh

Sắc đẹp cõi tiên ấy sao hạ giới sánh bì

Mẹ từ ái mỉm cười, sung sướng quá! 

Nơi thiên giới, em sống trong chính Chúa

Say mê trong tình Chúa, niềm vui cao chất ngất

Năm tháng chỉ thoáng trong giây lát.

Xin giã từ!!

 

Fatima: Sứ Ðiệp Hòa Bình và Tình Thương

 

Tình hình xã hội, chính trị của Bồ Ðào Nha năm 1916-1917

Năm 1916-1917 còn ghi lại bao nhiêu  biến cố đen tối của lịch sử Âu Châu và nhân loại. Các cường quốc Âu Châu cắn xé nhau, châm ngòi cho thế chiến thứ nhất, khiến hàng triệu người bị chết! Năm 1917, cách mạng đẫm máu ở Nga Sô đầu độc phân nửa nhân loại bằng những nguyên tắc vô thần gây căm hờn chống lại tôn giáo và ngang nhiên phủ nhận các giá trị tinh thần của con người!

 

Riêng Bồ Ðào Nha với diện tích 90,000 cây số vuông, và trên 8 triệu dân cư, nằm phía Tây Tây Ban Nha và được bao quanh phần lớn ranh giới bởi Ðại Tây Dương. Bồ Ðào Nha tách khỏi đế quốc Maures và thành một nước độc lập từ năm 1138.

 

Từ đó, Bồ Ðào Nha nổi tiếng về các thương thuyền, đã từng tiên phong mạo hiểm qua các đại dương, đem tôn giáo và văn minh Âu Châu đến các lục địa xa xôi. Nhưng mấy thế kỷ sau, tình hình Bồ Ðào Nha mỗi ngày một sa sút. Năm 1917, Bồ Ðào Nha lâm vào hoàn cảnh xã hội và kinh tế tuyệt vọng. Về quân sự, Bồ Ðào Nha bó buộc đương đầu với hai mặt trận, một với nước pháp, và một với Phi Châu. Nhiều các vấn đề căn bản đã không được giải quyết. Tình hình thê thảm hơn.

 

Dân chúng Bồ Ðào Nha hầu hết là dân cư nghèo nàn, lương thiện, lam lũ tối ngày mà không đủ ăn.

 

Về tôn giáo ngay từ năm 1911, các nhà chính trị đã chạy theo những cơn lốc thù ghét Giáo Hội. Ðiển hình là lời tuyên bố của ông Afonsô Costa, nhân danh thủ lãnh quốc gia, ký đạo luật tách biệt hoàn toàn giữa quốc gia và Giáo Hội. Ông khẳng định: "Nhờ đạo luật này, trong hai thế hệ nữa, Bồ Ðào Nha sẽ thành công mỹ mãn trong chương trình loại bỏ hoàn toàn đạo Công Giáo." Hơn thế, người ta bắt ép các học sinh thơ dại tuần hành ngoài đường phố với biểu ngữ cầm tay: "Không cần Thiên Chúa, không cần tôn giáo."

 

Chính trong thời mây mù phủ dầy trên các dân tộc, cách riêng dân Bồ Ðào Nha, thì những luồng ánh sáng Hòa Bình và Tình Thương của Thiên Chúa nhân từ đã chiếu xuống trên nhân loại: Ðức Trinh Nữ Maria đã hiện ra tại Fatima.

 

Tên Fatima: một huyền thoại

Ngày nay, nhiều người biết đến và nghe nói nhiều về Fatima. Về mặt dân sự, Fatima là một làng nhỏ thuộc quận Ourem tỉnh Leiria. Về mặt tôn giáo, Fatima là một họ đạo của địa phận Leiria nằm về phía Nam Trung phần của Bồ Ðào Nha. Ðất xấu, đầy núi đá, người dân nghèo sống bằng nghề làm rẫy, trồng cây Ôliu, trồng cấy ít mì và ngô khoai. Ðặc biệt mỗi gia đình nuôi một đàn chiên, cho ăn cỏ trong những mảnh rẫy nhỏ, ven bờ bằng hàng rào đá.

 

Ðiều làm nhiều người thắc mắc là tên Fatima trùng với tên con gái của nhà sáng lập đạo Hồi Giáo, ông Mahomét.

 

Một câu chuyện ít có giá trị lịch sử, nhưng còn lưu truyền cho tới ngày nay là vào thế kỷ thứ XII dưới triều Afonsô-Henriques, vua đầu tiên của Bồ Ðào Nha, lãnh thổ Bồ Ðào Nha nằm về phía Nam sông Tage vẫn bị người Hồi Giáo chiếm đóng. Trong một cuộc hành quân, lính Bồ Ðào Nha bắt được nấy sĩ quan và mấy bà lớn của Hồi Giáo. Họ giải nộp các tù nhân Hồi Giáo về Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Goncalo Domingues biệt hiệu là "Avale Maures". Ông này giải nộp tất cả lên vua Afonsô Henriques. Vua khen thưởng các sĩ quan và đặc biệt Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng. Ðể lãnh nhận như một phần thưởng vua ban, ông Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng xin phép cưới cô tù nhân trẻ tuổi xin đẹp, quí danh là Fatima và là ái nữ của đạo trưởng quyền thế Mahomét. Mọi sự xếp đặt tốt đẹp, bà bộ trưởng Fatima xin trở lại đạo Công Giáo và mang tên thánh là Oureana. Hơn thế nữa, ông Goncalo còn nhận được như món quà ngày cưới, một giải đất rộng và ông đặt tên cho là Oureana, chính là quận Ourem ngày nay. Bà Fatima rất đạo đức và quán xuyến công việc nhưng chẳng may Chúa gọi bà về sớm. Ông Goncalo hết sức đau buồn. Về sau ông xin vào tu viện Xitô tại Alcoba cách Oureana 40 cây số. Mười năm sau ông Goncalo được sai đến lập một xứ đạo tại vùng Sera de Aire trong quận Oureana ông xây một nhà thờ và chuyển hài cốt bà Fatima về an táng tại đó. Từ bấy giờ xứ đạo mang tên là Fatima.

 

Fatima: Câu chuyện Ðức Mẹ hiện ra với ba trẻ

 

a) Sứ Thần Hòa Bình

Vào ngày đầu tiên của năm 1916, trời bắt đầu mưa, ba em nhỏ là Lucia dos Santos, 9 tuổi, và hai người em họ là Francisco, 8 tuổi và Jacinta Marto, 6 tuổi, đang trú mưa tại một hang, bỗng nhiên một vầng sáng trắng xuất hiện trên đồng cỏ. Các em đã sửng sờ khi thấy một thanh niên trẻ đẹp trong y phục mầu trắng đứng giữa vầng sáng.

Người thanh niên trong vầng sáng ấy nói với các em rằng: "Ðừng sợ, ta là sứ thần hòa bình. Hãy cùng ta cầu nguyện." Ðoạn người quỳ xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, con tin kính, con thờ lạy, con trông cậy và con yêu mến Chúa. Xin Chúa tha thứ cho những kẻ đã không tin kính, không thờ lạy, không trông cậy và không yêu mến Chúa."

 

Thiên Thần lại cúi đầu sâu hơn, và cầu nguyện ba lần như vậy, các em cũng lập lại lời cầu nguyện này với Thiên Thần.

 

Hãy cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều

Rồi vào một ngày mùa hè, đang khi các em vui đùa, Thiên Thần lại hiện ra với các em và bảo: "Hãy cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều. Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Mẹ Maria đã dành cho chúng con đầy lòng thương xót. Hãy tiếp tục dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện và những hãm mình. Hãy biến mọi việc làm thành những hy sinh dâng lên Thiên Chúa để đền bù tội lỗi đã xúc phạm đến Người, và cầu cho kẻ có tội ăn năn trở lại. Bằng phương thế này, hòa bình sẽ đến với quê hương các con... Ta là Thiên Thần bản mệnh của nước Bồ Ðào Nha. Hãy đón nhận và vui lòng chịu đựng mọi thử thách Chúa sẽ gửi đến cho các con."

 

Thờ lạy Thiên Chúa Ba Ngôi

Mùa thu năm ấy, Thiên Thần lại hiện đến cùng các em. Trong lần hiện ra thứ ba này các em thấy Thiên Thần một tay bưng một chén Thánh, một tay cầm Mình Thánh Chúa, các em đã nhìn thấy những giọt máu nhỏ xuống chén thánh. Ðể chén thánh và Mình Thánh Chúa lơ lửng trên không trung, Thiên Thần cung kính quỳ xuống đất và cầu nguyện: "Lạy Ba Ngôi Cực Thánh - Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần - con cung kính thờ lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa mình và máu thánh cực trọng, linh hồn và bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô đang ngự trong các nhà chầu trên khắp hoàn cầu để đền tạ vì những tội bội bạc, thờ ơ, xúc phạm đến Người. Cậy vì công nghiệp vô cùng của Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria, xin Chúa cho kẻ có tội được ăn năn trở lại."

 

 

b) Những lần Ðức Mẹ Hiện Ra

 

Ngày 13 tháng 5 năm 1917

Sau hơn một năm, kể từ ngày Thiên Thần hiện ra lần đầu tiên cùng các em, vào ngày 13 tháng 5 năm 1917, Ðức Mẹ đã hiện ra cùng các em lần đầu. Cũng như thế, trong khi các em đang chăn cừu trên một cánh đồng hẻo lánh, gần Cova da Iria. Ðó là một ngày trời nắng và trong sáng, bỗng nhiên các em thấy sấm chớp trên trời. Lo sợ về một trận bão bất thần của mùa Xuân, các em vội lùa cừu vào nơi trú ẩn, nhưng một vầng sáng chói lòa đã xuất hiện trên một cây sồi ngay hướng các em đang đi. Các em đã sửng sờ khi nhìn thấy một Bà đang đứng trong vầng sáng trên ngọn cây. Bà đẹp đến nỗi các em không thể nào diễn tả được. Sau này, các em cho biết Bà là Ðức Mẹ rất trẻ và vào khoảng 16 tuổi.

 

Ðức Mẹ đã phán bảo các em: "Hãy lần chuỗi Môi Khôi hằng ngày để đem hòa bình cho nhân loại và để chấm dứt chiến tranh." Sau khi hứa dâng chính mình cho Chúa và vui lòng chịu đựng mọi thử thách để đền tạ mọi tội lỗi đã xúc phạm tới Chúa và cầu cho kẻ có tội ăn năn trở lại, các em lại nghe tiếp: "Rồi đây các con sẽ chịu rất nhiều đau khổ, nhưng Chúa nhân lành sẽ ở cùng các con và sẽ phù trợ các con."

 

Ngày 13 tháng 6 năm 1917

Ðức Mẹ lại hiện ra với các em. Cho đến lúc ấy, rất nhiều người đã hay tin về lần hiện ra đầu tiên mặc dù các em đã cố giữ kín. Nhiều kẻ hiếu kỳ đã tụ tập lại Cova vào ngày 13 tháng 6 năm 1917. Ðức Mẹ cho các em biết rất nhiều linh hồn sẽ phải sa hỏa ngục vì không có ai cầu nguyện và dâng các việc hy sinh thay cho họ. Ðức Mẹ cũng cho Francisco và Jacinta biết là các em được về Thiên Ðàng trước, còn Lucia sẽ ở lại để truyền bá Mệnh Lệnh Fatima.

 

Ðức Mẹ nói với các em: "Ta muốn các con tiếp tục lần chuỗi Môi Khôi hằng ngày, và sau mỗi mầu nhiệm, các con hãy cầu nguyện như sau: Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên Thiên Ðàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn"...

 

Ngày 13 tháng 7 năm 1917 (Hỏa Ngục Kinh Khiếp)

Khi Ðức Mẹ hiện ra ngày 13 tháng 7 năm 1917, chị Luxia đã hỏi: "Xin Bà cho con biết Bà là ai, và xin Bà hãy làm một phép lạ để cho mọi người tin là Bà đã hiện ra với chúng con." Ðức Mẹ đã phán cùng chị Lucia: "Hằng tháng các con phải tới đây và đến tháng Mười, Ta sẽ cho các con biết Ta là ai và Ta muốn gì. Lúc đó Ta sẽ làm một phép lạ để mọi người tin." Ðức Mẹ cũng phán: "Các con hãy hãm mình hy sinh để cầu nguyện cho kẻ có tội." Ðức Mẹ cũng dạy các em cầu nguyện như sau đặc biệt trong lúc hãm mình hy sinh: "Lạy Chúa Giêsu, con xin dâng những hy sinh này để đáp lại tình yêu Chúa, để cầu nguyện cho kẻ có tội được ăn năn trở lại và để đền tạ những tội xúc phạm đến Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria."

 

Khi Ðức Mẹ phán điều này, chị Lucia kể tiếp, cũng như các lần trước, Ðức Mẹ dang hai tay ra, nhưng chẳng phải sự sáng láng huy hoàng của Thiên Chúa như các lần trước, lần này các em đã nhìn thấy một biển lửa. Nhào lộn trong biển lửa ấy là ma quỷ và các linh hồn tội lỗi trông giống các cục than hồng, đen đủi hay xám xịt, nhưng thân hình bị treo lơ lửng đang bị lửa thiêu đốt kêu la trong đau đớn tuyệt vọng đã làm cho các em kinh hoàng đến run rẩy khiếp sợ. Các em kinh khiếp đến nỗi không nói nên lời trước cảnh hãi hùng của hỏa ngục đã ngườc nhìn về Ðức Mẹ trong ánh mắt van nài để tìm an ủi.

 

Ðức Mẹ bảo các em: "Các con đã nhìn thấy hỏa ngục nơi linh hồn các kẻ có tội bị giam cầm. Ðể cứu các linh hồn khỏi sa hỏa ngục, Thiên Chúa muốn phát động lòng tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Ðức Mẹ trên hoàn cầu. Nếu các con thi hành các điều Ta phán dạy thì rất nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽ có hòa bình. Cuộc chiến này sẽ chấm dứt, nhưng nếu nhân loại không ngừng xúc phạm tới Thiên Chúa, một cuộc chiến tàn khốc nữa sẽ xảy ra và trong một đêm nào đó khi các con nhìn thấy bầu trời rực sáng bởi luồng ánh sáng kỳ lạ thì lúc đó các con sẽ hiểu đó là dấu chỉ Thiên Chúa sẽ trừng phạt nhân loại bằng chiến tranh và nghèo đói, Ðức Thánh Cha và Giáo Hội sẽ bị khủng bố ngược đãi. Ðể tránh tai họa này, Mẹ muốn thế giới hãy dâng nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch của Mẹ và Mẹ muốn việc rước lễ mỗi thứ Bảy đầu tháng phải được thi hành để đền bù vì tội lỗi của nhân loại. Nếu các điều Mẹ mong ước được thực thi, nước Nga sẽ trở lại, và sẽ có Hòa Bình. Nếu không, nước Nga sẽ gieo rắc các tà thuyết trên khắp thế giới, chiến tranh sẽ xảy ra, Giáo Hội sẽ bị bách hại, người lành sẽ bị tử đạo... Ðức Thánh Cha sẽ hiến dâng nước Nga cho Mẹ, nước Nga sẽ trở lại, và thế giới sẽ được hưởng hòa bình một thời gian."

 

(Ðêm 24 rạng 25 tháng Giêng năm 1938, toàn thể Âu Châu đã bừng sáng mà các khoa học gia đã giải thích đó là hiện tượng "Bắc Cực Quang" (Aurora Borealis) nhưng những điều giải thích của các khoa học gia đã cho thấy nó vượt quá một hiện tượng tự nhiên. Trong thơ gửi Ðức Giám Mục, chị Lucia đã cho biết đó là dấu mà Ðức Mẹ đã tiên báo về cuộc chiến sắp xảy ra. Ba tháng sau Hitler đã ra lệnh động binh và bắt đầu tuyên chiến).

 

Ngày 13 tháng 8 năm 1917 (15 ngàn người)

Ðến tháng 8 năm 1917, tin Ðức Mẹ hiện ra đã gây khá nhiều xúc động nên chính quyền địa phương đã phải báo động, các em đã bị ông thị trưởng bắt và tống giam.

 

Hơn 15 ngàn người đã chờ đợi các em tại đồi Cova, ngày 13 tháng 8 năm 1917, đến giữa trưa - giờ Ðức Mẹ thường hiện ra. Ðám đông đã hốt hoảng và sợ hãi bởi sấm chớp. "Ðức Mẹ đã hiện ra...!" Một nhân chứng cho hay: "Ngay sau tiếng sâm là một làn chớp và sau đó chúng tôi bắt đầu xem thấy một đám mây nhỏ, rất mỏng manh và rất trắng, đám mây dừng lại trên cây sồi một vài phút rồi bay bổng lên không trung rồi biến mất. Khi chúng tôi nhìn chung quanh, chúng tôi đã nhận thấy một vài điều lạ thường như đã thấy ở các lần trước cũng như sau này. Mặt chúng tôi đã phản chiếu các mầu sắc của cầu vồng: tím, đỏ và xanh, và tôi đã không hiểu được tại sao. Ðột nhiên các cây cối đã không phải có lá mà là hoa, đất cũng phản chiếu các mầu sắc và cả quần áo chúng tôi đang mặc cũng vậy... Chúng tôi biết hiển nhiên Ðức Mẹ đã hiện ra mặc dù các em vắng mặt."

 

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1917, Ðức Mẹ lại hiện ra với các em. Ðức Mẹ đã tỏ ra không mấy hài lòng về việc làm của ông Thị Trưởng và nói với các em: "Vì việc trên, phép lạ Ðức Mẹ định làm trong tháng 10 năm 1917 sẽ không được huy hoàng như đã định trước."

 

Ngày 13 tháng 9 năm 1817 (30 ngàn người)

Tới trưa ngày 13 tháng 9 năm 1917, hơn 30 ngàn người đã tràn ngập thung lũng Cova. Ðức Mẹ đã nhắc các em siêng năng lần chuỗi Môi Khôi hằng ngày và lập lại lời hứa là đến tháng 10 năm 1917, các em sẽ được thấy cả Thánh Giuse, Chúa Hài Ðồng, Ðức Mẹ Núi Camêlô và Ðức Mẹ Sầu Bi.

 

Chẳng phải chỉ có ba em nhỏ của thôn Aljustrel là nhân chứng độc nhất của biến cố lạ thường ngày 13 tháng 9 năm 1917 mà là cả đám đông, Cha Chính địa phận Leiria, Ðức Ông John Quarsema đã xác nhận đã nhìn thấy một cách tỏ tường và minh bạch một vầng hào quang đã di chuyển từ Ðông sang Tây - trong một bầu trời trong sáng - tới chỗ vẫn thường hiện ra và sau một thời gian đã biến mất về hướng mặt trời.

 

Ngày 13 tháng 10 năm 1917 (Ta là Ðức Mẹ Mân Côi)

Sau khi tới gốc sồi ở Cova da Iria, dưới thúc đẩy nội tâm Lucia xin mọi người cụp dù xuống và lần hạt. Rồi các em thấy chớp sáng và Ðức Mẹ hiện đến. Lucia hỏi:

- Bà muốn con làm gì?

- Ta muốn một nhà nguyện được xây ở đây để tôn kính Ta. Ta là Ðức Mẹ Mân Côi. Hãy tiếp tục lần hạt hằng ngày. Chiến tranh sẽ chấm dứt và binh sĩ sẽ trở lại gia đình.

Con có nhiều điều để xin Mẹ: chữa một số bệnh nhân, hoán cải tội nhân và những chuyện khác...

- Ðược, một số sẽ được, nhưng không phải tất cả được. Họ chỉ cần cải thiện đời sống và xin ơn tha thứ mọi tội lỗi.

Rất buồn rầu, Ðức Mẹ dặn tiếp:

- Ðừng phạm đến Chúa nữa vì Chúa đã bị xúc phạm nhiều rồi.

 

Rồi, theo lời tự thuật của chị Lucia, Ðức Mẹ mở tay ra, làm ánh sáng chiếu lên mặt trời. Khi Ðức Mẹ cất mình lên, ánh sáng đó vẫn chiếu vào mặt trời.

 

Ðó là lý do Lucia hô lên cho mọi người ta nhìn vào mặt trời. Lucia không có ý kéo chú tâm của mọi người đến mặt trời vì cô cũng không ý thức họ hiện diện đó hay không. Cô đã làm thế theo động lực bên trong.

 

Một khi Ðức Mẹ đã biến đi, con (Lucia) thấy bên cạnh mặt trời, Thánh Giuse với Chúa Hài Nhi ban phép lành cho thế giới vì con thấy hai Ðấng vẽ hình Thánh Giá. Một lát sau, cảnh tượng đó biến mất và con lại thấy Chúa và Ðức Mẹ, hình như Ðức Mẹ Ðau Thương. Chúa Giêsu ban phép lành cho thế giới cũng như Thánh Giuse đã làm. Cảnh tượng này cũng biến mất và một lần nữa con lại thấy Ðức Mẹ, giống như Ðức Mẹ Carmêlô.

 

Fatima: Sứ Ðiệp Hòa Bình và Tình Thương

 

Sau lần hiện ra lần cuối cùng năm 1917, Fatima tưởng chừng đã bị rơi vào quên lãng vì chính quyền và ngay cả giáo quyền thời đó cũng không lưu tâm gì đến biến cố Fatima, có khi còn cấm đoán dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên sứ điệp Fatima vẫn vang vọng trong lòng mọi người.

 

Sứ điệp Mẹ ban hành tại Fatima là sứ điệp đền tội và cầu nguyện, điều kiện để bảo đảm cho nền hòa bình thế giới và sự hòa bình của mỗi tâm hồn.

 

Tháng 10 năm 1930, khi Ðức Cha Dom José Alves Correia, Giám Mục giáo phận Leiria, công nhận biến cố Mẹ hiện ra tại Fatima, và ban phép sùng kính Mẹ Fatima, thì thôn làng nhỏ bé Fatima đã trở nên trung tâm hành hương thế giới, để mọi người đổ về, chạy đến cầu khẩn với Mẹ. Fatima cũng trở thành động lực thúc đẩy mọi người hưởng ứng lời Mẹ, nhắn nhủ, cầu nguyện, và hy sinh cho tội nhân được ơn trở lại và nhất là nguyện cầu cho thế giới được hòa bình. Vì sứ điệp hòa bình và tình thương của Fatima cũng hòa hợp với sứ điệp hòa bình của Phúc Âm, dọn lòng con người đón chờ ơn cứu chuộc, nên sứ điệp Fatima luôn là sứ điệp hợp thời đại.

 

Ước chi để kỷ niệm biến cố Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima, mỗi người chúng ta hãy là những tông đồ rao truyền mệnh lệnh của Mẹ cho thế giới. Nhưng có lẽ trước hết mỗi người hãy là những người tiên phong thực hành ba mệnh lệnh của Mẹ trong cuộc sống một cách hăng say và tích cực. Lời Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong dịp viếng thăm Mẹ Fatima vào năm 1992: "Tất cả những ai đã sốt sắng đáp ứng lời kêu gọi của Ðức Mẹ hãy tiếp tục cố gắng tiến xa hơn nữa trong việc thi hành những mệnh lệnh đó trong đời sống."

 

Ðược như vậy, Trái Tim Mẹ sẽ toàn thắng, một sự toàn thắng không phải chỉ trong khấu trường chính trị giữa các quốc gia, nhưng còn là trong chính tâm hồn của mỗi người. Vì sứ điệp Fatima phải là sứ điệp hòa bình và tình thương cho thế giới và cho mỗi con cái Mẹ.

 

 

Phép Lạ Mặt Trời Nhảy Múa Trước Rừng Người

 

I. Mặt trời nhảy múa quay cuồng, nhào xuống đất

Thế giới như đã đến ngày tận thế! Trên một trăm ngàn người trong ngôi làng nhỏ vùng sơn cước này đã hãi hùng vì một sự kiện kỳ lạ, sự kiện này sẽ đi vào lịch sử thế giới với Ðại Hồng Thủy của Thánh Kinh!

 

Mọi người đều thực sự trông thấy mặt trời nhảy múa trên bầu trời và nhào xuống đất. Vừa lúc sắp chạm xuống đất thì mặt trời chợt ngừng lại và lên cao.

 

Thật khó mà tin được một câu truyện quá lạ thường như vậy. Nhưng chính chúng tôi đã trông thấy tận mắt và chỉ thuật lại cho các bạn nghe những điều mắt thấy tai nghe mà thôi.

 

Trời mưa tầm tã. Ðó là một trong những trận bão lớn nhất trong trí nhớ của các cụ già trong vùng này. Nó đã chận đứng đoàn quân viễn chinh Pháp.

 

Những trận bão đã không ngăn được đám đông này. Họ đã từ toàn quốc, từ Ý, Tây Ban Nha, và Pháp, vì những tin đồn là phép lạ sẽ xảy ra hôm nay.

Họ đã thấy phép lạ

 

Những cơn gió mạnh đã lùa những hạt mưa tuôn vào lớp quần áo dày cộm của mọi người. Tất cả đều bị ướt đẫm khi cơn mưa chợt dứt vào lúc một giờ trưa, giờ chính phủ.

 

Một bé gái đứng trong đám đông chợt la lớn: "Nhìn mặt trời kìa!"

 

Mây tan đi, trời thật trong, mọi người đều nhìn thấy mặt trời rất rõ ràng. Nhưng chính mặt trời thì lại không trong chút nào mà tai tái như màu của một chiếc khay bằng bạc. Mọi người đều có thể nhìn thẳng vào mặt trời mà không phải nhíu mắt.

 

Chiếc khay bạc bắt đầu phát ra nhiều màu sắc thay đổi: đỏ, xanh lá cây, xanh dương, tím, vàng cam, và xanh tím. Mặt mọi người, cây cỏ, mặt đất, tất cả đều thay đổi theo những màu này giống như ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ kính màu.

 

Khuôn mặt của một bà bên có màu xanh lá non, quần áo thì lấp lánh đỏ và vàng, còn chân thì lại có màu xanh nước biển. Trong khoảnh khắc sau, mặt bà đổi màu xanh tím, còn quần áo thì màu xanh nước biển. Những màu này cứ thay đổi liên tục.

 

Mặt của một người đàn ông khác đang nhìn sững vào mặt trời thì một bên màu cam còn một bên màu tím. Chiếc áo choàng của ông ta, dệt bằng len nâu, thì ánh lên màu xanh lá cây, quần thì lại màu tím. Nhưng cũng chỉ trong khoảnh khắc sau, toàn thân ông ta không còn một màu sắc dị thường nào nữa.

 

Trong lúc chiếu ra những ánh dị thường này, mặt trời quay tít như một bánh xe. Rồi giống như chiếc bánh xe bị rời khỏi trục, mặt trời nhảy múa lung tung, lắc lơ, run rẩy, và ẩn hiện qua những đám mây.

 

Bất chợt, trong lúc đang quay tít, mặt trời bỗng dưng đâm nhào xuống đất khiến mọi người đều kinh hoàng. Nó rơi xuống càng lúc càng nhanh và càng lúc càng nóng.

 

Ðám đông khóc

 

Tất cả đám đông đều phủ phục xuống đất tựa như đó là nơi che chở của họ. Nhiều người trong đám la thất thanh, "Tận thế rồi!" Những người khác thì lớn tiếng xưng tội mình ra giữa đám đông.

 

Bùn đất nhớp nháp sau cơn mưa tầm tã, nhưng mọi người đều quì xuống thành khẩn cầu nguyện. Nhiều người la lớn: "Tôi tin! Tôi tin!", "Thật là phép lạ!", "Lạy Chúa Giêsu, xin cứu chúng con!, "Xin Chúa tha tội cho chúng con!", và "Mẹ Maria, xin cứu con!"

 

II. Một vài nhân chứng phép lạ

Tôi cư ngụ gần thị xã Ports, phía Bắc Fatima chừng 90 dặm. Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima nhằm ngày sinh nhật thứ 17 của tôi: 13 tháng 5 năm 1900.

 

Những chuyện về các lần hiện ra được tường thuật khắp nước. Ai cũng nói về Ðức Mẹ hiện ra tại Cova da Iria ngày 13 tháng 5 năm 1917, nói chuyện với ba trẻ em và truyền cho các em hãy tới Cova.

 

Chính quyền chống đối những tin tức liên hệ tới các biến cố đó.

 

Từ chỗ chúng tôi cư ngụ tới thị xã Leiria phải đi mất 4 giờ xe lửa, rồi từ Seiria tới Cova da Iria phải đi bộ khoảng hơn 3 giờ. Sáng hôm đó chúng tôi đi bộ trên quãng đường này. Nói là đường chứ thực ra đó chỉ là đường mòn của đàn dê cừu.

 

Ngày 11 tháng 10 năm 1917, cha tôi nói với mẹ tôi: "Ngày mai chúng ta sẽ đi Fatima. Chúng ta sẽ chứng kiến những gì đã xảy ra."

 

Có rất nhiều người nghĩ rằng lời báo tin phép lạ sẽ xảy ra là lường gạt. Người thì cho đây là thủ đoạn của chánh quyền.

 

Riêng tôi tự nghĩ sẽ có gì xảy đến vì từ ngày có trí khôn tôi luôn luôn tin Tôn Giáo và dự Thánh Lễ mỗi ngày.

 

Trong khi Giáo Hội không hề lên tiếng về các lần Ðức Mẹ hiện ra thì chánh quyền lại chống đối. Chánh quyền sẽ trừng phạt bất cứ một linh mục nào loan tin về việc Ðức Mẹ hiện ra hoặc chỉ nói trống là "có thể có việc gì đã xảy ra."

Những đám đông

 

Chúng tôi thấy hàng ngàn người trên các nẻo đường khi chúng tôi rời thị xã Leiria hồi 6 giờ sáng về đi bộ qua các đồi núi đá. Có một số người đội trên đầu những đồ ăn trưa. Họ hăng hái băng qua những đồi núi cao lởm chởm sỏi đá mà không cảm thấy mệt mỏi.

 

Cả một khu chừng ba dặm

Tôi đã gặp những người im lặng lội bộ suốt quãng đường dài để hãm mình cầu cho các binh sĩ vùng Leiria được bình an trong cuộc thế chiến. Có người hãm mình không uống lấy một hớp nước trong suốt cuộc hành trình.

 

Chúng tôi tới ngay khúc dẫn vào thung lũng Cova da Iria, chỗ đã được đánh dấu bằng một đồng đá thô sơ. Thung lũng này rộng chừng ba dặm và hồi đó được dùng làm đồng cỏ nuôi mục súc. Chỗ thì có đá lổm chổm, chỗ thì có nước, cây cối bụi rậm. Quang cảnh cho thấy thung lũng này là một vùng hoang dại.

 

Chúng tôi tới nơi vào khoảng 11 giờ 30 sáng và thấy một số binh lính đang cố gắng chặn không cho dân chúng tiến vào thung lũng Cova da iria.

 

Nhưng số binh lính không đủ để kiểm soát được dân chúng vì đám đông quá lớn. Nhiều binh sĩ cưỡi ngựa nhưng đám đông tách ra thành nhiều đám nhỏ. Khi binh lính ngăn chặn được góc này thì dân chúng lại nhào vào góc kia. Chẳng mấy chốc thung lũng đã tràn ngập những người.

Lưỡi lê của một người lính đã làm tôi bị thương ở tay. Chúng tôi tiến tới gần cây sồi nơi các trẻ đã chứng kiến những lần Ðức Mẹ hiện ra. Ba em đó đã có mặt sẵn ở đây. Các em đứng trước một cây sồi.

 

Nước ngập đến mắt cá chân

Mọi vật đều sũng nước. Dân chúng đứng che dù, nước ngập đến mắt cá chân. Ðâu đâu cũng là bùn lầy. Tất cả chúng tôi đều ướt đẫm.

 

Sau một lát, mặt trời bắt đầu ló rạng tuy mưa vẫn rơi. Mưa tầm tã, nước đổ xuống như thác. Rồi đột nhiên mưa chấm dứt và mặt trời bắt đầu quay, như nhẩy múa từ chỗ này tới chỗ kia. Các đám mây bắt đầu trở màu xanh, màu vàng, rồi đủ mọi màu.

 

Mặt trời rơi

Sau đó chúng tôi thấy mặt trời lao xuống chỗ các em đứng trước đó. Dân chúng bắt đầu kêu khóc. Có người xưng tội lớn tiếng vì chung quanh đó chẳng thấy một vị linh mục nào.

 

Hãy cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng

Chính mẹ tôi cũng quơ tay ôm lấy tôi và ghì chặt vào lòng. Mẹ tôi khóc lóc vì cho là giờ tận thế đã đến. Tôi cũng nghĩ rằng trái đất sắp tiêu tan trong lửa. Khi tôi ngửng đầu lên nhìn mẹ tôi thì tôi thấy có đám mây lơ lửng ngay trên vai tôi.

 

Tôi thấy mặt trời lao xuống đám cây. Sau đó đám trẻ đứng dậy và quay lại nhắn nhủ dân chúng: "Hãy cầu nguyện, cầu nguyện sốt sắng. Mọi việc đã được an bài."

 

Rồi các em tiến về phía cây sồi và chúng tôi thấy các em cúi xuống như hôn một người nào đó. Tuy không thấy ai nhưng chúng tôi biết là có ai đó vì các em đều cúi xuống và môi các em mấp máy như đang nói chuyện với một người.

 

Chúa bị xúc phạm

Tôi ở xa các em và cây sồi chừng 75 tới 100 feet.

 

Tôi thấy mặt trời quay trở về cùng một hướng như trước kia đã lao xuống. Ðám đông nhất loạt quì xuống và cầu nguyện thật sốt sắng. Sau đó em Lucia bảo chúng tôi phải cầu nguyện, và lần chuỗi môi khôi mỗi ngày, vì nhân loại đã xúc phạm tới Chúa. Nếu chúng ta không làm như vậy thì đau khổ sẽ bao trùm thế giới, và Nga Sô sẽ truyền bá chủ nghĩa cộng sản khắp mọi nơi trong hoàn cầu. Có một số người hôn các em.

 

Quần áo khô ráo trở lại

Gió bắt đầu thổi, và mặt trời đã trở về vị trí cũ. Chúng tôi thấy gió thổi rất mạnh mà cây cối vẫn đứng yên. Gió thổi mạnh vô cùng và chỉ độ 5 phút sau thì mặt đất hoàn toàn khô ráo, và quần áo chúng tôi cũng khô và sạch như mới giặt.

 

Tôi tin đây là một phép lạ, một phép lạ thật sự.

 

 

Nguyên văn bản dịch về Bí Mật Fatima thứ ba do chính chị Lucia viết ra ngày 3 tháng 1 năm 1944

 

Con viết ra trong sự vâng lời Ngài, lạy Thiên Chúa của con, Ngài ra lệnh cho con làm việc nầy qua Ðức Giám Mục của giáo phận Leiria, và qua Ðức Maria, Mẹ Chúa và là Mẹ của con.

 Sau hai phần (bí mật Fatima I và II ) mà con đã nói ra, chúng con đã nhìn thấy phía bên trái của Ðức Mẹ, và hơi cao hơn một chút, một Thiên Thần cầm một gươm lửa nơi tay trái; gươm nầy chớp sáng và chiếu ra những tia lửa dường như thể muốn đốt rụi thế giới; nhưng những tia lửa nầy bị tắt đi, khi gặp phải ánh sáng phát ra từ tay phải của Ðức Mẹ chỉ về phía Thiên Thần; Tay mặt của vị Thiên Thần chỉ vào trái đất, và vị Thiên Thần nói lớn: Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội! Và chúng con đã nhìn thấy trong một ánh sáng bao la là Thiên Chúa: "một cái gì giống như thể người ta xuất hiện trong tấm gương khi họ đi ngang qua nóù" một vị Giám Mục mặc Áo trắng, "chúng con có cảm giác như thể đó chính là Ðức Thánh Cha". Nhiều vị giám mục khác nữa, những Linh Mục, những tu sĩ nam nữ, đang leo lên một núi dốc cao, trên chóp núi nầy có một cây Thập Giá lớn có thân sần sù, giống như thể bằng cây sồi có võ cứng; trước khi lên đến nơi, Ðức Thánh Cha đi ngang qua một thành phố lớn phân nửa đã bị tàn phá và phân nửa bị rung động, ÐTC bước đi run rẩy, chịu đau đớn và sầu muộn, Ngài cầu nguyện cho những linh hồn của các người chết mà ngài gặp trên đường; khi lên đến chóp núi, quỳ gối phủ phục dưới chân Thập Giá lớn, ngài bị giết bởi một toán lính cầm súng bắn vào ngài và phóng các mủi tên vào ngài; và cũng bằng cách thức như vậy, hết người nầy đến người khác, các Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân thuộc hàng ngủ và địa vị khác nhau, cũng lần lượt bị giết chết nơi đó. Bên dưới hai cánh của Thập Giá, có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm nơi tay một bình thủy tinh, trong đó các vị hứng máu của những người tử đạo, và dùng máu nầy rảy lên các linh hồn đang tiến lên gần Thiên Chúa.

 

 Ðó là nguyên văn của phần thứ ba của Bí Mật Fatima, (Bí Mật Fatima thứ ba), được Bộ Giáo Lý Ðức Tin công bố trong Tập Tài Liệu có tựa đề là "Sứ Ðiệp Fatima", dày khoảng 40 trang, được giới thiệu cho báo chí trưa thứ Hai 26 tháng 6/2000.

 

Tại sao cho tới lúc này phần thứ ba của Bí Mật Fatima mới được tiết lộ?

 

 Như mọi người biết, sau thánh lễ Phong Chân phước cho hai em Phanxicô và Giaxinta ngày 13 tháng 5/2000 vừa qua tại Fatima, ÐTC đã cho tiết lộ phần thứ ba của Bí Mật Fatima. Bí mật này là những cuộc bách hại Giáo hội do các chế độ vô thần và vụ mưu sát Vị Ðại diện Chúa Kitô ở trần gian.

 

 Ðã từ lâu người ta vẫn chờ đợi, nhất là trong thời gian sắp bước vào Ngàn năm thứ ba, những biến cố kinh khủng sẽ xẩy đến cho nhân loại (có người gọi là "tận thế"). Họ luận lý: vì bí mật thứ ba có liên quan đến những biến cố gây kinh hoàng, nên các Vị Giáo Hoàng, từ Ðức Pio XII (1939-1958) tới Ðức Gioan XXIII (1958-1963), rồi Ðức Phaolô VI (1963-1978) đã không dám tiết lộ. Rồi càng im lặng, càng khơi dậy nhiều thắc mắc và dự đoán khác nhau. Trước những giả thuyết không có nền tảng và gây khủng khiếp kia, ÐHY Joseph Ratzinger, Tổng Trưởng Bộ Giáo lý Ðức tin, một trong các Vị được biết nội dung của Bí mật, đã lên tiếng minh xác rằng: Ðức Trinh Nữ Maria, Người Mẹï hiền đầy lòng thương xót, không bao giờ loan báo những tin gây khủng khiếp cho con cái, trái lại chỉ khuyên họ hãy trở về với Thiên Chúa, để tránh khỏi những tai họa sẽ xẩy đến. Và những tai họa này đã xẩy đến, vì nhân loại không lắng nghe lời Mẹ Thiên Chúa cảnh cáo.

 

Thử hỏi những tai họa đó là gì? Hai đại chiến thế giới đã xẩy ra - Chế độ cộng sản vô thần Liên xô đã lan tràn khắp nơi và gây nên nhiều cuộc bách hại Giáo hội và các tín hữu Kitô - Ðức Giáo Hoàng đã bị mưu sát: một biến cố chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử Giáo hội. Tất cả đã xẩy ra, như Ðức Trinh Nữ đã loan báo cho ba em khi hiện ra tại Fatima.

 

 Ngày 13 tháng 5/2000 vừa qua, ÐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh, được ÐTC ủy cho việc tiết lộ, đã nói rõ: Phần thứ ba của Bí mật Fatima nhằm cách riêng đến những cuộc chiến đấu của các chế độ chính trị vô thần chống lại Giáo hội và các tín hữu Kitô. Các cuộc bách hại, xẩy ra từ năm 1917 tại Liên xô, không phải là một bí mật đối với ai cả. Ông Lenin đã tiêu diệt các cộng đồng Kitô. Sau đó, ông Stalin công khai mở một chiến dịch chống đối Thiên Chúa, và do đó chống lại con người, bằng việc sát hại, theo ước tính, ít nhất 15 triệu sinh mạng.

 

 Một luận án tiến sĩ của Joseph Jost trình tại Ðại Học Gregoriana năm 1999, thuật lại những tội ác trên thế giới trong thế kỷ vừa qua.

 

 Trước hết nhìn vào Nga xô chúng ta thấy biết bao nhà tù, trại giam, trại tập trung, trại cải huấn, nơi tù đầy... Ðây là những biểu hiệu của các quốc gia hoặc các ý thức hệ - như ÐTC đã nhắc lại trong bài giảng Thánh lễ ngày 13 tháng 5/2000 vừa qua tại Fatima - đã gây nên hai đại thế chiến: tất cả các hiện tượng tội ác này đều chống lại sự sống con người. ÐTC nói rõ trong bài giảng 13.5.2000 vừa qua: "Bài trừ Thiên Chúa, con người không thể chờ đợi hạnh phúc; trái lại, con người sẽ đi đến tự hủy diệt mình".

 

Trong Bí mật Fatima có cả vụ mưu sát ÐTC. Chính Ðức Gioan Phaolô II, người được lựa chọn từ một quốc gia Cộng sản, để hướng dẫn Giáo hội trong giai đoạn cực kỳ khó khăn, đã là nạn nhân của vụ mưu sát kinh khủng này. Tại Fatima ngài đã nói lên lòng biết ơn đối với Chân phước Giaxinta Marto, vì đã can đảm cầu nguyện và chấp nhận mọi hy sinh để giúp đỡ "Vị Giám mục mặc áo trắng", bị ngã gục như một người chết, dưới làn đạn xả vào ngày 13.5.1981 tại Quảng trường Thánh Phêrô. 13.5 cũng là chính ngày kỷ niệm lần hiện ra đầu tiên của Ðức Trinh Nữ tại thung lũng Cova da Iria với ba em mục đồng Bồ đào nha. "Vị Giám mục mặc áo trắng", ba em đã được thấy, tức là ÐTC, tiến đi cách vất vả đến Thánh giá, giữa các xác chết của các vị tử đạo (giám mục, linh mục, tu sĩ nam, nữ và giáo dân), ngã gục như người chết, dưới làn dạn. Lời giải thích này đã được chính Sơ Lucia, hiện còn sống, một trong ba em được thấy hình ảnh bi thảm này năm 1917. (Lời ÐHY Sodano tại Fatima ngày 13.5.2000).

 

 Lúc này đây, người ta mới hiểu ra cảnh bi thảm nơi con người của Ðức Gioan Phaolô II, khi ngài thực hiện lời tiên tri Ðức Trinh Nữ đã loan báo từ năm 1917, năm bùng nổ Cách mạng vô thần tại Liên xô. Giờ dây người ta mới hiểu Ðức Gioan Phaolô II đã muốn đích thân hành hương Fatima sau một năm vụ mưu sát, để tạ ơn Mẹ Thiên Chúa đã cứu sống, để có thể phục vụ Giáo hội và thế giới trong giai đoạn bước vào Ngàn Năm thứ ba của kỷ nguyên Kitô. Vì thế ngài đã nói lên: "Tôi ca ngợi lòng thương Thiên Chúa đối với tôi khi tôi bị thương trầm trọng ngày 13.5.1981, tôi đã được cứu khỏi cái chết".

 

 Theo bình luận của nhà thần học trong Tuần báo "Gia Ðình Kitô" bằng tiếng Ý, số ra ngày 28.5.2000, thì việc tiết lộ bí mật trong lúc này xem ra rất thuận tiện, không những cải chính những bài báo, sách vở được tạo ra và được phổ biến trong những năm 1960 (có rất nhiều người tin như vậy và cho tới lúc này vẫn giữ lập trường sai lầm của mình), nhưng còn đem đến một ánh sáng thêm nữa để giải thích những khung cảnh khác nhau của thế kỷ XX và để tìm ra giải pháp của tất cả một thời đại đầy đen tối. Ánh sáng này thúc đẩy chúng ta dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ về sức mạnh và sự che chở của Người nơi các Vị Tử đạo. Các ngài đã can đảm trung thành trong đức tin bằng việc chiến thắng sức mạnh và những tàn bạo của các người bách hại. Nhà thần học viết tiếp: Ðồng thời ánh sáng Fatima thúc đẩy con người xa tránh mọi chế độ độc tài vô thần, nhằm tách lìa con người khỏi Thiên Chúa, để tiêu diệt con người.

 

 Nhân việc tiết lộ Bí Mật Fatima, nhiều người đặt câu hỏi: tại sao các vị Giáo Hoàng từ Ðức Pio XII cho tới nay đã chờ đợi nhiều năm như vậy, để tiết lộ phần thứ ba của Bí mật? Chắc chắn không phải các ngài thiếu lòng sùng kính Ðức Trinh Nữ Maria hoặc không lưu ý đến sứ điệp của Người. Có người đưa ra giả thuyết này: có thể các ngài sợ cuộïc đối thoại với các nước cộng sản Ðông Âu (được khởi sự từ Ðức Gioan XXIII) bị tổn thương hoặc bị gián đoạn, nếu bí mật được tiết lộ (vì bí mật liên hệ trực tiếp với các cuộc bách hại Giáo hội của chế độ).

 

 Nhưng dù sao, việc tiết lộ Bí mật trong lúc này được coi như là nhằm vào sự trưởng thành của các tín hữu Kitô, không còn sợ hãi những báo động kinh khủng (như đã được nghe từ nhiều năm) về số phận tương lai của nhân loại. Ngày nay các tín hữu đã ý thức rõ ràng về trách nhiệm của mình và đã có thể đáp lại những chờ dợi của Thiên Chúa, đã được Ðức Trinh Nữ Maria thông báo tại Fatima.

 

 Sứ điệp Fatima là sứ điệp của việc trở về với Thiên Chúa.

 Cho dù trong các lần hiện ra tại Fatima, Ðức Trinh Nữ Maria đã dùng đến những lời tiên tri và những hình ảnh gây sợ hãi (chiến tranh sẽ xẩy đến - cho ba em thấy hỏa ngục- phép lạ mặt trời quay trước sự chứng kiến của hơn 70 ngàn người, trong lần hiện ra sau cùng 13.10.1917), sứ điệp Fatima luôn luôn là lời kêu gọi đồng hóa mình với Trái Tim cực sạch của Người, một trái tim của người Mẹ và được linh hoạt bởi Thần Khí của hiệp thông, của hiệp nhất và của hòa bình.

 

 Việc hiến dâng thế giới cho quyền lực cứu rỗi của Chúa Kitô, Ðấng cứu chuộc nhân loại, qua trung gian Trái Tim cực sạch Ðức Maria, thụ tạo đầu tiên đã hưởng ơn cứu chuộc cách đầy đủ ngay từ lúc thụ thai trong lòng mẹ. Ðấng đầy ơn phước - được đòi hỏi như một điều kiện phải có để thay đổi Ðông Âu, nay trở nên như một xác nhận của con người về các dấn thân đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội. Con đường trở lại và phạt tạ phải được tiếp tục trong tương lai. Sứ điệp Fatima không phải là một mới lạ: đây là chính sứ điệp đã được Chúa Giêsu rao giảng ngay lúc bắt đầu đời sống công khai của Người tại Palestine: "Hãy ăn năn sám hối và hãy đón nhận Tin Mừng". Sứ điệp này còn nhằm chuẩn bị Giáo hội cho những thách đố mới của Ngàn Năm thứ ba. Việc phạt tạ trong tinh thần liên đới (sửa lại các bất công xã hội, việc tha hoặc giảm bớt các món nợ cho các nước nghèo, việc thăng tiến phẩm giá con người, việc phát triển các dân tộc, việc tái rao giảng Tin Mừng) và dấn thân xây dựng một nền văn minh tình yêu... phải đồng hành trên con đường tu đức của con người trong Ngàn năm mới. Ðại Toàn xá chính là thời gian chuẩn bị Giáo hội và thế giới bước vào một Kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của liên đới (như ÐTC đã nhấn mạnh nhiều lần) và của tình huynh đệ giữa các dân tộc và của hòa giải, hòa bình giữa các quốc gia.

Sứ điệp Fatima đã tự vượt qua được mọi thách đố


Nói một cách khách quan, trước hết người ta phải công nhận rằng sau hơn 90 năm biến cố Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, hiện ra tại Fatima vào năm 1917 với ba trẻ chăn chiên đã nghiễm nhiên trở thành một sự kiện lịch sử khách quan, đã tác động một cách mạnh mẽ và đã gây được những ảnh hưởng sâu rộng trên cuộc sống của hàng triệu người, trong Giáo Hội cũng như ngoài xã hội, như chúng ta chứng kiến hiện nay.


Nhưng một sự thật khác người ta cũng cần phải ghi nhận, đó là nếu ngày nay biến cố Fatima đã đạt được những thành quả tích cực và thực tiễn, đã chinh phục được thế giới, hay nói đúng hơn, đã chinh phục được sự xác tín của hàng triệu tâm hồn như thế, thì không phải do ảnh hưởng của bất cứ quyền lực ngoại tại nào khác, nhưng là do chính sức mạnh siêu nhiên của Sứ điệp Fatima. Do đó, Đức Hồng Y Cerejeira, Thượng Phụ Lissabon, thủ đô Bồ Đào Nha, đã phát biểu: „Không phải Giáo Hội đã làm cho thế giới chấp nhận Sứ điệp Fatima, nhưng chính Sứ điệp Fatima đã tự chinh phục được thế giới“(1).


Thật vậy, từ khởi đầu cho tới mãi ngày nay, Sứ điệp Fatima vẫn luôn phải đối mặt với những chống đối khốc liệt và dữ dằn đến từ nhiều phía, nhất là những thóa mạ hằn học cũng như những cáo buộc vô căn cứ của những kẻ thù của Giáo Hội, như các thành phần thuộc hội Tam điểm và những kẻ vô thần, khi họ chủ quan cho rằng biến cố Fatima chỉ là một sự lừa gạt dối trá và tinh xảo của hàng Giáo Sĩ, nhất là của mấy ông thầy Dòng Tên bày bịa ra. Nhưng sự thật luôn vẫn là sự thật và chiến thắng sau cùng bao giờ cũng thuộc về sự thật. Vâng, cuộc chiến của những kẻ thù Giáo Hội chống lại Sứ điệp Đức Mẹ Fatima có mưu mô, xảo quyệt và thâm độc đến đâu đi nữa, thì sau cùng vẫn vô hiệu quả và hoàn toàn bị thất bại chua cay. Đó là một điều tất yếu; vì làm thế nào mà sức mạnh tự nhiên có thể chiến thắng được sức mạnh siêu nhiên? và làm thế nào mà con người là một thụ tạo hèn yếu lại có thể chiến thắng được Thiên Chúa Tạo Hóa toàn năng? Việc làm của những kẻ thù Giáo Hội chống đối và thóa mạ Sứ điệp Fatima là một việc làm khờ dại, là việc lấy trứng chọi với đá. Sau đây chúng ta hãy nhìn lại sự diễn tiến của những thái độ ấy đối với Sứ điệp Fatima.


1. Kẻ thù Giáo Hội: Fatima là một bịa đặt của hàng Giáo Sĩ


Nhưng trước khi đi sâu vào những luận cứ vô lý của những kẻ thù Giáo Hội nói chung và của những kẻ thù của Sứ điệp Fatima nói riêng, chống lại sự thật siêu nhiên của biến cố lịch sử Fatima, chúng ta hãy nhìn qua những biến động chính trị của nước Bồ Đào Nha vào tiền bán thế kỷ XX.


Sau khi loại bỏ thể chế quân chủ vào năm 1910 và tiếp liền sau đó vào năm 1911 là sự tách biệt hoàn toàn giữa Nhà nước và Giáo Hội, giữa chính trị và tôn giáo. Và trên thực tế, hậu quả của sự tách biệt này đã không nhằm mục đích là đưa Nhà nước vào vị thế trung lập trong những vấn đề thuộc tôn giáo, như người ta bình thường vẫn dự đoán một cách lý thuyết, nhưng là sự loại trừ hoàn toàn tất cả mọi sinh hoạt tôn giáo ra khỏi đời sống công cộng, đến nỗi việc tổ chức các cuộc rước kiệu hay các lễ nghi tôn giáo bên ngoài các Nhà Thờ, Nhà Nguyện hay Tu viện đều bị nghiêm cấm. Nhà cầm quyền Cộng hòa ở Bồ Đào Nha vào lúc bấy giờ tuyên truyền chủ nghĩa tự do phóng khoáng dưới hình thức sự tự do tư tưởng hoàn toàn và theo khuynh hướng hội Tam điểm. Theo họ, một người có tư tưởng tự do là người không bị ràng buộc hay lệ thuộc bởi bất cứ uy quyền hay thế giá nào (thường được hiểu là uy quyền tôn giáo), nhưng hoàn toàn chỉ dựa theo các nguyên tắc hợp lý của trí năng. Nói cách khác, theo quan điểm này, thì chỉ hiện hữu những gì trí năng con người có thể kiểm chứng được, còn những gì khác nằm ngoài phạm trù hiểu biết của trí năng đều chỉ là giả tưởng, hoàn toàn không hiện hữu.


Nhưng nếu người ta chỉ công nhận sự hiện hữu của những gì đã được trí năng kiểm chứng bằng các nguyên tắc hợp lý, thì tất nhiên đối với họ, các thực tại siêu nhiên, các mầu nhiệm, các lần hiện ra của Đức Trinh Nữ Maria và các phép lạ mà Thiên Chúa đã thực hiện qua sự can thiệp của Mẹ Maria, trước hết là phép lạ trọng đại „mặt trời quay“ vào ngày 13.10.1917, không chỉ là một sự dối trá bịp bợm, mà còn là một sự khiêu khích đối với cả nhân loại. Vâng, đối với họ, một người hoàn toàn có tư tưởng tự do, thì không thể nào hiểu được là làm sao một người hợp lý lại có thể chấp nhận được hiện tượng một mặt trời vĩ đại, có sức nóng khủng khiếp, luôn đứng quay tại chỗ và là trung tâm điểm của cả một hệ thống các hành tinh bao la rộng lớn hầu như ngoài sức tường tượng của con người như thế, lại có thể quay cuồng nhảy lộn gần sát mặt đất như một vòng lửa được. Theo họ, những ai chấp nhận và tin theo điều vô lý ấy, thì chắc chắn hoặc là một người ngu ngốc – cũng vì thế người ta thường ghép các tín hữu Công Giáo vào thành phần những kẻ ngu muội và thiếu học thức –, hoặc là một người thiếu thành thật, nếu như người đó có trí năng thông minh bình thường.

 
Theo bộ tài liệu hoàn toàn mang tính cách phê bình khách quan về biến cố Fatima „Documentacáo Critica“, gồm tám tập, vừa được Trung tâm Hành hương quốc tế Fatima xuất bản, thì những kẻ thù cực đoan chống đối biến cố Fatima cho rằng Fatima chỉ là trò hề (Comedia), chỉ là một sự lừa đảo của những kẻ phản động (burla reaccionaria), của các Giáo sĩ, của mấy ông Thầy Dòng Tên. Và họ đã hô hào: „Hỡi những người có tư tưởng tự do, hãy đứng lên trục xuất mấy ông Thầy Dòng Tên, hãy dẹp bỏ những trò hề
Fatima“.


Còn thái độ đầy ghen tượng và ngạo mạn đối với ba trẻ được nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra, một nữ phóng viên sau khi đã viết trong một bài báo những lời hết sức khiếm nhã: „sem educacáo nem inteligencia tipos bocais: lũ thiếu giáo dục, thiếu hiểu biết, bọn người ngu đần“, còn mỉa mai: „phải chăng mặt trời đã bỏ vị trí của nó trong vũ trụ?“(2) Chính nữ phóng viên này cũng vì thế đã nhạo báng cả việc lần hạt Mân Côi của các tín hữu Công Giáo. Và ảnh hưởng của những kẻ thù quá khích, của Giáo Hội nói chung và của Sứ điệp Đức Mẹ Fatima nói riêng, đã gây nên những hiểu lầm và những tác hại không nhỏ trên quan niệm nhiều người đương thời, đến nỗi người ta đã cho rằng việc xây dựng các vườn trẻ và trường học phải được ưu tiên hàng đầu và quan trọng hơn việc xây dựng các Thánh Đường và Nhà Nguyện.


Nhưng ở đây người ta tự hỏi: Nếu vậy, theo ý kiến những kẻ tự cho mình có tư tưởng tự do, tức những kẻ phủ nhận và chống đối một cách cực đoan Sứ điệp Đức Mẹ Fatima, thì lý do nào đã thúc đẩy các Giáo Sĩ tin tưởng và truyền bá „trò hề“ Fatima?


Dĩ nhiên theo họ, trước hết phải là „lý do chính trị“ (uma especulacáo politica). Những kẻ thù của Giáo Hội và của Sứ điệp Fatima đã chủ quan và bất công tố cáo hàng Giáo Sĩ Bồ Đào Nha đã bịa đặt ra biến cố Fatima để nhằm mục đích tái khôi phục lại thể chế Quân chủ độc đoán và lỗi thời. Họ cũng cho rằng tham vọng bá quyền và có lẽ cả lòng ham hố tiền bạc là „lý do duy nhất“ (uma especulacáo clerical) của „trò hề“ Fatima do các Giáo Sĩ bịa đặt ra.


Nhưng chính những tư duy chủ quan, một chiều và thiển cận của những kẻ tự cho mình là những người có tư tưởng tự do và tiến bộ đã vô tình trở thành những rào cản ngăn chặn họ trên con đường tìm gặp được đức tin chân chính, trên con đường khám phá ra và nhận thức được những thực tại siêu nhiên và những mầu nhiệm cứu rỗi trọng đại. Vì cố thủ trong bóng tối duy lý của họ, nên đa số họ đã không có mặt tại Fatima vào ngày 13.10.1917, để có thể chứng kiến tận mắt phép lạ vĩ đại „mặt trời quay“ (3) như hàng ngàn người khác – ước lượng vào khoảng từ 50 đến 70.000 người – và cũng vì thế họ vẫn là những kẻ vô tri trước những thực tại siêu nhiên cao cả ấy.


2. Cuộc chiến chống đối
Fatima đầy thảm bại chua cay


Tất cả những ai có hiểu biết và phán đoán bình thường đều cảm thấy những lời chỉ trích và chống đối cực đoan biến cố Fatima của những người vô thần và của những thành phần hội Tam điểm, những người tự cho mình là có tư tưởng tự do tiến bộ như vừa nói trên, khi cho rằng sự kiện Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Fatima là sự bịa đặt của các Giáo Sĩ với mục đích tìm cách khôi phục lại chế độ Quân chủ, là hoàn toàn thiếu trung thực và vô căn cứ. Trong bộ hồ sơ „Documentacáo Critica“ người ta tìm gặp được những dẫn chứng quan trọng và cụ thể, minh chứng sự vô lý và thiếu căn cứ của những thái độ phủ nhận, chống đối và thoá mạ sự thật hiển nhiên của biến cô Fatima.

Trước hết có lẽ chúng ta phải nói đến thái độ của hàng Linh Mục nói chung. Khởi đầu, hầu như tất cả các vị đều nghi ngờ và hờ hửng đối với những tin tức và những đồn thổi về việc Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ tại Fatima(4):

Chẳng hạn một vị Viện Phụ đã công khai khen ngợi một tờ báo Công Giáo vì đã có thái độ phủ nhận biến cố hiện ra của Đức Mẹ và ngài cho đó là một thái độ khôn ngoan trong sứ mệnh bảo vệ giáo lý chân chính của Giáo Hội.


Nhất là vị Linh Mục Quản xứ Fatima vào lúc bấy giờ cũng cảm thấy là ngài cần phải có lập trường rõ ràng về sự kiện Fatima, sau khi ba trẻ bị nhà cầm quyền bắt giam vào tháng 8.1917, đó là ngài đã hoàn toàn phủ nhận sự kiện hiện ra. Dẫn chứng rõ ràng về thái độ phủ nhận của vị Quản xứ này, trước hết ngài đã đồng quan điểm với ông quận trưởng là cần phải có biện pháp mạnh ngăn chặn những gì liên quan tới sự kiện Fatima và tiếp đến là ngài đã không bao giờ có mặt tại đồi Cova da Iria trong các ngày 13 mỗi tháng, khi Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ.

Còn các vị Linh Mục khác, những vị đã từng đến thăm và tìm hiểu ba trẻ Fatima, thì thường đã làm cho các em sợ hãi khi phải đối diện và phải trả lời những câu hỏi khó khăn và phức tạp các ngài nêu lên, kèm theo những thái độ nghiêm nghị, nếu không nói là đầy đe dọa của các ngài.

Vậy, nếu hầu như tất cả hàng Giáo Sĩ Bồ Đào Nha lúc bấy giờ đều có một thái độ xa lạ, hờ hửng, nếu không nói là hoàn toàn phủ nhận biến cố Fatima như thế – ít là lúc đầu –, thì làm sao người ta có thể gán ghép cho các ngài đã xúi dục hay bịa đặt ra biến cố Đức Mẹ hiện ra được?

Đàng khác, nếu trên thực tế, lúc đầu thái độ xa lạ và chống đối của hàng Giáo Sĩ đã gây cho biến cố Đức Mẹ hiện ra cũng như cho ba trẻ thị kiến nhiều trở ngại khó khăn, thì chính thái độ ấy lại biện minh cho sự vô can của các Giáo Sĩ trong vụ việc và nhất là càng minh chứng cho xác thực của biến cố. Hơn nữa, chính đoàn lũ đông đảo dân chúng lúc bấy giờ, những người từng chứng kiến và hoàn toàn xác tín sự thật của biến cố, cũng đã phàn nàn là họ cảm thấy bị hàng Giáo Sĩ bỏ rơi. Do đó người ta có thể nói được rằng trong biến cố Fatima, nếu đứng về phía nhân loại mà nói, thì dân chúng là chủ động còn các Giáo Sĩ hoàn toàn bị động, nghĩa là các Giáo Sĩ chỉ là những người bị quần chúng lôi cuốn theo mà thôi. Đó cũng là một bằng cứ rõ ràng chứng minh cho thấy những lời tố cáo và buộc tội của những người tự nhận có tư tưởng tự do tiến bộ và những thành phần thuộc hội Tam điểm cho rằng biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima là trò hề, là sự bịa đặt của các vị Linh Mục, hoàn toàn hồ đồ và vô căn cứ.


Ngoài ra, một thực tại khác cũng khiến người ta phải suy nghĩ, đó là để có thể tạo nên một sự bịa đặt giả dối như thế trong hoàn cảnh thực tế vào lúc bấy giờ ở Bồ Đào Nha là một điều hoàn toàn bất khả, vì các quyền hạn, uy thế và ảnh hưởng của Giáo Hội đều hầu như được giới hạn trong Hội đồng các Giám Mục(5). Thế nhưng trong thời điểm Đức Mẹ hiện ra, Fatima thuộc Tổng Giáo phận Lissabon dưới quyền Đức Hồng Y Thượng Phụ D. Antonio Mendes Belo, mà vào lúc bấy giờ ngài đang bị đày biệt xứ. Và chỉ từ tháng giêng năm 1918, Leiria-Fatima mới được ĐTC Bênêđíctô XV nâng lên hàng Giáo phận và vào năm 1920, Đức Cha José Alves Correia da Silvo được đặt làm Giám Mục tiên khởi.


Mặc dù lúc đầu, Đức Tân Giám Mục cũng tỏ ra dè dặt, nhưng người ta phải nhìn nhận rằng vị Giám Mục tiên khởi này là một hồng ân, là một may mắn cho tân Giáo phận Leiria-Fatima nói chung và cho biến cố Fatima nói riêng. Thật vậy, lần đầu tiên vào năm 1921, Đức Cha José Alves Correia da Silvo đã ban phép cho cử hành Thánh Lễ tại chỗ Đức Mẹ hiện ra ở ngọn đồi Cova da Iria, và đồng thời ngài cũng cho tổ chức một chương trình Mục Vụ tổng quát cho khách hành hương, đang mỗi ngày một đông đảo thêm. Trong khi ngài có một quan điểm tích cực đối với biến cố Fatima như thế, thì các Giám Mục khác ở Bồ Đào Nha vẫn có thái độ nghi ngờ (6). Điều này lại một lần nữa minh chứng cho thấy rằng Hội đồng các Giám Mục Bồ Đào Nha không thể là những người đã „chủ xướng“ hay đã bịa đặt ra biến cố Fatima.


Còn về những chống đối và thóa mạ khác, Đức Cha José Alves da Silva đã đề cập đến rất đầy đủ trong Thư Chung đề ngày 13.10.1930 gửi cho các thành phần dân Chúa trong Giáo phận của ngài. Trong đó ngài thông báo kết quả tích cực về biến cố Fatiam của Ủy ban Điều tra do ngài thiết lập (7), nhất là để bịt miệng những lời vu khống, chê bai và sỉ nhục ba trẻ Fatima là lũ vô học thức, dốt nát, thì Đức Giám Mục đã trích lời thánh Phaolô trong Thư Cô-rin-thô để trả lời cho họ, như sau: „Thưa anh em, anh em hãy thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy ai khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. Nhưng những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ ngôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người“ (1Cr 1,26-29). Cũng chính vì thế, Chúa Giê-su đã truyển chọn các Tông Đồ vốn là những người làm nghề chài lưới đơn sơ, vì Thiên Chúa thường kén chọn những gì người đời cho là kém giá trị.


Một điểm khác cũng đáng nghi nhận nữa, đó là tuy ba trẻ hoàn toàn bị tách biệt mỗi em một nơi, nhưng tất cả các câu trả lời của các em trước các câu hỏi của các nhà chức trách, đời cũng như đạo, đều rõ ràng và hoàn toàn trùng hợp với nhau trong từng chi tiết nhỏ, chứ không một chút mâu thuẫn. Hơn nữa cả ba trẻ Fatima đều nhất mực từ chối tất cả mọi quà tặng của bất cứ ai và dưới bất cứ hình thức gì.


Ngay trong phần mở đầu Thư Chung của ngài đề ngày 03.5.1922 (8), nhân dịp thành lập „Ủy ban Điều tra“ biến cố Fatima, Đức Giám Mục Giáo phận Leiria-Fatima đã đề cập nhiều tới một vấn đề khác: Vấn đề các phép lạ. Và các phép lạ ở đây, trước hết người ta phải nói đến phép lạ – o milagre – mặt trời quay, và dĩ nhiên cũng bao gồm cả những phép lạ được khỏi bệnh một cách lạ lùng của các bệnh nhân thuộc đủ mọi thứ bệnh, vì đã vượt khỏi biên giới các khả năng chuyên môn của y khoa.

Nhưng đồng thời Đức Giám Mục cũng tránh đi sâu vào các chi tiết của biến cố, mà các báo chí lúc bấy giờ đang đưa ra bàn cãi sôi nổi. Ngài chỉ xác định rằng các phép lạ xảy ra tại Fatima là một minh chứng hùng hồn cho thấy trong biến cố ấy có „bàn tay vô hình“ của Thiên Chúa can thiệp vào, mặc dầu với sự khôn ngoan thượng trí của Người, Thiên Chúa luôn tôn trọng các luật tự nhiên mà chính Người đã thiết đặt cho sự tuần hoàn trật tự của vũ trụ, chứ Người không dễ dàng làm phép lạ, trừ khi hoàn cảnh đòi hỏi một cách nhất thiết. Bởi vì, phép lạ là một hiện tượng ngoại thường và vượt tự nhiên.


Vì thế, vấn nạn phép lạ mặt trời quay thường đã được đưa ra phân tích, mổ xẻ và bàn cãi ngay cả trên các nhật báo hồi ấy, đến nỗi có người đã nêu lên thắc mắc là phải chăng xét về phương diện thiên văn học đã có sự thay đổi nào đó ở mặt trời? Và nếu câu trả lời là không, thì người ta sẽ đi đến kết luận là trong vụ việc Fatima đã xảy ra hiện tượng bệnh tâm thần tập thể, khiến cho cả đám quần chúng đông đảo bị cuốn hút vào một ảo giác.


Nhưng thiết tưởng một sự kết luận như thế là quá hàm hồ, thiếu lý tính và thiếu tính cách thuyết phục, vì người ta tự hỏi là làm thế nào một ảo giác bệnh hoạn lại có thể tạo được những cảm xúc, những cảm nhận và những trải nghiệm đồng nhất nơi một tập thể đông đảo vào khoảng từ 50 đến 70.000 người như phép lạ mặt trời quay vào ngày 13.10.1917 tại Fatima?

Ngay cả ý nghĩa và sự tác động của phép lạ mặt trời quay trên vấn đề đức tin cũng được đưa ra bàn luận, và người ta đã tự hỏi: Phải chăng đó là chứng cứ của đức tin, nghĩa là một điều bó buộc phải tin, một sự kiện của siêu nhiên đòi phải chấp nhận?


Một ví dụ điễn hình chúng ta có thể trích dẫn một suy tư sau đây được đăng trên tờ báo O Almonda (9). Tác giả bài báo hoàn toàn bác bỏ ý kiến cho rằng biến cố Fatima và các phép lạ (đặc biệt phép lạ mặt trời quay) đã xảy ra tại đó chỉ là sáng kiến của những người Công Giáo, của các Thầy Dòng Tên bày đặt ra, cốt để tìm hiểu xem liệu người ta có thể quảng bá sự mê tín trong dân chúng đến mức độ nào. Tác giả bài báo cũng xác nhận rằng chẳng những Giáo Hội Công Giáo không hề tham gia vào biến cố đó, vì phản ứng khôn ngoan muôn thuở của Giáo Hội là trước tiên luôn tỏ ra dè dặt trước tất cả những gì xảy ra tại Fatima, cũng như Giáo Hội từng cư xử đối với sự kiện Đức Mẹ hiện ra trước kia tại Lộ Đức hay tại bất cứ nơi nào khác. Tác giả bài báo còn viết tiếp là với các phép lạ người ta cũng không thể giải tỏa được thắc mắc đầy tranh cãi về sự thật của biến cố. Về điểm này, tác giả đã đề cập đến trường hợp các người Tin Lành và nhất là trường hợp Thủ tướng Pháp Freycinet vào lúc bấy giờ, một người vô thần. Nhưng chính Thủ tướng Freycinet đã khuyên người bạn thân của mình là ông Lasserre, một người tín hữu Công Giáo bị mù, hãy lấy nước suối Đức Mẹ Lộ Đức mà rửa mắt. Nhưng người bạn của Thủ tướng đã từ chối, không chịu lấy nước ở hang đá Lộ Đức để rửa mắt, vì ông ta sợ là nếu được lành bệnh thì cuộc sống của ông ta sẽ phải thay đổi. Nhưng cuối cùng ông cũng đành chấp nhận lấy nước hang đá Đức Mẹ Lộ Đức xức vào mắt mình, và bỗng nhiên ông ta đã hết mù và nhìn thấy được. Sau khi được khỏi bệnh, ông ta đã viết nhiều sách có giá trị về phép lạ Đức Mẹ Lộ Đức. Trong khi đó, mặc dầu đã đích thân được trải nghiệm những phép lạ hiển nhiên như thế và đã sống đến 95 tuổi đời, Thủ tướng Freycinet vẫn vô thần chứ không ăn năn hối cải. Và tác giả bài báo đã kiết luận: Quả thực „chỉ phép lạ một mình mà thôi thì không thể hoái cải được ai cả“. Ngoài ra tác giả cũng nhắc đến thái độ tương tự của ông E. Zola. Trong cuốn sách của ông viết về Lộ Đức, Zola đã hoàn toàn không đả động gì tới các tường thuật về phép lạ mà chính ông đã trải nghiệm, nếu không nói là ông còn truyền bá các ý kiến sai lạc của mình.


Còn tác giả bài báo đã nói trên, dĩ nhiên ông ta có lý khi cho rằng một phép lạ không thể bó buộc ai phải tin theo, vì thực ra phép lạ là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, là một ơn lành Chúa ban – như nơi trường hợp những người tin tưởng vào sự xác thực của biến cố hiện ra – và chính những người có tư tưởng tự do và những người vô thần cũng đã tỏ ra vô cùng bối rối và bất an trước các phép lạ mà họ đã chứng kiến nhãn tiền. Tuy nhiên, qua các suy tư của mình, tác giả đã tỏ ra không nhìn thấy được điều đó, và cho rằng đức tin chỉ có thể được củng cố bằng các luận cứ hợp lý mà thôi.


Mặc dầu các tư tưởng trên mang tính cách hòa hoãn, nhưng trên thực tế quan điểm của hai phía, của các tín hữu Công Giáo cũng như của những kẻ vô thần, hoàn toàn bất hòa giải, hoàn toàn không thể dung hòa với nhau được, như thể nước và lửa.


Thật vậy, một đàng, các người tự nhận có tư tưởng tự do tiến bộ khẳng định rằng chủ thuyết duy lý của họ không thể chấp nhận được những hiện tượng siêu nhiên vượt ra ngoài phạm vi của lý trí. Họ chỉ chấp nhận phép lạ mặt trời quay theo nghĩa thiên văn-vật lý học, và họ cho rằng chiến lược của những người Công Giáo là một chủ đích thiếu thành thật, tức vì chỉ muốn thí nghiệm xem quần chúng thiếu học thức có thể chấp nhận sự mê tín của họ đến mức độ nào. Vì thế, trong „Der freie Gedanke“ ký giả José Lopes dos Santos đã viết những lời chống lại các người mà ông gọi là „bọn phản động“ và các Thầy Dòng Tên (10) như sau: „Chúng tôi không chống lại những xác tín về đức tin của quần chúng tốt, nhưng chúng tôi chỉ chống lại sự tuyên truyền lố lăng về những phép lạ, mà nếu được nhìn dưới ánh sáng khoa học thì toàn là những điều không thể có được, như trường hợp các phép lạ Fatima. Đấy chỉ là công trình lừa đảo đồ sộ do mấy ông Thầy Dòng Tên dàn dựng lên, cốt ngăn cản quần chúng không đặt niềm tin tưởng vào sự hết sức khả tín của những người có tư tưởng tự do (…). Phải chăng những kẻ phản động đã đồng lõa với nhau để chống lại sự tiến bộ? (…) Vậy, hỡi những người có tư tưởng tự do, hãy tỉnh thức!“ Tiếp đến, Lopes kêu gọi hãy chiến đấu cho chân lý, cho sự công bằng và cho sự tự do tư tưởng. Một tờ truyền đơn „Hỡi quần chúng có tư tưởng tự do, hãy vùng đứng lên“ (như trên, Doc. 307) của một nhóm người bài Giáo sĩ khác cũng đã kêu gọi tương tự là hãy đem tình yêu chống lại hận thù, đem sự thiện chống lại sự ác (dĩ nhiên theo quan điểm chủ quan của họ), đã viết: „Chúng ta hãy lấy khoa học làm tôn giáo của chúng ta và tôn giáo khoa học của chúng ta là sự tự do tư tưởng.“ – „Từ sự chiến thắng của tiến bộ, của khoa học, của sự tự do, của sự tư duy tự do, con người sẽ lãnh nhận được sự hạnh phúc, niềm vui, tình yêu, tình huynh đệ.“

Còn phía những tín hữu Công Giáo, những người tin tưởng vào sự xác thực của biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, sẽ phản ứng ra sao?

Trước hết, người ta đã cố gắng tránh loan báo một cách quá vội vàng và chưa chắc chắn rõ ràng về các phep lạ. Các hiện tượng được khỏi bệnh một cách lạ lùng cần phải được các bác sĩ xét nghiệm và chứng thực một cách hoàn toàn khách quan(11).

Đặc biệt nhất là phép lạ mặt trời quay, một phép lạ đã được bài cãi và phân tích rất cặn kẽ. Ở đây một điểm đáng ghi nhận là vào năm 1917 người ta đã có thể chụp được các hình ảnh về phép lạ đó và chính những hình ảnh ấy là những bằng cứ rất thực tiễn, góp phần tích cực vào các cuộc tranh luận. Dĩ nhiên, đó không phải là những bức hình đã chụp trực tiếp được chính mặt trời khi nó quay cuồng bay lộn, nhưng là chụp những phản ứng của đám quần chúng hiện diện lúc ấy ở Fatima. Qua những bức hình giá trị lịch sử ấy, người ta thấy có người đang nhìn vào ống kính của các máy chụp hình, có người lại lấy tay che trên mắt và hướng nhìn lên trời. Rồi có hình chụp cả một đám quần chúng đông đảo, kẻ đứng người quỳ gối, đang chăm chú nhìn lên trời như đang theo dõi một sự kiện gì đó, v.v…(12). Những phản ứng ấy cho thấy là hiện tượng hay phép lạ mặt trời quay là có thật và đã tạo nên những ấn tượng mạnh không thể diễn tả được nơi hàng ngàn ngàn người có mặt hôm đó tại Fatima.

Nhưng người ta có thể cắt nghĩa điều ấy như thế nào? Những người tự nhận tiến bộ, có tư tưởng tự do và vô thần, thì cho hiện tượng đó chỉ là một sự cố thuộc vật lý-thiên văn học, và vì thế họ đã hoàn toàn phủ nhận việc coi đó là một sự thật siêu nhiên, vì họ sợ rằng ý niệm về tôn giáo lại tái hồi sinh, một ý niệm vốn đã chết từ lâu nơi nhiều người ở Bồ Đào Nha, nhất là nơi những người tự cho mình là thành phần trí thức và cấp tiến. Hơn nữa, người ta cũng xác nhận là các nhà thiên văn học với những máy móc khoa học tối tân của họ cũng đã không ghi nhận được gì cả về hiện tượng „mặt trời quay“ và những người ở chung quanh vùng Fatima cũng không ghi nhận được gì (13) về những hiện tượng mà khoảng 70.000 người khác ở tại Fatima đã tận mắt chứng kiến. Nhà thiên văn học Fr. Oom (14) giải thích rằng nếu giả thử có sự cố thuộc không gian đã thực sự xảy ra, thì tất nhiên các máy móc khoa học đã có thể ghi lại được, nhưng trong trường hợp „Fatima“ thì các máy móc chẳng ghi nhận gì hết. Vì thế, ông cho rằng hiện tượng hàng ngàn người nhìn thấy mặt trời quay vào ngày 13.10.1917 tại Fatima là một sự „thôi miên tập thể“ (sugestáo coletiva).

Nhưng chính những bức hình ghi lại những phản ứng khác nhau của đám quần chúng quá đông đảo đang có mặt tại hiện trường lúc bấy giờ đã làm cho người ta phải nghi ngờ lời giải thích của nhà thiên văn học Fr. Oom. Thật vậy, nếu đó quả thực là một sự thôi miên tập thể, thì đương nhiên mỗi người trong đám quần chúng ấy khi nhắm mắt lại vẫn còn tiếp tục bị ảnh hưởng sự thôi miên ấy.

Chẳng bao lâu sau đó, phép lạ mặt trời quay tựa như một làn chớp, đã được loan truyền hết sức nhanh chóng ra khắp nơi ở Bồ Đào Nha và trên thế giới bằng miệng và thư tín của khoảng 50 đến 70.000 nhân chứng sống động đã có mặt tại Fatima trong ngày hôm đó, chứ không phải bởi các phương tiện truyền thông đại chúng như trong các biến cố khác; trái lại, nếu không nói là đại đa số trong các phương tiện truyền thông tại Bồ Đào Nha lúc bấy giờ đã hết lời nhạo cười và chế giễu. Nhưng đối mặt với thái độ khôn ngoan dè dặt (prudente reserva) của hàng trí thức Công Giáo (os entenditos), những người có tư tưởng tự do và vô thần luôn chờ đợi một tuyên bố công khai về hiện tượng mặt trời quay. Nhưng phải chăng con người có đủ thẩm quyền để giải thích hay tuyên bố về một „điều siêu nhiên“?

Các cuộc hành hương vĩ đãi tới đồi Cova da Iria, nơi Đức Mẹ hiện ra, là những dấu tích hữu hình và cụ thể của sự kiện, vào các ngày 13 mỗi tháng, nhất là các ngày 13 tháng năm và 13 tháng mười là những ngày hành hương đặc biệt nhất. Mỗi cuộc hành hương như thế thường có tới hàng chục ngàn người thuộc đủ mọi thành phần xã hội tham dự.

Ở đây, có lẽ người ta cũng cần phải nhắc đến đức tin mạnh mẽ và lòng hy sinh to lớn của các khác hành hương. Vì điều kiện hạ tầng cơ sở – đường sá đi lại, điều kiện ăn ngủ, cho khách hành hương – ở Fatima vào thời gian đầu còn quá thô sơ thiếu thốn, nên đa số khách hương từ khắp nước đã đi bộ suốt đêm, dù trời mưa hay nắng, và sau khi đã sốt sắng xem lễ, lần hạt Mân Côi và kính viếng nơi Đức Mẹ hiện ra, họ lại lên đường trở về nhà trong cùng ngày, cũng có nhóm người ngủ qua đêm ngoài trời hoặc trong các Nhà Thờ.

Và trên đường đi hành hương như thế, tất cả mọi người đều cùng nhau lớn tiếng lần hạt Mân Côi hay hát các bài Thánh ca. Mặc dầu đi đường xa mệt nhọc vất vả và còn phải kiêng ăn uống (15) mọi người đều đông đảo tập trung về nhà thờ Giáo xứ Leiria hay Giáo xứ Fatima để xem lễ và rước lễ. Ngoài ra, theo luật cũ xưa kia, mọi người còn phải xưng tội trước khi rước Mình Thánh Chúa nữa. Và đối với các khách hành hương tới vào bất cứ giờ nào trong đêm hay vào sáng sớm, đều được hướng dẫn một cách vồn vả chu đáo của giáo dân địa phương cũng như của các vị Linh Mục. Đó là một trải nghiệm đẹp, có ấn tượng sâu xa nhất nơi mỗi khách hành hương. Nhưng một điều đặc biệt nhất là các cuộc hành hương đã tập trung thành một biển người vĩ đại tại Fatima như chưa từng xảy ra bao giờ, đã gây cho mọi khách hành hương một sư ý thức mạnh mẽ và rõ rệt về đức tin Công Giáo của mình, và qua đó củng cố thêm cho sự tự tin của mỗi người tín hữu khi họ lên đường trở về nhà.

Chính sự hồ hởi tham dự vào các cuộc hành hương của mọi tầng lớp đông đảo dân chúng, cũng như tinh thần phấn khởi và niềm vui tinh thần dạt dào nơi các khách hành hương, đã làm cho các kẻ vô thần chống đối biến cố Fatima cảm thấy thất ngượng ngùng và xấu hổ. Hơn nữa, những người có tư tưởng tự do tiến bộ, vô thần và bè Tam điểm ấy luôn xác tín một cách chủ quan rằng, một đàng không thể có chuyện can thiệp huyền nhiệm của Thiên Chúa trong những gì đã xảy ra, và theo nguyên tắc thì tất cả mọi hiện tượng xảy ra trên trái đất này đều có thể giải thích một cách khoa học được, và một đàng khác, những gì đã xảy ra ở Fatima chỉ là trò bịp bợm của các Giáo Sĩ bày ra để lừa dối dân đen, nên bọn họ đã sử dụng bạo động để dẹp bỏ. Họ cũng cho rằng tất cả người Công Giáo đều không phải là những người có tư tưởng tự do tiến bộ.

Nhưng cuối cùng những bạo hành của những kẻ thù của Sứ điệp Fatima đã quay lại làm hại chính họ. Sự thù ghét của họ chống lại Giáo Hội Công Giáo còn mạnh mẽ hơn cả lòng trung thành của họ đối với các nguyên tắc tự do mà họ đã đề xướng lên như là các tín điều bất khả ngộ. Thái độ đó được bày tỏ rõ rệt vào ngày 13.8.1917, khi ông quận trưởng ra lệnh cho tách biệt ba trẻ – cả ba trẻ vào lúc ấy còn dưới 10 tuổi – ra khỏi cha mẹ các em và cho giam vào nhà tù, cốt để dọa nạt, làm mất tinh thần và bắt ép các em phải khai ra các bí mật và hứa không đi tới đồi Cova da Iria nữa(16). Người ta dọa sẽ nướng sống các vào một cái chảo dầu đang sôi. Sơ Lucia kể: „Thế là họ đã gọi Gia-xin-ta và cho em hay rằng em là đứa đầu tiên sẽ bị thiêu sống (…). Tiếp đến, họ cho gọi Phan-xi-cô và nói dối em là Gia-xin-ta đã bị thiêu sống rồi, và em cũng sẽ chịu chung một số phận tương tự, nếu như em không nói ra các bí mật. Sau cùng đến lượt con (Lucia), họ củng đã nói với con là em họ con (Gia-xin-ta) đã bị thiêu sống và con cũng chịu cùng số phận ấy.“

Mặc dù bị đe dọa khủng khiếp như thế, cả ba trẻ đều can đảm giữ vững lập trường một cách phi thường cho đến cùng, chứ các em không hề tỏ ra sợ sệt chút nào cả. Phan-xi-cô còn nói: „Nếu họ thực sự giết chết chúng con, thì chúng con càng mau được về Thiên đàng.“ Em còn cầu nguyện cho Gia-xin-ta đừng sợ hãi. Chính sự can đảm của ba trẻ vốn được tác động và củng cố bởi sức mạnh siêu nhiên, đã khiến cho mưu mô và kế hoạch xảo quyệt của vị quận trưởng vô thần hoàn toàn thất bại.

Một hành động bạo lực khác nữa của những kẻ thù là họ đặt mìn làm nổ tung mái Nhà Nguyện nơi Đưc Mẹ hiện ra, cốt gây hoang mang cho các khách hành hương, nhất là họ hy vọng sẽ làm cho mọi người coi thường và mất tín nhiệm đối với Sứ điệp Fatima. Nhưng chính vì hành động phạm thượng này đối với Mẹ Thiên Chúa, người ta đã tổ chức vào ngày 13.5.1922 một cuộc hành hương vĩ đại với khoảng 40 đến 50.000 người tham dự, cốt để đền bù phạt tạ tại Fatima, và đã gây một sự quan tâm đặc biệt trên thế giới.

Nhưng các nhà chức trách địa phương lúc bấy giờ vẫn chưa chịu bó tay thua cuộc. Họ đã dựa vào luật tách biệt giữa Nhà nước và Giáo Hội (nghĩa là không được tổ chức các nghi lễ tôn giáo cách công khai bên ngoài Nhà thờ), để cấm tất cả những cuộc tập trung đông người như tại Fatima, và họ cho các đoàn vệ quốc quân diễn hành tại hiện trường và ngăn chặn tất cả mọi con đường dẫn tới đồi Cova da Iria. Nhưng rồi trước sự phản ứng, tuy bất bạo động nhưng đầy cương quyết và kiên trì, của đông đảo quần chúng, cả chiến thuật ma quái này của các nhà chức trách vô thần cũng phải hứng chịu sự thất bại hoàn toàn.

Thật vậy, khi thấy các ngã đường dẫn tới đồi Cova da Iria bị lính chặn hết, các phái đoàn hành hương kéo nhau đi bộ qua các cánh đồng hay các đồi núi để tới cho bằng được chỗ Đức Mẹ hiện ra. Điều đó đã làm lệnh phong tỏa các ngã đường ở Fatima của các nhà chức trách thành vô hiệu hóa. Các vệ quốc quân đành bó tay, không thể làm gì khác được.

Khi nhận thấy các nhà chức trách địa phương hoàn bất lực trong việc ngăn chặn sự tập trung quá đông của hàng vạn khách hành hương từ khắp nơi kéo về Fatima, Thủ tướng Bồ Đào Nha lúc bấy giờ cũng đâm ra lo sợ và không dám ra lệnh cấm các cuộc hành hương của dân chúng. Một điểm đặc biệt là dù tấp nập và đông đảo như thế, tất cả các phái đoàn khách hành hương đều có ý thức kỷ luật cao và tuyệt đối giữ trật tự trong việc di chuyển – kẻ tới người ra về – cũng như khi cử hành các lễ nghi Phụng Vụ, như lần hạt Mân Côi, hát các bài Thánh ca, cầu nguyện, v.v… đều diễn ra trong hài hòa và trât tự.

Do đó, các nhóm cảnh sát và quân đội được gửi đến Fatima để ngăn cản khách hành hương hay để giữ trật tự, đã trở nên dư thừa, không cần thiết. Bởi vì, họ không thể cầm gậy đánh hay chĩa súng bắn đám dân chúng đang cầu nguyện trong ôn hòa và trật tự như thế, nếu không nói là nhiều người trong họ cũng đã quỳ gối cầu nguyện và hát kinh cùng với các khách hành hương. Bởi vì, đa số họ không phải là những người thuộc ý thức hệ tư tưởng tự do và vô thần, nhưng là những người phát xuất từ quần chúng. Đó cũng là lý do cắt nghĩa hiện tượng tại sao hằng ngày tất cả các chuyến xe quân đội, trên đường trực chỉ hướng Fatima để làm nhiệm vụ được giao phó, đều đã mời các khách hành hương mà họ gặp dọc đường lên xe và chở tới Fatima. Thái độ cư xử tốt với các khách hành hương như thế của đoàn vệ quốc quân, đã khiến các nhà chức trách vô thần hay thuộc hội Tam điểm vô cùng tức giận, đến nỗi họ đã đem vụ việc ra bàn cãi ở trong quốc hội và đã nêu câu hỏi đầy đê tiện nhỏ nhoi là ai sẽ trả tiền xăng cho các chuyến xe chở khách hành hương như thế?

Tiếp đến, thái độ của một thầy giáo cũng bị tố cao và bêu xấu, khi ông này nhân dịp có cuộc hành hương tới Fatima đã cho học sinh nghỉ học và đóng cửa nhà trường. Khi bị tra vấn tại sao, ông thầy giáo đã trả lời là vì các học sinh của ông phải đi hành hương chung với cha mẹ các em, nên không thể đến nhà trường được. Điều đó cũng muốn nói lên rằng ảnh hưởng của biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima đã thực sự ăn sâu vào ý thức của đại đa số dân chúng, bất kể địa vị, giai cấp hay trình độ văn hóa.

Cũng vì thế, người Công Giáo lúc bấy giờ đã bình thản coi sự hiện diện của các vệ quốc quân ở Fatima như một điều bình thường, chứ không có gì là khó chịu hay vướng mắc cả. Chẳng những thế, họ còn vui đùa gọi các vê quốc quân là đoàn lính danh dự của Fatima. Tình hình diễn biến này đã khiến chính phủ Bồ Đào Nha lúc bấy giờ trở nên lo sợ. Họ sợ người Công Giáo sẽ mỗi ngày một trở nên ý thức hơn và dựa vào các quyền lợi của họ đã được pháp luật bảo đảm, họ sẽ đòi hỏi Nhà nước phải tôn trọng quyền tự do của họ. Hơn nữa, các báo chí cũng càng ngày càng đứng về phía người Công Giáo (17) và thường công khai đề cao các cuộc hành hương của đủ mọi thành phần và tuổi tác, xuất phát từ dân chúng, kể cá các thành phần hàn lâm khoa bảng (chứ không còn coi những người Công Giáo chỉ là những thành phần ngu dân). Do đó, các đối thủ của Sứ điệp Fatima mỗi ngày mỗi trở nên tự ti mặc cảm, thủ thế, thụ động và bảo vệ ý thức hệ của mình một cách thiếu xác tín. Nếu xét theo phương diện tâm lý, thì bạo động thường là dấu hiệu của sự sợ hãi, của sự thiếu tự tín và của sự thiếu các luận cứ hợp lý. Nhiệm vụ chính của đoàn vệ quốc quân là giữ gìn an ninh trật tự (18), nhưng trước sự ý thức kỷ luật cao độ của người Công Giáo, nhiệm vụ của họ đã trở thành dư thừa và buồn cười.

3. Sứ điệp Fatima đã tự vượt qua được mọi thách đố

Dĩ nhiên, khi nói „Sứ điệp Fatima đã tự vượt qua được mọi thách đố“, thì không hề có ý phủ nhận hay đánh giá thấp lòng can trường và đức tin mạnh mẽ của các tín hữu Công Giáo Bồ Đào Nha trước các hành động đe dọa, ngăn cấm và khiêu khích của các nhà chức trách vô thần thời ấy, hay các chiến thuật cũng như phương thức hành xử rất khôn ngoan, thận trọng và cương quyết của Đức Giám Mục D. José Alves Correia da Silva và của tiến sĩ Dr. Formigáos, chủ tịch Ủy ban Điều tra biến cố Fatima hay của bất kỳ ai khác, nhưng chỉ muốn nói rằng biến cố Fatima đã vượt qua được mọi thách đố cực kỳ khó khăn và đã dành được chiến thắng như chúng ta chứng kiến ngày nay, thì chính yếu và trên hết là nhờ vào sự tác động của sức mạnh siêu nhiên từ Trời cao.

Người ta có thể nói rằng vào năm 1917, trước tiên những người có tư tưởng tự do tiến bộ, những người vô thần và các thành viên hội Tam điểm hoàn toàn tự tín và hung hăng, trong khi đó các tín hữu Công Giáo lại rụt rè và nhát đảm. Nhưng rồi trong mấy năm tiếp sau đó, tình thế hoàn toàn xoay đổi ngược lại, và khởi đầu là cuộc hành hương vĩ đại vào ngày 13.5.1922, để công khai tôn vương Đức Trinh Nữ Maria và để đền bù phạt tạ tội phạm thánh của những kẻ thù vô thần, đã dám cho mình nổ tung mái Nhà Nguyện ở chỗ Đức Mẹ hiện ra. Từ đó, người Công Giáo càng trở nên can đảm và tự tín hơn. Họ đã đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng các quyền lợi chính đáng của họ đã được ghi rõ trong hiến pháp Nhà nước Bồ Đào Nha, và đồng thời họ cũng đã đẩy các kẻ thù đầy quyền thế của họ vào lúc bấy giờ phải rơi vào thế bị động.

Ở đây, có lẽ người ta sẽ tự hỏi: Ai đã có thể làm xoay đổi được cục diện như thế?

Các kẻ thù của Giáo Hội đã quả quyết đó là do ảnh hưởng ngu muội của các Giáo Sĩ và do sự sắp đặt gian xảo của mấy ông Thầy Dòng Tên. Nhưng như đã nói trên, vào lúc bấy giờ Đức Hồng Y Thương Phụ Lissabon đang bị lưu đày, và miền Leiria-Fatima mãi sau này mới được nâng lên hàng Giáo phận, chứ vào lúc ấy chưa có ai lãnh đạo cả; còn hàng Giáo Sĩ thì hầu như tất cả đều tỏ ra nghi ngờ và ít quan tâm tới về những gì liên quan đến biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Fatima. Nói chung là vào thời ấy, nội bộ Giáo Hội Bồ Đào Nha rất bệ rạc và thiếu tổ chức.

Nhưng khởi đầu sự thay đổi tình hình và cục diện một cách ngoạn mục như thế là chính sự ảnh hưởng thiêng liêng, sâu sắc và mạnh mẽ trên các tâm hồn của sáu lần Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ, mà đỉnh cao của những lần hiện ra ấy là lần hiện ra cuối cùng vào ngày 13.10.1917 với phép lạ trọng đại „Mặt trời quay“. Vì đã được báo trước là sẽ có một dấu lạ phi thường xảy ra, nên ngày ấy đã thu hút được một đám quần chúng đông đảo vào khoảng 50 đến 70.000 người, và phép lạ „Mặt trời quay“ đã chứng nhận cho lời báo trước của ba trẻ và qua đó cũng chứng nhận sự xác thực của biến cố hiện ra(19). Và trong những năm tháng tiếp sau đó và mãi cho tới ngày nay, người ta vẫn tiếp tục cảm nghiệm được một cách cụ thể sự can thiệp của Trời cao qua các phép lạ lành bệnh ngoại thường tại Fatima.

Sự hiện diện huyền nhiệm của Trời cao còn được tỏ bày ra một cách rõ ràng qua:

• Sự can đảm phi thường của ba trẻ chưa quá mười tuổi đời, khi các em bị bắt giam vào tù và phải trải qua những cuộc khảo hạch đầy mưu mô lừa lọc của nhà cầm quyền vào ngày 13.8.1917.

• Và cả sự cương quyết và sự xác tín sâu xa của các khách hành hương. Họ đã luôn bình tỉnh thản nhiên, chứ không một chút sợ hãi hay lùi bước trước đoàn vệ quốc quân luôn có thái độ khiêu khích và hăm dọa.

Vâng, quyền lực trần thế không chỉ đã tỏ ra bất lực hoàn toàn trước sức mạnh vô biên của Trời cao, mà còn cộng tác tích cực và trực tiếp vào biến cố Fatima, như việc quân đội đã lấy xe đón rước các khách hành hương, mà chúng ta đã nói đến ở trên. Bởi vậy, sau sự kiện quả mìn nổ trên mái Nhà Nguyện Fatima, tờ báo A Epoca đã mỉa mai gọi Bồ Đào Nha là „đất nước của bom mìn“. Còn trong Thư Cô-rin-thô (1Cr 1, 26-31 của ngài, thánh Phaolô đã trình bày rõ ràng các tiêu chuẩn chọn lựa của Thiên Chúa như chúng ta đã trích ở trên, đó là: sự yếu đuối, khờ dại và thấp kém. Vì thế, trong Thư Chung của ngài đề cập đến việc công nhận sự xác thực của biến cố Đức Mẹ hiện ra, Đức Giám Mục Giáo phận Leiria-Fatima đã trích dẫn đoạn Kinh Thánh trên để bịt miệng những kẻ thù Giáo Hội, luôn kiêu căng ngạo mạn khinh bỉ tất cả các tín hữu Công Giáo và ba trẻ thị kiến, và coi họ là những thành phần xã hội thiếu văn hóa, dốt nát và thấp hèn (ba của Lucia là một người nghiện rượu)(20). Nhưng sự can cương, ý chí sắt đá và sự khôn ngoan tột bậc của những người đơn sơ bé nhỏ này đã khiến cho những kẻ tự mãn kia phải suy nghĩ và đã hoán cải được nhiều người trong họ quay trở về với đức tin Công Giáo. Nói tắt, nguyên tắc tuyển chọn muôn thuở của Thiên Chúa lại một lần nữa được thể hiện rõ ràng tại Fatima, như xưa Người đã làm khi chọn lựa các Tông Đồ vậy.

Chính sự ngây thơ trong trắng của ba trẻ Fatima qua những câu trả lời thành thực, nhưng hoàn toàn nhất quán của các em – chứ không phải bằng những lời hoa mỹ bóng bẩy – cho những câu tra hỏi dò xét tinh vi của các nhà cầm quyền dân sự hay của các vị Linh Mục, chứ không hề có một chút mâu thuẩn nào, là cả một bằng chứng hùng hồn nói lên sự khả tín đầy thuyết phục của biến cố Fatima. Thêm vào đó, tuy tuổi đời các em chưa quá 10 tuổi, nhưng tất cả ba trẻ – đặc biệt là Phan-xi-cô và Gia-xin-ta – đều vui vẻ và sẵn sàng chịu mọi đau khổ, mọi cực hình và mọi bệnh tật một cách anh hùng và phù hợp tinh thần Tin Mừng, để đền bù cho các kẻ có tội, là những bằng chứng hùng hồn nhất, góp phần biện minh cho sự xác thực của biến cố Fatima.

Tờ báo Mensageiro (D 1) đã đưa tin đầy đủ về cuộc hành hương vĩ đại chưa từng có vào ngày 13.5.1923, và gọi đó là một "imposante manifestacáo de fe“, một cuộc biểu dương đức tin hết sức ấn tượng. Tác giả bài báo ước chừng có khoảng từ 80 đến 100.000 người tham dự. Và tuy đoàn vệ quốc quân đã được trang bị đầy đủ súng ống và các dụng cụ cho sự đàn áp, nhưng sau đó họ đã cảm thấy bất lực trước đám đông, nên đành phải rút lui.

Các phái đoàn hành hương đều mang theo các cờ quạt có thêu hình ảnh Chúa, Đức Mẹ và các Thánh rất uy nghi chỉnh tề. Sau bài giảng, Thánh Lễ đã được cử hành trọng thể và sốt sắng cho khách hành hưong. Và dĩ nhiên, tất cả mọi người có mặt đều đã lần hạt Mân Côi.

Vì thế, để ám chỉ đoàn vệ quốc quân với súng ống và vũ khí đầy mình, đã được phái tới Fatima để nhằm đe dọa và ngăn chặn các cuộc hành hương, các báo chí đã nhận định: „Ở Fatima không cần súng ống đạn dược. Vũ khí mà những người đi tới đó mang theo, là chuỗi tràng hạt Mân Côi và tượng Thánh Giá“. Các khách hành hương cùng nhau đứng yên lặng hay cầu nguyện; và ngay cả sau trưa người ta vẫn tiếp tục cầu nguyện. Trên đường về nhà, mọi người đều trầm trồ: „Chúng tôi ra về trong sự cảm phục lạ lùng và ngạc nhiên, vì làm sao một đám quần chúng quá đông đảo đến cả trăm ngàn người như thế, lại có thể tự động tập trung về đây, chứ không có ai đứng ra tổ chức và mời gọi cả; và tất cả đều hoàn toàn diễn ra trong trật tự, nếu như họ đã không được một sức mạnh huyền bí từ Trời cao mời gọi.“

Nhân dịp này, tờ báo A Epoca (x. Documentacáo IV, 3, DOC 492, 493) đã phê bình thái độ của chính phủ Bồ Đào Nha trong vụ việc nhà thờ Santa Joana (21) và việc cấm cản các cuộc hành hương tại Fatima, nhất là tờ báo đã phê bình sự thụ động quá lâu của người Công Giáo trước những thái độ và hành động bài Giáo Sĩ của những kẻ thù Giáo Hội và sự đày ải Đức Hồng Y Thương Phụ Lissabon, chứ không có bất cứ sự chống đối nào. Sự phê bình thẳng thắn này đã có ảnh hưởng rộng rãi trong quần chúng và mang lại những tác động tích cực cho biến cố Fatima. Chính tờ báo này cũng đã gọi lệnh cấm các cuộc hành hương và tụ họp cầu nguyện của dân chúng tại Fatima là bất hợp pháp, và coi cuộc rước kiệu ngày 13.10.1924 là một cuộc biểu dương đức tin một cách hoành tráng và có ấn tương mạnh mẽ.

Tất cả các vệ quốc quân được phái tới Fatima cũng nhận thức được rõ ràng là họ không thể dùng bạo lực để đàn áp các tín hữu chỉ biết cầu nguyện, vì họ cảm thấy sự biểu dương đức tin của các tín hữu là cả một „sức mạnh tuy hoàn toàn hài hòa, nhưng bất khả chống cự lại“ (forca pacifica, mas irresistivel). Tờ báo này (22) đã đưa ra những nhận xét về cuộc hành hương: Trước hết, nhà cầm quyền loan báo là quân đội sẽ thực thi lệnh cấm tụ họp ở Fatima một cách nghiêm ngặt, nhưng rồi mọi sự lại xảy ra bình thường như không có lệnh cấm nào cả. Nhưng đặc biệt nhất là sự tuyên xưng đức tin một cách toàn bộ và thống nhất nơi hànhg trăm ngàn khách hành hương cũng như sự suy niệm trong thinh lặng và trật tự tuyệt đối của một đám quần chúng đông đảo như thế đã gây nên một ấn tượng sâu xa nơi tác giả bài báo. Một khách hành hương đã kể lại cảm nhận của mình rằng „sự hồi sinh đức tin Công Giáo của dân tộc Bồ đào Nha“ đã thực sự xảy ra. Và tác giả bài báo đã kết luận bằng lời nhận xét của ông Giovanni Papini. „Thế giới ngày nay mong ước hòa bình hơn là sự tự do và một nền hòa bình bền vững chỉ tìm gặp được nơi ách của Đức Kitô“.

Bộ tài liệu „Documentacáo Critica“ đã nói đến „cuộc chiến chống lại người Công Giáo“. Nhưng trong cuộc chiến ấy, người Công Giáo đã tranh đấu mỗi ngày một mạnh mẽ và hăng hái hơn cho các quyền lợi chính đáng và hợp pháp của họ, mặc dầu họ tranh đấu với chính quyền vô thần Bồ Đào Nha thời ấy chỉ bằng sự cầu nguyện và hoàn toàn bất bạo động.

Có lẽ thái độ hài hòa này của các tín hữu tại Fatima lại nhắc người Công Giáo Việt Nam chúng ta nhớ đến các cuộc tranh đấu đòi công lý của bà con giáo dân Việt Nam ở Hà Nội, Đồng Chiêm, Thái Hà, Ninh Bình, Tam tòa, Loan Lý, Cồn Dầu, v.v…, tất cả cũng đều diễn ra trong hòa bình trật tự và chỉ cầm vũ khí duy nhất trong tay là tràng chuỗi Mân Côi và tượng Thánh Giá.

Nhưng chỉ một điều hoàn toàn khác biệt giữa hai cuộc tranh đấu cho công lý ấy, của các tín hữu Công Giáo ở Fatima xưa kia và của các tín hữu Công Giáo ở Việt Nam ngày nay, là ở chỗ: Chính quyền cộng sản vô thần Bồ Đào Nha xưa kia đã tự rút lui, chứ không nhẫn tâm dùng bạo lực để đàn áp và xua đuổi các tín hữu ngoan đạo đang cầu nguyện tại Fatima, còn chính quyền cộng sản vô thần ở các địa phương nói trên tại Việt Nam lại đã sử dụng hơi cay, dùi cui điện, báng súng và chó dữ nghiệp vụ để đàn áp vá đánh đập các tín hữu Công Giáo tay không một cách cực kỳ vô nhân đạo, đến nỗi nhiều người đã bị ngất xỉu tại chỗ, phải chở vào phòng cấp cứu tại các bệnh việc, để được điều trị hàng bao nhiêu tháng trời và có người đã bị tê liệt suốt đời! Tại sao lại có sự khác biệt giữa hai cách hành xử của những người cộng sản vô thần Bồ Đào Nha xưa kia và những người cộng sản vô thần Việt Nam ngày nay như thế? Câu trả lời chắc hẳn chỉ có thể là: Nếu những người cộng sản Bồ Đào Nha đã tự rút lui, chứ không đành tâm đối xử tàn bạo và vô nhân đạo đối với các tín hữu hiền lành vô tội tại Fatima bằng bạo lực, như những người cộng sản vô thần Việt Nam đã làm đối với các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam, là vì những người cộng sản Bồ Đào Nha ít nhất cũng đã hơn một lần hấp thụ được ảnh hưởng của những giáo huấn chân chính và đầy nhân bản về xã hội của Giáo Hội Công Giáo!

Còn sự xác tín cho rằng sự kiện „đức tin được hồi sinh“ trong dân tộc Bồ Đào Nha và sự thất bại thảm thương của những kẻ thù vô thần, chắc chắn đã phát xuất từ sức mạnh siêu nhiên của biến cố Đức Mẹ hiện ra. Vâng, người Công Giáo Bồ Đào Nha đã từ từ nhận thức được sợi dây liên đới huynh đệ đang nối kết và thắt chặt tất cả họ lại với nhau mỗi ngày một hơn và nhờ thế họ cũng trở nên tự tín hơn.

Sau cùng, qua các giờ cầu nguyện, lần hạt Mân Côi và hát các bài Thánh ca chung với nhau, cũng như sự lãnh nhận sốt sắntg các Bí tích Hòa Giải và Thánh Thể, hầu như tất cả những người tham dự các cuộc hành hương tại Fatima đều đã cảm nhận được tính chất liên đới nhân loại của mình và Giáo Hội Công Giáo quả thực là một „thế giới đại đồng“ đúng nghĩa, nhất là niềm vui thiêng liêng tràn ngập trong tâm hồn và sự cảm nhận ấy đã củng cố đức tin Công Giáo của họ thêm vững vàng kiên cố hơn.